Trên bình diện khoa học luật hình sự, nhiều vấn đề lý luận liên quan đến việc xác định các quyền tự do, dân chủ; hành vi lợi dụng các quyền tự do,dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, q
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chỉnh xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thê bảo vệ Luận vãn.
Tôi xin chăn thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trương Anh Minh
Trang 2Chưong l.MỘT sõ VÁN ĐẼ CHUNG VÊ TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYÊN
Tự DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG LUẬT HÌNH
sự VIỆT NAM 91.1 Khái niệm, đặc điểm của tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân 91.2 Khái quát lịch sử lập pháp liên quan đến quy định của pháp luật hình sựViệt Nam về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhànước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân 171.3 Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân trong pháp luật hình sự một sốnước trên thế giới 20
KÉT LUẬN CHƯONG 1 24
Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN Tự DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYÈN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG Bộ LUẬT HÌNH sụ
2015 VÀ THỰC TIỄN XÉT xử 26
2.1 Các dâu hiệu định tội và định khung cùa tội lợi dụng các quyên tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân theo Bộ luật Hình sự 2015 26
• •
11
Trang 32.2 Phân biệt Tội lợi dụng các quyên tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích cùa Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân với một số tội phạm
khác trong luật hình sự Việt Nam 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Chương 3 MỘT SÓ YÊU CẢU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 57
3.1 Một số yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng 57
3.2 Một sổ giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng 61
KÉT LUẬN CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
111
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sô liệu xét xử sơ thâm tội lợi dụng các quyên tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân từ năm 2015 đến năm 2019 42Bảng 2.2 Tỷ lệ (%) sổ vụ án và số bị cáo của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 43
Bảng 2.3 Sô liệu vê hình phạt do Tòa án xét xử câp sơ thâm tuyên phạt các bị cáo về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân từ năm 2015 đến năm 2019 43
V
Trang 6MỎ ĐẦU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Quyền con người nói chung và các quyền tự do, dân chủ nói riêng là giá trị phố quát được công nhận trên toàn thế giới với lịch sử hình thành lâuđời và không hề bằng phẳng Sau Chiến tranh thế giới thứ II, các quyền tự do,dân chủ đã được thừa nhận trong các văn kiện quan trọng như Hiến chươngLiên hợp quốc (24/10/1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người(10/12/1948) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966). Ờ Việt Nam, ngay từ Hiến pháp 1946, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã quy định công dânViệt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hộihọp, Các quyền tự do dân chủ tiếp tục được ghi nhận trong các bản Hiến pháp tiếp theo: Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiếnpháp 2013. Hiến pháp 2013 đã quy định mọi người đều có quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo; công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tự do ngônluận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, quyền thamgia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước,. Các văn bản quy phạm pháp luật cũng đã cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp để đưa các quy định này vào thực tiễn cuộc sống như: Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016; Luật Báo chí 2016; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân 2015,
Cùng với việc khẳng định và ghi nhận các quyền tự do dân chú, để bão
vệ lợi ích của cộng đồng, nhà nước ta cũng đặt ra các giới hạn trong việc thực hiện các quyền tự do dân chủ. Theo Khoản 4 Điều 15 Hiến pháp 2013: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích
I
Trang 7quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.” Việc này cũng phù họp với thông lệ quốc tế, theo Khoản 2 Điều 29 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948: “Trong khi thực hiện những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra để những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý,trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.” Trong thời gian qua, rất nhiều đối tượng đã lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trong xã hội Có thể kể đến một số hành vi điển hình như lợi dụng quyền tự
do ngôn luận để viết, đăng tải và chia sẻ bài viết, hình ảnh có nội dung xuyêntạc các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xúc phạm Đảng, Nhà nước, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đăng tải các bài viết có nội dung kêu gọi người dân tham gia biểu tình trái phápluật Những hành vi này đã và đang tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, Do đó, hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích Nhànước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức cá nhân là nguy hiếm cho xã hội, cần được ngăn chặn và xử lý kịp thời Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội, các trang chia sẻ trực tuyến, tính chất nguy hiểm của những hành vi này ngày càng gia tăng
Trên bình diện khoa học luật hình sự, nhiều vấn đề lý luận liên quan đến việc xác định các quyền tự do, dân chủ; hành vi lợi dụng các quyền tự do,dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân; việc quy định hành vi này trong BLHS cũng như vấn đề trách nhiệmhình sự chưa được quan tâm, giải quyết thòa đáng Trên thực tế, hiện tình tiếtđịnh khung “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự” quy định tại khoản 2Điều 331 BLHS 2015 (sữa đổi, bổ sung năm 2017) chưa được hướng dẫn cụthể dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế Ngoài ra, việc
2
Trang 8phân định giữa hành vi lợi dụng các quyên tự do, dân chủ xâm phạm lợi íchNhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân với các hành vi có nhiều điếm tương đồng trong một số tội phạm khác như tội làm, tàng trừ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 111 BLHS 2015), tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116 BLHS 2015) cũng gặp nhiều khó khăn, cần cónghiên cứu chuyên sau về vấn đề này.
Vì những lý do kể trên, học viên đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tội lọi dụng các quyền tự do dân chií xâm phạm lọi ích của Nhà nước, quyền, lọi ích hợp pháp tổ chức, cá nhân trong luật hình sự Việt Nam”
làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cún
Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã được nghiên cứu trong một số giáo trình giảng dạy, sách bình luận khoa học BLHS như: Giảo trình luật hình
sự Việt Nam (Phần các tội phạm - Quyển 2), do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2019; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm - Quyển 2), do Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh biên soạn, NXB Hồng Đức, Hồ Chí Minh, 2016; Bình luận khoa học
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do TS. Trần VănBiên và TS. Đinh Thế Hưng đồng chủ biên, NXB Hồng Đức, tháng 8/2017;
Bình luận9 khoa học• Phần các tội 9 phạm Bộ 9 9 luật9 Hình sự 9 năm 2015,z được • sửađôi, bô sung năm 2017 do Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp, NXB Thế giới, tháng12/2017; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đôi, bô sung năm 2017 (phần các tội phạm) quyên 2, do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2018; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (hiện hành) (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do TS. Nguyền Đức Mai chủ biên, NXB
3
Trang 9Chính trị quôc gia Sự thật, 2018 Các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại
ở mức độ khái quát, phân tích các vấn đề lý luận cơ bản, đưa ra một số dấuhiệu pháp lý đặc trung của tội lợi dụng các quyền tự do, dân chù xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; chưa đưa
ra được nghiên cứu tống thể về những vấn đề lý luận, lịch sử hình thành vàphát triển quy định pháp luật, phân tích thực tiễn áp dụng và đề ra những kiến nghị hoàn thiện về lập pháp cũng như các giải pháp nhàm nâng cao hiệu quả
áp dụng quy định của BLHS liên quan đến tội phạm này
Năm 2014, tác giả Bùi Xuân Hạ (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) trong Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,công dân trong Luật Hình sự Việt Nam đã nghiên cứu một cách khá toàn diện
về tội phạm này tuy nhiên nghiên cứu của tác giả Bùi Xuân Hạ được thựchiện trên cơ sở BLHS 1999, ngoài ra điều kiện kinh tế - xã hội trong đó có sự phát triển của công nghệ thông tin nên nhiều vấn đề, kết luận trong luận vănkhông còn phù hợp với quy định của BLHS hiện hành cũng như thực tiền áp dụng quy định của pháp luật trên thực tế.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu • • •
3.1 Mục đích nghiên cứuLuận văn có mục đích bổ sung những vấn đề lý luận, thu thập và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật liên quan dến tội lợi dụng các quyền tự do,dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức,
cá nhân. Trên cơ sở đó đề xuất những nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS đối với tội phạm này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực• hiện mục• • đích trên, luậnX • văn đặt • ra các nhiệm• vụ• nghiên 4^2 cứu sau:
4
Trang 10- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điêm của tội lợi dụng các quyên tự do dân chủxâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân;
- Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử tội lợi dụng cácquyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân;
- Tìm ra một số hạn chế, bất cập cũng như nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này trong thực tiễn xét xử đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân trên địa bàn toàn quốc.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cún
4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội lợi dụng các quyền tự do dânchủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân quy định trong Bộ luật Hình sự 2015
4.2 Phạm vi nghiên cứuLuận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội lợi dụngcác quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân dưới góc độ pháp lý hình sự. Đồng thời phân tích thực tiễn xét xử với loại tội phạm này trên địa bàn toàn quốc trong thời gian
từ năm 2015 đến 2019
5 Phương pháp luận và phưong pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tường Hồ Chí Minh, quan điếm của Đảng vàNhà nước về đấu tranh, phòng chống tội phạm, chính sách hình sự đối với tộilợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như thành tựu của các ngành khoa học pháp lý như: lý luận chung về nhà nước pháp luật, luật hình sự, tội phạm học,
5
Trang 11Luận văn sử dụng kêt họp các phương pháp nghiên cứu: lịch sử, thông
kê, logic, so sánh, phân tích, tổng hợp để lập luận, làm sáng tỏ những luận chứng, quan điểm khoa học về vấn đề nghiên cứu Phân tích các văn bân quyphạm pháp luật của Nhà nước có liên quan, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tham khảo ý kiến một số chuyên gia, nhà khoa học nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực pháp luật hình sự, thamkhảo các công trình trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu
6 Những đóng góp mói về mặt khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo trong khoa học luật hình sự Việt Namnghiên cứu một cách có hệ thống và có tính đồng bộ những vấn đề lý luận vàthực tiễn về tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhànước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ở cấp một một luận văn thạc sĩ luật học Luận văn có những đóng góp mới sau:
- Làm sáng tỏ những nội dung về lý luận đối với tội lợi dụng các quyền
tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, so sánh, phân biệt với các loại tội phạm khác có những đặc điểm tương đồng
- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân
- Nghiên cứu những quy định cụ thể của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), từ đó so sánh với quy định liên quan trong luật hình sựmột sổ nước trên thế giới, từ đó đánh giá và rút ra nhận định.
- Trên cơ sở phân tích thực tiễn xét xử, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội lợi dụng các
6
Trang 12quyên tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyên, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân cũng như các giải pháp khác nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự đối với tội phạm này trong tìnhhình hiện nay.
7 Ỷ nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung, đóng góp giải quyết một số vấn đề về mặt lý luận như: khái niệm, ý nghĩa của việc quy định tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp cùa tố chức, cá nhân.
- Ý nghĩa thực tiễn: luận văn đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật hình sự và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả ápdụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội lợi dụng các quyền tự do,dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tố chức,
cá nhân
Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tácnghiên cửu, giảng dạy pháp luật hình sự về tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân; làm tài liệu nghiên cửu cho các cơ quan lập pháp trong hoạt động xâydựng, pháp điển hóa pháp luật hình sự, người tiến hành tố tụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cùa luận văn gồm 3 chương Cụ thể:
Chương 1 Một số vấn đề chung về tội lợi dụng các quyền tự do dânchủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân trong luật hình sự Việt Nam
7
Trang 13Chương 2. Quy định vê tội lợi dụng các quyên tự do dân chủ xâm phạm
8
Trang 14Chuông 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN Tự DO
DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TÔ CHỨC, CÁ NHÃN TRONG
LUẬT HÌNH SỤ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội lọi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lọi ích của Nhà nước, quyền lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân
Khái niệm tự do trong triết học được xem là một giá trị cao quý, cơ bản của nhân loại Theo nhà triết học John Locke (1632-1704) “Tự do là khả năng con người có thế làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào" Như vậy tự do ở đây chỉ là khả năng của con người Cònnhà triết học G.w Friedrich Hegel (1770-1831) thì cho rằng: “Tự do là cái tấtyếu được nhận thức”. Như vậy, ở đây tự do không chỉ là nhận thức mà cả ở hành động Tuy nhiên, theo Hegel, muốn có tự do thì trước hết phải nhận thức được cái tất yếu, cái quy luật Người ta nhận thức được quy luật đến đâu thìhành động tự do được bảo đảm đến đấy
Các tác giả Nguyễn Ngọc Hà, Trần Thị Bích Huệ trong bài viết “Tính tương đối của tự do” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 03 -
2018 đưa ra quan điểm: “Tự do là một thuộc tính đặc biệt chỉ có ở con người
có ý thức Người tự do có khả năng tự lựa chọn để làm hay không làm mộtviệc nào đó theo ý thích của mình mà không bị ép buộc bởi người khác; người không tự do (hay người nô lệ) không có khả năng như vậy. Tự do là một giá trị cao quý, là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, tự do
có tính tương đối Con người càng nhận thức được nhiều tính tất yếu của tự nhiên, và càng ít bị sự cưỡng bức bởi người khác, thì càng có nhiều tự do. Khicòn nhà nước và pháp luật, một số người không cỏ tự do vì bắt buộc phải thực
9
Trang 15hiện pháp luật một cách không tự nguyện Khi nhà nước và pháp luật mât đithì tự do của mồi người mới là điều kiện cho tự do của tất cả mọi người.Nhung ngay cả khi nhà nước và pháp luật mất đi, mồi người vẫn không có tự
do hoàn toàn vì vẫn phải từ bở tự nguyện một phần ý thích riêng để tuân theo các quy tắc đạo đức của xã hội Con người không bao giờ có tự do tuyệt đối.”
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “tự do” ở dạng từ loại danh từ được hiểu theo các nghĩa sau: (1) Là phạm trù triết học chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình trên cơ sờ nhận thức được quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. (2) Trạng thái một dân tộc, một xã hội và các thành viên không bị cấm đoán, hạn chế vô lí trong các hoạt động xã hội - chính trị (3) Trạng thái không bị giam cầm hoặc không bị làm nô lệ (4) Trạng tháikhông bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong việc làm nào đó Ớ dạng từ loại tính
từ, khái niệm “tự do” được hiểu theo các nghĩa: (1) Có các quyền tự do về xãhội - chính trị (2) Không bị lực lượng ngoại xâm chiếm đóng (3) Không bịcấm đoán, hạn chế vô lí trong việc làm cụ thế nào đó (4) Không có những sựràng buộc, hạn chế về những mặt nào đó, đối lập với những trường họp thôngthường khác [28, tr 1375]
Như vậy, có thê hiêu “tự do ’’là khả năng con người được làm theo ỷ muon của bản thân mình; không phụ thuộc vào mong muon và ỷ chỉ của người khác.
Cùng với “tự do”, “dân chủ” cũng là một khái niệm có lịch sử phát triển lâu đời Thuật ngữ “dân chủ” theo Anh ngữ là Democracy (thuật ngữ được ghép bởi hai từ Demos và Cratia) nghĩa là quyền lực đám đông. Đượctạo nên bởi những người Hy Lạp tại thành Athens cổ đại để mô tả hệ thống tự trị thành bang của họ vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên. “Dân chủ” đã trải qua những thăng trầm thời Trung cổ và tiếp tục được các học giả tư sảnnghiên cứu và khẳng định tính đúng đắn của mình John Loke (1632 - 1704)
10
Trang 16cho rằng: “Dầu rằng quyền lực lập pháp được đặt trong tay một người haynhiều người nó không thể độc đoán với tính mạng và tài sản của dân chúng.Quyền lực này chính là quyền mà dân chúng trao gửi cho các nhà làm luật.Quyền đó không thề lớn hơn quyền vốn có của dân chúng.” Jacques Russeau (1712 - 1778), một triết gia lớn của nền dân chủ tư sản Pháp đã nói: “Conngười sinh ra, bẩm sinh có quyền tự do nhưng ở đâu cũng đều mất tự do, và vìquyền tự do ấy, các nhà nước mới ra đời, mọi cá nhân đều muốn được tôntrọng và thừa nhận vị thế của họ như là một sinh mệnh có quyền quyết định Dân chủ từ trong lịch sử, trên phương diện học thuật, được hiểu như quyềnlực của “đám đông dân chúng” [3, tr 77] về dân chù, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có quan điểm độc đáo khi cho rằng: “Nước ta là một nước dân chủ, baonhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xãđến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra.” [14, tr 563]. Theo Từ điển tiếngViệt, khái niệm “dân chủ” ở dạng từ loại tính từ được hiểu theo các nghĩa: (1)
Có tính chất của chế độ dân chủ, nhằm thực hiện chế độ dân chủ (2) (Phươngthức công tác) tôn trọng và thực hiện quyền mọi người tham gia bàn bạc vàquyết định các công việc chung. Ở dạng loại danh từ được hiểu theo nghĩa: Chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ [28, tr 324]
Như vậy, một cách chung nhất có thể hiểu “dân chủ ” là trạng thái xã hội mà trong đó mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhản dãn, xuất phát từ nhân dân; hoạt động vì lợi ích của nhân dãn.
Liên quan đến quyền tự do, dân chủ và giới hạn của quyền này, trongcuốn Bàn về Tinh thần pháp luật, Moutesquieu đã viết:
Thực ra trong các nước dân chủ, nhân dân có vẻ làm được mọi điều mình muốn Nhưng tự do chính trị tuyệt đối không phải muốn làm gì thì làm Trong một nước có luật pháp, tự do chỉ là có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm những điều không nên làm cần ghi nhớ thế nào
11
Trang 17là độc lập và thê nào là tự do. Tự do là quyên làm tât cả những điêu mà luậtpháp cho phép Nếu công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự
do nữa, vì nếu anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả [13,
tr 135, 136]
Theo Từ điển Luật học, “Quyền” là khái niệm khoa học pháp lý để chỉ nhũng điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tốchức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế Dấu hiệu đặc trưng thứ nhất của quyền là phải cỏ sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định pháp luật; thứ hai là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thề cá nhân, được cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định Theo đó, quyền của cá nhân đượcphát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Quyền phải gắn với phạm vi quyền, nghĩa vụ và năng lực của
cá nhân và phải chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùnglãnh thổ nhất định. [17, tr.648] Ở nước ta hiện nay, quyền tự do, dân chủ được thể chế hóa tại Hiến pháp và các đạo luật như Luật báo chí 2016; Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hộiđồng nhân dân 2015, Theo các văn bản này, quyền tự do, dân chủ có thể chia thành các nhóm như sau: (1) Nhóm quyền tự do cá nhân: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền tự do lập hội, biểu tình theo quy định phápluật; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú, (2)Nhóm quyền dân chủ về về chính trị: quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội vàHội đồng nhân dân; quyền khiếu nại, tố cáo, (3) Nhóm quyền tự do, dân chủ về kinh tể, văn hóa, xã hội: quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; thành lập và gia nhập công đoàn; tự do kinh doanh,
Như vậy, quyền tự do, dân chủ là những quyền được pháp luật thừa
12
Trang 18nhận và đảm bảo đê con người được làm theo ỷ muôn và nhu câu của bản thân, đê công dân được làm chủ quyền lực Nhà nước, đồng thời các quyền này luôn có các giới hạn đê đảm bảo việc hưởng dụng quyền của những người khác, mức độ giới hạn phụ thuộc vào ỷ chỉ Nhà nước, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội ở mỗi thời diêm nhất định.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không đưa rađịnh nghĩa riêng về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong Bộ luậtHình sự chỉ đưa ra định nghĩa chưng về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 như sau:
"Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vỏ ỷ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô Tô quốc, xám phạm chế độ chỉnh trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích họp pháp của tô chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dãn, xám phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lỷ hình sự.”
Đồng thời đưa ra các dấu hiệu pháp lỷ của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân tại khoản 1 Điều 331 Bộ luật Hình sự:
“ Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhãn, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
13
Trang 19Từ quy định của Bộ luật Hình sự, ta có thê rút ra các đặc điêm của tộiphạm này như sau:
Thứ nhất, hành vi lợi dụng quyền tự do dân chù xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trước hết là hành vi
do con người thực hiện và có tính nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiếm cho
xã hội được thể hiện ở việc hành vi này gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hạiđáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, trong trường hợpnày là lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp cùa tố chức, cá nhân.
Việc xác định tính nguy hiềm cho xã hội cần căn cứ vào tình hình phát triển của xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời
kỳ cụ thể Tại Việt Nam, theo Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg ngày 02/12/2004của Thủ tướng Chính phủ về “tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhânquyền trong tình hình mới” nêu rõ:
Cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động, thù nghịch lợi dụng vấn
đề dân chủ, nhân quyền còn diễn biến phức tạp và lâu dài Trong thời gian tới, các thế lực phản động, thù nghịch sẽ gia tăng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ
xã hội chữ nghĩa ở nước ta, trong đó lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc là một trong những mũi tấn công chủ yếu [02, tr 61]
Thứ hai, hành vi lợi dụng quyền tự do dân chù xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân phải được quy địnhtrong Bộ luật Hình sự Điều 8 BLHS 2015, đã quy định: “Chỉ người nào hoặcpháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.” Như vậy, chỉ có BLHS mới được quyđịnh hành vi nguy hiếm cho xã hội nào bị coi là tội phạm, không có văn bảnnào khác được quy định về vấn đề này Hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và
14
Trang 20các quyên tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyên, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân đã được nhà làm luật mô tả tại Điều 331 BLHS
2015 nếu phù hợp với các điều kiện khác theo quy định của BLHS 2015 sẽ bịcoi là tội phạm.
Thứ ba, hành vi lợi dụng quyền tự do dân chù xâm phạm lợi ích củaNhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Theo Giáo trình Luật Hình sự (Phần chung) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năng lực TNHS đã được định nghĩa là: “khả năng của một người ở thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức đượctính nguy hiểm cho xã hội cùa hành vi mà mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó.”[ll,tr. 186]
BLHS 2015 không quy định cụ thể năng lực trách nhiệm hình sự là gi,
mà chỉ quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12) và tình trạng không
có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) Từ các quy định của BLHS, ta có thể nhận thấy một trong những điều kiện để hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân trở thành tội phạm là hành vi này phải do người đạt đủ độ tuổi luật định và không ở trong tình trạng không có năng lựctrách nhiệm hình sự hay nói cách khác là có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình thực hiện.
Thứ tư, người thực hiện hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân phải
có lỗi Theo tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn Bình luận Khoa học Bộ luậtHình sự năm 2015 Phần thứ nhất - Những quy định chung: “Lồi là thái độ tâm
lý cùa một người hoặc một pháp nhân thương mại đối với hành vi nguy hiểm
15
Trang 21cho xã hội và hậu quả cùa hành vi đó dưới hình thức cô ý hoặc vô ý.” [29] Lôi
là một trong những thuộc tính cơ bản của tội phạm, là yếu tố bắt buộc để hành
vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôngiáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi íchcủa Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân trở thành tộiphạm và người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự về hành
vi do mình thực hiện Đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân, người phạm tội ý thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và nhận thứcđược hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra; mặt khác mong muốn hậu quả xảy ra hoặctuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, do đó lồicủa người thực hiện hành vi này là lỗi cố ý
Thứ năm, hành vi thỏa mãn tất cả các đặc điềm trên “phải bị xử lý hình sự'. Đây là một điểm mới của định nghĩa tội phạm theo BLHS 2015 so vớiBLHS năm 1999. Tuy không phải là một đặc điểm thuộc về bản chất của tộiphạm nhưng có mối quan hệ mật thiết với tội phạm, chỉ có hành vi phạm tội
“phải bị xử lý hình sự”, không có tội phạm thì cũng không bị xử lý hình sự
“Phải bị xử lý hình sự” nghĩa là hành vi lợi dụng quyền tự do dân chù xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do tính chất nguy hiểm của mình bị đe dọa bị xử lý hình sự Điều này không cónghĩa là trong mọi trường hợp, hành vi phạm tội luôn luôn phải chịu biện pháp xừ lý hình sự trong đó có hình phạt và các biện pháp tư pháp, vẫn cónhững trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, được miễnhình phạt, được miễn chấp hành hình phạt,. theo quy định của BLHS.
Qua phân tích các đặc điểm trên, có thể rút ra khái niệm tội lợi dụngcác quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tồ chức, cá nhân như sau: Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm
16
Trang 22phạm lợi ích của Nhà nước, quyên, lợi ích họp pháp của tô chức, cá nhãn là hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do bảo chỉ, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dãn chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân; do người
đủ tuôi chịu• • • (_? • • • • trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự cố V thực hiện; đirợc quy định trong BLHS và phải bị xử lý hình sự.
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp liên quan đến quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lọi• • • • • CT > V • 1 • •ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tố chức, cá nhân
Quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lợi dụng các quyền tự do dân chù xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân gắn liền với quá trình hình thành và pháttriển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay Sau khinước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh vào năm 1945, Nhà nước
đã the hiện sự quan tâm đối với việc bảo vệ các quyền tự do dân chù của người dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng các quyền này đểthực hiện hành vi chống đối Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và xã hội. Cùng với sự phát triển và hoàn thiện của Nhànước và pháp luật cũng như sự thay đối cùa đời sống kinh tế - xã hội, các quyđịnh về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tồ chức, cá nhân ngày càng hoàn thiện, góp phầnbảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như đápứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985: Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, trong điều kiện phải chống lại thù trong, giặc ngoài sau đó tiến hành hai cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ, Nhà nước vẫn luôn dành sự quan tâm cho
17
Trang 23việc ban hành các văn bản khăng định các quyên tự do dân chủ găn liên vớicác quy định để chống lại việc lợi dụng các quyền này xâm phạm lợi ích củanhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Có thể kể đến hai vănbản tiêu biểu là: sắc lệnh số 282/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủcộng hòa ngày 14/12/1956 kèm theo Luật về chế độ báo chí và Pháp lệnh số 5-LCT/HDDNN7 của Hội đồng Nhà nước ngày 27/11/1981 quy định việc xét
và giải quyết các khiếu nại, tổ cáo của công dân
Sắc lệnh số 282/SL tại Điều 4 quy định: “Quyền tự do ngôn luận của nhăn dãn trên báo chí được đảm bảo”, đồng thời cũng quy định tại Điều 9 những điều báo chí phải tuân theo để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được
sử dụng một cách đúng đắn như: Không được tuyên truyền chống pháp luậtcủa Nhà nước, không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lạinhững luật lệ và những đường lối chính sách cùa Nhà nước, ; không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoànthành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoànkết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội; Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tinh hữu nghị giữa nhân dân nước ta với nhân dân các nước bạn, ; không được tiết lộ bí mật quốc gia; không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại Theo Điều 13 sắc lệnh 282/SL báo chí nào vi phạm Điều 9 sẽ bị trừng phạt như sau: “tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, tịch thu ấn phàm, đình bản tạm thời, đình bản vĩnh viền, hoặc bị truy tổ trước toà án, có thể bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến một triệu đồng (1.000.000 đ), hoặc người chịu trách nhiệm bị phạt tù từ một tháng đến hai năm, hoặc cả hai hình phạt đó Nếu xét đirơng sự phạm vào những luật lệ khác, toà án sẽ chiếu theo những luật lệ ấy mà trừng phạt thêm.”
18
Trang 24Pháp lệnh sô 5-LCT/HDDNN7 tại Điêu 1 quy định: “Công dân có quyên khiếu nại và tổ cáo vói hất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoả, xã hội, và đơn vị vũ trang nhãn dãn (dưới đây gọi tắt là cơ quan và tổ chức), hoặc của bất
cứ cá nhân nào thuộc • các cơ quan Jr và tô chức đó làm thiệt hại đến • • lợi• ích của Nhà nước, của tập thế và quyền lợi chính đáng cùa công dãn.” Đồng thời tại Điều 33 quy định: “Người nào lợi dụng quyền khiếu nại và tố cáo, cố ỷ xuyên tạc
sự thật, vu cáo người khác hoặc vu cảo cơ quan, tô chức thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”
Đến năm 1985, BLHS lần đầu được ban hành tuy nhiên chưa có điều khoản quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợiích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 được ban hành: Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 đã được Quốc hội thông qua và tại khoản 14 Điều 2 Luật này làn đầu tiên quy định tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là một tội phạm trong BLHS Việt Nam Điều khoản này quy định:
"Bổ sung một số điều mới như sau:
Điều 205a Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân
Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tínngưỡng, quyền hội họp, lập hội hoặc các quyền tự do dân chủ khác xâm phạmlợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân, thì bị phạt cảnh cáo,cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm"
Đen BLHS năm 1999, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân đã được sửa đổi
và quy định tại Điều 258 BLHS năm 1999:
19
Trang 25“Điêu 258 Tội lợi dụng các quyên tự do dân chủ xâm phạm lợi ích cùaNhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tố chức, công dân
1 Người nào lọi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khácxâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, côngdân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2 Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”
So với quy định tại Điều 205a Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 1991, Điều
258 BLHS năm 1999 có một số thay đổi như sau:
- Bổ sung cụm từ "quyền, lợi ích hợp pháp” và thay đổi cụm từ "tổ chức xã hội hoặc của công dán” thành cụm từ "tổ chức, công dãn” để làm rõđối tượng tội phạm xâm phạm.
- Khoản 1 Điều 258 BLHS năm 1999 cũng quy định thêm hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo trong khi Điều 205a BLHS 1985 chưa quy định rõhành vi lợi dụng quyền này
- Bổ sung khoản 2 quy định khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm với mộttình tiết là yếu tố định khung hình phạt: Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng
- Sửa đổi hình phạt áp dụng: Tại Điều 205a Luật sửa đổi, bổ sungBLHS 1991 chỉ quy định một khung hình phạt: "phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”, Điều 258 BLHS 1999 đã quy định 02 khung hình phạt: "phạt cảnh cảo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” và "phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
1.3 Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lại ích họp pháp của tổ chức, cá nhân trong pháp luật hình
sự một số nước trên thế giói
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga: Qua nghiên cứu Bộ luật Hình sự Liên
20
Trang 26bang Nga năm 1996 (sửa đôi năm 2010) không phát hiện tội danh: “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp cùa tồ chức, cá nhân” Tuy nhiên, có một tội phạm khá tương đồng như sau:
Trong Chương 25: Tội phạm xâm phạm sức khỏe của dân chúng và đạo đức xã hội, Điều 239: Tội lập hội xâm phạm đến cá nhân và quyền công dân
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định:
1 Thành lập các tổ chức xã hội hoặc tôn giáo mà các tổ chức này gắn liền với việc sử dụng vũ lực hoặc gây ra các tốn hại khác đốivới sức khỏe dân chủng, hoặc kích động người dân từ chối thực hiện các nghĩa vụ công dân hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật khác,cũng như lãnh đạo các tổ chức này thì bị phạt tiền đến hai trăm nghìnrúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị hạn chế tự do đến ba năm, hoặc bị phạt tù đến
ba năm.
2 Tham gia vào hoạt động của các tổ chức nêu trên, cũngnhư tryền bá các hành vi được quy định tại khoản 1 của Điều luật này thì bị phạt tiền đến một trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thunhập khác của người bị kết án đến một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến hai năm.[20, tr 452-454]
Như vậy, có thể thấy tội phạm được mô tả trong Điều 239 Bộ luật Hình
sự Liên bang Nga khá tương đồng với hành vi lợi dụng quyền tự do lập hộixâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân quy định tại Điều 331 BLHS 2015 của Việt Nam. Việc gây ra các tổn hại khác đối với sức khỏe dân chúng là một sự xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân; việc kích động người dân từ chối thực hiện các nghĩa vụ công dân hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật khác cũng đe dọa lợi íchcủa Nhà nước (mặc dù không được quy định rõ ràng trong điều luật), quyền,
21
Trang 27lợi ích hợp pháp của cá nhân trong xã hội Ngoài ra, có thê rút ra một sô nhận định khác như sau: (1) Tội lập hội xâm phạm đến cá nhân và quyền công dân trong BLHS Liên bang Nga không nằm trong Chương 32 “Các tội xâm phạmtrật tự quản lý”, một Chương với các tội phạm gần gũi với Chương XXII
“Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” của BLHS Việt Nam. Điềunày thể hiện sự khác biệt của nhà làm luật khi đánh giá khách thể của các tội phạm này. (2) Khách thể của tội lập hội xâm phạm đến cá nhân và quyềncông dân trong BLHS Liên bang Nga cũng hẹp hơn với các khách thế đượcliệt kê là: sức khỏe dân chúng, trật tự quản lý nhà nước (3) Hành vi khách quan trong tội lập hội xâm phạm đến cá nhân và quyền công dân trong BLHSLiên bang Nga cũng không đa dạng như hành vi khách quan trong tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân khi chỉ quy định duy nhất hành vi lập hội
Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa: Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 không quy định tộidanh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, tuy nhiên trong Chương VI
“Tội xâm phạm trật tự quản lý xã hội” có một số tội phạm quy định tại Điều
300 khá tương đồng: “Người nào tổ chức và lợi dụng các môn đạo, tố chức tà đạo, tổ chức tà giáo hoặc lợi dụng mê tín phá hoại pháp luật của Nhà nước vàviệc thực thi pháp quy hành chính, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm ”.[10, tr 186, 187]
Tội phạm được mô tả trong Điều 300 Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhândân Trung Hoa có những dấu hiệu tương đối giống tội lợi dụng các quyền tự
do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân quy định tại Điều 331 BLHS Việt Nam Hành vi lợi dụng các môn đạo, tổ chức tà đạo, tổ chức tà giáo hoặc lợi dụng mê tín phá hoại pháp
22
Trang 28luật của Nhà nước và việc thực thi pháp quy hành chính tương tự như hành vilợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm lợi ích cùa Nhà nước,quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Khách thể của tội phạm được mô
tă trong Điều 300 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là việc thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước và pháp quy hành chính cũng rấtgần gũi với khách thể của tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợiích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân trong BLHSViệt Nam Ngoài ra, có thể rút ra một số nhận định sau: (1) Khách thế của tội phạm được quy định tại Điều 300 Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân TrungHoa hẹp hơn khách thể được quy định trong tội lợi dụng các quyền tự do, dânchù xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 331 BLHS Việt Nam) khi chỉ đề cập đến việc thực thi pháp luật củaNhà nước và pháp quy hành chính (2) Hành vi khách quan của tội phạm được quy định tại Điều 300 Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không đadạng bằng khi chì quy định một số hành vi lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không quy định các hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ khácnhư tự do ngôn luận, tự do báo chí,. (3) về mức độ trách nhiệm hình sự: Điều
300 Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định hình phạt nghiêmkhắc hon với hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
23
Trang 29KÊT LUẬN CHƯƠNG 1
Tội lợi dụng các quyên tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là hành vi lợi dụng các quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội
và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
và có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện; được quy định trong BLHS và phải bị xử lý hình sự.
Ngay từ thời phong kiến, trong xã hội Việt Nam đã tồn tại các hành vi
sử dụng tôn giáo, tín ngưỡng; truyền đưa tin giả, tin sai sự thật, nhào nặn tintức để kích động nhân dân gây bất ổn cho xã hội, chống lại sự lãnh đạo của Nhà nước hoặc sữ dụng việc tố cáo để xúc phạm, nhục mạ những người làmviệc trong cơ quan công quyền hay khiếu kiện lâu dài dù đã được giải quyết
Để giữ ổn định cho xã hội, bảo vệ quyền lực của Nhà nước, bộ Quốc triềuhình luật thời Lê và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn đã quy định hình phạt khánghiêm khắc cho các hành vi này như lưu đi châu xa
Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công và trong quá trìnhxây dựng và bảo vệ đất nước, hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhânđược quy định một cách phân tán trong các văn bản của Nhà nước Cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung BLHS được Quốc hội thông qua năm 1991, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã chính thức được quy định trong BLHS. Quacác BLHS năm 1999 và BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội lợidụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi íchhợp pháp của tồ chức, cá nhân tiếp tục được các nhà làm luật ghi nhận vàhoàn thiện như hiện nay.
24
Trang 30Qua nghiên cứu BLHS Liên bang Nga và BLHS Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa không tìm thấy tội danh lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp cùa tổ chức cá nhân; tuynhiên cũng có những tội phạm có nhiều dấu hiệu tưorng đồng và có thể nghiêncứu, tham khảo để phục vụ việc hoàn thiện pháp luật.
25
Trang 31Chuông 2 QUY ĐỊNH VÈ TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN Tự DO DÂN CHỦ XÂM
PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA TÔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG BỘ LUẬT HÌNH sự 2015 VÀ
THỤ C TIỄN XÉT xử
2.1 Các dấu hiệu định tội và định khung của tội lợi dụng các quyền tự do • • • • CT • • • C27 > V •dân chủ xâm phạm lọi ích của nhà nước, quyền, lọi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Bộ luật Hình sự 2015
Để xác định hành vi của một người có phải là tội phạm hay không cầnsoi chiếu hành vi đó có thỏa mãn các dấu hiệu định tội hay nói cách khác là cấu thành tội phạm của một trong các tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS hay không, đây cũng là cơ sờ để xem xét TNHS đối với người phạm tội Căn cứ BLHS 2015, các dấu hiệu định tội của tội lợi dụng các quyền tự
do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân theo Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm các dấu hiệu sau:
77ỉứ nhất, dấu hiệu khách thê của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tô chức, cá nhân.
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hạiđến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kế nhất định.[5,
tr 343]
Khách thể của tội phạm là một trong các yếu tố bắt buộc và không thểthiếu của cấu thành tội phạm Đe phân nhóm các tội phạm trong BLHS, nhàlàm luật dựa chủ yếu vào tiêu chí khách thể loại của tội phạm, đây là một nhómcác quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự• bào vệ• và bị • một • nhóm tội phạm xâm hại • A • • Đối với nhóm tội xâm phạm• A •trật tự quàn lý hành chính quy định tại Chương XXII BLHS 2015 (sửa đổi, bổ
26
Trang 32sung năm 2017), khách thê loại cùa nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hànhchính là những quan hệ xã hội tồn tại trong các lĩnh vực của quản lý hành chínhnhà nước; hoạt động bình thưòng, đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội; hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước Hành vi phạm tội xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ này, làm công tác quản lý hành chính nhànước gặp khó khăn
Bên cạnh khách thể loại như đã trình bày ở trên, hành vi lợi dụng cácquyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức,' • cá nhân xâm hại • hoặc đe dọa• • xâm hại 1 các quan hệ• xã hội cụ thể,• • '
đó là lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Hiện nay chưa có quy định cụ thể lợi ích Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được nhắc đến trong quy định tại Điều 331 BLHS 2015
là những lợi ích, quyền cụ thể nào Tuy nhiên, có thể hiểu đây là các lợi ích của các chù thề: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; các tổ chức đượcthành lập hợp pháp hoặc hoạt động trên lãnh thố Việt Nam; các cá nhân (bao gồm cả công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch, ) sinh sốnghoặc • • làm việc trên lãnh thổ Việt Nam• •được pháp1 1 • luật Việt• Nam thừa nhận và • bảo vệ Các lợi ích này có thể là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy lợi ích mà người phạm tội xâm phạm chủ yếu là lợi ích phi vật chất như: niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước, uy tín của lãnh đạo Đảng và Nhà nước,
Có thể thấy khách thể của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân là tương đối rộng, do đó đã có ý kiến cho rằng khách thể của tội phạm nàykhông thật sự rõ ràng, dễ dẫn đến sự tùy tiện trong quá trình áp dụng phápluật, về vấn đề này, tác giả nhận thấy cần có sự hoàn thiện pháp luật, tuynhiên không thể phũ nhận việc quy định khách thề rộng như vậy cũng phần
27
Trang 33nào tạo ra những sự thuận lợi nhât định trong đâu tranh phòng chông tộiphạm, đặc biệt trong thời đại bùng nồ công nghệ hiện nay khiến tội phạm liêntục thay đổi phương thức hoạt động của mình nhằm đạt được mục đích tộiphạm và thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật.
Thứ hai, dấu hiệu mặt khách quan của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhãn
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguyhiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan [5, tr 344] Các dấu hiệu của mặt khách quan có thể kể đến là: hành vi nguyhiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, và một số dấu hiệu khác như: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, phương pháp (thủ đoạn), công cụ, phương tiện phạm tội.
Đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhànước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, hành vi khách quan củatội phạm được quy định là hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân Các hành vi cụ thế là:
- Hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phát tán các thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật, bóp méo sự thật, hoặc truyềnđưa thông tin không có căn cứ, suy đoán cá nhân xâm phạm, gây thiệt hại đếnlợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Thông tin cóthể được người phạm tội phát tán dưới nhiều hình thức khác nhau như: bài báo, truyền đơn, tờ rơi, truyền miệng, tin nhắn điện thoại và đặc biệt trongnhững năm gần đây người phạm tội thường xuyên sử dụng việc viết và chia sẻ bài viết trên mạng xã hội và video clip trên các trang chia sẻ trực tuyến. Vídụ: Năm 2018, ông Đ.K.V.Q trú tại quận Ninh Kiều, cần Thơ đã sử dụng
28
Trang 34Facebook cá nhân đê viêt, đăng tải và chia sẻ bài viêt, hình ảnh có nội dungxuyên tạc các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến dự thảo Luật Đặc khu mặc dù không nắm bắt được đầy đủ thông tin
về chủ trương chính sách này; xúc phạm Đảng và Nhà nước, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và đăng tải các bài viết kêu gọi người khác thamgia biều tình trái pháp luật Các bài viết này gây nên những suy nghĩ tiêu cực cho người đọc, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước, gây tác động xấu cho
xã họi.
- Hành vi lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vận động, gây bàixích giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo và người không theo tín ngưỡng,tôn giáo, giữa người theo tôn giáo này và người theo tôn giáo khác; giữa người theo tôn giáo với các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác, hoạt động tôn giáo trái pháp luật gây mất trật tự an toàn xã hội và xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
- Hành vi lợi dụng quyền tự do hội họp, lập hội vận động thành lập các
tổ chức, hội nhóm trái pháp luật, tiến hành các hoạt động chống đối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn
xã hội và xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân.
- Hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ khác như quyền khiếu nại,
tổ cáo, quyền biểu tình kêu gọi, kích động người dân khiếu kiện tập thể, kéodài, vô căn cứ, biếu tình trái pháp luật, phục vụ mục đích của các đối tượng kích động, lôi kéo, gây mất trật tự an toàn xã hội; và xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Hậu quả của hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là thiệt hại cụthể với lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tồ chức, cá nhân.
29
Trang 35Điêu luật chỉ đòi hỏi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi cụ thê nói trên mà không đòi hỏi phải gây thiệt hại cụ thể, do đó hậu quả không phải
là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội phạm này
Thứ ba, dấu hiệu chủ thê của tội lợi dụng các quyền tự do dãn chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân
Chủ thể của tội phạm là người đã có lồi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lựcTNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định (ngoài ra, trong một số trườnghọp cụ thể còn có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm PLHS tương ứng quy định) [5, tr 343, 344]
Căn cứ quy định tại Điều 8 BLHS 2015 về tội phạm, Điều 12 BLHS
2015 về tuổi chịu TNHS, chủ thể của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủxâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhânphải là người từ đù 16 tuổi trở lên, có năng lực pháp luật hình sự; pháp nhânthương mại không phải là chủ thể của tội phạm này
Thứ tư, dấu hiệu mặt chủ quan của tội lợi dụng các quyền tự do dân chù xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân
Mặt chủ quan cùa tội phạm là mặt bên trong của sự xâm hại nguy hiểmđáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng PLHS - lồi, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó.Mặt chủ quan của tội phạm có: (1) dấu hiệu bắt buộc - lỗi, (2) dấu hiệu tùynghi - động cơ và mục đích phạm tội [5, tr 344, 345]
Người phạm tội thực hiện hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhânvới lỗi cố ý Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của minh xâm hạiđến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tồ chức, cá nhân; thấy
30
Trang 36trước hậu quả của hành vi đó và mong muôn cho hậu quả xảy ra, hoặc thây trước hậu quả hành vi của mình có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưngvẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có động cơ
và mục đích phạm tội khác nhau, có thể kể đến một số động cơ của người phạm tội như: mong muốn được nổi tiếng, tạo vị thế trong cộng đồng, mong muốn giải quyết bất công trong xã hội, và mục đích của người phạm tội: làm mất uy tín của cơ quan Đảng, Nhà nước và cán bộ Đảng,Nhà nước; gây mất niềm tin của nhân dân đối với cơ quan Đảng, Nhà nướccũng như chính sách của Đảng, Nhà nước,.
về dấu hiệu định khung: “gậy ảnh hưởng xẩu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” tại khoản 2 Điều 331 BLHS 2015 hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Đây cũng là tình tiết định tội trong “tội gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS 2015 và có nhiều cách giải thích khácnhau liên quan đến tình tiết này:
- Tác giả Đặng Khắc Thắng - Phó Viện trưởng VKSND Thủy Nguyên
- Hải Phòng trong bài viết: Bàn về tình tiết ‘‘gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ” trong tội gãy rối trật tự công cộng đăng trên Trang thông tin điện tử VKSND thành phố Hải Phòng ngày 10/6/2019 [41], cho rằng: “tình tiết ‘‘gây ánh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” là mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra, là hậu quả phi vật chất Tại tiêu mục 5.1 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày ỉ 7/4/2003 của Hội đồng thâm phán Tòa án nhân dân toi cao đã quy định: ‘‘Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khoẻ và tài sản được hướng dẫn trên đây, thực tiễn cho thấy
có thể còn có hậu quả phi vật chất như có ảnh hưởng xẩu đen việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xẩu đến an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn xã hội ” Như vậy, theo quy định tại
31
Trang 37Nghị quyêt sô 02/2003 của Hội đông thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao, thì tình tiết “gây ảnh hưỏng Xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" đã được hướng dẫn, nó có tỉnh chất, mức độ như "hậu quả nghiêm trọng" hay nói cách khác “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" chỉnh
là “gây hậu quá nghiêm trọng
- Trong cuốn Bình luận Khoa học Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổsung 2017) do GS TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (Phần các tội phạm -Quyền 2), tinh tiết “gãy ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”
quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS 2015 được hiểu là hậu quả do hành viphạm tội gây ra: “tác động xẩu cụ thê đến hoạt động hoặc tâm lỷ chung như
do tụ tập đông người nên dẫn đến ùn tắc giao thông hoặc việc đập phá tài sản
đã làm gián đoạn hoạt động của cơ quan, tỏ chức gây tâm lỷ lo ngại cho người khác,v.v " và tại khoản 2 Điều 331 được hiểu là: “gảy ra hậu quả, thiệt hại cho an ninh, trật tự, an toàn xã hội như trường hợp phạm tội đã gãy tình trạng lộn xộn, mất an ninh, trật tự nghiêm trọng tại địa phương do đã lỏi kéo được hàng trăm người tham gia biêu tình trải phép/" [9, tr 480, 540]
Như vậy, các nghiên cứu vừa nêu đều đồng ý tình tiết “gây ảnh hưởng xấuđến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” muốn nói đến hậu quả của tội phạm gây rađối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội Ngoài ra, tác giả Đặng Khắc Thắng trong bài viết của mình đã đồng nhất "gây ảnh hưởng xẩu đến an ninh, trật tự, an toàn
xã hội" với "gây hậu quả nghiêm trọng", về điểm này tác giả không đồng tình
do nội hàm hai khái niệm là khác nhau; mặt khác tại mục 5.1 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày ỉ 7/4/2003 của Hội đồng thâm phản Tòa án nhân dân tối cao ngoài việc liệt kê các hậu quả phi vật chất là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội"còn liệt kê cảc hậu quả phi vật chất khác như: ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; ngoại giao,
32
Trang 38Từ những nhận định trên, có thê hiêu tình tiêt “gây ảnh hưởng xâu đền
an ninh, trật tự, an toàn xã hội” quy định tại khoản 2 Điều 331 BLHS 2015 là hậu quả do tội phạm lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân gây ra cho an ninh,trật tự, an toàn xã hội như: gián đoạn hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước; tình trạng lộn xộn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơquan, tổ chức, của quần chúng nhân dân tại địa phương; ảnh hưởng tiêu cực đến suy nghĩ và hành động của nhiều quần chúng nhân dân.
Điều 331 BLHS 2015 quy định 02 khung hình phạt với tội lợi dụng cácquyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bao gồm khung cơ bản và khung tăng nặng:
- Khung cơ bản với hình phạt là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giamgiữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng với các trườnghợp phạm tội quy định tại Khoản 1 Điều 331 BLHS 2015
- Khung tăng nặng với hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng với các trường hợp phạm tội quy định tại Khoản 2 Điều 331 BLHS2015: phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Việc áp dụng hình phạt với người phạm tội ngoài quy định tại Điều 331BLHS 2015 còn phụ thuộc vào quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tạicác Điều 51 và 52 BLHS 2015 và các quy định khác của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
2.2 Phân biệt Tội lọi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lọi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích họp pháp của tố chức, cá nhân với một số tội phạm khác trong luật hình sự Việt Nam• 1 • “ • • •
Thứ nhất, phân biệt tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhãn với Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phảm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
33
Trang 39Điêu 117 BLHS 2015, Tội làm, tàng trừ, phát tán hoặc tuyên truyênthông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phấm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý
2 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10năm đến 20 năm.
3 Người chuấn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”Điều luật thuộc Chương XIII “CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINHQUỐC GIA”, cũng là Chương đầu tiên trong Phần các tội phạm của BLHS, điều này thể hiện tính chất quan trọng của các quan hệ xã hội mà Chương này bảo vệ Theo Điều 3 Luật An ninh quốc gia 2004, an ninh quốc gia có thể được hiểu “là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa vàNhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.” Việc đảm bảo an ninh quốc gia là nền tảng cho việc đảm bảo các quan hệ khác trong xã hội tồn tại
và phát triển theo ý chí Nhà nước. Đe đảm bảo an ninh quốc gia trên lĩnh vực
an ninh văn hóa - tư tưởng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung, phòng ngừa và trừng trị hành vi làm, tàng trừ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của các thế lực thù địch, Nhà nước đã quy định tội phạm này tại Điều117BLHS 2015
34
Trang 40Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyên thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi íchcủa cá nhân có những điểm tương đồng như sau:
- về chủ thể của tội phạm: chủ thể của cả hai tội phạm đều không phải
là chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi theo quy định thì đều có thể trở thành chủ thể của các tội phạm này Căn
cứ Điều 12 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), độ tuổi để trờ thành chủ thểcủa tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều từ đủ 16 tuổi trở lên.
- về khách thể của tội phạm: hai tội phạm này đều xâm hại đến lợi íchcủa Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thông qua việc truyền đưa cácthông tin gây nghi ngờ, làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vớihoạt động của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, qua đó gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động điều hành, quản lý của Nhà nước trên nhiều lĩnh vực.
- về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của hai tộiphạm có nhiều điểm tương đồng đặc biệt khi so sánh hành vi làm, tàng trữ,phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí thu thập, phát tán thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật xâm phạm, gây thiệt hại đến lợi ích cùa Nhà nước, quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân Hình thức truyền đưa các thông tin ở hai tội phạm cũng giong nhau như: truyền miệng, tờ rơi, truyền đơn, bài viết trên mạng xã hội, nhóm kín, Hậu quả của hành vi khách quan trong hai tội phạm thường là hậu quả phi vật chất Ngoài ra, hậu quả không phái là dấu hiệu bắt buộc của
35