1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu xét xử tại tòa án quân sự)

97 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Trộm Cắp Tài Sản Trong Luật Hình Sự Việt Nam (Trên Cơ Sở Số Liệu Xét Xử Tại Tòa Án Quân Sự)
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 23,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tranh, nhât là việc phát hiện và làm hạn chê và loại bỏ dân các nguyên nhân làm phát sinh tội TCTS song hiệu quả mang lại chưa được như mong muốn.Trong thời gian qua, các TAQS đã cố gắng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội trộm cắp tài sản 7

1.1.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản 7

1.1.2 Đặc điểm của tội trộm cắp tài sản 8

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội trộm cắp tài sản 11

1.2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vê tội trộm căp tài sản giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 có hiệu lực 11

1.2.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 về tội trộm cắp tài sản 14

1.2.3 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội trộm cắp tài sản 16

1.2.4 Điểm mới cùa Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội trộm cắp tài sản 18

1.3 Tội trộm cắp tài sản quy định trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới 19

1.3.1 Tội trộm căp tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga 19

1.3.2 Tội trộm cắp tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 22

Tiểu kết chương 1 24

11

Trang 2

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA Bộ LUẬT HÌNH sự NĂM 2015 VÈ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN XÉT xử TỘI NÀY TẠI CÁC• • • •

TÒA ÁN QUÂN Sự 26

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 26

2.1.1 Dấu hiệu khách thể của tội trộm cắp tài sản 26

2.1.2 Dấu hiệu mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản 27

2.1.3 Dấu hiệu chủ thể của tội trộm cắp tài sản 33

2.1.4 Dấu hiệu mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản 34

2.2 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản theo quy định của Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 35

2.2.1 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 35

2.2.2 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 36

2.2.3 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 37

2.2.4 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 37

N r 2.3 Thực tiên áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự vê tội trộm căp tài sàn 38 2.3.1 Tình hình xét xử tội trộm cắp tài sản tại các Tòa án quân sự giai đoạn 2016-2020 38

2.3.2 Một số hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn xét xử đối với tội trộm cắp tài sản tại các Tòa án quân sự 43

2.3.3 Một số nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn xét xử đối với tội trộm cắp tài sản tại các Tòa án quân sự 66

Tiểu kết chương 2 69

• • • ill

Trang 3

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH sự ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI• • • • •

SẢN TẠI CÁC TÒA ÁN QUÂN sự 70

3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về về tội trộm cắp tài sản 70

3.1.1 Hoàn thiện quy định cùa Bộ luật Hình sự 70

3.1.2 Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản 72

3.2 Một số giải pháp khác 77

3.2.1 Tăng cường công tác giám đốc xét xử, tổng kết thực tiễn xét xử; giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật; thanh tra, kiểm tra hoạt động áp dụng pháp luật 77

3.2.2 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân 78

3.2.3 Tăng cường phối hợp giữa Tòa án với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án trộm cắp tài sản 82

3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất cho cơ quan áp dụng pháp luật 84

3.2.5 Tăng cường kiểm tra, tuần tra, giám sát và phát hiện, xử lý kịp thời đối với hành vi trộm cắp 85

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

iv

Trang 4

DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẤT

Cum từ viết tắt • Nguyên nghĩa

BLHS Bô luât Hình sư• • •

BLDS Bô luât Dân sư• • •

VKSQS Viện kiểm sát quân sự

TNHS Trách nhiêm hình sư• •

V

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự của các Tòa án quân sự trong giai đoạn 05 năm (2016 - 2020) 39Bảng 2.2 Số vụ án và số bị cáo đã thụ lý giải quyết về tội trộm cắp tài sản cùa các Tòa án quân sư giai đoạn 05 năm (2016 - 2020) 39Bảng 2.3 Kết quả xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối với các vụ án trộm cắp tài sản của các Tòa án quân sự giai đoạn 05 năm (2016 - 2020) 40

vi

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính câp thiêt cua đê tài nghiên cửu

Quyền sở hữu tài sản luôn đuợc Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo

vệ Mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản đều bị nghiêm trị trước pháp luật Tại Điều 32 Hiến pháp 2013 đã quy định: “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập họp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”

Trong PLHS, quyền sở hữu tài sàn được bảo vệ thông qua các quy định

về các tội xâm phạm sở hữu Đây cũng là một trong những nhóm tội được quy định sớm nhất trong PLHS trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Ke thừa BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) ra đời một lần nữa khẳng định chính sách của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền sở hữu thông qua các quy định tại Chương XVI của Bộ luật Trong số các tội phạm về xâm phạm sở hữu, tội TCTS là một trong nhũng loại tội xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, gây mất ổn định trật tự

an toàn xã hội

Đây là tội phạm xảy ra khá phổ biến và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của các TAQS Tính chất phức tạp của các vụ án TCTS thể hiện ớ việc số lượng vụ án và người phạm tội bị đưa ra xét xử hàng năm liên tục tăng, phương thức thù đoạn phạm tội ngày càng đa dạng và mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng Độ tuổi của người phạm tội ngày càng trẻ hóa, trong đó không ít người có lối sống buông thả, mắc vào các tệ nạn xã hội Những vấn đề đó đã gây hoang mang trong đời sống quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng chung đến an ninh trật tự xã hội Dù đã được các cơ quan có thẩm quyền tích cực áp dụng các biện pháp phòng chống, đấu

1

Trang 7

tranh, nhât là việc phát hiện và làm hạn chê và loại bỏ dân các nguyên nhân làm phát sinh tội TCTS song hiệu quả mang lại chưa được như mong muốn.

Trong thời gian qua, các TAQS đã cố gắng không ngừng nâng cao chất lượng xét xử các vụ án TCTS, hạn chế đến mửc thấp nhất các bản án, quyết định bị sửa, hủy nhưng cũng không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh hay xác định không đúng tình tiết định tội, áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS không chính xác, quyết định hình phạt còn chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm, hậu quả cùa hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như do chưa có sự thống nhất trong nhận thức áp dụng pháp luật; các văn bản hướng dẫn còn thiếu hoặc chưa đầy đủ, rõ ràng; đội ngũ cán bộ thực hiện công tác xét xử còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực chuyên môn nghiệp vụ; điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế; các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế mặc dù có điều kiện về kinh tế nhưng công tác bảo vệ tài sản còn nhiều hạn chế, mất cảnh giác, không quan tâm trang bị các phương tiện khoa học kỳ thuật để phục vụ cho việc phòng ngừa

và chống tội phạm

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tội trộm cắp

tài sản trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu xét xử tại Tòa án quân sự)” làm luận văn Thạc sĩ với mong muốn trên cơ sở nghiên cứu lý luận

và thực tiễn xử lý loại tội này sẽ góp phần bảo đảm việc áp dụng đúng PLHS, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội TCTS trong phạm vi các TAQS

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc nghiên cứu về tội TCTS đã được

để cập đến trong các giáo trình của các trường Đại học, Học viện đào tạo về ngành Luật, sách chuyên khảo Trong đó phải kể đến: Giáo trình Luật hình sự

2

Trang 8

Việt Nam, Tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2016; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007; Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Phần các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu của Lê Đăng Doanh, Nxb Tư pháp, năm 2013; Tội phạm và cấu thành tội phạm của Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb Tư pháp, năm 2015

Luận án tiến sĩ Luật học: Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh phòng chống tội này ở Việt Nam, của Hoàng Văn Hùng, năm 2007: Luận văn thạc sĩ Luật hoc: Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam, của Phạm Thu

Hà, năm 2016

Dưới góc độ tội phạm học và điều tra tội phạm có công trình nghiên cứu của một số tác giả sau đây: Luận văn thạc sĩ Luật học: Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tinh Điện Biên, của Vì Thị Hiến, năm 2013; Luận văn thạc sĩ Luật học: Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, của Đinh Quang Tuyển, năm 2015

Bên cạnh đó còn một số bài viết của nhiều tác giả đăng trên các tạp chí, sách, báo khoa học để cập tới tội trộm cắp tài sản như: Bài viết Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 1999 của Trưong Quang Vinh, Tạp chí Luật học số 4/2000, bài viết Định tội danh tội trộm cắp tài sản qua một số dấu hiệu đặc trưng, của Trần Mạnh Hà, Tạp chí Nghề Luật, số 5/2006; bài viết Lấy tài sản sau khi nạn nhân đã chết cỏ bị coi là tội phạm hay không và nếu có thì tội danh đó là gì?, của Lê Đăng Doanh, Tạp chí TAND, số 01/2013; bài viết Yếu tố định lượng tài sản đối với tội trộm cắp tài sản, của Dương Vân Anh, Tạp chí Kiểm sát, số 23/2014; bài viết Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội trộm cắp tài sản, của Mai Bộ, Tạp chí TAND, số 9/2015; bài viết về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

3

Trang 9

mà có theo Điêu 323 BLHS năm 2015 của Vũ Tuân Hải, Tạp chí điện tử TAND năm 2020

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội TCTS nhưng tình hình tội phạm trong giai đoạn hiện nay đã có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp, trong bối cảnh BLHS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành với nhiều nội dung mới chưa được hướng dẫn thì các công trình nghiên cứu nêu trên đã thể hiện những điềm không còn phù hợp với thực tiễn Do đó, việc nghiên cứu tội TCTS về phương diện lý luận và thực tiền là điều cần thiết Thông qua việc nghiên cứu luận văn này, tác giả đi sâu tìm hiểu toàn diện về tội TCTS và việc

áp dụng các quy định của pháp luật trên thực tiễn; từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tội TCTS nhàm nâng cao hiệu quả

áp dụng quy định về tội danh này trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • • “

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng

và đánh giá thực tiễn xét xử tội TCTS, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về tội này;

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Phân tích để làm rõ khái niệm, đặc điểm tội TCTS trong PLHS Việt Nam;

- Phân tích một cách khái quát lịch sừ lập pháp hình sự của Việt Nam

về loại tội TCTS từ khi Cách mạng tháng 8 thành công đến trước khi ban hành BLHS năm 2015; So sánh tội TCTS được quy định trong BLHS Việt Nam đối với tội TCTS được quy định trong BLHS của một số quốc gia trên thế giới;

4

Trang 10

- Phân tích các dâu hiệu định tội, dâu hiệu định khung hình phạt và hình phạt đối với tội TCTS được quy định trong BLHS năm 2015;

- Đánh giá thực tiễn xét xử tội TCTS tại các TAQS, tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân; Đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định cùa pháp luật về tội TCTS trong BLHS

4 Đối tượng, phạm vi và phưong pháp nghiên cún

4.1 Đồi tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử về tội TCTS theo quy định của PLHS Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử tội TCTS tại các TAQS từ năm

2016 đến năm 2020

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; Quan điểm của Đảng về đổi mới Nhà nước và pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát, đánh giá

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là một công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn:

- về mặt lý luận, luận văn đã tổng họp các quan điểm khoa học về tội TCTS, nghiên cứu làm sáng tở những vấn đề lý luận về tội TCTS, nâng cao nhận thức chúng ta và đặc biệt là các cơ quan áp dụng pháp luật đối với bản chất loại tội phạm này, qua đỏ góp phần hoàn thiện nội dung quy định của tội TCTS được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015

5

Trang 11

- về mặt thực tiễn: những giải pháp đề xuất nêu trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của PLHS Việt Nam về tội TCTS, tránh bỏ lọt tội phạm và xử lý oan người vô tội, đóng góp cho việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh và phòng, chổng tội phạm.

- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những người học tập, nghiên cứu, cho người làm công tác thực tiễn trong địa bàn của TAQS cũng như trên địa bàn toàn quốc liên quan đến việc áp dụng các quy định của PLHS về tội TCTS trong thực tế

6 Kết cẩu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 03 chưorng Cụ thể:

Chưong 1: Một số vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sảnChưong 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội trộm cắp tài sản và thực tiễn xét xử tội này tại các Tòa án quân sự

Chưong 3: Một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản tại các Tòa án quân sự• • • • 1 • 1 •

6

Trang 12

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ TỘI • • •

TRỘM CẮP TÀI SẢN

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội trộm cắp tài sản

ĩ 1.1 Khái niệm tội trộm cap tài sản

Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về khái niệm tội phạm là:• • • X • • • X •

“hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người cỏ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cổ ỷ hoặc vô ý, xám phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô Tổ quốc, xâm phạm chế độ chỉnh trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích họp pháp của tồ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích họp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” Tội TCTS là một loại tội phạm • • • V 1 • tS • • •••!_•

cụ thề, do đó cũng có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm chung nêu trên Có thể nói khái quát: tội TCTS là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền sở hừu mà theo quy định của BLHS phải bị xử lý về hình sự

Bên cạnh những dấu hiệu chung đó, tội TCTS có những dấu hiệu riêng

để nhận diện Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội TCTS Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tội TCTS

là hành vi lẻn lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ” [24], Theo từ điển bách khoa của Công an nhân dân: “TCTS được hiểu là hành vi lén lút bí mật đối với người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản” [19], Theo Từ điển pháp luật hình sự: “Tội TCTS là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý” [18] Theo Từ điển tiếng Việt, “trộm cắp” là “trộm và lấy cắp của cải

7

Trang 13

nói chung”; trong đó “trộm” là “lây của người khác một cách lén lút, nhân lúc không ai đe ý” và “cắp” là “lấy của người khác một cách lén lút, vụng trộm” [20],

Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng thì cho rằng: "Tội TCTS là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt, do người có năng lực TNHS

và tuổi chịu TNHS thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm các quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật" [26],

Từ các định nghĩa nêu trên, có thể thấy đặc điểm nổi bật của tội TCTS

là người phạm tội có hành vi lén lút, bí mật chuyến dịch bất họp pháp tài sản của chủ sở hữu hoặc người quàn lý tài sàn nhằm chiếm đoạt tài sản đó Điều này đã làm rõ thêm các đặc điểm về lồi của tội TCTS là lỗi cố ý, người phạm tội phải đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS Những hành vi lấy tài sản của người khác khi chưa đủ tuồi chịu TNHS hoặc ở tình trạng không có năng lực TNHS thì không phải là tội phạm

Trên các cơ sở tham khảo và tìm hiểu, tổng kết các quan điểm khác

nhau về tội TCTS, từ đó tác giả đưa ra khái niệm về tội TCTS như sau: “Tội trộm cap tài sản là hành vi lén lút chuyên dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, do người có đù năng lực trách nhiệm hình sự

và đủ tuồi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách co ý, xâm phạm đến• • • • • • z X •quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân

1.1.2 Đặc điểm của tội trộm cắp tài sản

Tội TCTS ngoài những dấu hiệu pháp lý hình sự nói chung thì còn có nhũng đặc điểm riêng biệt như sau:

Thứ nhất, hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách lẻn lút.

Đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội TCTS là hành vi “lén lút”, không có việc lén lút thì không phải trộm cap Neu một hành vi chiếm đoạt tài sản trước sự chứng kiến của chủ sở hữu tài sản, người quản lý hợp pháp tài

8

Trang 14

sản thì không thê coi đó là hành vi trộm căp, mà hành vi trộm căp phải được thực hiện một cách lén lút, vụng trộm đối với chủ sờ hữu tài sản, người quản

lý họp pháp tài sản Trong tội TCTS, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sàn là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm bất minh, vụng trộm, giấu giếm không để lộ cho người khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ [33]

Hành vi “lén lút” ở đây không nhất thiết là việc làm mà không ai biết,

nó có thể được thực hiện một cách giấu giếm, vụng trộm nhưng cũng có thể được thực hiện một cách công khai, giữa nơi đông người Tuy nhiên, hành vi TCTS phải có một đặc điểm chung, đó là bắt buộc phải lén lút đối với chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản họp pháp Bởi nếu không lén lút đối với chủ sở hữu tài sản, người quản lý hợp pháp tài sản thì hành vi của họ sẽ không cấu thành tội TCTS

Thứ hai, đoi tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi trộm cap.

Đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi trộm cắp là chủ

sở hữu hoặc người quản lý tài sản hợp pháp

- Chủ sở hữu tài sản: theo quy định tại Điều 158 BLDS thì “quyền sở

hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [4], Chủ sở hữu là người có quyền

tự nắm giữ, quản lý, chi phối tài sản theo ý mình mà không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian; có quyền khai thác các công dụng, lợi ích, giá trị của tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó

- Người quản lý tài sản: là người đang nắm giữ hoặc trông coi tài sản,

họ không phải là chủ sở hữu tài sản nên họ không có được đầy đủ ba quyền năng của chủ sở hữu Vì vậy, người quản lý tài sản không được định đoạt tài sản Họ có thể được định đoạt tài sản trong phạm vi ủy quyền của chủ sở hữu Xét dưới góc độ pháp lý thì người quản lý tài sản được chia ra hai trường hợp

là quản lý tài sản hợp pháp và quản lý tài sản bất hợp pháp

9

Trang 15

+ Người quản lý tài sản họp pháp: là trường hợp người được chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản một cách hợp pháp; hoặc tuy không phải do chủ sở hữu giao cho nhưng việc sử dụng, quản lý tài sản được coi là họp pháp; người được người quản lý hợp pháp tài sản, giao tài sản cho để trông giữ; hoặc người phát hiện và thu giữ các tài sản vô chủ, tài sán bị bỏ quên, chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện pháp luật quy định; hay các trường họp quản lý tài sản theo quyết định, mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước [33],

+ Người quản lý tài sản không hợp pháp: xét về góc độ quyền sở hữu thì đây là trường hợp chiếm hữu bất hợp pháp trong quyền chiếm hữu tài sản Một số trường họp sau đây được coi là người quản lý tài sản không hợp pháp:

Người có được tài sản do phạm tội mà có;

Người cố ý mua được tài sản do người khác phạm tội mà có;

Người có được tài sản do hành vi gian dối, do vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức là tội phạm hình sự

Đây chì là một số những trường hợp điển hình, còn trong thực tế thì có

vô số sự biến tướng cùa dạng người này Tuy nhiên, chúng có một đặc điểm chung nhất, đễ nhận biết nhất là: việc chiếm hữu, quản lý tài sản không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận Nhưng trong PLHS, mà cụ thể là trong tội TCTS thì những người này trở thành đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi lén lút, bởi tại thời điếm đó, họ là người đang nắm giữ tài sản [33]

Thứ ba, vào thời điểm mat tài sản, chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản không biết.

Tại thời điểm mất tài sản, chủ tài sản không biết mình đã bị mất tài sản Việc không biết bị mất tài sản có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, như:

+ Không có mặt tại nơi để tài sản;

+ Thủ đoạn và phương pháp tinh vi của người phạm tội làm cho chủ tài săn không biết được việc mình bị mất tài sản;

10

Trang 16

+ Do lâm vào tình trạng không có khả năng biêt, như: bị tai nạn ngât, bị chết

Việc xác định “tại thời điểm mất tài sản, chủ sở hữu hoặc người quản lý họp pháp tài sản có biết hay không” là vấn đề cần thiết phải làm rõ, bởi nó liên quan đến bản chất cùa hành vi chiếm đoạt Neu tại thời điểm mất tài sản, chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản biết việc tài săn của mình bị người khác chiếm đoạt, thì rất có khả năng là người chiếm đoạt không có ý định che giấu hành vi phạm tội của mình Và như vậy, vấn đề có hay không có dấu hiệu “lén lút” cần phải đặt ra trong trường hợp này khi định tội danh [33]

Thứ tư, đặc điểm tài sản bị trộm cắp.

Theo quy định tại Điều 105 BLDS thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có

giả và quyền tài sản ” [4].

Tuy nhiên, không phải loại tài sản nào cũng là đối tượng tác động của tội TCTS, mà chỉ những tài sản thuộc các trường hợp sau mới là đối tượng tác động của loại tội phạm này Trước hết, về mặt vật lý, tài sản là đối tượng của tội TCTS phải là một dạng vật chất cụ thể và tồn tại dưới dạng là một động sản; Tài sản phải đang trong vòng kiểm soát của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tài sản; Tài sản có giá trị hoặc giá trị sử dụng; Tài sàn do chiếm hữu không họp pháp [33],

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội trộm cắp tài sản

1.2.1 Quy đinh của pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cấp tài sản giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi Bộ luật Hình sự• • o O • • •năm 1985 có hiệu lực• •

Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với thắng lợi mang ý nghĩa Chính trị - lịch sử này, bên cạnh

11

Trang 17

việc hình thành một nhà nước kiêu mới thì đông thời cũng đánh dâu môc quan trong trong lịch sử lập pháp nói chung và lập pháp hình sự nói riêng.

Trong giai đoạn đầu khi nhà nước mới thành lập phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách đến từ nhiều phía, chính vì vậy để điều chỉnh quan

hệ pháp luật nói chung và quan hệ PLHS nói riêng Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47-SL ngày 10/10/1945, tạm thời giữ lại các luật lệ cũ tại ba miền cho đến khi ban hành các văn bản pháp luật mới đề điều chỉnh các quan hệ trên với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa

Đáp ứng yêu càu của tình hình mới, luật cũ có nhiều quy định không thích họp Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản PLHS quan trọng để xử lý hành vi TCTS như: sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1948 quy định trừng trị các hành vi trộm cấp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh, Nghị định số 32-NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ tư pháp quy định đường lối xét

xừ các tội trộm cắp, lừa đảo, biển thủ tài sản; Thông tư số 01-BK ngày 14/12/1949 của liên Bộ nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp ấn định phương pháp đối phó với các vụ trộm cắp tại nơi có chiến sự

Ví dụ: Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1948 quy định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh, có quy

định: "Trong thời bình, tội ăn cắp, lấy trộm các đồ quân giới, quân trang, quân dụng nói tóm lại các vật dụng nhà binh, bị phạt theo điều khoán của hình luật chung" [13].

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc tiến hành xây dựng Chủ nghĩa xã hội Để góp phần vào việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hoá mới, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành một số văn bản điều chính về hành vi TCTS như: Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tuớng Chính phủ, quy định thống nhất một số tội phạm, trong đó có tội TCTS:

12

Trang 18

“1 Trộm căp: phạt tù từ 03 tháng đên 03 năm Trường hợp trộm có tô chức, có bạo lực, có dùng vũ khí đê doạ nạt thì phạt tù từ 03 đến 10 năm.” [36].

Điểm đặc biệt của Thông tư này là tại mục 4 cho phép áp dụng tương

tự, có nghĩa là nếu ngoài tội TCTS, đối với những tội tương tự với tội trộm cắp, các Toà án có thể phạt theo như tội đó

Do yêu cầu khách quan của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngày 21/10/1970, Nhà nước ta đã thông qua hai Pháp lệnh mới, trên tinh thần pháp điển hóa các văn bản pháp luật trước đó quy định về tội TCTS nói riêng

và các tội xâm phạm sở hữu nói chung Đó là: Pháp lệnh số 149-LCT ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chú nghĩa và Pháp lệnh số 150-LCT ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của cồng dân

Trong đó, tội trộm cắp được quy định tại hai pháp lệnh với tên tội danh

là tội TCTS xã hội chủ nghĩa và tội TCTS riêng của công dân Cụ thể: Điều 7, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tội TCTS xã hội chủ nghĩa, như sau:

“7 Kẻ nào TCTS xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 06 thảng đến 05 năm.

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tải phạm nguy hiểm; b) Có tô chức; c) Có móc ngoặc; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hi êm; đ) Trộm tài sản với số lượng lởn hoặc tài sản

cỏ giả trị đặc biệt; e) Dùng tài sản trộm cắp vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu

cơ hoặc vào những việc phạm tội khác;

Thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm.

3 Phạm tội trong trường hợp so tài sản bị xăm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì phạt

tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thản hoặc bị xử tử hình” [39].

Điều 6, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân quy định tội TCTS riêng của công dân, như saư:

13

Trang 19

'7 Kẻ nào TCTS riêng của công dân thì bị phạt tù từ 03 thảng đên 03 năm.

Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tỉnh chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiếm; b) Có tô chức; c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; d) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác.

2 Phạm tội trong trường họp gây hậu quà đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm” [40].

Việc ban hành song song hai bản Pháp lệnh thời điểm này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ không những đối với tài sản nhà nước, của hợp tác xã, mà cả đối với tài sản riêng của công dân, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc

Tóm lại, sơ lược giai đoạn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến

trước khi nhà nước ta ban hành BLHS năm 1985, tội TCTS đã đuợc quy định tại nhiều văn bàn đơn lẻ khác nhau Đặc biệt với sự ra đời của Pháp lệnh số • • • • 1 • 149-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh

số 150-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, Nhà nuớc ta đã xây dựng đuợc hai cấu thành tội phạm về tội TCTS trong đó quy định riêng biệt về TCTS xã hội chủ nghĩa và TCTS riêng của công dân Tuy nhiên, các quy định trên vẫn còn nằm tản mạn nhiều văn bản, quy định vẫn chưa cụ thể, rõ ràng gây khó khăn khi áp dụng

1.2.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 về tội trộm cắp tài sản •r • •• • 9 9 ÃT

BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nhà nước ta, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986, đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong lịch sử lập pháp hình sự của đất nước Trong BLHS năm 1985, tội TCTS xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 132, Chương 4 (có mức hình phạt cao nhất là tử hình) và tội TCTS của công dân quy định tại Điều 155, Chương 6 của BLHS năm 1985 (có mức hình phạt cao nhất là tù hai mươi năm)

14

Trang 20

iirv* /on J _ 7- ? 7 A T '• 0 _ 'T^Z^'T^O ~ c** „L.9.

Điêu 132 J 01 ỈC1S xa nội cnu nghĩa 1 Người nao 1C1S xã nôi chú nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thỉ

bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a) Có tô chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Hành hung đê tâu thoát; d) Chiếm đoạt tài sản có giả trị lỏn; đ) Tải phạm nguy hiểm 3 Phạm tội trong trường họp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”[iữ\.

về tội TCTS của công dân đuợc quy định tại Điều 155 BLHS:

Diêu 155 Tội TCTS của công dãn

1 Người nào TCTS của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 10 năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát; c) Chiếm đoạt tài sản cỏ giá trị lón hoặc gãy hậu quả nghiêm trọng khác; d) Tái phạm nguy hiếm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 07 năm đến 20 năm 'í [10]

Ngoài hình phạt tử hình, hình phạt tù (có thời hạn và chung thân), thì nhà làm luật còn quy định việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, nhằm mở rộng hơn nữa các chế tài hình sự áp dụng với người phạm tội, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm trong từng hành vi, thuận lợi cho việc quyết định hình phạt

Để phù hợp với tình hình thực tiễn, BLHS năm 1985 đã được Quốc hội nước ta bốn lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997) những lần sửa đổi, bổ sung này chủ yếu nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh đối với một số loại tội phạm nhất định, trong đó bổ sung thêm quy định về một

15

Trang 21

tình tiêt định khung tăng nặng TNHS đôi với người phạm tội vào điêm b khoản 2 Điều 155 tội TCTS của công dân, đó là “có tính chất chuyên

nghiệp Tuy nhiên, trong thời gian này chưa có văn bản hướng dẫn cụ thế về

tình tiết phạm tội “có tỉnh chất chuyên nghiệp

Tóm lại, BLHS năm 1985 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển trong

kỳ thuật lập pháp, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nhà nước ta đã xây dựng được cơ sở pháp lý thống nhất đề truy cứu TNHS hành vi TCTS, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh chống tội phạm Tuy nhiên, BLHS năm 1985 được ban hành trong thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, có sự phân biệt rõ ràng trong việc bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân, và sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung thì BLHS năm 1985 đã không còn là một chỉnh thể thống nhất; đồng thời, quy định của BLHS về tội TCTS xã hội chủ nghĩa và công dân vẫn còn giàn đơn, chưa rõ ràng (chưa xác định ngay trong CTTP giá trị tài sản bị chiếm đoạt để truy cứu TNHS), gây khó khăn trong việc áp dụng, đòi hỏi phải được sửa đổi một cách toàn diện

1.2.3 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội trộm cắp tài sản

BLHS năm 1999 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2000 BLHS năm 1999 đã gộp hai chương xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1985 thành một chương và tội TCTS được quy định tại Điều 138

Như vậy, so với BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về tội TCTS Cụ thể:

77zw- BLHS năm 1999 đã hợp nhất hai điều luật về tội TCTS xã hội chủ nghĩa (Điều 132) và tội TCTS của công dân (Điều 155) của BLHS năm 1985 thành một điều luật quy định về tội TCTS (Điều 138) Đồng thời,

để đáp ứng đường lối xử lý người phạm tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản, Điều 48 BLHS năm 1999 quy định tình tiết tăng nặng mới "Xâm phạm tài sản

nhà nước".

16

Trang 22

Thứ hai, khi quy định vê tội TCTS, BLHS năm 1999 đã định lượng giá

trị tài sản bị chiếm đoạt, người phạm tội có thể bị truy cứu TNHS theo các khoản khác nhau của Điều 138 BLHS Điều này tạo thuận lợi cho các chủ thể

áp dụng pháp luật khi định tội danh và quyết định hình phạt

Thứ ba, BLHS năm 1999 quy định bốn khung hình phạt so với ba

khung hình phạt trước đây như quy định của Điều 132 và Điều 155 BLHS năm 1985 Điều này giúp thu hẹp khoảng cách giữa mức tối đa và mức tối thiểu của một khung hình phạt và tạo cơ sở pháp lý cho việc truy cửu TNHS chuẩn xác hơn

Thứ tư, Điêu 138 BLHS năm 1999 đã xác định ranh giới giữa trường

hợp hành vi vi phạm pháp luật hành chính với trường hợp phạm tội Người lấy tài sản của người khác có giá trị dưới 500.000 đồng và hành vi này không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người đó chưa bị xừ lý hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản thi chỉ bị xử phạt• • • • • • 1 • hành chính

Thứ năm, BLHS năm 1999 quy định về hình phạt bổ sung bị phạt tiền

từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng

Để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong thời kỳ mới, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung một lần vào năm 2009, xác định lại ranh giới giữa trường hợp hành vi vi phạm pháp luật hành chính với trường hợp

2 « • 2

phạm tội cụ thê: Người lây tài sản của người khác có giá trị dưới 2.000.000

đông và hành vi này không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người đó chưa bị

xử lý hành chính vê hành vi chiêm đoạt hoặc chưa bị kêt án vê tội chiêm đoạte/ • • • • •tài sản thì chi bị xử phạt hành chính

Tóm lại, BLHS năm 1999 đã quy định về tội TCTS khá chặt chẽ, phù

hợp với tình hình phát triển thời điểm đó Tuy nhiên, kể từ sau khi BLHS năm

17

Trang 23

1999 được ban hành, tình hình đât nước ta đã có những thay đôi to lớn vê mọi mặt, việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam, nhiều quy định của BLHS năm 1999 (trong đó có tội TCTS) đã không còn phù hợp, đòi hỏi cần được sửa đối.

1.2.4 Điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội trộm cắp tài sản • • • • • ÃT

So với quy định của BLHS năm 1999, thì BLHS năm 2015 có những điểm mới sau:

Thứ nhất, BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tù chung thân, khung hình

phạt cao nhất tội này đến 20 năm tù Quy định này nhằm góp phần tiếp tục thể chế hỏa chủ trương, chính sách của Đãng về cải cách tư pháp được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW cùa Bộ Chính trị

Thứ hai, bãi bỏ tình tiết chiếm đoạt tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng

gây hậu quả nghiêm trọng là điều kiện cấu thành tội TCTS quy định tại khoản

1, Điều 138 BLHS năm 1999; bãi bỏ các tình tiết định khung (Gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) quy định tại điểm d khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 Điều

138 BLHS năm 1999

Thứ ba, về yếu tố cấu thành tội phạm, thì đồng thời với việc bổ sung

hai tình tiết định tội: c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là di vật, cổ vật, BLHS không quy định hành vi TCTS của người khác cỏ giá trị dưới 2.000.000 đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây

là phạm tội: Một là, đã bị xử phạt hành chính về hành vi tham ô tài sản hoặc hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm; Hai là, đã bị kết án về tội tham ô tài sản hoặc tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

18

Trang 24

Thứ tư, bô sung 01 tình tiêt định khung mới:

+ Khoản 2 bô sung tinh tiêt: Tài sàn là bảo vật quôc gia

+ Khoản 3 bô sung tình tiêt: Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh

+ Khoản 4 bô sung tình tiêt: Lợi dụng hoàn cảnh chiên tranh, tình trạng khẩn cấp

1.3 Tội trộm cắp tài sản quy định trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Tội trộm cãp tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga

Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga, tội TCTS được quy định như

7 TCTS là bỉ mật chiêm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiên đến tám mươi nghìn rủp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người

bị kết án đến sáu thảng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc đến một trăm tám mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ sáu thảng đên một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị phạt giam đến bốn tháng, hoặc bị phạt tù đên hai năm.

2 Hành vi TCTS được thực hiện: a) bởi nhóm người cỏ bàn bạc từ trước; b) kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà hoặc kho khác; c) kèm theo việc gây thiệt hại đáng kê cho công dân; d) từ quần áo, túi xách hoặc đồ xách tay khác trên người bị hại thì bị phạt tiền đến hai trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết ản đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm cỏ hoặc khỏng kèm theo hạn chế tự do đến một năm.

3 Hành vi trộm căp được thực hiện: a) Kèm theo hành vi đột nhập trải pháp luật vào nhà ở; b) Từ ổng dẫn dầu mỏ, ổng dẫn các sản phẩm dầu mỏ, ống dẫn ga; c) Ở mức độ nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ một trăm nghìn đến

19

Trang 25

năm trăm nghìn rúp hoặc băng lương hay hăng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm.• • •

4 Hành vi trộm cắp được thực hiện: a) Bởi nhóm có tô chức; b) Ở mức

độ đặc biệt lớn thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm có hoặc không kèm theo phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lưcmg hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đen năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến hai năm [8],

So sánh với quy định về tội TCTS tại Điều 173 BLHS năm 2015, chúng ta thấy tội TCTS trong BLHS Liên bang Nga có những điểm giống và khác nhau như sau:

* Những điểm giống nhau:

Thứ nhất, tội TCTS trong BLHS Liên bang Nga và BLHS Việt Nam

đều giống nhau ở những dấu hiệu định tội cơ bản: đều xâm phạm sở hữu của người khác, đều có hành vi khách quan là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản người khác, thực hiện tội phạm với lồi cố ý

77zớ hai, tội TCTS trong BLHS Liên bang Nga và BLHS Việt Nam đều

sử dụng trị giá tài sản làm cơ sở đế xây dựng các cấu thành định khung tăng nặng (nhưng BLHS Liên Bang Nga không quy định trị giá tài sản bị trộm cắp làm dấu hiệu định tội như BLHS Việt Nam)

* Những điểm khác nhau:

ĨTií? nhất, BLHS Liên bang Nga đã làm rõ ngay hành vi TCTS trong

quy định cùa cấu thành cơ bản, còn BLHS Việt Nam không làm rõ hành vi TCTS (quy định giản đơn) Chúng tôi cho rằng đây là một ưu điểm của BLHS Liên bang Nga mà chúng ta nên tiếp thu và hoàn thiện BLHS Việt Nam theo

20

Trang 26

hướng quy định mô tả vê hành vi TCTS ngay trong luật, đảm bảo việc hiêu và

áp dụng PLHS được thống nhất

Thứ hai, trong cấu thành cơ bản của tội TCTS trong BLHS Liên Bang

Nga không quy định dấu hiệu định lượng (tài sản bị TCTS trị giá bao nhiêu) thì bị xử lý hình sự; còn BLHS Việt Nam có quy định dấu hiệu định lượng tài sản là chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo các dấu hiệu định tội khác (đã bị xử lý hành chính, đã bị kết

án nhưng chưa được xóa án tích)

Theo tác giã, điểm khác biệt này trong chừng mực nào đó thể hiện ưu điểm của BLHS Việt Nam trong việc quy định tội TCTS trong luật hình sự đảm bảo phân biệt giữa tội phạm và vi phạm pháp luật hành chính, giữa tội phạm và không phải là tội phạm

Thứ ba, BLHS Liên bang Nga không quy định các trường hợp xử lý

hình sự đối với các trường hợp xâm phạm sở hữu mà có những điếm xấu về nhân thân hoặc các dấu hiệu khác không liên quan đến trị giá về tài sản bị chiếm đoạt như trong BLHS Việt Nam: “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”, “đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”, “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”, “tài sản là di vật, cổ vật”

Theo tác giả, đây là điểm mà chúng ta cần tiếp thu bởi lẽ chúng ta quy định tội TCTS và xử lý hình sự vì người phạm tội có hành vi nguy hiểm cho

xã hội do xâm phạm sở hữu của người khác chứ không phải do người đó có điểm xấu về nhân thân hoặc những yếu tố mà theo ý chí chủ quan của người phạm tội không thể nào biết được - phản ánh sự phủ định chủ quan cùa họ đối với xã hội như: “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”, “tài sản là di vật, cổ vật”

21

Trang 27

Nghiên cứu các các ưu điêm và hạn chê nêu trên vê quy định tội trộm cắp trong BLHS Việt Nam với quy định tương ứng của BLHS Liên bang Nga giúp chúng ta có cơ sở để hoàn thiện hơn quy định của BLHS Việt Nam về tội TCTS

1.3.2 Tội trộm cap tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

Khác với BLHS năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định tội TCTS ở mộtđiều luật (Điều 173) còn BLHS Cộng hòa Liên bang Đức dành hẳn một chương riêng (Chương 19) quy định hành vi TCTS thành nhiều tội danh khác nhau Cụ thê là: Điêu 242: Tội TCTS; Điêu 243: Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội trộm cắp; Điều 244: Trộm cắp có vũ khí, trộm cắp có băng nhóm, trộm cắp có đột nhập nhà ở; Điều 244a: Trộm cắp có băng nhóm nghiêm trọng; Điều 247: Trộm cắp trong nhà và trộm cắp trong gia đình; Điều 248a: Trộm cắp và chiếm đoạt những đồ vật có giá trị nhỏ; Điều 248c: Lấy trộm năng lượng điện [9]

So sánh với quy định về tội TCTS tại Điều 173 BLHS năm 2015, chúng ta thấy tội TCTS trong BLHS Cộng hòa Liên bang Đức có những điểm giống và khác nhau như sau:

* Những điểm giống nhau:

Các tội TCTS trong BLHS Cộng hòa Liên bang Đức và tội TCTS trong BLHS Việt Nam đều giống nhau ở những dấu hiệu định tội cơ bản: đều xâm phạm sở hữu cùa người khác, đều có hành vi khách quan là hành vi chiếm đoạt tài sản người khác, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý

* Những điểm khác nhau:

77iỉí nhất, khác với BLHS năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định tội TCTS ở một điều luật (Điều 173) thì BLHS Cộng hòa Liên bang Đức dành hẳn một chương riêng (Chương 19) quy định hành vi TCTS thành nhiều tội

22

Trang 28

danh khác nhau Như vậy, BLHS Cộng hòa Liên bang Đức đã thê hiện sự phân hóa TNHS của các trường hợp TCTS thành nhiều tội danh khác nhau và mỗi tội danh đều có các khung hình phạt So với quy định của BLHS Việt Nam thì BLHS Đức cho thấy thể hiện sự phân hóa TNHS chi tiết hơn BLHS Việt Nam Trong BLHS Việt Nam, việc phân hóa TNHS đối với các trường hợp TCTS chỉ bằng một tội danh với cấu thành tội phạm cơ bản và các cấu thành tội phạm tăng nặng Ớ điểm khác này, chúng ta có thể tiếp thu ưu điểm cùa BLHS Liên bang Đức bằng cách nếu không phân hóa tội TCTS trong luật hình sự Việt Nam thành các tội danh (do truyền thống lập pháp từ trước đến nay) thì cũng nên nghiên cứu bổ sung vào dấu hiệu định khung của tội trộm cắp các dấu hiệu định khung như: trộm cắp có băng nhóm, trộm cắp có đột nhập nhà ở, trộm cắp điện để phân hóa TNHS tốt hơn đối với các trường hợp phạm tội TCTS.

Thứ hai, BLHS Cộng hòa Liên Bang Đức không quy định trị giá tài sản

trộm cắp tối thiểu để coi là tội phạm (tương tự như quy định của BLHS Liên bang Nga) như BLHS Việt Nam Chúng tôi cho rằng đây cũng là một ưu điểm của BLHS Việt Nam, việc quy định như vậy đảm bảo phân biệt tội TCTS với trường hợp không phải là tội phạm và đây là ưu điểm mà chúng ta cần tiếp tục phát huy

Thứ ba, trong tất cả các tội danh TCTS của BLHS Cộng hòa Liên bang

Đức đều không quy định là dấu hiệu định tội đối với các trường hợp TCTS

mà có những điểm xấu về nhân thân hoặc các dấu hiệu khác không liên quan đến trị giá về tài sản bị chiếm đoạt như trong BLHS Việt Nam: “đã bị xử phạt

vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”, “đã bị kết

án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”, “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”, “tài sản là di vật, cổ vật”

23

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Các tội xâm phạm sở hữu nói chung, Tội TCTS nói riêng đêu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà theo quy định của BLHS phải bị xử lý hình sự Trong chương 1 cùa Luận văn, tác già đã nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tội TCTS, cụ thể:

Luận văn đã đưa ra được khái niệm về tội trộm cắp tài sản được xây• • • • • A •dựng từ đặc trưng của tội TCTS rút ra từ những quan điểm của các học giả đã

đi trước nghiên cứu, theo đó: “7ợí TCTS là hành vi lén lút chuyển dịch một

cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuồi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tô chức và cá nhân

Luận văn đã nghiêu cứu vài nét về lịch sử PLHS Việt Nam đối với tội TCTS, qua đó thấy rằng, PLHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay luôn có các quy định liên quan đến tội TCTS từ những sắc lệnh, sắc luật, pháp lệnh cho đến việc pháp điển hóa thành những quy định của BLHS thề hiện rõ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chổng loại tội phạm này;

Luận văn đã tìm hiểu thêm về tội TCTS được quy định trong PLHS của một số quốc gia trên thế giới Từ đó, nhằm làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa tội trộm cắp được quy định trong trong BLHS Việt Nam năm

2015 so với BLHS của một số quốc gia trên thế giới

Việc quy định hành vi TCTS được BLHS quy định là tội phạm có ý nghĩa quan trọng: là cơ sở pháp lý quan trọng đế bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, của cơ quan, của tổ chức và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm; Nhà nước ta ghi nhận đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực

24

Trang 30

hiện hành vi phạm tội này phải bị trừng trị một cách nghiêm khăc nhât; có ý nghĩa trong việc giáo dục ý thức pháp luật của người dân, nâng cao hon nữa hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm hiệu quả, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội, từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội.

Ket quả nghiên cứu tại Chương 1 của luận văn là cơ sở, nền tảng để tác giả tìm hiểu, phân tích đánh giá quy định của PLHS Việt Nam về tội TCTS Tạo cơ sở đế nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý và thực tiễn xét xử tội này trên địa bàn các TAQS trong các chương tiếp theo của luận văn

25

Trang 31

CHƯƠNG 2:

QUY ĐỊNH CỦA Bộ LUẬT HÌNH sự NĂM 2015 VỀ TỘI TRỘM CẮP

TÀI SẢN VÀ THỤ C TIẺN XÉT xử TỘI NÀY TẠI CÁC

2.1.1 Dấu hiệu khách thể của tội trộm cắp tài sản

Khách thế trực tiếp của tội TCTS là quyền sờ hữu tài sản Quyền sở hữu bao gồm.’ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản

của chủ sở hữu [4].

Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm tội TCTS phải tác động đến đổi tượng là tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợppháp tài sản

Theo Điều 105 BLDS năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giả và

quyền tài sản ’’ [4].

- Vật chỉ có thể là đổi tượng tác động của tội TCTS khi nó là một bộphận của thê giới vật chât, là sản phâm lao động của con người, con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai; đồng thời, chưa bị chủ tài sản hủy bỏ, từ bỏ quyền sở hữu

- Tiền là đối tượng tác động của tội TCTS phải có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận Do vậy, tiền giả không phải là đối tượng tác động của tội TCTS Trường hợp, tiền cũ (tiền đồng qua các thời kỳ lịch sử trước đây) có giá trị văn hóa lịch sử khi bị trộm cắp thì không được coi là tiền theo nghĩa này mà cần được xác định là vật

26

Trang 32

- Giây tờ có giá được hiêu là giây tờ trị giá được băng tiên và chuyên giao được trong giao dịch dân sự Giấy tờ có giá chia làm 02 loại là giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh và chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới có thể là đối tượng tác động của tội TCTS bởi vì giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sớ hữu của người nắm giữ.

- Quyền tài sản tuy được coi là tài sản nhưng có tính đặc thù, chỉ là một quyền năng mang tính pháp lý được Nhà nước bảo hộ, để chuyển dịch được phải thông qua các thủ tục pháp lý do Nhà nước quy định Các quyền này thường gắn liền với nhân thân con người hoặc được thể hiện qua các giấy tờ

có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền Việc chiếm giữ được giấy tờ chứng nhận quyền tài sản không đồng nghĩa với việc được thực hiện quyền sử dụng

và quyền định đoạt tài sản [25] Do vậy, theo chúng tôi quyền tài sàn không phải là đối tượng tác động của tội TCTS

- Ngoài ra, một số tài sản sau không phải là đối tượng tác động của tội TCTS:

+ Một số tài sản thuộc loại “bất động sản” có tính chất vật lý cố định, ví

dụ như: đất đai, nhà cửa, ao hồ Những loại tài sản này không thế là đối tượng tác động của tội TCTS, vì không dịch chuyển được Tuy nhiên, có một

số động sản mà pháp luật dân sự quy định là bất động sản do công dụng của

nó như: cánh cửa gắn với ngôi nhà; cây cối trồng trên vườn thì vẫn là đối tượng tác động của tội TCTS

+ Tài sản vô chủ; tài sản bị rơi, bị bỏ quên, thất lạc; tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó

+ Tài sản thuộc các loại có tính chất và công dụng đặc biệt

2.1.2 Dẩu hiệu mặt khách quan của tội ưộm cắp tài sản

Theo khoa học luật hình sự, “mặt khách quan của tội phạm là mặt bên

ngoài của tội phạm, bao gồm những biếu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn

TI

Trang 33

tại bên ngoài thê giới khách quan” [19] Đó còn là ‘‘mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đảng kế cho xã hội đến khách thế được bảo vệ bằng PLHS, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực thể khách quan ” [31].

Mặt khách quan của tội TCTS bao gồm: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội Tìm hiểu mặt khách quan của tội TCTS tức là tìm hiểu từng yếu tố cấu thành mặt khách quan của tội phạm trong BLHS

* Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản

Hành vi khách quan đặc trưng của tội TCTS là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác Lén lút được coi là đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội TCTS, không có việc lén lút thì không phải là trộm cắp Các nhà nghiên cứu đều coi lén lút là thủ đoạt chiếm đoạt của tội TCTS và đã lén lút nghĩa là bí mật, không công khai Lén lút chiếm đoạt tức là có ý thức che dấu hành vi chiếm đoạt đối với người quản lý tài sản

Nói cách khác, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong tội TCTS là hành vi cố ý thực hiện một việc làm của mình khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội luôn có ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt Ý thức che giấu hành vi phạm pháp có thể đối với tất cả mọi người nhưng cũng có thể chỉ đối với chủ tài sản [21]

Ví dụ: Nguyễn Văn A đến nhà chị Lê Thị T để ăn cơm Sau khi ãn cơm xong, A đi bộ ra ngoài đường trước cổng nhà chị T thì nhìn thấy 01 chiếc mô

tô dựng ở tường rào của chị T Thấy vậy, A nảy sinh ý định mờ cốp xe xem

có gì bên trong không để lấy trộm Sau khi quan sát xung quanh không có ai thì A liền nhặt một đoạn dây thép rồi đi đến cạnh chiếc xe mô tô, A bẻ cong

28

Trang 34

một đâu của sợi dây thép và chọc vào nút bâm mở côp thì côp xe bật ra A thấy bên trong cốp xe có một chiếc túi xách, A liền lấy chiếc túi xách rồi đi về nhà Tài sản mà A trộm cấp được gồm: 01 chiếc điện thoại di động Samsung,

02 sợi dây chuyền bàng vàng Tổng trị giá tài sản A đã chiếm đoạt là 61.000.000 đồng

Với các tình tiết nêu trên cho thấy Nguyễn Văn A đã lợi dụng lúc vắng người, lén lút thực hiện hành vi mở cốp xe mô tô của chị Lê Thị T để trộm cắp chiếc túi xách bên trong có tài sản của chị T

Trong thực tế, có những hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách giấu giếm, vụng trộm, người phạm tội tìm cách che giấu toàn bộ hành vi của mình, ví dụ: người phạm tội lợi dụng lúc chủ nhà ngủ say để bí mật đột nhập vào nhà lấy đi tài sản nhưng cũng có những hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách công khai với những người xung quanh và chỉ lén lút với chủ tài sản, ví dụ: người phạm tội rút điện thoại trong túi quần của người khác ngay sự chúng kiến của nhũng người xung quanh Tính chất lén lút của hành vi cũng có thề được thực hiện qua việc che giấu tính chất bất hợp pháp của hành vi chứ không che giấu toàn bộ hành vi, ví dụ: A bí mật lấy chìa khóa nhà của anh B đi đánh chìa khóa khác, chờ dịp gia đình B đi nghỉ dưỡng

A đã dùng chìa khóa đánh thêm để mở khóa và chuyển một số tài sản đi giả là chuyển nhà giúp B

Neu người phạm tội mong muốn che giấu hành vi phạm tội của mình nhưng trong thực tể lại không che giấu được thì vẫn bị coi là phạm tội TCTS,

ví dụ: A lợi dụng lúc B không có nhà để đột nhập vào lấy trộm máy vi tính, khi

A mang máy tính ra đến sân thì B về và bắt quả tang hành vi phạm pháp của A Chiếc máy vi tính này có trị giá là 7.000.000 đồng Trong trường hợp này, mặc

dù A chưa chiếm đoạt được tài sản vì lý do khách quan (do chủ sở hữu phát hiện kịp thời) nhưng hành vi của A đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội TCTS Do đó, A vẫn phạm tội TCTS (phạm tội chưa đạt)

29

Trang 35

* Hậu quả nguy hiêm cho xã hội của tội trộm căp tài sản

Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở chồ tội phạm đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bão vệ.• • • 1 • • • • • •

‘Tợí phạm nào cũng có thê gây ra hâu quả nhất định, có thê gãy ra sự biến

đôi tình trạng bình thường của đối tượng tác động nhất định Nhưng không phải tất cà các cấu thành tội phạm đều có dấu hiệu phản ánh của nội dung này mà chỉ có một số cấu thành tội phạm nhất định Những cấu thành tội phạm này được gọi là cẩu thành tội phạm vật chất” [34].

Tội TCTS là tội có cấu thành tội phạm vật chất cho nên dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội TCTS Dấu hiệu này được phản ánh thông qua đặc điểm và mức độ biến đổi tình trạng của đối tượng tác động là tài sản bị chiếm đoạt

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS thì hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác chỉ cấu thành tội TCTS khi tài sản bị chiếm đoạt

có trị giá từ 2.000.000 đồng trờ lên Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có trị giá dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo một trong bốn điều kiện sau: Đã bị

xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sán mà còn vi phạm; đã

bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169,

170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS thì có sáu trường hợp phạm tội TCTS sau đây:

+ Trường hợp thứ nhất, phạm tội TCTS do chiếm đoạt tài sản có trị giá

từ 2.000.000 đồng trở lên là trường hợp người phạm tội một lần thực hiện hành vi TCTS có trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên Theo quy định của BLHS thì trường hợp TCTS có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng chỉ bị truy cứu TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật này

30

Trang 36

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi TCTS nhưng mồi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới 2.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu TNHS (quy định tại các điểm a, b, c, d khoản

1 Điều 173 BLHS) đồng thời trong các hành vi TCTS đó chưa có lần nào bị

xừ phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xừ phạt hành chính thì người thực hiện nhiều lần hành vi TCTS phải bị truy cứu TNHS về tội TCTS theo tổng số giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Các hành vi TCTS được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian; việc thực hiện các hành vi TCTS có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu làm nguồn sống chính; với mục đích TCTS nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan nên việc TCTS phải thực hiện trong nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị xâm phạm mỗi lần dưới 2.000.000 đồng Trong các trường hợp nêu trên nếu chỉ căn cứ vào các hành

vi vi phạm nhiều lần thì không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS (phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội nhiều lần) quy định tại các điểm b và g khoản 1 Điều 52 BLHS

+ Trường hợp thứ hai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm là trường hợp đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị

xử phạt vi phạm hành chính, nay lại có hành vi TCTS có trị giá dưới 2.000.000 đồng

+ Trường hợp thứ ba, đã bị kết án về tội TCTS hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, là trường hợp một người sau khi

bị kết án về một trong các tội phạm sau đây, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi TCTS có giá trị dưới 2.000.000 đồng: Tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội cưỡng đoạt tài sản; tội cướp giật tài sản;

31

Trang 37

tội công nhiên chiêm đoạt tài sản; tội TCTS; tội lừa đảo chiêm đoạt tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tội sử dụng mạng máy tính, mạng viền thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

+ Trường hợp thứ tư, phạm tội TCTS gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là trường hợp thực hiên hành vi TCTS có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng gây ra ảnh hưởng xấu (rất xấu hoặc đặc biệt xấu) đến

an ninh, trật tự, an toàn xã hội

+ Trường họp thứ năm, phạm tội TCTS mà tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ là trường hợp TCTS (có giá trị đặc biệt) nêu trên có trị giá dưới 2.000.000 đồng Khi áp dụng tình tiết này cần phải đánh giá ý nghĩa của đổi tượng tác động của tội phạm đối với người bị hại và gia đình người bị hại trên phương diện giá trị kiểm sống của đối tượng tác động của tội phạm đối với người bị hại và gia đình họ

+ Trường hợp thứ sáu, phạm tội TCTS mà tài sản là di vật, cổ vật Trong đó, di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở lên [12]

* Moi quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản

Nếu như hành vi khách quan là yếu tố thứ nhất và hậu quả nguy hiểm cho xã hội là yếu tổ thứ hai thì yếu tố thứ ba trong mặt khách quan của tội TCTS là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Tội TCTS là tội có cấu thành vật chất, nên khi định tội cần phải chứng minh hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là kết quả của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác Bởi lẽ, con người chỉ phải chịu trách

32

Trang 38

nhiệm vê hậu quả nguy hiêm cho xã hội nêu hậu quả đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra.

Có thể nói: Trong mối quan hệ nhân quả của mặt khách quan của tội TCTS thì hành vi phạm tội được coi là nguyên nhân và thiệt hại gây ra cho người chủ sở hữu tài sản được coi là hậu quả của tội phạm

Trong tội TCTS các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội như: công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

2.1.3 Dấu hiệu chủ thể của tội trộm cắp tài sản

Chủ thể của tội TCTS được xác định là người có năng lực TNHS và đạt

độ tuổi theo luật định Tuy nhiên, BLHS năm 2015 không quy định thế nào là người có năng lực TNHS mà chỉ quy định độ tuổi chịu TNHS tại Điều 12 và tình trạng không có năng lực TNHS tại 21 BLHS năm 2015 Trên cơ sở các quy định đó, khoa học luật hình sự đưa ra định nghĩa về người có năng lực TNHS là người đã đạt độ tuổi chịu TNHS và không thuộc trường họp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS

Năng lực TNHS chỉ hình thành khi con người đạt độ tuổi nhất định Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thế của tội phạm "Người có năng

lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tinh chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy".

Tại Điều 12 BLHS năm 2015 quy định tuổi chịu TNHS: ”7 Người từ

đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về moi tội phạm, trừ những tội phạm mà

Bộ luật này có quy định khác 2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169,

170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290,

299, 303 và 304 của Bộ luật này".

33

Trang 39

Bên cạnh tuôi chịu TNHS được quy định tại Điêu 12 BLHS thì tình trạng không có năng lực TNHS được quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015 với nội dung: "Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang

mac bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiên hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS" Theo các quy

định nêu trên thì chủ thể của tội TCTS phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS được quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015; người từ đù 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội TCTS phải chịu TNHS đối với tội này trong trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 173 BLHS năm 2015

Căn cứ vào quy định của BLHS năm 2015 thì chủ thể của tội TCTS là chủ thể thường, bất kỳ người nào có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định có hành vi TCTS theo quy định tại Điều 173 BLHS thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này

2.1.4 Dấu hiệu mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản

Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Nếu mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là những hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm: Lồi, mục đích và động cơ phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả cấu thành tội phạm và là dấu hiệu bắt buộc của tội TCTS

* Dấu hiệu lỗi của tội trộm cắp tài sản

“Lỗi là thải độ chủ quan của người phạm tội đổi với hành vi và đối với hậu quả thiệt hại cho xã hội do mình gảy ra, được thực hiện dưới hình thức

cô ý hoặc vô ý L32J.

Mặc dù tội TCTS không được nhà làm luật mô tả trực tiếp dấu hiệu lồi trong cấu thành tội phạm; tuy nhiên tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản

đã phan ánh dâu hiệu lôi của tội TCTS là lôi cô ỷ trực tiêp

34

Trang 40

Vê mặt lý trí: Người phạm tội TCTS khi thực hiện hành vi trộm căp nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài săn họp pháp của người khác.

về mặt ý chí: Người phạm tội TCTS mong muốn cho hậu quả xảy ra,

vì có như vậy người phạm tội mới có thể chiếm đoạt được tài sản của người khác, biến tài sản của người khác thành của mình

* Động cơ, mục đích của người phạm tội trộm cắp tài sản

Ngoài dấu hiệu về lỗi, mặt chủ quan cúa tội TCTS còn được xác định bởi động cơ, mục đích phạm tội

“Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội” [19].

“Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chù quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt đirợc khi thực hiện hành vi phạm tội ” [19].

Trong tội TCTS, động cơ phạm tội là vì vụ lợi, còn mục đích phạm tội

là chiếm đoạt tài sản của người khác Việc xác định động cơ, mục đích phạm tội không có ý nghĩa trong việc định tội nhưng có ý nghĩa trong việc xem xét mức độ nguy hiềm cho xã hội của hành vi khi quyết định hình phạt

2.2 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản theo quy định của Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015• •

Tại Điều 173 BLHS có quy định về hình phạt đối với tội TCTS, mức hình phạt được sắp xếp từ nhẹ đến nặng, tùy theo tính chất nguy hiểm của hành vi và được chia thành 4 mức, tương ứng với 4 khung hình phạt chính Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 của Điều luật Cụ thể như sau:

2.2.1 Hình phạt đổi với tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173

Bộ luật Hình sự năm 2015• • •

- Khung 1 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng đối với người phạm tội không có tình tiết tăng nặng định khung hình phạt

35

Ngày đăng: 12/07/2022, 09:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình thụ lý, giải quyêt án hình sự của các Tòa án quân sự - Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu xét xử tại tòa án quân sự)
Bảng 2.1. Tình hình thụ lý, giải quyêt án hình sự của các Tòa án quân sự (Trang 44)
Bảng 2.3. Kết quả xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối vởi các vụ án trộm cắp - Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu xét xử tại tòa án quân sự)
Bảng 2.3. Kết quả xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối vởi các vụ án trộm cắp (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w