Theo thống kê của ngành Tòa án, ở nước ta hiện nay có tới hơn 90% các cặp ly hôn đều trải qua giai đoạn ly thân, có cặp vợ chồng ly thân rất nhiều năm mới chính thức gửi đơn khởi kiện ra
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐÀU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LY THÂN 14
1.1 Khái niệm, đặc điểm của ly thân 14
1.1.1 Khái niệm ly thân 14
1.1.2 Đặc điểm của ly thân 20
1.2 Ý nghĩa của ly thân 22
1.3 Các quan điểm pháp lý điều chỉnh về ly thân tại một số quốc gia trên thế giới 24
1.3.1 Ly thân trong pháp luật về hôn nhản và gia đình một sổ bang tại Hoa Kỳ 26
1.3.2 Ly thân trong Bộ luật Dãn sự Pháp 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: Cơ SỚ XÂY DỤNG CHẾ ĐỊNH LY THÂN TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 33
2.1 Các yếu tố chi phối đến việc ly thân tại Việt Nam 33
2.2 Vấn đề ly thân theo pháp luật Việt Nam truớc đây 42
2.2.1 Vẩn đề ly thân theo pháp luật Việt Nam trước năm 1975 42
2.2.2 Vấn đề ly thân theo pháp luật Việt Nam từ năm 1975 đến nay A7 2.3 Thực trạng ly thân tại Việt Nam hiện nay _ r 2.3.1 Tình hình ly thân trên thực tê hiện nay 2.3.2 Hệ lụy của việc ly thân trên thực tê không được pháp luật quy định 54 2.3.3 Ly thân trên thực tế qua các vụ án ly hôn 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3: sự CẦN THIẾT VÀ NỘI DUNG CẦN ĐIỀU CHỈNH CỦA CHẾ ĐỊNH LY THÂN TRONG LUẬT HÒN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 67
3.1 Sự cân thiêt quy định chê định ly thân trong pháp luật Việt Nam hiện nay 67 3.1.1 Sự phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình trong điều kiện kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay 67
5
Trang 23.1.2 Các quan điêm vê điêu chỉnh pháp luật ly thân tại Việt Nam hiện
nay 69
3.1.3 Ly thân là tình trạng thực tế khách quan cần có sự điều chỉnh của pháp luật 79
3.2 Đề xuất nội dung chế định ly thân trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 84
y \ 3.2.1 Quyên yêu câu ly thân 85
3.2.2 Căn cứ ly thân 89
3.2.3 Hệ quả pháp lý của ly thân 94
3.2.4 Thời gian và thủ tục ly thân 97
3.2.4.1 Thời gian ly thân 97
3.2.4.2 Thủ tục ly thân 98
3.2.5 Những vẩn đề pháp lý khác của ly thân 99
3.2.5.1 Nuôi con nuôi trong thời gian ly thân 99
3.2.5.2 Chấm dứt ly thân 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
6
Trang 31 Tính câp thiêt của đê tài
Theo lẽ tự nhiên, đề đáp ứng những nhu cầu về tình càm và vật chất, vợ chồng chung sống với nhau để có thể thường xuyên chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau nuôi dạy con cái Đây là bổn phận đạo đức và cũng là nghĩa vụ pháp lý của vợ chồng Theo quy định của pháp luật hôn nhân - gia đình nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội hay lý do chính đáng khác
Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển thì kéo theo đó là những hệ lụy với những mối quan hệ vô cùng phức tạp, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mỗi gia đình Do không hài hòa được cuộc sống vợ chồng, nhiều cặp vợ chồng đã chọn giải pháp ly thân để giải quyết mâu thuần Trong những trường hợp này họ vẫn là vợ chồng, nhưng họ không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau hay cùng nuôi dạy con cái và thường xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng sâu sắc giữa hai bên vợ chồng
Ngày nay, nhiều cặp vợ chồng lựa chọn giải pháp ly thân như một biện pháp giải tỏa tình trạng tràm trọng trong hôn nhân Theo thống kê của ngành Tòa án, ở nước ta hiện nay có tới hơn 90% các cặp ly hôn đều trải qua giai đoạn ly thân, có cặp vợ chồng ly thân rất nhiều năm mới chính thức gửi đơn khởi kiện ra Tòa án yêu càu giải quyết ly hôn [38], Thực tế, việc sống ly thân giữa vợ chồng vẫn thường xảy ra mà không được pháp luật điều chỉnh
rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của hai bên nên dễ gây ra nhiều khó khăn, hệ lụy cho cà hai người và xã hội Khi vợ chồng ly thân, các khó khăn, vướng mắc thường thể hiện ở một số vấn đề sau:
7
Trang 4Một là, tranh châp quyên trực tiêp nuôi duỡng, chăm sóc con cái trong
thời gian ly thân; tranh chấp về cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi dưỡng con cái trong thời gian ly thân
Hai là, tranh chấp về quyền yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi vợ
hoặc chồng ở trong tình trạng khó khăn do ốm đau, bệnh tật mà cần sự giúp đỡ của người còn lại trong thời gian ly thân
Ba là, tranh chấp về tài sản trong thời gian ly thân; quyền và nghĩa vụ
về tài sản của vợ, chồng với người thứ ba trong thời gian ly thân; vấn đề đại diện cùa vợ chồng trong thời gian ly thân
Có thể thấy, rất nhiều vấn đề pháp lý phức tạp phát sinh trong thời gian khi vợ chồng ly thân Ly thân là một tồn tại thực tế ở nước ta hiện nay, việc điều chỉnh pháp luật về ly thân là cần thiết, bởi lẽ ly thân dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý phức tạp khác nhau Vì vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) không thể né tránh Đặc biệt, đây là giải pháp rất hữu ích cho cộng đồng người Công giáo, bởi theo giáo lý, họ không được phép ly hôn; ly thân
là một biện pháp giúp các bên vợ, chồng tránh tình trạng bạo lực gia đình, tạo điều kiện cho vợ chồng có thời gian đế cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tới quyết định cuối cùng trong giải quyết mâu thẫn của mình là ly hôn Quy định về ly thân còn giúp làm minh bạch hóa các giao dịch dân sự, kinh tế do một bên vợ, chồng thực hiện trong thời kỳ ly thân, bào đảm tốt hơn quyền lợi của các con, các thành viên khác trong gia đình và bên thứ ba
Trên thực tế hiện nay việc ly thân diễn ra khá nhiều, với thời gian không ngắn, có những cặp vợ chồng đã duy trì tình trạng ly thân đến 4-5 năm trước khi đi đến quyết định ly hôn Trong thời gian ly thân cũng xảy ra nhiều vấn đề cần giải quyết về mặt pháp lý, song pháp luật hiện hành không
có quy định nào về ly thân, do đó tình trạng ly thân và những hệ quả xảy ra
từ việc ly thân không được nhìn nhận, công nhận về mặt pháp lý Vì thế, việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng chế định ly thân trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa trong điều kiện kinh
8
Trang 5tế xã hội hiện nay ở nước ta, nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh từ tình trạng ly thân trong thực tế, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của
vợ, chồng và các con
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến chế định ly thân, đã có một số đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đề cập một cách trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan Các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến vấn
đề ly thân có thể chia thành các nhóm sau:
* Các luận văn, luận án
* Đe tài nghiên cứu khoa học
* Các bài viết trên các tạp chi chuyên ngành, bài viết hội thảo, tọa đàm khoa học
2.1 Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, bài viết hội thảo, tọa đàm khoa học
Bài viết Bô sung chế định ly thân vào Luật HNGĐ - những vấn đề pháp
ỉý và thực tiền, Bùi Minh Hồng, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề
sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, 2013, trang 97-105
và Bài viết Sự cần thiết và những nội dung cơ bản của Dự thảo Luật sửa
đôi, bô sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đĩnh năm 2000, Đàm
Viết Lâm, tạp chí Dân chù và Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, 2013, trang 5-16 Các bài viết này chủ yếu đề cập và đưa ra những lập luận về sự cần thiết bổ sung chế định ly thân
và những nội dung cơ bản cần đưa vào Dự thảo Luật HNGĐ năm 2014 Theo các nghiên cứu này, chế định ly thân cần có các nội dung như: Giài quyết yêu cầu ly thân của vợ chồng, hiệu lực của ly thân, chấm dứt ly thân, giải quyết yêu cầu ly hôn trong thời gian ly thân
Bài viết Pháp luật Việt Nam với vấn đề ly thân, Ngô Thu Trang, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/2016, trang 39 - 43 Bài viết trình bày một số vấn đề lý luận về ly thân và đưa ra những chế định tương thích trong pháp
9
Trang 6luật Việt Nam đê từ đó chứng minh, đê xuât đưa chê định ly thân vào Luật HNGĐ.
Bài viết Vấn đề ly thân có được quy định trong Luật HNGĐ Việt Nam
năm 1986, Nguyễn Văn Cừ, tạp chí Luật học, số 6/1997, trang 38-41 Tác
giả đưa ra các học thuyết, quan điểm khác nhau về ly thân; quy định về ly thân trong pháp luật Việt Nam trước đây, cụ thế là trong Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883, Bộ luật gia đình năm 1959 (dưới chế độ Ngô Đình Diệm), Bộ luật Dân sự năm 1972 của Ngụy quyền Sài Gòn; sự hạn chế của Luật HNGĐ năm 1986 do không quy định về ly thân
Bài viết Sự cần thiết luật hỏa chế định ly thân trong Luật hôn nhân và gia đình, Đoàn Thị Ngọc Hải, tạp chí Tòa án điện tử, đăng ngày 08/8/2019
Tác giả nêu thực trạng và nguyên nhân vấn đề ly thân ở Việt Nam những năm gần đây, khó khăn của Thẩm phán khi giải quyết vụ án ly hôn của vợ chồng đã từng ly thân mà trong thời gian ly thân xảy ra tranh chấp về tài sản, trách nhiệm nuôi con ; sự bất cập bởi pháp luật hiện hành không giải quyết được thỏa đáng những tranh chấp thực tiễn
2.2 Các luận vãn, luận án
Luận văn Thạc sĩ luật học Ly thân - Một số vấn đề lỷ luận và thực tiễn, Nguyễn Ngọc Sơn, 2014, Đại học Luật Hà Nội và Luận văn Thạc sĩ Luật học Những vấn đề pháp lý về ly thân, Lê Thị Lương, 2016, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Các luận văn có nội dung nối bật là đưa ra số liệu, nêu nhận xét về ly thân trên thực tế và hệ quả của nó, những khó khăn khi giải quyết vấn đề phát sinh trong thời gian ly thân cùa vợ chồng, từ đó kiến nghị xây dựng pháp luật điều chỉnh ly thân ở Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ luật học Căn cứ ly hôn theo Luật HNGĐ Việt Nam • • • • e/ • •năm 2014, Nguyễn Thị Thơm, 2015, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn đề cập một phần đến ly thân như một căn cứ ly hôn theo pháp luật Việt Nam trước đây
10
Trang 72.3 Đê tài nghiên cứu khoa học
Chuyên đề vấn đề ly thân của tác giả Ngô Thị Hường, Hội thảo khoa học về những nội dung liên quan đến Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi, diễn ra tại trường Đại học Luật Hà Nội, 2014 Chuyên đề đã khái quát những quan diem về ly thân và đưa ra ý kiến cá nhân của tác già là “không thể không thừa nhận ly thân, chỉ coi nó là thỏa thuận riêng của vợ chồng và đặt nó ngoài vòng luật pháp được”
Các công trình nghiên cứu trên đã bàn luận về nhiều góc độ và quan điểm về chế định ly thân, tuy nhiên, đề xây dựng một chế độ pháp lý toàn diện về ly thân thì còn khá khiêm tốn Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Xây dựng
chế định ly thân trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam ” để làm
luận văn thạc sĩ luật học Dựa trên tính chất tham khảo, học hôi những nghiên cứu đã có, luận văn này tiếp tục phát triển, phân tích chế định ly thân trong pháp luật HNGĐ Việt Nam, so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra các kiến nghị xây dựng, hoàn thiện che định ly thân sao cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam về vấn đề này
3 Đối tuựng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, các quan điểm về ly thân trên thế giới, pháp luật về ly thân của một số quốc gia, thực trạng ly thân tại Việt Nam hiện nay
về phạm vi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật về
ly thân tại Việt Nam trước đây và của một số quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu về thực trạng các tranh chấp thường hay xảy ra trong thời gian ly thân, các cách giải thích pháp luật và cách giải quyết của Tòa án trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích các vấn đề lý luận về
ly thân, cơ sở, các căn cứ để quy định về ly thân nhằm giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra trong thời kỳ ly thân, vướng mắc mà Tòa án gặp phải khi
11
Trang 8giải quyêt vụ án có tranh châp trong thời gian ly thân Từ đó, luận văn lập luận để đưa ra các căn cứ cần phải xây dựng chế định ly thân và các nội dung cơ bản cần phải có của chế định này trong Luật HNGĐ Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: để có thể đạt được mục đích đặt ra khi • • 4^2 • • • <nghiên cứu đề tài, đòi hởi luận văn phải làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích, xây dựng khái niệm ly thân, làm rõ cơ sở lý luận
về ly thân, cơ sở đế quy định và điều chỉnh pháp luật về ly thân, các nội dung cần điều chỉnh khi quy định về ly thân trong pháp luật
77ỉứ hai, thực trạng ly thân và khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét
xử các vụ án ly hôn có ly thân tại Việt Nam
Thứ ba, phân tích, đánh giá khả năng xây dựng chế định ly thân trong
Luật HNGĐ Việt Nam và các nội dung cơ bản cần phải có của chế định này
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Theo đó, người viết đặt các vấn đề về ly thân trong mối liên hệ, quan hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ; đồng thời, có sự so sánh với các quy định đã hết hiệu lực vấn đề ly thân được xem xét nghiên cứu như một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội, chịu sự tác động của các yếu tố văn hóa, xã hội và các điều kiện sống cụ thể hiện nay tới quan hệ vợ chồng
Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:
Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này được sừ dụng phố biến trong việc làm rõ các khía cạnh lý luận, các quy định cúa pháp luật về ly thân
Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật,
12
Trang 9đông thời nhìn nhận trong môi tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác về ly thân
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến ly thân, các kiến nghị hoàn thiện
Tất cả các phương pháp trên được trình bày đan xen trong luận văn, tùy từng nội dung mà áp dụng phương pháp cho phù hợp để tạo ra sự hài hòa, cân đổi, mạch lạc trong từng vấn đề của luận văn
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
về mặt lý luận, kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý về ly thân
về mặt thực tiễn, luận văn là kết quả tổng hợp dựa trên số liệu thực tế các vụ án có tranh chấp trong thời kỳ ly thân tại Việt Nam Vì vậy, những kiến nghị mà luận văn đưa ra là cơ sở quan trọng bám sát thực tiễn nhằm giúp các cơ quan có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện chế định ly thân trong Luật HNGĐ
6 Co’ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ly thânChương 2: Cơ sở xây dựng chế định ly thân trong pháp luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam
Chương 3: Các nội dung cần điều chỉnh của chế định ly thân trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
13
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SÔ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ LY THÂN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của ly thân
1.1.1 Khái niệm ly thân
Ly thân là một hiện tượng xảy ra trên thực tế trong quan hệ vợ chồng Việc ly thân có thể diễn ra bởi nhiều lý do, trong đó lý do cơ bản nhất là giữa vợ chồng xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn làm ảnh hướng sâu sắc đến tình cảm giữa hai bên mà chưa thể giải quyết được Trong những trường hợp này, trên thực tế, vợ chồng thường lựa chọn giải pháp sống riêng biệt nhau nhằm giảm bớt, giải tỏa sự căng thắng, mâu thuẫn Mặc dù hiện nay ở nước ta, ly thân tuy vẫn tồn tại như một hiện tượng xã hội có tính khách quan, nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh Do đó, tìm hiểu, nghiên cửu
về ly thân cần xem xét dưới hai góc độ: Xã hội học và pháp lý
* Ly thân dưới góc độ xã hội học: Là một quan hệ xã hội tồn tại khách quan trong quan hệ giữa vợ và chồng
Do pháp luật Việt Nam chưa có quy định về ly thân nên có rất nhiều quan điểm với cách hiểu khác nhau Trên thực tế hiện nay, ly thân được nhìn nhận như một hiện tượng xã hội, là một quan hệ xã hội xảy ra trong đời sống vợ chồng Tìm kiếm từ khóa “ly thân” trên thanh tìm kiếm Google ta
sẽ có khoảng 258.000.000 kết quả (0,35 giây) Wikipedia bách khoa toàn thư mở định nghĩa: “Ly thân mô tả quan hệ vợ chồng theo đó hai người không còn chung sống, ãn ở với nhau, nhưng vẫn chưa ly hôn Vợ chồng thường tự thỏa thuận với nhau để sống ly thân chứ không cần phải ra tòa và trên pháp lý thì họ vẫn là vợ chồng Ly thân tạo cơ hội cho vợ hay chồng sống riêng biệt mà không phải cần ly dị” [39]
Theo một số công ty tư vấn luật thì “khái niệm ly thân được hiểu một cách đơn giản là hai vợ chồng sống chung hoặc sống riêng nhưng không có quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục) Neu sau quá trình ly thân, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân
14
Trang 11không thê kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì vợ chông có thê tiến hành thủ tục ly hôn” [40].
Theo đó, dưới góc độ xã hội học, ly thân được hiếu là hiện tượng khách quan chỉ việc vợ chồng chưa ly hôn nhưng không còn đời sống hôn nhân chung (thường là do những mâu thuẫn, bất đồng), họ lựa chọn ly thân như một giải pháp tạm thời nham khắc phục mâu thuẫn, sau đó họ có thể quay trở lại bên nhau như trước khi ly thân hoặc cũng có thế chính thức chấm dứt hôn nhân bằng cách ly hôn
* Ly thân dưới góc độ pháp lý: Là một quan hệ xã hội cần được pháp luật điều chỉnh
Chế định ly thân hay thuật ngữ “ly thân” hoàn toàn không tồn tại trong Luật HNGĐ năm 2014 Trong các văn bản pháp quy cũng không quy định về ly thân Vì vậy, hiện nay không cơ quan, tổ chức nào giải quyết cho
vợ chồng ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân Tuy nhiên, trên thực tế hiện tượng ly thân vẫn tồn tại trong đời sống hôn nhân của nhiều vợ chồng Vì vậy, khi nói đến ly thân được hiểu là ly thân thực tế giữa vợ chồng
Từ góc độ nghiên cứu dưới góc độ luật học hay xã hội học gia đình cũng có một số công trình hay bài báo khoa học nghiên cứu về ly thân Theo
Từ điển luật học, ly thân được hiểu là “việc vợ chồng chấm dứt nghĩa vụ sống chung với nhau trong khi quan hệ hôn nhân chưa hoặc không chấm dứt” [4], “Nghĩa vụ sống chung” được quy định tại khoản 2 Điều 19 (Tình nghĩa vợ chồng) trong Luật HNGĐ năm 2014, theo đó: “ 2 Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu cùa nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác” Nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được hiểu là cuộc sống của một người nam và một người nữ sau khi kết hôn sẽ chung nhà, chung bàn ăn và chung giường, chung chăn gối Tuy nhiên, quy định tại Điều 19 Luật HNGĐ năm 2014 và
15
Trang 12thực tê cũng cho thây, vợ chông không nhât thiêt phải ăn ở, sinh hoạt chung liên tục, thường xuyên trong suốt thời kỳ hôn nhân, nhưng giữa họ phải có mối liên hệ sâu đậm về tình cảm và sinh hoạt vật chất, thể xác Việc không sống chung liên tục trong thời gian dài mà không vì lý do công việc, nghề nghiệp, học tập, công tác hay lý do khách quan khác được hiểu là vợ chồng sổng ly thân với nhau Vợ chồng sống ly thân thường do yếu tố tình cảm chi phối; họ có mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân dẫn đến việc không muốn tiếp xúc, ở cạnh nhau.
Theo các văn bản pháp luật về HNGĐ tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 như: Luật gia đình năm 1959, sắc luật năm 1964 (của chế độ Sài Gòn dưới thời Ngô Đình Diệm), thì vợ chồng muốn ly thân phải yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án chỉ tuyên bố cho vợ chồng ly thân khi có các căn cứ phù hợp với quy định pháp luật Khi bản án tuyên bố cho vợ chồng
ly thân có hiệu lực pháp luật thì vợ chồng chấm dứt nghĩa vụ “đồng cư”, túc
là họ không còn nghĩa vụ sống chung với nhau, trong khi quan hệ hôn nhân giữa họ vẫn tồn tại Như vậy, ly thân được hiểu là: Vợ chồng chấm dứt nghĩa vụ “đồng cư”, tức là vợ chồng không có nghĩa vụ sống chung với nhau mà được quyền sống riêng biệt trong khi quan hệ hôn nhân giữa họ vẫn tồn tại và được pháp luật bảo vệ
Tại Dự thảo Luật HNGĐ - Phiên bản lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương và nhân dân ngày 11/6/2013, khoản 10 Điều 8 “Giải thích từ ngữ” quy định: “10 Ly thân là tình trạng pháp lý, theo đó vợ chồng không có nghĩa vụ chung sống với nhau do cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc của vợ, chồng” Cùng với
đó, tại Điều 20 “Lựa chọn nơi cư trú của vợ, chồng” cũng quy định như sau:
“Nơi cư trú của vợ, chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính Vợ, chồng không được căn cứ vào quy định này để từ chối sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng”
16
Trang 13Tuy nhiên, cũng cân loại trừ trường hợp vợ chông không ở cạnh nhau
về mặt địa lý vì những lý do khách quan, chính đáng như công tác, học tập, công việc Trong trường hợp này, việc không ở bên cạnh nhau cùa vợ chồng chỉ là tạm thời, trong một thời gian nhất định và giữa họ vẫn có mối liên quan mật thiết với nhau về tình cảm, nhân thân và tài sản, tức là họ vẫn sống chung Việc không sống chung hay sống chung không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý càn hiểu rằng khi vợ chồng không sống cùng một nơi
do nhu cầu công việc, học tập, nghề nghiệp thì không thể hiểu là không sổng chung, vì họ vẫn có đời sống hôn nhân chung, vẫn cùng nhau chăm lo cho gia đình, con cái và quan tâm, yêu thương nhau Vì vậy, sẽ là bất thường nếu vợ chồng không sống chung với nhau trong thời gian dài do những mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, bởi khi đó giữa họ mất đi sự liên kết chặt chẽ giữa hai cá thể về mặt tình căm, nhân thân và tài sán Hay “sống chung” giữa vợ chồng là có chung đời sống tình cảm, cuộc sống gia đình, cùng quan tâm, dành tình cám và gắn bó với gia đình, chứ không thể hiếu “sống chung” chỉ bó hẹp về mặt địa lý Do vậy, việc quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng làm căn cứ xác định tình trạng ly thân là hợp lý và phù hợp với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới
Khác với Việt Nam, nhiều quốc gia khác đã luật hóa chế định ly thân trong các văn bản pháp luật chính thống “Theo Điều 296 Bộ luân Dân sự Pháp, chế định ly thân được hiểu là sự giảm độ gắn kết quan hệ vợ chồng, theo đó hệ quả quan trọng nhất là sự hủy bỏ nghĩa vụ chung sống giữa vợ và chồng, trong khi những nghĩa vụ khác như nghĩa vụ chung thủy, nghĩa vụ tương trợ giúp đỡ nhau vẫn phải được duy trì giữa hai vợ chồng theo quy định cùa pháp luật Pháp, do Tòa án ra quyết định trên cơ sở những căn cứ và điều kiện giống như căn cứ và điều kiện ly hôn (vợ chồng ly thân, vợ chồng thống nhất chấm dứt hôn nhân, vợ chồng ly thân do lồi của một bên hoặc ly thân do cuộc sống chung đã hoàn toàn chấm dứt)” [51 Khái niệm này cơ bản đã thể hiện được những đặc trưng của ly thân Tuy nhiên, việc ly thân
17
Trang 14chỉ được thừa nhận hợp pháp trên cơ sở quyêt định của Toà án, làm thủ tục
tố tụng trong ly thân trở nên rườm rà hơn so với một số quốc gia cho phép hai bên tự thoả thuận thông qua văn bản tự chứng thư [5],
Còn theo Luật gia đình tại Anh và xứ Wales (Điều 46 Phần II), ly thân (separation) được hiểu là: Đình chi quyền và nghĩa vụ sống chung chỉ còn để lại nghĩa vụ trung thành và không thể kết lập cuộc hôn nhân mới Sự ly thân
có thế là ly thân tư pháp (judicial separation) hay ly thân thuận ý (voluntary separation) được thực hiện bởi chứng thư ly thân (separation deed) Chứng thư ly thân hợp thức hóa sự hiện hữu phân cách giữa vợ và chồng có thề có các quy định liên quan đến tiền trợ cấp trong trường hợp ly thân tư pháp và bảo dưỡng con cái Sự ly thân tư pháp có thế được tuyên do đơn xin của người chồng hay người vợ nhằm một kỳ hạn nhất định hay vô hạn định trong tất cã các trường hợp mà sự ly hôn sẽ được thỏa thuận, với điều kiện là bên đương sự không có một lồi lầm nào để bị trách cứ [46] Cách hiểu này gần giống tinh thần với pháp luật Cộng hoà Pháp, tuy nhiên, thủ tục mở rộng chấp nhận sự thuận ý hai bên chứng minh bởi chứng thư ly thân
Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp và Luật gia đình tại Anh và xứ Wales quy định về ly thân có những điểm khác biệt nhất định; tuy nhiên, cả hai quốc gia này đều nhìn nhận sống chung là nghĩa vụ của vợ chồng và ly thân chính là tình trạng vợ chồng không còn phải thực hiện nghĩa vụ đó nữa Bên cạnh hai quốc gia này, còn nhiều quốc gia khác quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng, như là: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, tại Điều 226 Quyền V chỉ rõ “Vợ chồng phải sống chung với nhau đúng như quan hệ vợ chồng’’ [6]; Điều 1088 Bộ luật Dân sự Nhật Bản: “Vợ chồng cùng chung sống, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau” [7]; Điều 965 Bộ luật Dân
sự Campuchia: “Vợ chồng phải cùng sống chung và cùng hợp tác giúp đỡ lẫn nhau” [8],
Khái quát lại, ta có thể hiểu “ly thân” như là một hình thức tạm dừng nghĩa vụ sống chung của vợ chồng do những mâu thuẫn trong đời sống hôn
18
Trang 15nhân Không sông chung cân hiêu là không có sự liên kêt vê tình căm, nhân thân và tài sản, không thực hiện những nghĩa chung của vợ chồng đối với nhau và đối với gia đình, không có đời sống chung trong hôn nhân, gia đình Việc không chung sống này bao gồm cả trường hợp vợ chồng ở chung một nhà nhưng ăn riêng, ngủ riêng, không giao tiếp hoặc rất hạn chế giao tiếp Bởi lẽ, nam nữ kết hôn thì sống chung là một trong những mục đích và nhu cầu quan trọng của họ Hay nói cách khác, nam nữ kết hôn là thế hiện mong muốn được sống cùng nhau nhằm có những điều kiện thuận lợi để chăm sóc, yêu thương, quan tâm nhau, quyền được quan hệ tình dục, sinh con và chăm sóc con chung sống chung là một nghĩa vụ tự nhiên luôn gắn liền và
là đặc trưng của quan hệ hôn nhân, đây cũng chính là dấu hiệu của một gia đình “cơ bản”
Nhìn chung, có thể thấy ly thân có các dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất, ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ
chồng, các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với nhau và đối với con chung và tài sản chung Họ vẫn là vợ chồng trước pháp luật và ly thân là giải pháp để giải quyết xung đột, tạo cơ hội cho hai bên suy nghĩ, khắc phục, sửa chữa lồi lầm, mâu thuẫn
Thứ hai, Tòa án là “cơ quan nhà nước có thẩm quyền” phù hợp nhất
để công nhận hoặc quyết định việc ly thân của vợ chồng, bởi thông qua phiên họp hoặc quá trình xét xử, Tòa án có thể xem xét thấu đáo tình trạng mâu thuẫn cùa vợ chồng, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho vợ, chồng và đặc biệt là con cái, bảo vệ lợi ích của người thứ ba trong quan hệ dân sự, đảm bảo tính minh bạch trong chia và quản lý tài sản của vợ chồng
TAứ ba, ly thân là quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng, do đó, chỉ có vợ chồng mới có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận ly thân giữa vợ chồng [9]
Từ những phân tích trên, có thể kết luận: Ly thân là tình trạng pháp
lý xác định moi quan hệ của VỌ’ chồng trong thòi kỳ hôn nhân, được CO’
19
Trang 16quan nhà nước có thâm quyên công nhận hoặc ra quyêt định nhăm châm dứt tạm thời quan hệ sống chung giữa hai vợ chồng.
1.1.2 Đặc điểm của ly thân
Qua tìm hiểu về khái niệm ly than, qua nghiên cứu tài liệu và nhìn nhận tình hình ly thân trên thực tế tại Việt Nam hiện nay, có thể khái quát về đặc điểm của ly thân dưới góc độ pháp lý như sau:
Thứ nhất, ly thân là quyền nhân thân của vợ chồng không thể chuyển
giao cho người khác [10] Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mồi cá nhân không thể chuyển dịch cho người khác, trừ một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật Theo đó, quyền nhân thân của chủ thề nào thì chỉ có chủ thể đó được hưởng mà không thể chuyển giao cho người khác và cũng không ai có thề đại diện cho
họ thực hiện thay họ quyền này Ly thân là quyền nhân thân của vợ chồng
và chỉ vợ, chồng mới có quyền quyết định có ly thân hay không Bời lẽ, chỉ
vợ chồng là chù thể biết được rỗ nhất hôn nhân của mình đang gặp vấn đề gì
và làm cách nào để giải quyết tốt nhất Vì vậy, vợ, chồng là người trực tiếp
có quyền yêu cầu, quyết định có ly thân hay không, ly thân như thế nào, trong bao lâu mà không thể chuyển giao hay úy quyền cho người khác thực hiện thay yêu cầu này
Thứ hai, ly thân thường phát sinh do giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu
sắc về tình cảm nhưng chưa muốn ly hôn Mâu thuẫn này thường xuất phát
từ sự bất đồng trong quan điểm sống hay các hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (như có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm chế độ một vợ một chồng,
có cách sống tha hóa, không quan tâm, chăm sóc gia đình ) làm cho vợ chồng không muốn sống chung với nhau Sự mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức
độ tương đối lớn mà không thể giải quyết trong thời gian ngắn, hơn nữa việc chung sống với nhau đôi khi có tác động xấu đến quá trình hàn gắn làm cho
họ quyết định sống xa nhau Tuy nhiên, ý chí của vợ chồng chưa muốn chính thức chấm dứt hôn nhân mà chỉ muốn chấm dứt nghĩa vụ sống chung
20
Trang 17nhằm giải quyết mâu thuẫn Vợ chồng mong muốn sau thời gian không chung sống, đối phương sẽ thay đổi, sửa chữa lồi lầm để quay trở lại bên nhau hòa hợp hơn.
Thứ ba, ly thân dựa trên cơ sở tự do ý chí, quyền tự định đoạt của vợ
chồng Vợ chồng là hai chủ thể có quyền quyết định cao nhất trong đời sống hôn nhân, từ khi kết hôn, trong quá trình hôn nhân (quyết định các vấn đề con cái, tài sản) và cách giải quyết các mâu thuẫn nếu có (kể cà việc kết thúc đời sống hôn nhân) Ly thân là phương thức thuộc quyền quyết định của vợ chồng Vợ chồng có thể chọn ly thân như một cách giải quyết mâu thuẫn mà không bị bất kỳ ai lừa dối, cưỡng ép hay đe dọa và vợ chồng cũng không được quyền lừa dối, cưỡng ép, đe dọa đối phương để ly thân Việc quyết định này hoàn toàn phải được tự nguyện và thực hiện theo ý chí của
vợ chồng Đặc điểm này của ly thân cho thấy sự sự bình đẳng, tiến bộ của hôn nhân hiện đại và cũng là cơ sở để xây dựng gia đình bền vững
Thứ tư, căn cứ ly thân gần giống hoặc tương tự căn cứ ly hôn Hầu hết
các quốc gia trên thế giới quy định căn cứ để Tòa án/cơ quan có thẩm quyền khác công nhận hoặc quyết định cho vợ chồng ly thân dựa trên các căn cứ tương tự như căn cứ ly hôn Tuy nhiên, điểm khác biệt là Tòa án xét thấy những yếu tố này chưa đến mức quá trầm trọng như ly hôn, vợ chồng không muốn kết thúc hôn nhân và có nguyện vọng được ly thân như biện pháp, cách thức giải quyết tình trạng căng thắng, mâu thuẫn giữa vợ và chồng
Thứ năm, hệ quả pháp lý của ly thân chỉ làm chấm dứt một số nghĩa
vụ nhất định của vợ chồng Đây là điểm khác biệt căn bản nhất giữa ly thân
và ly hôn Ly hôn là sự kiện pháp lý đánh dấu hai chủ thế không còn là vợ chồng trước pháp luật, đồng nghĩa với việc vợ chồng chấm dút tất cả các quyền và nghĩa vụ hôn nhân (chỉ còn lại một số nghĩa vụ chung như nghĩa
vụ nuôi nấng, chăm sóc, giáo dục con chung hoặc nghĩa vụ trả nợ cho khoản
nợ chung) Trong khi đó, ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, mà chi chấm dứt nghĩa vụ sống chung và chế độ cộng đồng
21
Trang 18tài sản Vì vậy, vợ chồng vẫn còn đầy đủ các nghĩa vụ với con chung và tài sản chung đã tạo lập trước đó (theo nguyên tắc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân, chế độ tài sản riêng có thể được thiết lập nếu vợ chồng có thỏa thuận); phải đóng góp phí tổn vào nhu càu đời sống chung gia đình; vợ chồng vẫn phải chung thủy với nhau, tức là không được sống chung như vợ chồng hay kết hôn với người khác, nếu vi phạm dẫn đến hậu quả nhất định thì có thế bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ, tính chất của hành vi vi phạm
1.2 Ý nghĩa của ly thân
Ly thân là khoảng thời gian cần thiết đe vợ chồng nhìn nhận và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân Bởi lẽ, ly thân củng cố hôn nhân hay khuyến khích tư duy nhận thức đổi mới đời sống
vợ chồng Ly thân ra đời trong hoàn cảnh vợ chồng có những trục trặc trong đời sống hôn nhân mà chưa thể tìm thấy ngay lập tức cách giải quyết Vợ chồng cần một khoáng thời gian nhất định để tìm thấy hướng đi chung nhằm hàn gắn mối quan hệ rạn nứt Bởi lẽ, khi mâu thuẫn xảy ra không phải trường hợp nào vợ chồng cũng lựa chọn phương thức giải quyết là ly hôn, tức là kết thúc hoàn toàn quan hệ pháp lý vợ chồng Mà khi đó, hầu hết các cặp vợ chồng đều trải qua giai đoạn “quá độ” là ly thân để tìm cách tháo gỡ, nếu không còn cách nào khác họ mới chọn phương án cuối cùng là ly hôn Đây chính là khoảng thời gian họ đổi mới tư duy, nhận thức về đối phương
và cuộc sống gia đình mà trước đó hay trong lúc mâu thuẫn, tranh cãi họ không nhận ra
Hiện nay, ở nước ta không công nhận ly thân pháp lý, tuy nhiên trong thực tế, ly thân đã và đang là giải pháp được nhiều vợ chồng lựa chọn khi xảy ra mâu thuẫn mà chưa đến mức phải ly hôn, hoặc như là một cách “ly hôn thử” trước khi cùng nhau đưa ra giải pháp tốt nhất cho cuộc sống hôn nhân Nhìn chung, ly thân có ý nghĩa không chỉ với mối quan hệ nội tại của
vợ chồng mà còn có ý nghĩa cả với xã hội Cụ thể là:
22
Trang 19Đôi với vợ chông, ly thân là khoảng thời gian vợ chông giãn cách sau
khi mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung Đây là giai đoạn cả hai người cần khoảng thời gian “tĩnh” để tự bản thân nhìn nhận lại vấn đề, từ đó giúp vợ chồng có thời gian binh tĩnh suy nghĩ lại về cuộc sống hôn nhân, tìm cách giải quyết mâu thuẫn phù họp nhất Rất nhiều trường hợp trên thực
tế đã cho thấy, sau giai đoạn ly thân, các cặp vợ chồng đã có thể cùng nhau tìm ra giải pháp chung để giải quyết những mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân của mình Những giải pháp có thể mang tính tích cực như là sự hàn gắn, kết nối lại cùa hai vợ chồng, tìm được sự căm thông, chia sẻ và hiểu nhau hơn nhưng đôi khi cũng có thế theo chiều hướng tiêu cực đó là ly hôn Tuy nhiên, việc ly hôn trong những trường họp trải qua khoảng thời gian ly thân thường không quá phức tạp bởi giữa hai vợ chồng thường đã có
sự thỏa thuận, thống nhất về các vấn đề như nuôi con, chia tài sản trong thời gian ly thân Do đó, việc giải quyết các vụ việc ly hôn khi đã trải qua giai đoạn ly thân thường không phức tạp và nhiều tranh chấp như những vụ việc
ly hôn thông thường
Bên cạnh đó, việc ly thân trong khoảng thời gian mâu thuẫn vợ chồng
sẽ giúp cho mối quan hệ vợ chồng giảm thiểu các cuộc xung đột, tranh chấp, đặc biệt là hiện tượng bạo hành trong gia đình Đã có không ít những bài học đau thương xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và không thể không kể đến những sự việc như bố, mẹ bạo hành con; chồng (vợ) bạo hành vợ (chồng), thậm chí đã có những vụ án mạng liên quan đến mâu thuẫn vợ chồng Chính vì vậy, ly thân sẽ là một giải pháp thích hợp trong những trường hợp này, đặc biệt trong việc đảm bảo quyền lợi của nhóm người yếu thế (phụ nữ, trẻ em )
Đặc biệt, với vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc chồng theo đạo Công giáo, ly thân là giải pháp duy nhất cho họ khi hôn nhân không thể tiếp tục, bởi giáo lý của đạo Công giáo không cho ly hôn
23
Trang 20Ngoài ra, phong tục, tập quán của người Việt Nam thường rât coi trọng danh dự, uy tín, sĩ diện của gia đình Do đó, khi mối quan hệ hôn nhân rạn nứt, đổ vỡ thì các cặp vợ chồng (đặc biệt là cặp vợ chồng đã có tuổi) thường tìm những giải pháp phù hợp như ly thân thay vì ly hôn Đôi khi, ly thân cũng sẽ là một giải pháp thích hợp nhằm giải quyết mâu thuẫn vợ chồng mà vẫn cỏ thể giúp ổn định các mối quan hệ xung quanh (cha mẹ, họ hàng, bạn bè, công việc ), đặc biệt không làm ảnh hưởng đến con chung.
Đối với xã hội, ly thân sẽ là giải pháp giúp các mối quan hệ trong xã
hội phần nào ồn định hơn Trong rất nhiều trường hợp, mâu thuẫn vợ chồng hoàn toàn có thể giải quyết thông qua ly thân mà không cần phải sử dụng đến thủ tục ly hôn Việc ly hôn sẽ làm cho các quan hệ xã hội thay đổi, từ quan hệ vợ chồng, gia đình tới những quan hệ khác có liên quan cũng buộc phải thay đối hoặc chấm dứt theo (như các quan hệ tài sản, sở hữu, giao dịch dân sự )
Như trên đã phân tích, ly thân cũng sẽ giúp cho xã hội giảm thiểu được những hậu quả không đáng có như bạo hành gia đình, ngược đãi phụ
nữ, trẻ em hay những vụ án hình sự có liên quan đến mâu thuẫn, tranh chấp giữa vợ chồng Vì vậy, ly thân cũng góp phàn giảm thiểu sự bất ổn xã hội, mất trật tự trị an nơi sinh sống của các cặp vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống gia đình
1.3 Các quan điểm pháp lý điều chỉnh về ly thân tại một số quốc gia trên thế giới
Theo học thuyết Mác-Lênin về HNGĐ thì vấn đề ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo Chủ nghĩa Mác-Lênin cho ràng HNGĐ là những hiện tượng
xã hội có quá trình phát sinh, vận động do các điều kiện kinh tế - xã hội quyết định Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Mác và Ăngghen đã phân tích: Lịch sử gia đình là lịch sử của quá trình xuất hiện chế độ quần hôn, chuyển sang gia đình đối ngẫu, phát triển lên gia đình một vợ một chồng - là quá trình không ngừng hoàn
24
Trang 21thiện hình thức gia đình, trên cơ sở sự phát triên của các điêu kiện sinh hoạt vật chất của con người Mác và Àngghen nhìn nhận:
“Cái sẽ biến mất một cách chắc chắn trong chế độ một vợ, một chồng là tất cả những đặc trưng mà những quan hệ tài sản đẻ ra
nó Những đặc trưng đó là: Sự thống trị của người đàn ông và tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân Sự thống trị của người đàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị về kinh
tế Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, một phần là kết quả của sự thống trị về kinh tế trong đó chế độ một vợ, một chồng phát sinh và phần nữa là truyền thống của thời kỳ trong đó mối quan hệ giữa những điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ, một chồng còn chưa được người ta hiểu đúng đắn và đã bị tôn giáo thổi phồng lên” [11],
Thêm vào đó, Mác và Ăngghen cho rằng: “Nhà thờ Thiên chúa giáo
sở dĩ cấm ly hôn, có lẽ cũng chỉ vi đã thấy rằng không có phương thuốc nào trị được ngoại tình cũng như không có phương thuốc nào trị được cái chết cà” [11] Như vậy có thể thấy rằng theo quan điểm của Mác và Ănggen thì
ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo
Đặc biệt, theo sách Giáo lý của Công giáo thì hôn nhân là việc do Chúa tạo lập và những gì Thiên Chúa tạo lập thì loài người không được phân ly Do đó, vợ chồng không thể chia tách, ruồng bở nhau mà phải luôn gắn bó, “ăn đời ở kiếp” với nhau Cụ thể tại Giáo lý Công giáo số 2384 đã ghi nhận: “Ly dị là một vi phạm nặng nề đối với luật tự nhiên: Nó dám phá
vỡ giao ước đã được hai vợ chồng tự do ký kết, là sống với nhau cho đến chết” [28], Trong 07 Phép Bí tích, Bí tích về hôn phối răn dạy các con chiên rằng: “Hôn Phối là bí tích Chúa Giêsu đã lập để kết hợp một nam, một nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa và Hội Thánh và ban ơn đặc biệt để giúp họ sống chu toàn nghĩa vụ”; mục đích của hôn phối là “Sinh sản và giáo dục con cái theo đạo Công Giáo, trung thành, yêu thương và nâng đỡ nhau”
25
Trang 22Tâm quan trọng của hôn phôi là “Tình yêu vợ chông biêu hiện tình yêu Chúa và Hội Thánh Sinh sản con cái để thời phượng Chúa”; “Hợp nhất: phải giữ một vợ một chồng Không được ly dị và phải sống hoà thuận với nhau cho đến chết” [29].
Tuy nhiên, cuộc sống thực tế giữa vợ và chồng thường không thuận lợi như những gì mong đợi, sẽ có những lúc xảy ra mâu thuẫn, xung đột và nếu những điều này không được giải quyết triệt để thì rất dễ dẫn tới tình trạng vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa Những hệ thống pháp luật theo quan điểm Công giáo như đã phân tích trên nên việc vợ chồng ly hôn thường bị cấm và chế định ly thân là một giải pháp phù hợp trong hoàn cảnh này Điều này không đồng nghĩa với việc ly thân chỉ áp dụng đối với những người theo đạo Công giáo mà giải pháp này còn được
áp dụng rộng rãi ở một số quốc gia, những nơi coi việc áp dụng các quy định về ly thân như một giai đoạn quá độ trước khi quyết định việc ly hôn Thông thường, các quốc gia chấp nhận chế định ly thân tồn tại trong hệ thống pháp luật nước mình sẽ phân loại ly thân theo tình trạng thực tế và tình trạng pháp lý Theo đó, ly thân theo thực tế có thể sẽ là một trong những căn cứ pháp lý xác đáng để Tòa án xác định và tuyên bố mối quan hệ
vợ chồng rơi vào tình trạng ly thân pháp lý Pháp luật các nước như Singapore, Philippines, Pháp, Canada là những nước theo quan điểm chấp nhận chế định ly thân, trong khi đó Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc hiện nay là những quốc gia chưa có quy định về chế định ly thân
1.3.1 Ly thân trong pháp luật về hôn nhân và gia đình một so bang tại Hoa Kỳ
Luật gia đình (Family Code) tại Bang California - Hoa Kỳ định nghĩa
ly thân tại Phần 2310 (Section 2310 - grounds for separation) như sau: “Ly thân (separation) là tình trạng hai vợ chồng sống riêng rẽ (ăn riêng/ở riêng/hai nơi khác nhau, dù trong cùng một nhà); Trong giai đoạn ly thân, hai bên sống tự do, nhưng hôn thú vẫn còn, nên các đương sự không thể kết
26
Trang 23hôn với người khác; Trong thời kỳ ly thân, tài sản hôn nhân (marital property) tạm chấm dứt, mọi việc mua bán, nợ nần, thuế má đều có tính cách riêng rẽ” [47].
Ly thân pháp định (legal separation) theo Luật gia đình Bang California là: “Ly thân pháp định (legal separation) là tình trạng hai vợ chồng sổng riêng rẽ sau khi có án lệnh toà thụ lý cho ly thân Lý do xin ly thân pháp định có thế là: hành hạ, ngược đãi (abuse, crualty); trốn bỏ (abandonment); tù đầy (imprisonment); ngoại tình (adultery); bở bê gia đình (failure to support) Đương sự có quyền chọn ly thân trước khi ly dị Nhưng
ly thân sẽ không cần thiết, nếu đương sự có lý do chính đáng (như liệt kê trên) để xin ly dị ngay Sau giai đoạn ly thân, đương sự có thể lập thủ tục xin ly hôn trước Tòa” [47],
Thuận tình ly thân (separation by mutual consent) theo Luật gia đình Bang California là: “Hai bên hôn phối có thể thuận tình ly thân Họ chỉ cần có nhân chứng (họ hàng, bạn bè) xác nhận tình trạng và thời điểm ly thân; Họ có thể hợp thức hóa tình trạng thuận tình ly thân khi hai bên thuận nhận ký kết khế ước ly thân và phân chia tài sản (Property Settlement Agreement/PSA) Khế ước này ấn định tình trạng tài chính, phân chia của cải và trách nhiệm riêng rẽ của hai bên đương sự, đồng thời ấn định trách nhiệm nuôi dưỡng và quyền giữ, thăm con cái cùa họ Neu một bên không thi hành đúng khế ước PSA, bên kia có quyền kiện đối phương bội ước” [47],
Tại các bang Hoa Kỳ cũng có những quy định khác nhau về ly hôn liên quan đến ly thân, Tòa án có thể ra phán quyết cho vợ chồng ly hôn trong trường hợp: Tại New York “nếu vợ chồng ngoại tình; trốn bỏ cơ sờ hôn nhân; độc ác; phạm tội đại hình; ly thân pháp định/ước định quá 01 năm” [48J; tại Texas “nếu vợ chồng ngoại tinh; trốn bỏ cơ sở hôn nhân; độc ác; điên khùng; phạm tội đại hình; ly thân 03 năm; hôn nhân đổ bể” [49]; tại Viginia “nếu vợ chồng ngoại tình; bỏ cơ sở hôn nhân; loạn dâm, độc ác; phạm tội đại hình; ly thân 01 năm” [50] Ly thân là một căn cứ quan trọng
27
Trang 24để Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn Đa số (95%) các vụ ly dị trên khắp Hợp Chủng Quốc thuộc loại không viện lỗi (no-fault divorces) căn cứ trên tình trạng khác biệt bất khả hoà giải (irreconcilable differences) hoặc hôn nhân bất khả cứu vãn (irretrievable marriage break-down) Đó cũng là trường hợp ly hôn hoán chuyển (conversion divorces) tiếp nối cuộc ly thân pháp định, hoặc thuận tình ly hôn (divorce by mutual consent) tiếp nối các thủ tục thuận tình ly thân có trước Bên nguyên đơn xin toà thụ lý chuẩn chấp những điều khoản ước định của khế ước ly thân và phân chia tài sản (Property Settlement Agreement/PSA) mà hai bên đã ký kết trước đây Khế ước này có tính cách cưỡng bách khi được sát nhập vào lệnh công bổ ly dị (decree) của Toà thụ lý.
Các quy định về phân chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho
vợ, chồng khi ly hôn, quyền gìn giữ, chăm nom, thăm viếng hay cấp dưỡng con cái khi vợ chồng ly hôn cũng phần lớn dựa vào những thỏa thuận của vợ chồng khi ly thân hay quyết định của Tòa án khi phán quyết cho vợ chồng ly thân trước đó Ví dụ như:
“Trong trường hợp thuận tình ly hôn (divorce by mutual consent), hai bên đương sự căn cứ vào khế ước ly thân và phân chia tài sản (Property Settlement Agreement/PSA) để ấn định việc phân chia của cải thuộc khối tài sản hôn nhân (marital property) gồm có tài sản thu hoạch trong thời kỳ hôn thú và của cải tuy trước riêng, sau này kết nhập (commingled) phần thu hoạch mới vào khối tài sàn hôn nhân ” [51]
“Vợ chồng ly thân hoặc ly dị được quyền ước định hoặc pháp định đơn phương (sole custody) hoặc song phương giữ con cái vị thành niên (dual custody), căn cứ vào [a] nhu cầu thuận lợi nhất của con cái (best interest of the child), [b] phương diện sức khoẻ, cá tính của đứa trẻ, [c] mối liên hệ tình cảm với bố hoặc mẹ, [d] khả năng và luân lý của bố hoặc mẹ có ảnh hưởng tới đời sống con cái
28
Trang 25Người cha hoặc mẹ ly thân hoặc ly dị không được giữ con (noncustodian parent) vẫn có quyền thăm viếng chúng, được tham khảo và
có quyền quyết định về việc học vấn, tình trạng sức khoẻ, thủ tục y khoa liên quan tới con cái vị thành niên
Mọi hình thức vi phạm quyền gìn giữ hoặc thăm viếng con cái trên đều bị coi là bất tuân lệnh toà (contempt of court), có thể bị phạt vạ [fíne/bằng tiền] hoặc phạt tù (jail term)
Người cha hoặc mẹ ly thân hoặc ly dị giữ con có quyền di chuyển sang tỉnh hoặc tiểu bang khác nếu thật tâm có lý do chính đáng (good-faith reasons) như công ăn việc làm tốt hơn, đoàn tụ đại gia đình để có thêm giúp
đỡ V.V., dù tình trạng này có thế gây khó khăn cho việc thăm viếng của đối phương không được giữ con cái Toà cũng cho phép di chuyển như vậy nếu người thăm viếng lơ là, thiếu bổn phận, kém tư cách ” [51],
Như vậy, có thể nói ly thân là một chế định cơ bản và quan trọng trong pháp luật HNGĐ tại đa số bang của Hoa Kỳ, bởi Hoa Kỳ nhận định ràng hầu hết vợ chồng đều trải qua ly thân trước khi đi đến quyết định ly hôn Vì vậy, căn cứ, điều kiện, hậu quả pháp lý về nhân thân, tài sản của vợ chồng hay chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly thân đều được quy định rõ ràng và tỉ mỉ
1.3.2 Ly thân trong Bộ luật Dân sự Pháp
Pháp luật Pháp có những đặc trưng của dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law) Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp năm 1804 đã hợp nhất tất cả các luật rời rạc thành bộ luật thống nhất, bao gồm 2283 điều khoản về con người, tài sản và sở hữu Chế định ly thân được quy định tại Thiên IV Quyển thứ nhất về con người (từ Điều 296 đến Điều 309), trong đó Mục một quy định về các trường hợp ly thân và thủ tục ly thân (từ Điều 290 đến Điều 298), Mục hai quy định hệ quả pháp lý của ly thân (từ Điều 299 đến Điều 304), Mục ba về chấm dứt ly thân (từ Điều 305 đến Điều 309) Có thể nói, Bộ luật Dân sự Napoleon năm 1804 là một trong những bộ luật dân sự
29
Trang 26quy định vê ly thân sớm nhât thê giới và được đánh giá cao vê kỹ thuật lập pháp hoàn thiện, nội dung có tính dự đoán thực tế cao.
Nguồn gốc ra đời của chế định ly thân tại Pháp bắt nguồn từ tôn giáo Theo giáo lý Thiên chúa giáo, vợ chồng không được phép ly hôn Vì vậy, ly thân là giải pháp nhà làm luật đưa ra nhằm giãi quyết xung đột gia đình theo đạo Công giáo
về các trường hợp ly thân, Bộ luật Dân sự Pháp quy định Tòa án có thể tuyên bố ly thân theo yêu cầu của một trong hai vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng, căn cứ ly thân và thủ tục ly thân giống như ly hôn [12], có thể là:
“Ly thân theo thỏa thuận chung; Ly thân dựa trên yêu cầu được chấp thuận;
Ly thân vì hành vi sai trái; Ly thân do không thể duy trì cuộc sống chung” [27] Nếu nhận được cả đơn ly hôn và ly thân thì Thẩm phán tuyên bố cho
ly hôn do lồi của cả hai bên
về hậu quả pháp lý, ly thân không làm chấm dứt hôn nhân nhưng làm chấm dứt nghĩa vụ chung sống giữa vợ chồng (Điều 299), “Thẩm phán có thể ra phán quyết:
1 Cho phép vợ chồng ở riêng;
2 Giao cho một bên sử dụng nhà ở và đồ đạc của gia đình; hoặc phânchia việc sử dụng đỏ cho cả hai bên;
3 Ra lệnh giao lại cho mồi bên quần áo và vật dụng cá nhân;
4 Án định tiền cấp dưỡng và khoản tạm ứng về lệ phí tư pháp mà mộtbên phải trả cho bên kia;
5 Cấp cho mỗi bên khoản tạm ứng về phần của họ được hưởng trong khối tài sản chung, nếu thấy cần thiết”
Bên cạnh đó, nếu vợ mang tên chồng thì có thể vẫn được giữ tên đó, nếu chồng ghi họ của vợ liền tên mình thì vợ có thể yêu cầu không cho chồng dùng họ của mình nữa (Điều 300) Việc ly thân làm chấm dứt quan
hệ tài sản chung (khoản 4 Điều 1441) Từ khi ly thân dần tới biệt sàn và chế
độ tài sản được áp dụng là chế độ tài sản riêng (Điều 302) và tự chịu trách
30
Trang 27nhiệm đôi với giao dịch trong khôi tài sản riêng do mình xác lập hoặc tạo dựng sau ly thân Nếu ly thân do thuận tình, vợ chồng có thể thỏa thuận về phương thức tách tài sản hoặc thanh lý tài sản chung trong văn bản thỏa thuận ly thân Neu ly thân do hai người cùng yêu cầu thì họ có thể ghi trong bản thỏa thuận khước từ quyền thừa kế mà họ được hưởng theo quy định của pháp luật (Điều 301) Tuy nhiên, nếu không có thoả thuận thì nếu một trong hai vợ chồng chết trong thời kỳ ly thân, người phối ngẫu còn sống vẫn giữ quyền hưởng thừa kế di sản theo pháp luật Ngoài ra, nghĩa vụ trợ giúp
và tôn trọng lẫn nhau vẫn tồn tại Khi ly thân, một bên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên có khó khăn, túng thiếu mà không tính đến lồi của bên nào (Điều 303) Những hậu quả pháp lý khác của ly thân (Điều 304) Ví dụ như nghĩa vụ trông nom, cấp dưỡng cho con chung theo Điều 288 Ly thân có thể kéo dài vô thời hạn, quy định này nhằm hợp lý hóa đời sống hôn nhân cho các vợ chồng theo đạo Công giáo
về chấm dứt ly thân: Neu vợ chồng tự nguyện về với nhau thì ly thân chấm dứt Việc tự nguyện trở lại phải cuộc sống chung phải được xác nhận bằng công chứng thư hoặc bằng việc khai với viên chức hộ tịch (Điều 305)
Vợ chồng khi chấm dứt ly thân vẫn có chế độ tài sản riêng biệt, trừ khi vợ chồng thỏa thuận một chế độ tài sản mới trong hôn nhân (Điều 305) Theo yêu cầu của hai vợ chồng, bản ly thân sẽ được tự động chuyển thành ly hôn nếu việc ly thân kéo dài 03 năm (Điều 306) Trong mọi trường hợp, việc ly thân có thể chuyển thành ly hôn theo đơn của cả hai vợ chồng (Điều 307)
Tóm lại, Cộng hòa Pháp quy định về ly thân và hậu quả pháp lý của
ly thân rất chặt chẽ, tinh thần chế định này vẫn còn được giữ cho đến ngày nay, cho thấy sự tiến bộ và tính dự liệu thực tế rất cao; là một “khuôn mẫu” cho các quốc gia khác trên thế giới (bao gồm cả các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống thông luật) tham khảo khi xây dựng chế định này trong pháp luật của quốc gia mình
31
Trang 28KÊT LUẬN CHƯƠNG 1
Tại Chương 1, tác giả đi sâu nghiên cứu những vân đê lý luận vê ly thân như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và quan điểm pháp lý của một số quốc gia trên thế giới Theo đó, qua việc tìm hiểu, phân tích dựa trên cơ sở
xã hội học và cơ sở pháp lý, tác giả đã đưa ra khái niệm chung nhất về ly thân và chỉ ra một số đặc điểm, ý nghĩa quan trọng của ly thân Bên cạnh đó, việc đưa ra một số quan điểm pháp lý của một số quốc gia trên thế giới cũng
đã góp phần làm rõ hơn nhận thức chung về vấn đề ly thân Từ những nội dung của Chương I đã tạo tiền đề trong việc nghiên cứu cơ sở xây dựng chế định ly thân trong pháp luật hôn nhân và gia đình tại Chương II
32
Trang 29CHƯƠNG 2
Cơ SỞ XÂY DựNG CHẾ ĐỊNH LY THÂN TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
2.1 Các yếu tố chi phối đến việc ly thân tại Việt Nam
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng, trong đó quan hệ tính giao giữa hai người có ý nghĩa quan trọng, nhưng không ở đâu, bất kỳ quốc gia nào, dù là khác nhau về chế độ chính trị xã hội, lại đồng nhất hôn nhân với quan hệ tính giao Hôn nhân chỉ tồn tại trong xã hội loài người, thể hiện văn hóa, ý thức của con người trong quan hệ tính giao, vừa thế hiện tính tự nhiên, vừa mang những đặc điểm xã hội - kinh tế sâu sắc của mồi giai đoạn lịch sử Tùy thuộc vào điều kiện xã hội và những yếu tố văn hóa tộc người
mà hôn nhân diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau, vừa phản ánh quy luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử, vừa mang những đặc thù văn hóa tộc người [13]
Có rất nhiều yếu tố chi phối đến tình trạng ly thân của vợ chồng Tuy nhiên, tại Việt Nam, ly thân nói riêng và tình trạng hôn nhân nói chung chủ yếu bị chi phối bởi các yếu tố như: Kinh tế, xã hội, tôn giáo, chính trị, khu vực sinh sống, độ tuồi, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng việc làm của vợ chồng Các yếu tố này có thể được chia thành 02 nhóm là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
Số liệu thống kê từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê - Bộ kế hoạch và đầu tư đã chỉ ra một số yếu tố tác động đến tình trạng ly thân tại Việt Nam Các số liệu này có biến số phụ thuộc là tình trạng ly hôn/ly thân các cá nhân (ly hôn hoặc ly thân=l, đang có vợ/chồng=0) Riêng với mô hình cho phụ nữ thì bổ sung thêm chỉ báo về tình trạng đã từng sinh con Kết quả ước lượng biến số phụ thuộc từ mô hình hồi quy tuy được gọi là xác suất ly hôn/ly thân, nhưng thực chất là xác suất
ở tình trạng ly hôn/ly thân (chứ không phải xác suất trớ thành người ly hôn/ly thân) Ket quả cho thấy, không như trong mô hình hồi quy về tình
33
Trang 30trạng kêt hôn sớm, các biên sô độc lập trong mô hình này chỉ giải thích được phần khá nhở sự biến thiên của biến số phụ thuộc Nguyên nhân là ly hôn/ly thân là hiện tượng xã hội còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác không có trong mô hình Sau đây là phân tích mối liên hệ của từng biến số độc lập đến xác suất ly hôn/ly thân trong dân số ở độ tuổi từ 15-69 tuổi đã từng kết hôn
PTTH
Dưởi PTCS CXíỡi Tiếu học
Cô tôn gião Dàn tộc thiếu só Người nhập cư
<50-69 tuổi 5O-S9 tudĩ -40-49 tuổi 30-39 t udi 20-29 tudi 15-19 tudi Thành thi
ĐB Sông CL Dong Nam Bộ Tây Nguyên Bắc Trung bọ vả
DH Miên Trung
ĐB Sõng Hóng Mĩẽn núi phĩai Bãc
Biêu đô 1 Các hệ sô mô hình hôi quy vê xác suât ly hôn/ly thân
trong nhóm 15-69 tuổi tại Việt Nam [14]
Chú ý: Khảo sát bao gồm cả đối tượng ly hân và ly thân trên thực tế.
Dựa vào số liệu được khảo sát từ Báo cáo cấu trúc tuổi - giới tính và tình trạng hôn nhân của dân số Việt Nam năm 2009 của Tổng cục thống kê
- Bộ kế hoạch và đầu tư ở trên, ta có thể khái quát các yếu tố ảnh hướng đến
ly thân tại Việt Nam như sau:
34
Trang 31Thứ nhât, các yêu tô chủ quan chi phôi đên việc ly thân của vợ chông
là điều kiện kinh tế gia đình, độ tuồi, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, tình trạng khuyết tật, tình trạng con cái của vợ chồng
Các số liệu thống kê cho thấy, gia đình có điều kiện kinh tế tốt có tỷ
lệ ly thân thấp hơn gia đình có kinh tế khó khăn Điều này có thể đuợc lý giải bởi vợ chồng có kinh tế từ mức trung bình khá của xã hội sẽ ít xảy ra mâu thuẫn hơn; ngược lại, hoàn cành kinh tế khó khăn thường tạo ra những nguy cơ xảy ra mâu thuẫn, cãi vã giữa vợ chồng, làm cho tình cảm giữa vợ chồng bị ảnh hưởng xấu Điều này cũng có thể nhìn thấy ở số liệu tỷ lệ ly thân theo vùng kinh tế - xã hội, đó là trong cùng điều kiện xác định bởi các biến số độc lập khác trong mô hình, Trung du và miền núi phía Bắc có xác suất ly hôn/ly thân cao hơn ở các vùng Đông bằng Sông Hồng, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, nhưng thấp hơn vùng Đông Nam Bộ Điều đó cho thấy những vùng có kinh tế khó khăn ly thân cao hơn vùng có kinh tế khá Tuy nhiên, yếu tố vùng kinh tế không ảnh hưởng quá nhiều đến tình trạng ly thân, mà cần nói rỗ hơn là tình trạng kinh tế của gia đình mới ảnh hưởng trực tiếp đến ly thân, bởi vùng Đông Nam Bộ có điều kiện kinh tế vùng tốt hơn khu vực miền Trung, Tây Nguyên nhưng lại có tỷ lệ ly thân cao hơn
về độ tuổi, đối với phụ nữ đã từng kết hôn, xác suất ly thân thấp nhất
ở độ tuổi 15-19, sau đó tăng dần và đạt mức cao nhất ờ độ tuổi 40-49, rồi lại giảm dần ở nhóm 50-59 và 60-69 tuổi Xác suất ly thân cùa nam cũng tăng dần và đạt mức cao nhất ở nhóm 30-39 tuổi, sau đó giảm dần khi tuổi tăng lên và đến độ tuổi 60-69 thì còn thấp hơn cả ở nhóm 15-19 tuổi Như vậy, mối tương quan giữa xác suất ly thân với tuổi của cả nam và nữ đều có dạng hình chuông với đỉnh là độ tuổi 30-39 cho nam và 40-49 cho nữ Điều này cho thấy nhóm tuổi trung niên ly thân cao nhất, bởi độ tuổi này thường có đời sống hôn nhân nhàm chán sau nhiều năm kết hôn, không còn mặn nồng,
35
Trang 32dễ xảy ra cãi vã và con cái đã trưởng thành, vì vậy vợ chồng thường bất mãn nên dễ dẫn đến quyết định ly thân.
về trình độ học vấn của vợ chồng, với cả nam và nữ thì trình độ học vấn càng cao tương ứng với xác suất ly thân càng thấp và sự khác biệt của xác suất ly thân theo trình độ học vấn ở nam giới rõ hơn là ở phụ nữ Điều này cũng đồng nhất với kết quả điều tra về gia đình Việt Nam năm 2006 Thông thường, xã hội hiện đại hóa, công nghiệp hóa hơn, có trình độ học vấn cao hơn và tinh trạng ly thân cũng thường phổ biến hơn so với trong xã hội truyền thống, chậm phát triển Tuy nhiên theo kết quả hồi quy thì trình
độ học vấn cao không dẫn đến tăng ly thân mà có lẽ là ngược lại Ngoài ra,
có một điểm cũng đáng chủ ý là không thấy có sự khác biệt về xác suất ly thân của phụ nữ giữa nhóm có trình độ dưới tiểu học và đã tốt nghiệp tiểu học Điều đó cho thấy, nếu chỉ xét riêng yếu tố trình độ học vấn thì sẽ không thể kết luận được tác động của nỏ tới ly thân, mà phải xét trình độ học vấn gắn với điều kiện kinh tế-xã hội, xu hướng tư duy cộng đồng mới có thể kết luận được vấn đề này
về tình trạng việc làm, mối liên hệ giữa xác suất ly thân với tình trạng việc làm lại theo chiều hướng trái ngược nhau giữa nam và nữ Nam giới đang có việc làm có xác suất ly thân thấp hơn so với nam giới không làm việc, nhưng phụ nữ đang làm việc lại có xác suất ly thân cao hơn phụ nữ không làm việc Lý do có thế là kiếu gia đình “chồng làm việc - vợ nội trợ” còn khá phổ biến và nếu vợ chồng như vậy ly thân thì người phụ nữ buộc phải đi làm Một cách giải thích khác là đa số những trường hợp ly thân ở Việt Nam là do phụ nữ chủ động (UNICEF, 2008) khi mà vị thế trong gia đình của họ không thấp hơn của nam giới Vì vậy, khi phụ nữ có việc làm hoặc nam giới không làm việc thì vị thế của phụ nữ tăng lên và do đó, khả năng ly thân cũng tăng Các nhà nghiên cứu cũng lập luận rằng, việc phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động gia tăng là yếu tố quan trọng làm tăng tỷ suất ly thân Cơ chế của mối liên hệ này là phụ nữ có việc làm sẽ có thu
36
Trang 33nhập và do đó, tăng khả năng tham gia vào công việc xã hội, công việc ngoài gia đình và phần nào tăng sự giao tiếp với người khác giới ở nơi làm việc, phụ nữ sẽ tự tin hơn, độc lập hơn, ít phụ thuộc vào người chồng hơn và không sợ bị ảnh hưởng tiêu cực cùa việc ly thân sẽ dẫn đến khả năng ly thân cao hơn Cũng có ý kiến cho rằng tỷ lệ ly thân tăng do vai trò truyền thống trở thành gánh nặng cho phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động ở Việt Nam Tuy nhiên, điếm tương đồng là gia đình có cả vợ và chồng có việc làm thì tỷ lệ ly thân thấp hơn gia đình có cả vợ và chồng không có việc làm Số liệu này phù hợp với cách lý giải về số liệu của tình trạng kinh tế gia đình như đã giải thích ở trên Hay nói cách khác, có thể kết luận về cả hai yếu tố kinh tế gia đình và tình trạng việc làm của vợ chồng là: Gia đinh
có vợ và chồng đều có việc làm và có điều kiện kinh tế khá thì có tỷ lệ ly thân thấp hơn gia đình chỉ vợ hoặc chồng có việc làm và kinh tế gia đình khó khăn
về tinh trạng khuyết tật, kết quả rõ nhất và có thể dự báo trước là người bị khuyết tật về tâm trí thì có xác suất ly thân cao hơn nhiều so với người không khuyết tật và sự khác biệt này ở nam giới rõ hơn ờ phụ nữ Phụ
nữ bị khuyết tật vận động hay khuyết tật thị giác cũng có xác suất ly thân cao hơn so với phụ nữ không khuyết tật Trong khi đó, có lẽ do bao gồm cả không ít trường hợp bị cận thị nặng (thường có trình độ học vấn trung bình hoặc cao), nam giới khiếm thị có xác suất ly thân không khác ở nam giới không bị khuyết tật này Kết quả có vẻ khó hiểu là nam giới bị khiếm thính hay đi lại khó khăn lại có xác suất ly thân thấp hơn so với nam giới không khuyết tật Chắc hẳn đây không phải là dạng khuyết tật khó được phụ nữ chấp nhận như rối nhiễu tâm trí Theo Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 (UNICEF, 2008) thì trong số các vụ ly hôn có tới gần 28% do mẫu thuẫn về lối sống và 26% là do ngoại tình, nhưng chỉ có 2,2% là do sức khỏe Vì vậy,
ít có khả năng sức khởe là vấn đề ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc gia đình của nam giới Neu như hai nguyên nhân chù yếu của ly thân (mâu thuẫn lối sống
37
Trang 34và ngoại tình) ít xãy ra ở nhóm nam giới thì việc gia đình họ có thê bên vững hơn so với các gia đình khác là điều hợp lý Tuy nhiên, đây chỉ là giả thiết cần được nghiên cứu sâu hơn.
về tình trạng đã sinh con, khi đã có gia đình thì phụ nữ có con sẽ có xác suất ly thân thấp hơn phụ nữ chưa có con Rõ ràng là trong xã hội Việt Nam, những đứa con luôn là mổi ràng buộc rất quan trọng của hôn nhân Neu nhiều cặp vợ chồng đã phải ly thân, thậm chí ly hôn vì không có con thì cũng không ít cặp rất mâu thuẫn nhưng không thể ly thân hay ly hôn vì nghĩ đến con cái Rất nhiều vợ chồng, đặc biệt là người vợ, phải chịu đựng cuộc hôn nhân không hạnh phúc suốt thời gian dài chỉ vì lý do “muốn con lớn lên
có đủ bố mẹ”, không loại trừ việc xảy ra bạo lực gia đình (chủ yếu là chồng gây ra cho vợ) Bởi lẽ, phụ nừ Việt Nam thường có tư tưởng sống vì con, khi đã có con mà ly thân thì con sẽ thiệt thòi, hoặc nếu ly hôn thì rất khó tạo lập cuộc hôn nhân mới với người khác Điều này đúng với vợ chồng ở tất cả các độ tuối, từ thanh niên, trung niên đến sau trung niên và đúng với cả nam
và nữ, khi họ đã có con thì kể cả cuộc hôn nhân không còn tình yêu họ vẫn
sẽ cổ gắng sống chung với nhau vì trách nhiệm Nhất là với xã hội truyền thống trước đây, tinh thần trách nhiệm nuôi dạy con cái, cho con có gia đình hoàn chỉnh có đầy đủ các thành viên luôn được đề cao
Thứ hai, các yếu tố khách quan chi phối đến việc ly thân của vợ
chồng phải kế đến là tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, tình trạng nhập
cư, tôn giáo, dân tộc, khu vực sinh sống, xu hướng tư duy của cộng đồng
về tình hình kinh tế-chính trị-xã hội, đây là yếu tố cốt lõi trong sự phát triển ổn định của một quốc gia Một quốc gia có tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tốt đồng nghĩa với việc cuộc sống cùa dân cư tại quốc gia
đó sẽ ổn định, không bị xáo trộn bởi những biến cố như bạo loạn, khủng bố, khủng hoảng kinh tế Khi cuộc sống của người dân không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về bất ổn chính trị thì họ sẽ có thời gian chăm lo cho gia đình, cuộc sống hôn nhân vợ chồng ngày càng được vun vén hơn Chính vì vậy,
38
Trang 35có thê thây răng tình hình kinh tê - chính trị - xã hội sẽ là một trong những
yếu tố tác động không nhỏ tới đời sống HNGĐ cùa vợ chồng
về tình trạng nhập cư, theo số liệu ở băng trên cho thấy, người nhập
cư có xác suất ly thân thấp hơn người bản địa Lý do có thể là đa số người di
cư là từ nơi có điều kiện sống thấp sang nơi có điều kiện sống cao hơn và họ vẫn còn chịu ảnh hưởng lối sống, văn hóa và định hướng giá trị truyền thống nhiều hơn người bản địa Sự khác biệt này ở nam giới lớn hơn ở nữ giới Tại Việt Nam, người dân từ vùng nông thôn, miền núi thường di cư đến những vùng đồng bằng hoặc vùng có cơ hội kinh tế, việc làm tốt hơn (ví dụ như người dân ở các tỉnh miền núi thường di cư đến Hà Nội hay người dân miền Tây đồng bằng Sông Cửu Long thường di cư đến thành phố Hồ Chí Minh)
Tỷ lệ này ở nam giới cao hơn bởi với tư duy truyền thống của người Á Đông, trong đó có Việt Nam, nam giới thường bị đặt nặng về vai trò trụ cột, đồng nghĩa với việc họ là người chăm lo chính về kinh tế trong gia đình
về dân tộc, người dân tộc thiểu số có xác suất ly thân thấp hơn đáng
kể so với người Kinh và hệ số hồi quy cho biển số này không khác biệt đáng
kế giữa mô hình cho nam và cho nữ Điều này cũng phù hợp với lý thuyết
về tác động cũa điều kiện sống đến hôn nhân, bởi hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều sống ở nơi mang tính xã hội truyền thống hơn và điều kiện sống thấp hơn so với nơi người Kinh sống Người dân tộc thiểu số thường bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng gia trưởng, một số nơi còn tồn tại nhiều hủ tục Người dân tộc thiểu số cũng có niềm tin vào thánh thần, họ cho rằng khi đã tiến hành nghi thức cưới hởi, trao lễ vật, tạo lập lời thề trước ban thờ tế lễ thánh thần và ban thờ gia tiên thì họ sẽ “ăn đời ở kiếp” với nhau Ví dụ như: Luật tục dân tộc Xêđăng quy định nếu khi vợ chồng ly hôn thì cả hai người đều bị phạt và nếu người chồng mà bỏ vợ dẫn đến vợ chồng
ly hôn thì sau 06 năm người chồng đó mới được lấy vợ khác, hoặc khi vợ hoặc chồng có người chết trước thì người còn lại sau 03 năm mới được kết hôn [15],
39
Trang 36Vê tôn giáo, xác suât ly thân trong nhóm phụ nữ có tôn giáo cao hơn
so với nhóm phụ nữ không theo tôn giáo, bởi một số tôn giáo không cho phép ly hôn nên các tín đồ sẽ lựa chọn ly thân thay vì ly hôn khi đời sống vợ chồng mâu thuẫn Ket quả hồi quy không cho thấy sự khác biệt này ở nam giới Mặc dù vậy, chưa thể kết luận về sự liên quan giữa tôn giáo và ly thân, nhất là đối với phụ nữ, bởi theo đạo có thế làm giảm khả năng ly hôn hay ly thân nhưng khi đã ly hôn hay ly thân thì lại làm tăng khả năng theo đạo trong khi số liệu từ Báo cáo tổng điều tra dân số ở trên chỉ là kết quả tổng hợp của chúng được thể hiện trên mô hình hồi quy này Theo giáo lý của đạo Phật hay Công giáo, vợ chồng kết hôn với nhau đều do có duyên phận
và không thể dễ dàng phá bò mối liên hệ đó Đạo Phật coi vấn đề ly thân hay ly hôn cỏ phần “thoáng” hơn Công giáo Việc ly hôn hay ly thân không
bị cấm đoán trong đạo Phật Đạo Phật đề cao đời sống chung thủy một vợ một chồng và sự kiêng cừ phạm giới tà dâm không có nghĩa là cấm việc ly hôn; vợ chồng đều có quyền tự do thực hiện việc ly hôn hay ly thân nếu đời sống quan hệ vợ chồng của hai người đã và đang không mang lại hạnh phúc
mà chi làm cho hai người càng thêm bất hạnh Ngược lại, Công giáo cấm ly hôn, vì vậy khi hôn nhân bế tắc, vợ chồng chỉ còn cách ly thân Theo thống
kê của Ban Tôn giáo Chính phù, 26.4% dân số được xếp vào các tín đồ tôn giáo, trong đó, 14.91% là tín đồ đạo Phật, 7.35% là tín đồ Công giáo La Mã, 1.09% là tín đồ đạo Tin lành, 1.16% là tín đồ đạo Cao Đài, và 1.47% là tín
đồ Phật giáo Hòa Hảo [26] Như vậy, có thể thấy đạo Phật chiếm tý lệ cao nhất trong dân số Việt Nam; cùng với giáo lý không cấm ly hôn hay ly thân của đạo Phật đã làm cho số liệu thống kê mối liên hệ giữa tôn giáo và vấn đề
ly thân không phản ánh hoàn toàn thực trạng sự ảnh hưởng của tôn giáo lên đời sống hôn nhân hiện nay Hay nói cách khác, tại Việt Nam chỉ có một phần trăm dân số rất nhỏ (là người theo đạo Công giáo) bị ảnh hưởng tư tưởng bởi tôn giáo (cấm ly hôn) khi quyết định vấn đề ly thân hay ly hôn
40
Trang 37Vê khu vực sinh sông, đây là nơi mà môi quan hệ HNGĐ giữa vợ chồng hình thành và phát triển Do vậy, yếu tố này có tác động trực tiếp tới quan hệ nội tại của vợ chồng Tại khu vực sinh sống có rất nhiều yếu tố tác động như: Đặc điểm văn hóa vùng miền, phong tục tập quán địa phương, lễ tiết tác phong Những yếu tố này sẽ gây ảnh hưởng tới nhận thức, tư duy, thái độ của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt là vấn đề ly hôn hoặc ly thân Rất nhiều trường hợp đã chứng minh rằng chính những tập quán, phong tục địa phương, thậm chí gia phong của một họ cũng sẽ là yếu
tố tác động lớn tới cách suy nghĩ và ra quyết định của vợ, chồng trong vấn
đề ly thân Đôi khi chính vì phong tục, tập quán địa phương hay lễ tiết, tác phong của một gia đình là rào cản trong quyết định ly thân của vợ chồng
Có thể về mặt lý trí, vợ và chồng đã mong muốn ly thân, tuy nhiên do ánh hưởng từ những nhận thức về thuần phong, mỹ tục, về nét văn hóa vùng miền, nơi sinh sống mà vợ chồng rút lại quyết định ly thân mà tiếp tục chung sống hoặc ngược lại, họ cũng cỏ thế tiến tới tình trạng ly thân mà không thực hiện việc ly hôn mặc dù đã có những mâu thuẫn không thể điều hòa
về xu hướng tư duy cúa cộng đồng, đây có thể hiểu là việc đại bộ phận cư dân trong cộng đồng cùng có cách nhận thức và giãi quyết về một vấn đề giống nhau Xu hướng này sẽ là yểu tổ tác động rất lớn tới tâm lý của người dân sinh sống trong cộng đồng đó trong việc giải quyết một vấn đề,
cụ thể như trong ly thân Điển hình như tại khu vực nông thôn, vợ chồng khi xảy ra mâu thuẫn thường có xu hướng “đóng cửa bảo nhau” để tránh rèm pha, dị nghị, ảnh hưởng tới thế diện, hình ảnh của gia đình Đây là điều dễ hiểu bởi tại nông thôn, người dân vẫn giữ được lối sống làng xóm, láng giềng, lễ giáo truyền thống và họ rất sợ tiếng xấu Vì vậy, vợ chồng tại khu vực này thường chọn giải pháp ly thân thay vì ly hôn Ớ trường hợp ngược lại, tại cộng đồng dân cư khu vực thành thị thường có xu hướng tư duy lựa chọn ly hôn nhiều hơn bởi sự tiếp nhận văn hóa phương tây cũng như lối
41
Trang 38sống thông thoáng hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn Khi cộng đồng hình thành một lối tư duy chung, điều này sẽ tạo ra một giải pháp mang tính
“tập quán” trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, có thể là ly hôn và cũng có thể là ly thân
2.2 Vấn đề ly thân theo pháp luật Việt Nam trước đây
2.2.1 Vấn đề ly thân theo pháp luật Việt Nam trước năm 1975
Vấn đề ly thân không được đề cập đến trong pháp luật thời kỳ phong kiến Nếu vợ chồng có những trục trặc đến mức không có cách nào dung hòa được, họ chỉ còn cách đâm đơn xin ly hôn Chương hộ hôn trong Quốc triều hình luật quy định về các nguyên tắc trong lĩnh vực hôn nhân, về cơ bản là: Hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng Các quy định đó thể hiện lề nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội - gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ Bên cạnh việc quy định về kết hôn (nguyên tắc, nội dung, hình thức cưới gả) và quan hệ gia đình (giữa vợ
và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác như vợ cả - vợ
lẽ, anh - chị - em, cha mẹ - con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ), Quốc triều hình luật cũng quy định về chấm dứt hôn nhân tại Chương
hộ hôn như sau:
“Các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: Một trong hai người đã chết hoặc ly hôn về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chi thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thi nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang” [16]
về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau: “Buộc phải ly hôn (các điều
317, 318, 323, 324, 334 Quốc triều hình luật) do hôn nhân đã vi phạm các quy định cấm kết hôn Ly hôn do lồi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi người vợ phạm phải điều thất xuất (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) như: Không con, ghen tuông, ác tật (mắc các bệnh như
42
Trang 39phong, hủi), dâm đãng, không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp Ly hôn do lỗi của người chồng: Điều 308 quy định: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 05 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ” [16],
Như vậy, ngoài các trường hợp được quy định như trên, vợ chồng không thể ly hôn Kể cả trong trường hợp vợ chồng mâu thuẫn, người vợ vẫn phải cam chịu và thuận theo chồng, nơi ở của chồng cũng chính là nơi ở của vợ Bởi lẽ, pháp luật phong kiến nước ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi Nho giáo, trong đó đề cao “tam tòng, tứ đức” của người phụ nữ Người vợ chỉ được ở riêng khi chồng cho phép, nếu không sẽ phạm hình tội và tùy theo mức độ nặng nhẹ mà phải chịu phạt roi, biếm Tuy nhiên, pháp luật phong kiến ở nước ta vẫn hướng tới bảo vệ người vợ ở mức độ nhất định, đó là quy định trường hợp người chồng không được phép bở vợ nếu thuộc trường hợp
“tam bất khứ” Đó là những trường hợp sau: Đã để tang nhà chồng 03 năm; khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi bó lại không có bà con để trờ về Vậy, ly thân không được chấp nhận ở thời kỳ phong kiến, bởi tư tưởng gia trưởng thống lĩnh thời kỳ này Người vợ khi đã lấy chồng đồng nghĩa với việc họ trở thành “người phụ thuộc” vào chồng (thậm chí một số giai đoạn phong kiến còn có tục tuẫn táng - chồng chết thì
vợ phải chết theo) Hay vợ không được quyền có nơi ở khác với chồng, tư tưởng “xuất giá tòng phu” (lấy chồng phải theo chồng) được truyền dạy qua hàng nghìn năm không thể dễ dàng thay đổi
Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trước năm 1945, chính quyền bù nhìn đã ban hành ba bộ luật dân sự, áp dụng riêng trên ba miền Bắc - Trung - Nam Chế độ hôn nhân và gia đinh theo ba bộ dân luật này phần nhiều dựa trên Bộ dân luật Pháp (1804) Tuy nhiên, vấn đề ly thân chỉ được quy định một cách giàn đơn trong Bộ dân luật giản yếu (1883) ở Nam
kì Bộ dân luật Bắc kì (1931) và Bộ dân luật Trung kì (1936) không quy định về ly thân Bộ dân luật giản yếu (1883) ở Nam kì quy định về ly hôn:
43
Trang 40“Trong các trường hợp có thê xin ly hôn được, vợ chông cũng có thê xin ly thân Đơn ấy sẽ được thẩm cứu và xử như trong vụ ly hôn Sau này cũng có thể khởi tố xin ly hôn và căn cứ vào những duyên cớ đã nại ra để xin ly thân” [17],
Sau năm 1954, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính quyền riêng là Việt Nam dân chủ cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Năm 1959, Luật HNGĐ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ở miền Bắc) và Luật 1/59 về gia đình của Chính phủ Việt Nam cộng hòa (ở miền Nam) đều được ban hành Điểm tiến bộ nổi bật nhất của hai luật trên là cùng bãi bỏ chế độ đa thê thời phong kiến [25], Điều 55 Bộ luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm quy định vợ chồng không được ly hôn, việc này chỉ đặt ra trong trường hợp đặc biệt là do chính Tổng thống quyết định Từ Điều 56 đến Điều 69 của Bộ luật này có quy định việc ly thân; những duyên cớ (lồi) để vợ chồng yêu cầu ly thân và hiệu lực của việc ly thân
Ở miền Nam, sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 dưới chế độ Nguyễn Khánh thay thế Luật 1/59 về gia đình, sắc luật sổ 15/64 quy định về giá thú,
tử hệ và tài sản cộng đồng, sắc luật này vừa chấp nhận cho vợ chồng ly thân, đồng thời đã công nhận quyền ly hôn của vợ chồng (Chương II từ Điều 62 đến Điều 99 đã quy định về ly thân, ly hôn) Theo đó, căn cứ ly thân được quy định giống như căn cứ xin ly hôn như sau: “Ngoại trừ trường hợp giá thú bị mất giá trị khi một trong hai người chết, hay do Tòa án tuyên
bố vô hiệu, vợ hoặc chồng chi có thế xin ly hôn hoặc ly thân sau khi lập hôn thú ít nhất là hai năm Ngoài ra, phải có một trong những lý do sau: Người phối ngẫu ngoại tình; Người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội;
Bị ngược đãi, bạo hành, nhục mạ một cách thậm từ và thường xuyên khiến hai người không thế chung sống với nhau được nữa; Có án văn xác định người phối ngẫu bị mất tích; Người phối ngầu bỏ phế gia đình, sau khi có án văn xử phạt người phạm lỗi” [25]
44