Chế độ mưa là nguyên nhân chính dẫn đến năng xuất lúa vụ 2 cao và ổn định nhưng chất lượng gạo thấp so với các giống lúa cảm quang.. Vấn đề cần giải quyết ở Tramkak là phân tích đúng chế
Trang 1CHế Độ MƯA Và SảN XUấT LúA ở HUYệN TRAMKAK
TỉNH TAKEO - CAM PUCHIA
Tóm tắt: Lúa là cây trồng chính ở huyện Tramkak Trong hệ canh tác dựa vào nước trời, việc xác định
mùa vụ trồng thích hợp cho cây lúa rất cần được nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu áp dụng là điều tra kinh tế hộ và các thông tin thứ cấp Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Tramkak có 4 tháng chế độ mưa ổn định (từ tháng 8-11) các tháng còn lại mưa không ổn định Chế độ mưa là nguyên nhân chính dẫn đến năng xuất lúa vụ 2 cao và ổn định nhưng chất lượng gạo thấp so với các giống lúa cảm quang
Nghiên cứu cho thấy, lúa vụ 2 cần khuyến khích mở rộng, nhưng phải tuyển chọn bổ sung giống lúa có chất lượng cao, cần nghiên cứu công nghệ phơi sấy phù hợp
Từ khoá: Lúa nước, nước trời, hệ canh tác, chế độ mưa, Campuchia
1 Đặt vấn đề
Tramkak là một huyện nằm ở vùng núi của tỉnh Takeo, Campuchia Tramkak có địa hình dốc,
đất xám bạc màu rất khó xây dựng hệ thống tưới vì chưa có nguồn nước Lúa là cây trồng chính ở huyện Tramkak nhưng năng suất không ổn định vì nguồn nước tưới phụ thuộc vào nước trời Vấn đề cần giải quyết ở Tramkak là phân tích đúng chế độ mưa và ảnh hưởng của nó tới sản xuất lúa để đưa ra các giải pháp tác động thích hợp góp phần tăng hiệu quả sản xuất lúa
2 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích chế độ mưa theo Trần Quang Hạnh và cs (1997), căn cứ vào số liệu mưa từ năm 1994-2004 được quan trắc tại trạm khí tượng Takeo
Hiện trạng năng suất lúa dựa vào năng suất bình quân qua các năm 1994-2004 và năng suất các trà lúa, được phân tích theo số liệu điều tra trực tiếp ở 100 nông hộ, chọn hộ điều tra ngẫu nhiên tại 3 xã điển hình
Phân tích nguyên nhân hạn chế sản xuất lúa: dựa vào số liệu thống kê của phòng nông nghiệp Tramkak để tính giá bình quân tháng tại 10 hộ bán gạo ở trung tâm huyện và nhu cầu cung cầu về lúa gạo của người dân địa phương
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Phân tích chế độ mưa ở huyện Tramkak
Huyện Tramkak có 4 vụ lúa chính: Lúa vụ 1 từ tháng 4 đến tháng 7, lúa vụ 2 từ tháng 8 đến tháng 11, lúa vụ 3 từ tháng 6 đến tháng 12, lúa vụ 4 từ tháng 4 đến tháng 2 năm sau (xem sơ đồ)
Sơ đồ các vụ lúa ở huyện Tram Kak
Lúa vụ 1
Lúa vụ 2
Giống lúa cảm quan
Giống địa phương
Chế độ mưa ở huyện Tram Kak trong 11 năm (1994-2004) có 3 năm mưa đến sớm vào tháng 4 (mưa trên 100mm) thuận lợi cho việc trồng lúa vụ 1 (năm 1996, 1999 và 2001) còn lại 8 năm mưa đến muộn không đủ nước làm vụ 1 Có 3 năm hạn giữa mùa mưa, mưa dưới 50mm vào tháng 7 năm 1995 rơi vào vụ lúa 1, thời kỳ lúa chín và 2 năm hạn vào tháng 6 (năm 1998 và 2003) rơi vào vụ 1 ở thời kỳ lúa đứng cải và trổ bông Có tới 5 năm hạn vào tháng 11 (mưa dưới 100mm trong năm 1994, 1995,
1997, 2001 và 2003) đây là thời kỳ cây lúa vụ 3 rất cần nước Có 2 năm mưa kết thúc muộn (tháng 12 lượng mưa còn trên 100mm rơi vào các năm 200 và 2002), gây khó khăn cho lúa vụ 2 vào thời điểm thu hoạch
Trang 23.2 Hiện trạng năng suất lúa
Từ năng suất lúa bình quân của 11 năm (1994-2004) có thể chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 1
từ năm 1994 đến năm 1998 năng suất lúa bình quân 13,88 tạ/ha, giai đoạn 2 từ năm 1999 đến năm
2004 năng suất lúa bình quân là 21,90 tạ/ha
Kết quả so sánh năng suất bình quân ở giai đoạn 2 cao hơn giai đoạn 1 là 57,78% Nguyên nhân của năng suất giai đoạn 2 cao là do việc du nhập nhiều giống từ Viện lúa quốc tế (IRRI) vào cấy ở vụ 1
và vụ 2 Những năm từ 1994-1998 diện tích cấy lúa vụ 1 và vụ 2 chưa có, chủ yếu là giống địa phương dài ngày cho năng suất thấp
Bảng 1 Quan hệ giữa chế độ mưa và năng suất lúa
Tháng 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Tổng số
(mm)
Năng
suất lúa
(tạ/ha)
0
2
49
54
178
149
200
190
172
145
0
21
1160
11,8
26
0
40
0
116
144
42
134
231
186
51
95
1165
11,8
30
0
0
117
149
65
196
66
213
277
175
27
1315
16,8
0
23
10
92
76
70
187
118
140
234
63
4
1017
13,0
0
0
0
73
96
48
138
177
211
192
211
44
1190
16,0
31
0
43
170
163
64
52
188
106
500
199
12
1528
25,0
21
0
40
87
74
146
82
171
199
410
139
178
1547
21,0
18
3
133
102
108
99
156
164
248
447
55
64
1597
20,28
0
0
0 35,8 222,0 113,0 126,0 184,5 120,5 138,5
350 261,7
1552
20,38
0
0 25,3 51,3 178,5 49,0 377,8 129,7 121,5 293,6 79,3 24,5 1330,5
20,36
0
0 52,5 35,0 241,3 138,0 67,5 1212,8 160,4 206,3 133,0
0 1146,80
24,30
(Nguồn: Báo cáo Nông nghiệp tỉnh Ta Keo, 2005-2006)
So sánh năng suất lúa bình quân của các năm ở giai đoạn 1 cho thấy: Năng suất lúa 2 năm
1994, 1995 chỉ đạt 11,8 tạ/ha thấp hơn khá rõ so với 2 năm 1996 và 1998 năng suất đạt bình quân từ 16,0 đến 16,6 tạ/ha Có thể thấy đây là kết quả chế độ mưa 2 năm 1994 và 1995 mưa đến muộn, tháng
5 mới có mưa trên 100mm và kết thúc sớm tháng 11 Kết thúc mưa vào tháng 11 rơi vào thời điểm lúa
đứng cải của các giống lúa địa phương Thiếu nước đã làm giảm năng suất đáng kể
Hai năm 1996 và 1998 được xem là được mùa vì mưa kết thúc vào tháng 12, thời kỳ này là mùa thu hoạch của các giống lúa cảm quang (vụ 3)
3.3 Lựa chọn các trà lúa
Trong 4 trà lúa ở huyện Tram Kak thì 2 trà lúa vụ 1 và vụ 2 tránh được hạn cuối vụ vì lúa vụ 1
được thu hoạch trong tháng 7, lúa vụ 2 được thu hoạch tháng 11 Trà lúa vụ 1 ít ổn định, do ảnh hưởng của điều kiện khô hạn khi cấy Vụ lúa này chỉ cấy được khi có mưa nên những năm có mưa muộn thì lúa vụ 1 không thực hiện được So với trà lúa vụ 1 thì trà lúa vụ 2 ổn định hơn Thực tế cho thấy những năm gần đây diện tích cấy trà lúa vụ 2 ngày càng được mở rộng hơn so với lúa vụ 1 Người dân ở đây thường quan niệm trà lúa vụ 1 là lúa tăng vụ, thường không ổn định về diện tích Sau khi thu hoạch trà lúa vụ 1 nhân dân lại gieo trồng lúa vụ 2 và hình thành phương thức canh tác 2 vụ lúa một năm Trà lúa vụ 3 thường được gieo trồng bằng các giống lúa cảm quang, hiện được nhân dân gieo trồng nhiều nhưng năng suất ít ổn định vì khi lúa trỗ thường gặp hạn cuối vụ
ở huyện Tram Kak còn tồn tại trà lúa dài ngày gieo trồng cuối tháng 4 và thu hoạch trong tháng
2 năm sau, diện tích lúa của trà lúa này rất hẹp chỉ có ở những nơi có địa hình thấp, trũng
Trang 3Bảng 2 Cơ cấu và năng suất các trà lúa giai đoạn 2000-2003
Trà lúa Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%) Năng suất (tạ/ha) Nguồn gốc giống
1 Lúa tăng vụ 1
2 Lúa tăng vụ 2
3 Lúa giống cảm quang
4 Giống địa phương
2.125 10.230 20.300
500
6,41 30,85 61,23 1,51
28,6 36,2 15,7 10,2
Từ IRRI
Từ IRRI Giống địa phương Giống địa phương
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Tram Kak)
Trong giai đoạn 2000-2003, năng suất của trà lúa vụ 2 lúa đạt cao nhất (36,2tạ/ha) và ổn định nhưng chỉ mới được gieo trồng 30,85% diện tích của cả huyện, trong khi giống lúa địa phương, giống lúa cảm quang, cho năng suất thấp 15,7 tạ/ha nhưng diện tích gieo trồng hiện còn chiếm 61,23% (bảng 2) Hiện tượng này có thể do một là giá bán các giống lúa cảm ôn được nhập về từ Viện lúa Quốc tế thường thấp hơn nhóm giống cảm quang của địa phương (bảng 3)
Bảng 3 So sánh giá trị lúa gạo ở huyện Tram Kak năm 2000
Giá bán (đồng/kg) trong tháng Sản phẩm
Lúa 1 1080 1080 1000 1080 1080 1144 1400 1400 1320 1560 1600 1200
Lúa 2 1532 1552 1552 1620 1620 1632 1620 1772 1820 1812 1712 1420
Gạo 1 2056 2368 2184 1976 1976 2120 2124 2500 2160 2480 2360 2196
Gạo 2 2692 2460 2476 2512 2512 2636 2400 2872 3016 3100 2852 2408
Ghi chú: - 1 là giống có nguồn gốc từ IRRI
- 2 là giống của địa phương
- Nguồn phòng nông lâm nghiệp Tram Kak, 2000
Giá thóc trung bình của các giống lúa có nguồn gốc từ viện lúa IRRI đạt 1218,68 đồng/kg, trong khi giá bán trung bình của các giống lúa địa phương đạt 1632,32 đồng/kg, giá chênh lệch nhau 31,78% Giá gạo trung bình của các giống lúa có nguồn gốc từ viện lúa IRRI đạt 2148,32 đồng/kg, trong khi giá bán trung bình của các giống lúa địa phương đạt 2682,32 đồng/kg, chênh lệch nhau 17,01%
Lý do thứ 2 dẫn đến dân chưa gieo trồng nhiều giống lúa cảm ôn là: Người dân địa phương sản xuất lúa để ăn là chính vì vậy khi cung đã vượt quá cầu thì yêu cầu sản xuất nhiều thóc không còn là cấp bách nữa (bảng 4)
Bảng 4 Cân bằng lúa gạo ở huyện Tram Kak năm 2000
Sản xuất Đơn vị Số lượng Tiêu dùng Đơn vị Số lượng
Diện tích thu hoạch
Năng suất
Tổng sản lượng
Ha Tấn/ha Tấn
32.879 2.1 69.622
Số dân Lượng thóc cần đẻ ăn Lượng thóc để giống
Người Tấn Tấn
149.733 40.437 10.437 Lượng thóc còn dư thừa 18.757 tấn
4 Kết luận
Sản xuất ở huyện Tram Kak trong những năm gần đây nhờ sự du nhập nguồn giống từ Viện lúa quốc tế, ở đây đã định hình thành 2 vụ lúa mới: vụ 1 gieo trồng từ tháng 4 đến tháng 7 nhưng diện tích không ổn định năng suất thấp vì thiếu nguồn nước Vụ lúa 2 gieo từ tháng 8 thu hoạch vào tháng 11
đây là vụ lúa cho năng suất cao và ổn định vì vụ lúa nằm vào đúng mùa mưa do năng suất cao nên diện tích cấy lúa vụ 2 từng bước được mở rộng thay thế dần diện tích trồng lúa truyền thống năng suất thấp Căn cứ vào chế độ mưa thì vụ lúa 2 có nhiều ưu điểm hơn vụ lúa 1; trong khi chưa đủ điều kiện tưới thì không nên mở rộng vụ lúa 1 Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích lúa vụ 2 còn hạn chế vì hiện chưa có giống lúa chất lượng cao, nhân dân chưa có tập quán sản xuất lúa hàng hoá
Trang 4Để cho sản xuất lúa phát triển cần sớm cần tuyển chọn các giống lúa cảm ôn vừa có năng suất cao vừa có chất lượng cao, để giá bán ngang bằng với các giống lúa của địa phương; cần có chính sách khuyến khích dân sản xuất lúa xuất khẩu, có công nghệ phơi sấy thích hợp để nâng cao chất lượng hạt gạo, vì lúa vụ 1 vụ 2 thời kỳ thu hoạch còn gặp mưa và sớm quy hoạch vùng sản xuất lúa theo khả năng cung cấp nước, ở những nơi địa hình cao, khả năng giữ nước kém cần tuyển chọn các giống lúa chịu
được hạn để khắc phục hiện tượng hạn giữa vụ trong sản xuất lúa
Tài liệu tham khảo
Bùi Huy Đáp (1978), Lúa Việt Nam trong vùng Đông Nam á, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 2 Trần Đức Hạnh, Văn Tất Tuyên, Đoàn Văn Điếm, Trần Quang Tộ (1997), Giáo trình khí tượng nông
nghiệp dùng cho sinh viên khối nông – lâm – ngư, NXB Nông nghiệp, trang 1
Lê Quang Huyền (1990), Đánh giá tài nguyên khí hậu nông nghiệp Việt Nam Báo cáo chương trình cấp nhà nước, mã số 42A-01, Hà Nội, trang 2