Mục• • tiêu cụ thể Bằng các số liệu thu thập được từ Tòa án, đề tài sẽ làm rõ thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xừ vụ án KDTM theo pháp luật Việt Nam, q
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐÀU 1
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẮN BỊ XÉT xử vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 6
1.1 Khái niệm thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 6
1.1.1 Khái niệm về thụ lý vụ án kinh doanh thương mại 8
1.1.2 Khái niệm về chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 9
1.2 Đặc • điếm của thụ lý và chuẩn • </ • • bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại • 10
1.2.1 Đặc điểm của thụ lý vụ án kinh doanh thương mại 11
1.2.2 Đặc điểm của chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 12
1.3 Ý nghĩa của thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 12
1.3.1 về mặt chính trị - xã hội 12
1.3.2 về mặt pháp lý và thực trạng áp dụng pháp luật 13
1.4 Mối quan hệ giữa thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 14
1.4.1 Thụ lý vụ án là tiền đề của giai đoạn chuẩn bị xét xử, là điểm khởi đầu, quyết định các hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 14
1.4.2 Chuẩn bị xét xử là giai đoạn tiến hành các hoạt động tố tụng giải quyết và hoàn thiện các vấn đề đặt ra ở giai đoạn thụ lý 15
1.5 Các quy định của pháp luật tố tụng về thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 17
Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TÓ TỤNG DÂN Sự VÈ THỤ LÝ VÀ CHUẤN BỊ XÉT xử vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 22
2.1 Thực • trạng • “ pháp M 1 luật • tố tụng dân • CJ sự về • thụ • lý vụ • án kinh doanh thương mại 22
Trang 22.1.1 Nhận đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo 23
2.1.2 Xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo 26
2.1.3 Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện 30
2.1.4 Các quy định về điều kiện thụ lý vụ án 30
2.1.5 Thụ lý vụ án 38
2.1.6 Thông báo về việc thụ lý vụ án 41
2.1.7 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án 43
2.2 Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xủ’ vụ án kinh doanh thương mại 44
2.2.1 Quy định của pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử 44
2.2.2 Quy định của pháp luật về lập hồ sơ vụ án 45
2.2.3 Quy định của pháp luật về hòa giải 50
2.2.4 Cácquyết định trong giai đoạn chuấn bị xét xử 55
2.3 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 60
2.3.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 60
2.3.2 Những tồn tại, vướng mắc trong áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại và nguyên nhân 64
Kết luận chương 2 81
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐÈ PHÁP LÝ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÈ THỤ LÝ VÀ CHUẢN BỊ XÉT xử vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 82
3.1 Một số vấn đề pháp lý về thụ lý và chuẳn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 82
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại 83
Kết luận chương 3 86
KÉT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT NGUYÊN NGHĨA
BLDS BÔ luât• • • dân sư
BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự
HĐTPTANDTC Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4MỎ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của đê tài nghiên cứu
Việt Nam đang phát triển mạnh mể trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Sự phát triến này có những tác động cũng như đóng góp đáng kế cho sự phát triền chung của đất nước Bên cạnh đó các tranh chấp phát sinh từ cácquan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân, hoạt động kinh doanh, thương mại, lao động ngày càng nhiều hơn
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại tuy chiếm tỷ lệ không lớn sovới các loại vụ án khác mà Tòa án các cấp đang thụ lý, giải quyết, nhưng tính chấtlại rất đa dạng, phức tạp và số lượng ngày càng tăng qua các năm, đồng thời cũng
là một trong những loại vụ án có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đến môi trường đầu tư và việc thụ lý, giải quyết những tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án tốt hay không tốt sẽ ảnh hưởng đến uy tín của nền tưpháp, của Tòa án Việt Nam trên trường quốc tế Đây là một trong những vấn đề
mà hệ thống Tòa án nhân dân cần quan tâm trong quá trình cải cách tư pháp, hộinhập quốc tế
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chú nghĩa, bảo vệ lợi íchcủa Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Chế định này đã được quy đinh trong Hiến pháp năm 2013
Để hoạt động xét xử được đúng đắn, Tòa án phải áp dụng đúng các quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nóichung, vụ án KDTM nói riêng Những quy định của pháp luật tố tụng dân sự chặtchẽ, rõ ràng sẽ đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, côngminh và đúng pháp luật
Những năm qua, mặc dù là địa phương có số lượng án thụ lý, giải quyết đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng Tòa án hai cấp tỉnh Đồng
1
Trang 5Tháp đã thực hiện tôt công tác xét xử Vân đê thụ lý, giải quyêt các vụ việc dân sự luôn được Tòa án chú trọng, các vụ việc đều được đưa ra giải quyết kịp thời và đúng quy định của pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của đương sự.Tuy nhiên thực trạng áp dụng vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc đã làm ảnh hường đến công tác thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng
Do vậy học viên quyết định chọn đề tài “Thụ lỷ và chuẩn bị xét xử các vụ án kinh doanh thương mại theo pháp luật Việt Nam ” để làm luận văn tốt nghiệp vỉ rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM có ảnh hưởng lớn đến việcgiải quyết vụ án Ở nước ta thủ tục tổ tụng này được quy định khá sớm, để đáp ứngđược tình hình xã hội, trình độ dân trí thì pháp luật tố tụng ngày càng hoàn thiệnhơn theo thời gian như Pháp lệnh thú tục giải quyết các vụ án kinh tế, BLTTDSnăm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và hiện nay là BLTTDS năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016
Từ trước đến nay, có rất nhiều luận văn, tài liệu, tạp chí, hội thảo khoa họcnghiên cứu về vấn đề trên, nhưng mồi đề tài chỉ nghiên cứu về thụ lý vụ án KDTM, hòa giải tranh chấp về kinh doanh, thương mại hay chuẩn bị xét xử vụ án dân sự trong Luật tố tụng dân sụ’ Việt Nam, v.v Mỗi đề tài đều có nghiên cứu và phân tích pháp luật tổ tụng theo cách riêng Các đề tài nêu khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của đề tài và phân tích các quy định cùa pháp luật có liên quan đến đề tài nghiên cứu Chẳng hạn:
- Nguyễn Thị Thanh Tâm (2020), “Thụ lỵ vụ án KDTM sơ thảm qua thực tiễn tại TAND hai cấp tỉnh Kon Turn ” , Luận vãn thạc sĩ luật học, Trường Đại họcluật, Đại học Huế
- Trương Thị Hai (2018), “Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn giải quyết tại TAND thành phố Đà Nang ” , Luận văn thạc sĩ luật học, TrườngĐại• học• luật, • X Đại• học• Huế
- Phan Thị Thu Hiền (2016) “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong
2
Trang 6Luật tô tụng dân sự Việt Nam ”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quôcgia Hà Nội.
Nhìn chung, BLTTDS hiện hành quy định khá đầy đủ những quy định, thùtục về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng,góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả của công tác xét xử sơ thấm Tuy nhiên thực trạng áp dụng pháp luật thời gian qua vẫn còn những tồn tại, vướng mắccần phải được giải đáp và hướng dẫn thi hành, vấn đề thực hiện pháp luật của một bộphận cán bộ Tòa án chưa đồng nhất nên ít nhiều gây phiền toái cho người dân, đương
sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Do vậy việc chọn đề tài
“Thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại theo pháp luật Việt Nam” với mong muốn giải quyết được một phần vấn đề từ thực trạng nêu trên
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tống quát
Mục tiêu cuối cùng, chung nhất của đề tài luận văn “Thụ lý và chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án KDTM theo pháp luật Việt Nam” nhằm làm rõ cơ sở lý luận, các quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự, thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng dân sự liênquan đến đề tài nghiên cứu luận văn tại Tòa án hai Cấp tỉnh Đồng Tháp và qua đó nêu một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM
3.2 Mục• • tiêu cụ thể
Bằng các số liệu thu thập được từ Tòa án, đề tài sẽ làm rõ thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xừ vụ án KDTM theo pháp luật Việt Nam, qua đó sẽ nêu lên nhừng tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định này và nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc để kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM nhàm nâng cao hiệu quả hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xừ loại vụ án này trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của BLTTDS năm 2015 gồm nhiều loại tranh chấp như tranh chấp về dân sự; hôn nhân
3
Trang 7và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động Trong phạm vi đê tài này, học viêntập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM, thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ
án KDTM tại Tòa án hai cấp tỉnh Đồng Tháp
Với đề tài nghiên cứu đã chọn, học viên chỉ tập trung nghiên cứu các hoạtđộng thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án KDTM từ khi Tòa án có thấm quyền nhận đơnkhởi kiện đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử
5 Nội dung, phương pháp và địa điểm nghiên cứu 5.7. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM
- Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM
- Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTMtại Tòa án hai cấp tỉnh Đồng Tháp
5.2. Phương pháp nghiên cún
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; chủ trương, quan điểm cùa Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp số liệu, so sánh, diễn giải, thu thập thông tin để làm sáng tỏ những vấn đề
mà khóa luận cần giải quyết
Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng về thụ lý và chuẩn bị xét
xừ sơ thẩm vụ án KDTM theo pháp luật Việt Nam và bằng những số liệu, vụ án cụ thể của Tòa án hai cấp tỉnh Đồng Tháp
6 Những điểm mới cùa luận văn
Kết quả nghiên cửu của luận văn sẽ cung cấp thêm những thông tin, nộidung thực tiễn, góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về thụ lý và
4
Trang 8chuân bị xét xử vụ án KDTM từ thực trạng tại Tòa án hai câp tỉnh Đông Tháp.Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo đề nghiên cứu, học tập và ứng dụng về hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM mà các Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng dân sự đề giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnvăn gồm 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM
Trang 9Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT xử
vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Ll Khái niệm thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thưong mại
Vụ án KDTM là một trong những loại vụ việc dân sự thuộc thấm quyền giải quyết của TAND được quy định trong hệ thống pháp luật tố tụng dằn sự của nước
ta TAND bắt đầu được giao thẩm quyền giải quyết những vụ án kinh tế tại Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được úy ban thường vụ Quốc hộikhóa ĨX thông qua ngày 16 tháng 3 năm 1994 Thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án kinh tế (sau phát triển thành thuật ngữ vụ án KDTM) này gồm các giai đoạn xemxét xử lý đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, phiên tòa xét xử sơ thẩm, v.v.được quy định từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994,BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS năm 2011 và hiệnnay được quy định tại BLTTDS năm 2015 (BLTTDS hiện hành)
Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì những
vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND gồm:
1- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
2- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;
3- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
4- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định cùa pháp luật [22, Điều 12].Qua đó, yếu tố cơ bản để phân biệt vụ án KDTM với các vụ án dân sự khác
là điều kiện về chủ thể tranh chấp và đối tượng tranh chấp Các chủ thể tham gia vào quan hệ tranh chấp trong vụ án kinh tế gồm: pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh, công ty, các thành viên công ty về đối tượng tranh chấp của vụ án kinh
tế là những quan hệ kinh tế như: họp đồng kinh tế, việc thành lập, hoạt động, giảithể công ty, việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu, v.v
6
Trang 10Kê thừa các quy định của Pháp lệnh, BLTTDS năm 2004 cũng lây yêu tô chủ thể và đối tượng tranh chấp để xác định vụ án dân sự và vụ án KDTM Tuy nhiên, theo quy định của BLTTDS năm 2004, một yếu tố nữa được xem là điều kiện đủ để xác định tranh chấp giữa các cá nhân, pháp nhân có đăng ký kinh doanh, có đốitượng tranh chấp là các hoạt động kinh doanh, thương mại là mục đích sinh lợi.
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thâm quyền giải quyết
của Toà án:
1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tố chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;
l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;
m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
Trang 11động, giải thê, sáp nhập, hợp nhât, chia, tách, chuyên đôi hình thức tô chức của công ty.
4 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quyđịnh [10, Điều 29]
Quy định này được HĐTPTANDTC hai lần hướng dẫn áp dụng, cụ thể tiết3.1, 3.2, 3.3 bản 3 Mục 1 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005
và sau đó được thay thế bằng quy định tại Điều 6 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày
03 tháng 12 năm 2012 Theo đó, nội dung các hướng dẫn này hướng dẫn xác địnhcác chủ thể tham gia trong tranh chấp kinh doanh, thương mại được BLTTDS năm
2004 quy định
BLTTDS hiện hành đã kế thừa quy định của BLTTDS năm 2004 về việc xácđịnh các yếu tố để định danh cho tranh chấp về kinh doanh, thương mại Tuy nhiên tại Điều 30 BLTTDS hiện hành không đi theo hướng liệt kê cụ thể các tranh chấpphát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại như quy định của khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2004 Sự thay đổi này thể hiện sự khái quát hóa quy định về các yếu tố
để phân biệt vụ án KDTM và vụ án dân sự thông thường, về bản chất các yếu tố này vẫn không khác nhau giữa BLTTDS năm 2004 và BLTTDS hiện hành, bao gồm chủthể tham gia, đối tượng tranh chấp là các hoạt động kinh doanh, thương mại và mụcđích của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại
Điếm qua các quy định pháp luật về vụ án KDTM đã phần nào làm rõ được nội hàm như thế nào là vụ án KDTM theo quy định pháp luật
1.1.1 Khái niệm về thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Theo Từ điển tiếng Việt: Thụ lý là động từ chỉ việc cơ quan có thẩm quyềntiếp nhận và giải quyết vụ kiện hay vụ án hình sự [24] “Thụ lý là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện, v.v.” [9, tr 442]
về mặt khoa học pháp lý, thụ lý vụ án được hiếu là một hoạt động cùa Tòa
án tiến hành sau khi xem xét tính hợp lệ của một yêu cầu khởi kiện trên cơ sờ quyđịnh pháp luật với kết quả nhận định rằng yêu cầu khởi kiện, thể hiện qua đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn đã đảm bảo điều kiện thụ lý theo quy định
8
Trang 12nên Tòa án tiên hành hoạt động thụ lý vụ án Tương ứng với yêu câu khởi kiện đôivới những tranh chấp về kinh doanh, thương mại, thụ lý vụ án KDTM là hoạt độngcủa Tòa án xác định đơn khởi kiện đủ điều kiện để tiếp nhận giải quyết theo thủ tục
tố tụng dân sự, hoạt động thụ lý vụ án KDTM đánh dấu thời điểm bắt đầu quy trình
tố tụng cũng là thời điểm bắt đầu của giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM
Các quy định pháp luật từ Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994;BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDS hiện hành đều không có điều khoản nào để giải thích thuật ngữ “Thụ lý vụ án” hay định nghĩahoạt động này Theo đó, khi nói đến thụ lý vụ án, quy định pháp luật chỉ nêu lêntrình tự, thủ tục và các hoạt động tố tụng được quyền và phải thực hiện khi tiến hành hoạt động này
Khi nói đến khái niệm thụ lý vụ án KDTM, khó có thể đưa ra một khái niệmtròn trĩnh, vì tùy vào từng góc độ khác nhau mà khái niệm thể hiện khác nhau.Trong phạm vi đề tài, học viên xin nêu lên khái niệm mang tính chất xác định về bản chất của hoạt động thụ lý vụ án KDTM trong thực trạng áp dụng pháp luật.Theo đó, thụ lý vụ án KDTM là một hoạt động tố tụng của chủ thể có thẩm quyền,
cụ thể là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án, sau khi đã xem xét và nhận thấyđơn khởi kiện đã đảm bảo điều kiện để được Tòa án tiếp nhận, đồng thời chủ thểkhởi kiện đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được pháp luật quy định khi chủ thể này thực hiện quyền khởi kiện Đây là hoạt động đánh dấu bước khởi đầu của quá trình
tố tụng để giải quyết vụ án KDTM tại TAND
1.1.2, Khái niệm về chuẩn• bị• xét xử vụ • án kinh doanh thươngơ mại•
Theo từ điển Tiếng Việt “Chuấn bị xét xử là tiến hành những công việc cần thiết cho việc mở phiên to à xét xử theo quy định, v.v.” [25]
Theo thuật ngữ pháp lý “Chuẩn bị xét xử là những việc mà Tòa án phải tiến
hành đê xét xử vụ kiện sau khi thụ lỷ, như việc nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra về vụ
án trừ những việc mà pháp luật quy định không phải hòa giải” [9, tr.442]
Trong lịch sử hình thành và phát triển cùa ngành luật tố tụng dân sự, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào nêu định nghĩa hay giải thích từ ngữ đối với thuật
9
Trang 13ngữ “chuân bị xét xử” Các tài liệu chuyên khảo, công trình khoa học từ trước đên nay cũng đã đưa ra một số khái niệm về chuẩn bị xét xử dưới các góc độ khác nhau,mỗi góc độ khác nhau khái niệm này sẽ được nhìn nhận với nội hàm khác nhau.Theo học viên, dưới góc độ lý luận chuẩn bị xét xử có thể hiếu là một giai đoạntrong tiến trình tố tụng; là một hệ thống các quy phạm được hệ thống như một chế định của ngành luật tố tụng dân sự hay là một chuỗi công việc được quy định cho từng chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, v.v.
Chuẩn bị xét xử được xem là một giai đoạn mà Thẩm phán phải tiến hành các công việc cần thiết đảm bảo cho việc xét xử và thực hiện trước khi tiến hành xét
xử vụ án dân sự Trong giai đoạn này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải tiến hành nhiều công việc với nhiều thủ tục khác nhau được BLTTDS quy định, v.v [15, tr.88]
Theo quy định pháp luật, thuật ngừ chuẩn bị xét xử được quy định Điều 203BLTTDS năm 2015, Điều luật này quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử tại khoản 1, theo đó đối với vụ án KDTM thời hạn chuẩn bị xét xử có thể từ 02 đến 03 tháng tùyvào mức độ phức tạp của từng vụ việc; trong khoản 2 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán (chủ thể tiến hành tố tụng trung tâm trong quy trình giải quyết các
vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng) trong giai đoạn này; tại khoản 3 quy định một trong các quyết định mà Thẩm phán phải thực hiện trong giai đoạnchuẩn bị xét xử
Với góc nhìn khái quát về mặt từ ngữ, pháp lý, lý luận khoa học và quy định pháp luật, khái niệm về chuẩn bị xét xử vụ án KDTM được hiểu như sau:
Chuẩn bị xét xử vụ án KDTM là một giai đoạn trong tiến trình tố tụng để giảiquyết vụ án KDTM được quy định bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự Trong giai đoạn này các chủ thể tham gia vào mối quan hệ tố tụng dân sự có quyền và nghĩa vụ thực hiện các công việc theo quy định nhằm đảm bảo cho việcxét xử hay giải quyết vụ án KDTM một cách hợp pháp trong một thời hạn luật định
1.2 Đặc điếm của • thụ • lý và </ chuấn bị • xét xử vụ án • kinh doanh thưong mại ơ •
Giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ nghiên cứu về hoạt động thụ
lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM ở góc độ hoạt động tố tụng của Tòa án, không
10
Trang 14đi sâu vê quyên và nghĩa vụ của người tham gia tô tụng Vì thê, dưới góc độ này
dù hoạt động thụ lý vụ án hay giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM đều là thành
tố của tiến trình tố tụng được điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng dân sự nên chúngđều mang những đặc điểm của hoạt động tố tụng hay cụ thể hơn là đặc điểm của hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện, cụ thể:
- Đảm bảo nguyên tắc cơ bản đặc thù của tố tụng dân sự được quy định tạiChương II, Phần thứ nhất của BLTTDS hiện hành về những nguyên tắc cơ bản của
tố tụng dân sự
- Được thực hiện bởi cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tốtụng và thực hiện trên cơ sở phạm vi quyên và nghĩa vụ luật định
1.2.1 Đặc điêm của thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Dưới góc nhìn thực tiễn áp dụng pháp luật, hoạt động thụ lý vụ án mangnhững đặc điểm sau:
Thứ nhất, thụ lý vụ án KDTM chỉ xảy ra khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định
Tòa án thụ lý vụ án KDTM sau khi đã nhận được yêu câu khởi kiện củangười khởi kiện; xem xét đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và xác định đã đápứng đủ các điều kiện về: Chủ thể khởi kiện, hình thức và nội dung đơn khởi kiện, thẩm quyền của Tòa án, tình trạng thực hiện nghĩa vụ của người khởi kiện trongviệc nộp tạm ứng án phí
Thứ hai, thụ lý vụ án KDTM là một hoạt động chịu sự ràng buộc bởi các trình tự, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Hoạt động thụ lý vụ án KDTM luôn phải đảm bảo tuân thủ các quy định bắt buộc pháp luật tố tụng dân sự Cụ thể khi thực hiện hoạt động này, chú thể tiến hànhhoạt động thụ lý phải tuân thủ các quy định về mặt trình tự, thời hạn
Thứ ba, thụ lý vụ án KDTM bao gồm một chuỗi hành vi tố tụng của nhữngchủ thể tiến hành tố tụng
Việc thụ lý vụ án không đơn thuần là việc Tòa án ghi thông tin vụ án vào sốthụ lý mà là một chuỗi hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng như: Tòa án
Trang 15tiêp nhận và xử lý đơn khởi kiện, thông báo cho người khởi kiện thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí; ra thông báo về việc thụ lý vụ án, bước đầu xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, v.v.
1.2.2 Đặc • điếm của chuẩn bị • xét xử vụ• án kinh doanh thươngO mại♦
Thứ nhất, chuẩn bị xét xử vụ án KDTM bao gồm những hoạt động tố tụngmang tính chất bắt buộc và cũng chứa những hoạt động mang tính chất tùy nghi
Chuẩn bị xét xử là một giai đoạn, bao gồm nhiều hoạt động tố tụng, có hoạt động mang tính chất bắt buộc phải thực hiện trong giai đoạn này như: Lập hồ sơ vụ
án, xác định tư cách đương sự, xác định quan hệ tranh chấp, v.v Tuy nhiên, tùy tìnhhuống tố tụng cụ thể mà có thể thực hiện các hoạt động: Xác minh, thu thập chứng cứ; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, v.v Hoặc ra một trong số các quyết định:Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hay đưa vụ án ra xét xử
Thứ hai, có thời điểm bắt đầu và kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử bắt đầu từ khi thụ lý vụ án và kết thúc khi Tòa án
ra một trong số các quyết định sau: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hay đưa vụ
án ra xét xử
Thứ ba, mang tính thời hạn
BLTTDS quy định nhiều loại thời hạn tố tụng khác nhau, trong đó thời hạnchuẩn bị xét xử• thuộc • một• trong số loại thời • hạn • nêu trên Thời hạn• nàye/ được • tính
kể từ ngày thụ lý vụ án và cách tính thời hạn tố tụng này cũng tuân theo quy định về cách tính thời hạn của BLDS
Đây là đặc điểm thể hiện tính đặc trưng của giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM, vì theo quy định của BLTTDS hiện hành thì thời hạn chuẩn bị xét xử của
vụ án KDTM ngắn hơn so với các vụ án dân sự khác
1.3 Ý nghĩa của thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại
Thụ lý vụ án KDTM là một hoạt động tố tụng quan trọng đánh dấu việc Tòa
án bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết vụ án, ghi nhận việc Tòa án thực hiện quyền
12
Trang 16tư pháp của mình Việc Tòa án thụ lý vụ án đông nghĩa với việc cơ quan có thâm quyền đã nhận trách nhiệm xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của chú thề cóquyền, cho thấy một phương thức bảo vệ quyền dân sự của công dân đã được thựchiện và ghi nhận Tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ kinh doanh, thương mại nói riêng được các chủ thể yêu cầu Tòa án xem xétgiải quyết bằng pháp luật đã thể hiện được tính pháp chế trong hoạt động kinhdoanh, thương mại nói riêng và trong các mối quan hệ dân sự phát sinh thường nhậttrong đời sống xã hội.
Khi Tòa án đã thụ lý và nhận trách nhiệm giải quyết một tranh chấp về kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể, nhàm có một phán quyết chuẩn mực Tòa án cần có một thời gian đế nghiên cứu, xem xét toàn diện vụ án Giai đoạn chuẩn bị xét
xử được pháp luật ghi nhận để đáp ứng nhu cầu này Trong giai đoạn chuấn bị xét
xử bàng nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, những người tiến hành tốtụng cũng như người tham gia tố tụng thực hiện các hành vi tố tụng để làm rõ nộidung tranh chấp và tạo tiền đề để giải quyết vụ án một cách thấu đáo
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa
án, hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xử mang những ý nghĩa về mặt pháp lý và thựctiễn áp dụng pháp luật như sau:
Ý nghĩa của hoạt động thụ lý vụ án:
Thứ nhất, đánh dấu thời điểm bắt đầu cùa quá trình tố tụng cùa các chủ thểtham gia vào hoạt động tố tụng Từ thời điểm này, cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được thực hiện các quyền và nghĩa vụ do pháp luật tố tụng quy định Đây là thời điếm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào mối quan hệ tố tụng dân sự
Thứ hai, hoạt động thụ lý vụ án KDTM là bước khởi đầu quan trọng trong việc xác định quan hệ tranh chấp có phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại hay không; tư cách đương sự; phạm vi giải quyết vụ án, v.v Từ đó giúp cho chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng đúng đắn
13
Trang 17Thứ ba, hoạt động thụ lý vụ án KDTM xác định thời điêm băt đâu đê tínhthời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án KDTM mà Tòa án đang nhận trách nhiệmgiải quyết.
Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử vụ án KDTM:
Thứ nhất, thông qua hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hồ sơ
vụ án được xây dựng và hoàn thiện dần, quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự đượcxác định chuẩn xác hơn, các tình tiết của vụ án được làm rõ, v.v
Thứ hai, trong giai đoạn này các đương sự tham gia vào vụ án sẽ được thựchiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, cũng như được tiếp cận các tài liệu,chứng cứ do các bên tham gia cung cấp và do Tòa án thu thập được, qua đó họ có thế thực hiện quyền tự định đoạt• • JL • • và tự • do thỏa thuận• của mình
Thứ ba, giai đoạn chuẩn bị xét xử mang ý nghĩa tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo, từ kết quả thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà quyết định các hoạt động tố tụng tiếp theo cũng như phương thức tố tụng
để giải quyết vụ án Các vấn đề như thành phần Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa, có hay không có sự tham gia cùa đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, v.v phụ thuộc vào giai đoạn chuấn bị xét xử
1.4 Mối quan hệ giữa thụ lý và chuẩn bị xét xủ ’ vụ án kinh doanh thuong mại
đầu, quyết đinh các hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Khởi kiện vụ án KDTM là quyền cùa các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại được pháp luật đảm bảo thực hiện Khi có phát sinhtranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại, các chủ thể tham gia có thể lựachọn phương thức giải quyết tranh chấp là thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án vềnguyên tắc, Tòa án có thẩm quyền có trách nhiệm phải tiếp nhận đơn khởi kiện của
cá nhân, tổ chức và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác Theo đó, thụ lý vụ án KDTM là thủ tục tố tụng ghi nhận việc Tòa án chấp nhận giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của đơn khởi kiện Kẻ từ thời điềm thụ lý vụ án, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được phát sinh
14
Trang 18Khi thụ lý vụ án, Tòa án thực hiện một sô hoạt động tô tụng vê hình thứcnhư: Ghi vào sổ thụ lý, thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, v.v Tất cả các hoạt động hình thức này đều xuất pháttrên cơ sở thực hiện các hoạt động về nội dung quan trọng, có tính liên quan và ảnh hưởng đến các hoạt động tố tụng tiếp theo trong giai đoạn chuấn bị xét xử:
Xác định quan hệ tranh chấp, đây là một hoạt động mang tính chất quan trọng nó định hướng các hoạt động như xây dựng hồ sơ; thu thập chứng cứ; các bước và trình tự thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; phạm vi giải quyết vụ án, v.v Việc xác định đúng quan hệ tranh chấp khi thụ lý vụ
án, các hoạt động tiếp theo ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sẽ chuẩn xác hơn
Xác định tư cách đương sự, việc xác định đúng và đầy đủ tư cách đương sựngay giai đoạn thụ lý vụ án sẽ tránh được việc phải thay đổi, bố sung tư cách đương
sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tránh ảnh hưởng đến tiến độ và thời hạn chuẩn
bị xét xử
Thông báo về nội dung yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, thông qua đóxác định phạm vi khởi kiện và phạm vi giải quyết vụ án đế làm cơ sở xác định cácyêu cầu của đương sự đưa ra trong giai đoạn chuấn bị xét xử có vượt quá phạm vigiải quyết vụ án hay không
Thông báo cho các đương sự về các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án tạo kiều kiện cho các bên thực hiện tốt quyền giao nộp, tiếp cận cáctài liệu chứng cứ của nhau trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Thông qua hoạt động thụ lý vụ án, chủ thể tiến hành tố tụng có thể phát thảo
cơ bản các bước tố tụng tiếp theo cũng như nội dung cần xác minh, thu thập chứng
cứ đế làm rõ nội dụng vụ án trong giai đoạn chuấn bị xét xử
Chuẩn bị xét xử là giai đoạn tố tụng được bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý
vụ án, có thể thấy hoạt động thụ lý là điểm nút bắt đầu của giai đoạn chuẩn bị xét
xử, các hoạt động tố tụng thuộc nhóm hoạt động thụ lý vụ án đều thuộc giai đoạn
15
Trang 19chuân bị xét xử, nói theo phương diện thời hạn thì các hoạt động này đêu năm trong
•
thời hạn chuân bị xét xử
Hoạt động thụ lý vụ án KDTM là nút khởi đâu của giai đoạn chuân bị xét xử.Thụ lý vụ án là cơ sở đế thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn các hoạt động của giai đoạn chuẩn bị xét xử là để giải quyết, làm rõ, hoàn hiện và có khi mang tính chất đánh giá và phủ định lại hoạt động thụ lý nếu có căn cứ cho rằng hoạt động thụ lý chưa chuẩn xác
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chủ thể tiến hành tố tụng sẽ thực hiện các hoạt động tố tụng trên cơ sở các nội dụng đà được thụ lý từ ban đầu Từ đó, các chủ thể tiến hành tố tụng sẽ triển khai các hoạt động:
- Lập hồ sơ vụ án trên cơ sở đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn đã giao nộp; tài liệu, chứng cứ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liênquan, người tham gia tố tụng khác giao nộp
- Tiêp tục chuân hóa quan hệ tranh châp dựa trên quan hệ đã xác định tại thờiđiếm thụ lý vụ án Ớ giai đoạn này, các yếu tố đặc trưng của vụ án KDTM (chủ thể, đối tượng tranh chấp và mục đích của hoạt động kinh doanh, thương mại) so với các
vụ án dân sự thông thường được chú ý làm rõ
- Qua tài liệu chứng cứ do các bên giao nộp, Tòa án thu thập, tư cách đương
sự, người tham gia tố tụng được kiềm định và hoàn thiện hóa trên cơ sở đã xác định
ở thời điểm thụ lý
- Phạm vi giải quyết khi thụ lý vụ án sẽ là giới hạn để thực hiện các hoạt động tố tụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử Tuy nhiên ở giai đoạn chuẩn bị xét xửphạm vi này có thể được thay đổi phụ thuộc vào việc các đương sự thực hiện các quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay thực hiện quyền phản tố, v.v
Từ một số phân tích trên, cho thấy giai đoạn chuẩn bị xét xử có vai trò quan trọng, bao gồm các hành vi triền khai các nội dung khi thụ lý, làm cơ sở cho hoạt động chuẩn bị xét xử Tuy nhiên giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng có vai trò kiểm định lại hoạt động thụ lý vụ án
16
Trang 201.5 Các quy định của pháp luật tố tụng về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ
án kinh doanh thưoìig mại
Pháp luật tố tụng về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM được ghi nhận đầu tiên tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, sau đó được ghi nhận trong BLTTDS nàm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDS năm 2015
về cơ bản các quy định về thủ tục thụ lý, giải quyết loại án này đều được xây dựngtrên nguyên tắc kế thừa và phát triển quy định trước đó, các quy định tố tụng này đều mang tính đặc trưng cho loại hình tranh chấp trong quan hệ kinh doanh, thương mại như chủ thể tham gia tố tụng với tư cách là đương sự trong vụ án, đặc trưng về đối tượng tranh chấp, sự khác biệt về giá trị án phí, thời hạn chuẩn bị xét xử đều ngắn hơn so với các vụ án dân sự thông thường
Chế định thụ lý vụ án kinh tế theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế năm 1994, chỉ đơn giản được quy định tại một điều luật: “Nếu Toà án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, thi thông báo ngay cho nguyên đơn biết.Trong thời hạn bẩy ngày, kể từ ngày được thông báo, nguyên đơn phải nộp tiền tạmứng án phí theo quy định của pháp luật và Toà án vào sổ thụ lý vụ án vào ngày nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí” [22, Điều 33] Trong đó, điều luật quy định thụ lý bao gồm xem xét thẩm quyền giải quyết, thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án vào sổ thụ lý khi nguyênđơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tạm ứng án phí
Đến BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011, thủ tục giải quyết
vụ án KDTM được quy định xếp vào một trong các loại án dân sự tuân thủ quy định
về trình tự thủ tục tố tụng chung Thụ lý vụ án được quy định tại các điều 171, 172,
174, theo đó quy định thêm một số thủ tục tố tụng mà Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế chưa đề cập đến như phân công Thẩm phán giải quyết vụ án,thông báo về việc thụ lý vụ án, v.v
Các quy định về trình tự thủ tục trong hoạt động thụ lý vụ án được hoàn thiện hóa trong BLTTDS năm 2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của BLTTDS trước
đó Sự kế thừa này đã khẳng định mô hình chuỗi các hoạt động tố tụng trong thủ tục
17
Trang 21thụ lý vụ án được quy định từ BLTTDS năm 2004, được sửa đôi, bô sung năm 2011
đã đáp ứng được hoạt động tố tụng thực tiễn Theo các điều 195, 196, 197 BLTTDSnăm 2015, trình tự các hoạt động tố tụng thụ lý vụ án có sự thay đồi so với BLTTDS năm 2004 về cách sắp xếp thứ tự các điều luật quy định các hoạt động tố tụng Cụ thể các điều 195, 196, 197 BLTTDS nãm 2015 theo thứ tự quy định về thụ
lý vụ án, thông báo về việc thụ lý án, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Trongkhi đó các điều 171, 172, 174 BLTTDS năm 2004 quy định thứ tự thụ lý vụ án,phân công thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo về việc thụ lý vụ án Sự thay đổithứ tự này của BLTTDS năm 2015 mang tính hợp lý hơn cho quá trình tố tụng vìngay sau khi thụ lý hoạt động đầu tiên cần thực hiện là nên thông báo cho các chủthế có liên quan được biết Tuy cả hai Bộ luật đều quy định các hoạt động thông báo
về việc thụ lý vụ án và phân công Thấm phán giải quyết vụ án được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, nhưng xét về mặt tổng thể vàthực trạng áp dụng pháp luật tố tụng thì hoạt động thông báo về việc thụ lý vụ án nên được xếp trước hoạt động phân công Thẩm phán giải quyết trên cơ sở BLTTDSnăm 2015 có sự phân biệt giữa Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án và Thẩmphán được phân công giải quyết vụ án có thể khác nhau
Ngoài ra, BLTTDS năm 2015 có một số quy định mang tính chất tiến bộ hơnnhư quy định thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí là 07 ngày, thay thế cho quy định là
15 ngày kể từ ngày người có nghĩa vụ nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phíđược quy định trong BLTTDS trước đó; bổ sung thêm nguyên đơn vào chủ thểđược thông báo về việc thụ lý vụ án; khoản 3 Điều 196 quy định Tòa án phải gửi kèm bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng thông báo về việc thụ
lý vụ án nếu nguyên đơn có yêu cầu Tòa án hồ trợ
Giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh tế được quy định tại Chương 7 củaPháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế gồm 07 điều luật quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, quyết định đưa vụ án
ra xét xử, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ giải quyết vụ án, việc gửi quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử Theo đó, các điều luật quy định các thủ tục tố tụng được
18
Trang 22thực hiện trong giai đoạn chuân bị xét xử nhìn chung giai đoạn này là giai đoạn
mà Tòa án phải thực hiện các thủ tục để chuẩn bị cho việc giải quyết thấu đáo vụ
án kinh tế Tuy đây là những quy định tố tụng chuyên biệt đặc thù để giải quyết vụ
án kinh tế, nhưng các quy định về chuẩn bị xét xừ trong Pháp lệnh còn khá đơn giản, chưa nêu đầy đủ các hình thức kết thúc giai đoạn chuấn bị xét xử và một sốvấn đề khác về thù tục
Qua tổng kết kinh nghiệm tố tụng thực tiễn, BLTTDS năm 2004 ra đời vàđược sửa đổi, bổ sung năm 2011 bước đầu tổng hợp các quy định đối với vụ án dân
sự các loại, theo đó thủ tục giải quyết vụ án dân sự đều được quy định chung trong BLTTDS và có sự phân hóa các thủ tục đặc thù cho từng loại án dân sự cụ thể thôngqua các quy định mang tính chất phân biệt nằm rải rác trong Bộ luật, sự tiến bộ này đãkhắc phục được tính cục bộ khi quy định về thủ tục giải quyết từng loại án dân sự ở cácvăn bản khác nhau dù về cơ bản thủ tục giải quyết các loại án này là giống nhau
Qua đó, BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bồ sung năm 2011 quy định giaiđoạn chuẩn bị xét xừ ở Chương XIII quy định rõ hơn về thủ tục hòa giải và chuẩn bi xét xử với bố cục gồm 17 điều luật, theo đó quy đinh về chuẩn bị xét xử vụ ánKDTM (trước đây gọi là vụ án kinh tế) đã khác phục được một số hạn chế So với Pháp lệnh, các quy định về thù tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được quy định cụ thể hơn; quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được bổsung vào một trong các loại quyết định mà Tòa án phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; phương thức kết thúc tình trạng tạm đình chỉ cũng được nêu lên; v.v Một sự khác biệt cơ bản giữa Pháp lệnh thù tục giải quyết các vụ án kinh tếnăm 1994 và BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 là quy định về thời hạn chuấn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa xét xử vụ án KDTM Thời hạnchuẩn bị xét xử vụ án kinh tế theo Pháp lệnh là 40 đến 60 ngày kể từ ngày thụ lýnhưng theo BLTTDS là 02 đến 03 tháng kể từ ngày thụ lý; Thời hạn mở phiên tòa theo Pháp lệnh là 10 đến 20 ngày nhưng BLTTDS quy định từ 01 đến 02 tháng Có
sự chuẩn hóa về thời hạn theo hướng kéo dài hơn trong quy định của BLTTDSnhằm khẳng định vai trò quan trọng trong khâu chuẩn bị để xét xử (giải quyết vụ
19
Trang 23án) hay mở phiên tòa Tuy nhiên quy định cùa BLTTDS vê thời hạn chuân bị xét xử
vụ án KDTM vẫn đảm bảo ngắn hơn so với các vụ án dân sự khác, đã đáp ứng tínhkịp thời trong giải quyết vụ án giải quyết các tranh chấp mang tính chất vì mục đích sinh lợi này
Kế thừa các quy định của BLTTDS nàm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm
2011, BLTTDS năm 2015 hầu như giữ lại các quy định cơ bản về thủ tục chuẩn bị xét xử như về thời hạn, nguyên tắc hòa giải, ra quyết định công nhận sự thoa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ giải quyết vụ án, đưa vụ
án ra xét xử, v.v Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 quy định rõ ràng hơn, chi tiết hơn
về trình tự thủ tục, bổ sung thêm thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thủ tục hòa giải được quy định chặt chè hơn, quy định rõ căn cứ đề chấm dứt hiệu lực của quyết định tạm đình chỉ là quyết định tiếp tục giải quyết vụ án, v.v Ngoài ra, giai đoạn chuẩn bị xét xử trong quy định của BLTTDS hiện hành còn được bổ sung thêm quy định về quyền kiến nghị sửa đồi, bố sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh của ủy ban Thường
vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cấp trên Đây là một quy đinh tiến bô của BLTTDS hiên hành
20
Trang 24Kêt luận chương 1
Thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử là hoạt động tố tụng quan trọng trong quá trình Tòa án giải quyết các tranh chấp vụ án dân sự nói chung, các vụ án KDTM nóiriêng Bằng hoạt động áp dụng các quy định pháp luật tố tụng, Tòa án góp phần bảo
vệ và cúng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, tạo môi trường pháp lý an toàn, trong đó quyền công dân được bảo vệ và củng cố lòngtin của nhân dân đối với chế độ Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể
và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền của mình, góp phần nângcao ý thức pháp luật của người dân, ý thức tuân thủ pháp luật cùa các chủ thể thamgia quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại đồng thời ngăn chặn các hành vi xâmphạm quyền lợi của các chủ thể, đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội
về mặt lý luận, cũng như lịch sừ hình thành các quy định pháp luật về haichế định tố tụng là thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM nói riêng, vụ án dân sự nói chung vẫn còn nhiều quan điểm tư duy lập luận khác nhau, cần có nhữngnghiên cứu sâu hơn để chế định này được nhìn nhận với góc độ sâu sát hơn phục vụtốt cho công tác xây dựng pháp luật tố tụng đáp ứng hơn nừa nhu cầu áp dụng phápluật tố tụng của các chủ thể trong quan hệ tố tụng để hướng đến sự hoàn thiện, tínhđơn giản trong các quy định về thủ tục tư pháp đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách
tư pháp của Đảng và Nhà nước
21
Trang 25Chương 2 THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TÓ TỤNG DÂN SỤ VÈ THỤ LÝ VÀ CHUẲN BỊ XÉT xử
vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI• •
Trong thời gian qua, những quy định của BLTTDS năm 2015 đã góp phầntích cực trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Những quy định mới về trình tự, thủ tục tốtụng của BLTTDS thề hiện sự dân chủ, công khai, thuận tiện cho người tham gia tốtụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đồng thời đề cao vai trò, tráchnhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tổ tụng dân sự; bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng được nhanh chóng, chính xác, công bằng và đúng pháp luật Đặc biệt những quy định về thụ lý
và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM đã đóng vai trò quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, đồng thời tạo cơ sởpháp lý vững chắc cho các cơ quan bảo vệ pháp luật khi tiến hành thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự Tuy nhiên sau một thời gian thi hành BLTTDS hiện hành cho thấy vẫn còn nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng, vẫn còn vướng mắc, nhận thức và cách giải quyết khác nhau giữa các Tòa án và các Thẩm phán
2.1 Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Thụ lý vụ án là hoạt động tố tụng đầu tiên của thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thấm Thụ lý vụ án được tiến hành sau khi có đơn khởi kiện của những chủ thể được pháp luật quy định Trong hoạt động thụ lý vụ án, Tòa án sẽthực hiện những thủ tục đế xác định yêu cầu khởi kiện có làm phát sinh vụ ánKDTM hay không Trường hợp đù điều kiện phát sinh vụ án, Tòa án sẽ tiến hành thủ tục thụ lý, vào sổ thụ lý vụ án và chính thức xác định trách nhiệm giải quyết yêu cầu khởi kiện theo quy định Thực hiện đúng các quy định về thụ lý vụ án sẽ loại trừ
22
Trang 26việc thụ lý nhăm vụ án như người khởi kiện không có quyên khởi kiện, chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết cùa Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhưng không thuộc thẩmquyền cùa Tòa đó mà là Tòa khác hoặc thuộc thẩm quyền của một Tòa án khác Điều này giúp Tòa án giảm tải những việc không cần thiết, nhất là không phải xử lý hậu quả của việc thụ lý vụ án không đúng quy định cùa pháp luật, phải ra quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án, quyết định chuyển vụ án Việc áp dụng và ra các quyết định trong những trường hợp thụ lý không đúng điều kiện rất khó khăn, thường gây tranh cãi trong Tòa án, gây phiền hà và tốn kém chi phí, công sức của đương sự.Trong thực tế, đã có trường họp đương sự khiếu nại đến nhiều cơ quan nhà nướckhác vì cho rằng Tòa án đã thụ lý vụ án ra quyết định nêu trên là không đúng, là vi phạm pháp luật, cố tình gây khó khăn hoặc có tiêu cực Do vậy việc thực hiện đầy
đủ và đúng các quy định về thụ lý vụ án, Tòa án sẽ có một hồ sơ khởi kiện ban đầu đầy đủ theo quy định của pháp luật Từ những việc làm ban đầu này, Tòa án sẽ tiếtkiệm được thời gian thực hiện thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử, giảm được hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ, bảo đảm việc giải quyết vụ án không chỉ đúngthời hạn chuẩn bị xét xử mà còn có thể sớm hơn thời hạn tố tụng tối đa do luật định,đồng thời còn là cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án đúng pháp luật Đe thực hiện tốt việc thụ lý vụ án KDTM, Tòa án cần tiến hành những công việc cụ thể sau:
2.1.1 Nhận đơn và các tài liệu, chúng cứ kèm theo
Hoạt động thụ lý vụ án bắt đầu bằng việc Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện Điều 190 BLTTDS năm 2015 quy định, người khởi kiện gửi đơn khởi kiệnđến Tòa án bằng ba phương thức như nộp trực tiếp hoặc gửi đến theo đường dịch vụ bưu chính và gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử Tòa
án (nếu có) Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc là ngày có dấu bưu điện nơi gửi và phong bì có dấu bưu điện phải được đính kèm đơn khởi kiện và ngày gửi đơn trực tuyến Trong trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện trên phong bì, Tòa án phải ghi chú trong sổ nhận đơn
là không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện và ngày khởi kiện đượcxác định là ngày Toà án nhận được đơn do bưu điện chuyển đến
23
Trang 27Trường hợp người khởi kiện trực tiêp nộp đơn tại Tòa án, thì Tòa án nhận đơn và vào sổ nhận đơn Khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án có trách nhiệm cấp ngaygiấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện; Người khởi kiện gửi đơn đến Tòa
án theo đường dịch vụ bưu chính, thì Toà án nhận đơn và vào sổ nhận đơn Sau khinhận đơn trong thời hạn 02 ngày làm việc kế từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện; Đối với trường hợp nhận đơn bằngphương thức gửi trực tuyến, thì Tòa án in ra bản giấy và vào sổ nhận đơn Sau khinhận đơn thi Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua cổng thông tin điện tử Tòa án Đây là quy định mới so với BLTTDS trước đây,nhằm tiến tới hiện đại hóa hoạt động của Tòa án và tạo mọi thuận lợi cho người khởi kiện Hiện nay, HĐTPTANDTC đã có hướng dẫn thi hành một số quy địnhcủa BLTTDS năm 2015 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bàng phương tiện điện tử [7]
Cũng theo quy định tại Điều 190, đơn khởi kiện dù được gửi trực tiếp, gửitheo đường dịch vụ bưu chính hoặc qua cổng thông tin điện tử của Tòa án thì người khởi kiện đều phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan mà họ không thể nộp ngay đầy đù tài liệu, chứng cứ thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh cho yêu cầu khời kiện
là có căn cứ và họp pháp Chẳng hạn, khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, thì người khởi kiện phải kèm theo bản sao hợp đồng
có tranh chấp, hóa đơn thanh toán tiền, nhận tài sản, biên bản thanh lý; v.v Nếu họ chưa thể kèm theo các tài liệu, chứng cứ này thì cùng với đơn khởi kiện họ phảikèm theo bản sao họp đồng để Tòa án xem xét
về người nộp đơn khởi kiện, có thế là người khởi kiện, người đại diện hợppháp của người khởi kiện Hiện nay để đảm bảo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức nộp đơn khởi kiện, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin tronghoạt động tố tụng tiến tới xây dựng “Tòa án điện tử” nên ngoài phương thức nộp đơn khởi kiện trực tiếp, gửi đến Tòa án theo đường bưu chính như BLTTDS trướcđây, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm phương thức gửi đơn khởi kiện trực
24
Trang 28tuyên băng hình thức điện tử thông qua Công thông tin điện tử của Tòa án Tuynhiên thực trạng không phải mọi trường hợp, người khởi kiện là cá nhân đều làngười nộp đơn trực tiếp tại Tòa án, mà nhiều trường hợp người khởi kiện ủy quyềncho cá nhân khác thực hiện việc nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án Trường hợpngười khởi kiện trực tiếp nộp đơn, chỉ cần xuất trình bản sao các giấy tờ tùy thân kèm theo đơn khởi kiện là đảm bảo tính xác thực người khởi kiện đà thực hiện quyền khởi kiện vụ án Đối với người được người khởi kiện ủy quyền nộp đơn thìcăn cứ nào để đảm bảo tính xác thực ở phần cuối đơn khởi kiện, người khởi kiện đã
ký tên hoặc điếm chỉ là của người khởi kiện
Việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cùng đơn khởi kiện phải được lập thành biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ theo mẫu số 01 Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của HĐTPTANDTC Đồng thời trong biên bản phải ghi rõtên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số trang của chứng cứ và thời gian giao nhận Thực trạng, đơn khởi kiện vụ án KDTM và tài liệu, chứng cứ kèmtheo, phần lớn người khởi kiện gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính Theo quy định, sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa
án phải kiểm tra, đối chiếu tài liệu, chứng cứ theo danh mục kèm theo đơn khởi kiện
để ghi vào sổ nhận đơn, tài liệu, chứng cứ đó Trường hợp tài liệu, chứng cứ khôngđầy đủ như danh mục thì thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ giao nộp
bố sung Đồng thời việc giao nhận tài liệu, chứng cử cần phải mô tả cụ thể loại giấy
tờ, tài liệu; là bản gốc, bản chính hay bản sao, bản photo; được đánh vi tính, viết tay cũng như loại mực viết, v.v Đây là nội dung rất quan trọng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, là căn cứ cho quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, không ít trường hợp, cán bộ Tòa án được phân công làm nhiệm vụ nhận đơn đã không chú trọng vấn đề này, mà chỉ thực hiện thủtục• xác nhận• đã nhận• đơn khởi kiện là xem• như đã nhận• đơn khởi kiện• và tài liệu,• Jchứng cứ kèm theo
Điều 191 BLTTDS quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện và
25
Trang 29trong thời hạn 05 ngày làm việc, kê từ ngày được phân công, Thâm phán được phâncông phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định: (a) Yêu cầu sửađổi, bổ sung đơn khởi kiện; (b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thôngthường quy định tại Điều 195 BLTTDS hoặc theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản
1 Điều 317 BLTTDS; (c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền; (d) Trảlại đơn khởi kiện cho người khởi kiện Thực trạng các Tòa án đều phân công Thư
ký làm công tác nhận đơn khởi kiện Một số Tòa án, sau khi nhận đơn khởi kiện,vào sổ nhận đơn và chuyển đơn đến cán bộ phụ trách Văn phòng Tòa án duyệt đơn,
đề xuất Thẩm phán xử lý đơn, giải quyết vụ án và trình Chánh án Tòa án Sau khiChánh án phê duyệt, thì đơn trở lại Văn phòng Tòa án, tiếp tục ghi vào sổ nhận đơn
về việc phân công Thẩm phán xử lý đơn rồi chuyển đơn khởi kiện đến Thẩm phánđược phân công Thẩm phán sau khi xử lý đơn, đồng ý tiến hành thụ lý vụ án lạichuyển đơn trở lại Văn phòng Tòa án thực hiện thủ tục thụ lý vụ án Sau khi thụ lý
vụ án, Văn phòng Tòa án vào sổ thụ lý vụ án và chuyển giao vụ án đã thụ lý trở lại Thẩm phán giải quyết vụ án Có thể nói với trình tự như vừa nêu trên quá rườm rà
về thủ tục từ khi nhận đơn đến khi Thẩm phán xử lý đơn, thụ lý vụ án nên đa phần không đảm bảo về thời gian theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 191BLTTDS năm 2015
Đe thực hiện quyền khởi kiện vụ án, trước hết người khởi kiện phải làm đơnkhởi kiện theo quy định tại Điều 189 BLTTDS và mẫu số 23 Nghị quyết số01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của HĐTPTANDTC, kèm theo đơn khởi kiệnphải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm gửi đến Tòa án có thẩm quyền So với BLTTDS năm 2004, đượcsừa đổi, bổ sung năm 2011 thì BLTTDS hiện hành quy định đầy đủ và chi tiết hơn
về hình thức, nội dung đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện vụ án KDTM theo quy định chung về hình thức, nội dung đơn quy định tại Điều 189 BLTTDS Tuy nhiên về hình thức, nội dung đơn khởi kiện vụ
án KDTM có những điểm riêng cần lưu ý nhiều hơn vì quan hệ kinh doanh thường
26
Trang 30phức tạp, có sự tham gia của nhiêu chủ thê nên trong đơn khởi kiện, người khởikiện trình bày rõ về nội dung tranh chấp, quá trình giải quyết, thương lượng, hòagiải giữa các bên và yêu cầu khởi kiện cụ thể Đồng thời cần lưu ý đến tên, nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sờ của người khởi kiện, người bị kiện (gọi chung là đương sự) trong đơn khởi kiện.
- về tên, nơi cu trú, làm việc hoặc trụ sở của người khởi kiện
Đương sự trong các tranh chấp về kinh doanh, thương mại là các chủ thểkinh doanh có tư cách pháp nhân như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cồphần, công ty hợp danh nên người ký đơn khởi kiện trong trường hợp này là người đại diện hợp pháp của pháp nhân Người đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân; đại diện theo úy quyền của pháp nhân là người được người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền Trường hợp người đạidiện theo pháp luật của pháp nhân thực hiện việc khởi kiện vụ án thì trong đơn khởi kiện tại mục “Tên, địa chỉ của người khởi kiện” sau khi ghi tên, địa chỉ của pháp nhân phải ghi họ tên, chức vụ cùa người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Tại mục “Người khởi kiện” ở cuối đơn phải ghi tên của pháp nhân; ghi chức vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; người đại diện theo pháp luật của phápnhân ký tên; ghi họ tên của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và đóng dấu của pháp nhân
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho ngườikhác thực hiện việc khởi kiện thi trong đơn khởi kiện tại mục “Tên, địa chỉ của ngườikhởi kiện” sau khi ghi tên, địa chỉ của pháp nhân phải ghi tên, chức vụ của người đạidiện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền và chức danh của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền Đồng thời tại mục “Người khởi kiện” ở cuối đơn phải ghitên của pháp nhân, ghi nhận dòng chữ “Người đại diện theo ủy quyền”; chữ ký, họtên của người đại diện theo ủy quyền và đóng dấu cùa pháp nhân
Các đương sự trong vụ án KDTM có thể có các đơn vị phụ thuộc như văn
27
Trang 31phòng đại diện, chi nhánh Trường hợp văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân thực hiện việc khởi kiện về tranh chấp phát sinh từ giao dịch do văn phòng đạidiện, chi nhánh xác lập, thì đơn khởi kiện tại mục “Tên, địa chỉ của người khởi kiện”sau khi ghi tên, địa chỉ của pháp nhân, phải ghi họ tên, chức vụ người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân, văn bản ủy quyền và chức danh của ngườiđại diện theo pháp luật cùa pháp nhân ùy quyền Tại mục “Người khởi kiện” ở cuốiđơn khởi kiện cần ghi tên của pháp nhân; ghi chức vụ của người đứng đầu văn phòngđại diện, chi nhánh của pháp nhân; chữ ký, họ tên của người đứng đầu văn phòng đạidiện, chi nhánh của pháp nhân Trong trường hợp này có thể đỏng dấu của pháp nhân hoặc đóng dấu của văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân [16].
Thực trạng đa phần đơn khởi kiện vụ án KDTM đều không đúng vềhình thức và đơn khởi kiện nên khi xem xét, xử lý đơn khởi kiện, Thấm phán phải yêu cầu người khởi kiện phải sửa đồi, bố sung đơn khởi kiện theo quyđịnh của pháp luật
- về tên, nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện
Cần phải ghi đầy đủ, cụ thể vào đơn khởi kiện Thẩm phán được phân côngxem xét đơn khởi kiện phải kiếm tra cẩn trọng nội dung này Việc xác định chính xác địa chỉ của người bị kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định người khởikiện có đủ điều kiện khởi kiện hay chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định củapháp luật, thẩm quyền của Tòa án các cấp, thấm quyền theo lãnh thổ, bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng các thủ tục tố tụng như thông báo cho họ biết việc khởi kiệncủa nguyên đơn để họ được quyền tham gia tố tụng, thực hiện các quyền, nghĩa vụ
tố tụng theo quy định như cung cấp văn bản ý kiến cùng tài liệu, chứng cứ phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có), đảm bảo việc giải quyết vụ án được chính xác, đúng đắn
Trường hợp người khởi kiện xác định được địa chỉ của người bị kiện khikhởi kiện, nhưng họ không có nơi cư trú ốn định, thường xuyên thay đối nơi cư trú,trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ thì cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ,
28
Trang 32không thuộc vào trường hợp không xác định được địa chỉ của người bị kiện Thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng trước đây, vẫn có trường hợp Tòa án trả lại đơnkhởi kiện do người khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện, cũng có trường họp sau khi thụ lý vụ án thì Tòa án tống đạt văn bản tố tụng không hiệu quả nên tiến hành xác minh địa chỉ bị đơn, nhưng đương sự bỏ địa phương đi trước ngày Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp nơi cư trú mới (nơi thườngxuyên sinh sống) của bị đơn, nhưng nguyên đơn không cung cấp được nên Tòa ánđình chỉ giải quyết vụ án do chưa có đủ điều kiện khởi kiện.
Tháo gỡ những vướng mắc nêu trên về địa chỉ của người bị kiện, BLTTDS hiện hành quy định trường họp trong đơn khới kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, nhưng họ không có nơi cư trú ổn định,thường xuyên thay đối nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơquan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà tiến hành thụ lý, giảiquyết theo thủ tục chung Song hiện nay vẫn còn một số Tòa án yêu cầu người khởikiện • 1phải •xác nhận địa• chỉ nơi cư trú của người bị • • •kiện mới nhận đơn khởi kiện.•
Khoản 5 Điều 189 BLTTDS quy định, kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâmphạm Tuy nhiên, vì lý do khách quan mà không thể nộp ngay đầy đủ tài liệu, chửng
cứ thì phải nộp các tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợppháp của họ bị xâm phạm Thực trạng thì đa phần người khởi kiện trong các vụ án KDTM, khi gửi đơn khởi kiện đều không giao nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ nhằm xác định tư cách pháp lý của người khởi kiện, người ký đơn khởi kiện; Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Điều lệ hoạt động của pháp nhân; Quyết định bổnhiệm hoặc biên bản bầu người đại diện theo pháp luật đều là bản photo hay đượcchính người khởi kiện sao y bản chính hoặc không giao nộp các tài liệu, giấy tờ chứng minh giữa các bên có tồn tại quan hệ hợp đồng dẫn đến tranh chấp; Hợpđồng mà các bên đã ký kết và các phụ lục hợp đồng (nếu có); Các hóa đơn, chứng
29
Trang 33từ, biên nhận, phiêu thu liên quan đên việc giao nhận hàng hóa, cung ứng dịch vụ vàthanh toán; Biên bản thanh lý hợp đồng nên Tòa án phải yêu cầu sửa đổi, bổ sungđơn khởi kiện theo quy định tại Điều 193 BLTTDS.
2.1.3 Yêu cầu sửa đồi, bo sung đơn khởi kiện
Là trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS, Trường hợp này, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản theomẫu số 26 Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017, nêu rõ những vấn
đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ thực hiện trong một khoảng thờigian do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng và có thể gia hạn 15 ngày trong trường hợp đặc biệt
Thực trạng có rất nhiều trường họp tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện đă ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện theo địa chỉ được ghitrong hợp đồng văn bản, cơ quan có thẩm quyền có xác nhận địa chỉ mà người khởikiện cung cấp là của người bị kiện nhưng hiện tại người bị kiện không có nơi cư trú
ổn định nên Thẩm phán yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn với nội dungcung cấp địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện (nơi thường xuyên sinh sống) Hết thờihạn do Thẩm phán ấn định, người khởi kiện không cung cấp được nơi người bị kiện thường xuyên sinh sống nên Tòa án đã ra thông báo trả lại đơn khởi kiện với lý do người khởi kiện không sửa đổi, bồ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phánquy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTDS Việc xử lý đơn kiện của Thẩm phán trongtrường hợp này có thế sẽ phù hợp với BLTTDS trước đây, nhưng theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành thì với trường hợp như nêu trên được coi là đã ghi đúngđịa chỉ của người bị kiện theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm
2015, Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này, mà Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung L8J
Khi BLTTDS năm 2004 được ban hành và cho đến BLTTDS năm 2015 thì không quy định về điều kiện thụ lý vụ án mà các điều kiện này được suy đoán ngược lại từ các trường hợp sửa đổi, bồ sung đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện và
30
Trang 34chuyên đơn khởi kiện cho Tòa án có thâm quyên nên Tòa án cũng gặp nhiêu vướng mắc khi xác định• các điều kiện• thụ lý • J vụ• án Khi khởi kiện • tại• Tòa án thì các chủ thểkhởi kiện phải có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật Tuy nhiên không phải trong mọi trường họp khi chủ thể khởi kiện đáp ứng các điều kiện khởi kiện thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi phải đáp ứng các điềukiện về hình thức và nội dung đơn khởi kiện; chú thế khởi kiện; sự việc chưa đượcgiải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thẩm quyền của Tòa án; người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thutiền tạm ứng án phí.
2.1.4.1 Điều kiện về chủ thê khởi kiên
Xuất phát từ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, bình đẳng vềquyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 5, Điều 8 BLTTDS Theo đó, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu càu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền chấm dứt, thay đối yêu cầu hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội Trong tố tụng dân sự mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án Đồng thời Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong tố tụng dân sự Thông thường, khi một chủ thể bị xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp thì họ đã có sẵn những quyền tố tụng để bảo vệ mình và
để trở thành chủ thể khởi kiện thì người khởi kiện phải đáp ứng các tiêu chí về tưcách chủ thể pháp lý
Đe xác định tư cách pháp lý của chủ thể có quyền khởi kiện, chủ thề đó phải
có quyền và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ Tuy nhiên cũng có trường họp không có quyền và lợi ích họp pháp cần được bảo vệ nhưng chủ thề vẫn có tư cáchkhởi kiện Đó là trường hợp người đại diện khởi kiện đề bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho người mất năng lực hành vi dân sự và khi đó người này tham gia tố
31
Trang 35tụng với tư cách người đại diện hợp pháp Đông thời cũng có những chủ thê được Nhà nước trao quyền khởi kiện đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước trong một số quan hệ pháp luật khác khi
có hành trái pháp luật xâm phạm Khi đó trong phạm vi, lĩnh vực phụ trách, các tồ chức này sẽ khởi kiện với tư cách là nguyên đơn để bảo vệ lợi ích công cộng và lợiích của Nhà nước đã được pháp luật quy định
Bên cạnh yếu tố tư cách pháp lý, thì chú thể có quyền khởi kiện phải có nănglực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự được quy định tại Điều 69BLTTDS Nàng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền,nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự
Đối với cá nhân, thì năng lực hành vi tố tụng dân sự được xác định trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân trong việc tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Việc quy định điều kiện về năng lực hành vi của cá nhân đề họ • có thể tự• mình thực hiện • • quyền± ụ khởi kiện• nhằm bảo đảm chongười có quyền lợi thể hiện ý chí của mình trong việc bảo vệ quyền lợi trước Tòa án.Năng lực hành vi tố tụng dân sự được thể hiện ở độ tuổi Để xác định độ tuổi, Tòa
án sẽ căn cứ vào các loại giấy tờ tùy thân, trường hợp đương sự là người từ đù mười tám tuổi trở lên, không là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác thì sẽ là đương sự có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
Đối với đương sự là tố chức thì việc khởi kiện được thực hiện thông quangười đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền cùa pháp nhân căn cử vào điều lệ, quyết định thành lập pháp nhân, quyết định bổ nhiệm giám đốc hay họp đồng lao động hoặc văn bản ủy quyền
2.1.4.2 Điều kiện về việc khởi kiện phải chưa được giải quyết hằng bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với vụ án đó Mặc dùđược coi là một trong những yếu tố làm mất quyền khởi kiện của đương sự nhưngquy định này hoàn toàn phù họp, bởi xuất phát từ việc bảo đảm hiệu lực của các bản
32
Trang 36án, quyêt định của Tòa án, bảo đảm sự ôn định của các quan hệ xã hội, tránh tìnhtrạng chồng chéo, cùng một sự việc mà có nhiều cơ quan cùng giải quyết và quyết định Nói cách khác, Tòa án sẽ không giải quyết những tranh chấp có cùng nội dung,cùng nguyên đơn, bị đơn đến lần thứ hai Trường hợp vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án trả lại đơn khởikiện, trừ một số trường hợp vụ án mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.
2.1.4.3 Điều kiện về thẩm quyền của Tòa án
Khởi kiện vụ án là việc người có quyền khởi kiện nộp đơn khởi kiện, đơnphản tố, đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án có thấm quyền bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình hoặc của người khác khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm Mặc
dù quyền khởi kiện vụ án là quyền tố tụng cơ bản được pháp luật ghi nhận, đồng thời chù thế có quyền quyết định có thực hiện hay không thực hiện việc khởi kiệntại Tòa án, nhưng không phải tranh chấp nào cũng do Tòa án giải quyết mà phápluật quy định chỉ được quyền yêu cầu giải quyết đổi với những tranh chấp thuộcthẩm quyền của Tòa án Thẩm quyền của Tòa án cần được xem xét dưới góc độthẩm quyền chung, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo loại vụ án, thẩm quyềncủa Tòa án các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ
- Thẩm quyền theo loại vụ án
Việc quy định thẩm quyền loại vụ án nhằm xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đinh, kinh doanh,thương mại, lao động với các tổ chức khác hoặc giữa các Tòa chuyên trách trong hệ thống TAND Việc quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết hiệu quả các vụ án, bảo đảm cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước Đồng thời việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án và các tổ chức khác, giữa các Tòa chuyên trách trong cùng một Tòa án cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện Thẩm quyền theo loại vụ án được xác định chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thựchiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho cácđương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình
33
Trang 37Việc khởi kiện của chủ thê khởi kiện được Tòa án châp nhận khi xác địnhyêu cầu Tòa án giải quyết thuộc thẩm quyền theo loại vụ án quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 30, Điều 32 BLTTDS Theo đó nhừng tranh chấp về kinh doanh,thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà Điều 30 BLTTDS năm
2015 quy định gồm: (1) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tố chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợinhuận, v.v So với BLTTDS trước đây, BLTTDS hiện hành vẫn quy định nhữngtranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhằm để phânbiệt vụ án KDTM và vụ án dân sự thông thường, nhưng không liệt kê cụ thể các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại như quy định của khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 Tuy nhiên
về chủ thể tham gia, đối tượng tranh chấp là các hoạt động kinh doanh, thương mại
và mục đích của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại không khác nhau Song thực trạng, các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với các cá nhân, tố chức có đăng ký kinh doanh không thề hiện rõ mục đíchvay mà chi ghi nhận vay để kinh doanh, trong khi thực tế có sử dụng vốn vay vào mục đích kinh doanh và cũng có phục vụ cho mục đích tiêu dùng khác Trongtrường hợp này, Tòa án có thẩm quyền giải quyết phải xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về kinh doanh, thương mại hay tranh chấp về dân sự
- Thâm quyền của Tòa án các cấp
Trường hợp đã xác định được yêu cầu khởi kiện là một trong những tranhchấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thì TAND cấp huyện hay TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp trên cần căn
cứ vào Điều 35 và Điều 37 BLTTDS
Căn cứ vào pháp luật tố tụng, TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tố chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được quyđịnh tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS Đối với những tranh chấp quy định tại khoản 1Điều 30 BLTTDS mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác
34
Trang 38tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyềncủa TAND cấp huyện Hiện nay về thẩm quyền giải quyết cùa TAND cấp huyệnđược pháp luật tố tụng quy định cụ thể hơn [10] so với thời điểm trước khiBLTTDS năm 2015 có hiệu lực.
Sau khi đã xác định thấm quyền giải quyết vụ án cùa TAND cấp huyện hay TAND cấp tỉnh, thì Tòa chuyên trách nào của TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh sẽgiải quyết vụ án, cần căn cứ vào Điều 36 và Điều 38 BLTTDS Căn cứ vàoBLTTDS hiện hành, Tòa dân sự TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theothủ tục sơ thẩm những vụ án KDTM thuộc thấm quyền của TAND cấp huyện quy định tại Điều 35 của BLTTDS Quy định này bảo đảm chuyên môn hóa việc giảiquyết, xét xử của Tòa án theo từng lình vực xét xử nhằm nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án về thẩm quyền của các Tòa chuyên trách TAND cấptỉnh, thì Tòa kinh tế giải quyết theo thủ tục sơ thẩm nhừng tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tạiĐiều 37 của BLTTDS Việc quy định như trên tạo nhiều thuận lợi cho Tòa án các cấp xác định đúng thẩm quyền trong giải quyết các vụ án KDTM theo quy định của pháp luật Tuy nhiên trường hợp vụ án KDTM được giao cho TAND cấp huyện giải quyết lại, lý do bản án, quyết định trước đó bị hủy theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, nhưng tại thời điểm thụ lý lại vụ án mới
có đương sự ở nước ngoài thì vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh hay TAND cấp huyện Quan điểm của học viên trong trường họp này TAND cấp huyệnphải thụ lý, giải quyết Bời lẽ như đã phân tích trên, để xác định TAND cấp huyệnhay TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranhchấp về kinh doanh, thương mại càn căn cứ vào Điều 35 và Điều 37 BLTTDS, vụ
án mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm thuộc TAND cấp tỉnh Trường hợp tại thời điếm thụ lý lại vụ án mà có đương sự ở nước ngoài thì về nguyên tắc vụ án thuộc thấm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp tỉnh Tuy nhiên, trong bản án, quyết định phúc thẩm,
35
Trang 39giám đôc thâm đã giao hô sơ vụ án cho TAND câp huyện thụ lý, giải quyêt lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì TAND cấp huyện phải thụ lý, giải quyết.
- Thẩm quyền theo lãnh thổ
Cuối cùng cần phải xác định thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án đangnhận đơn Đây là quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại Điều 39 BLTTDS năm 2015 Đối với vụ án dân sự nói chung thuộc thẩm quyềntheo lãnh thổ cơ bản BLTTDS hiện hành vẫn giữ nguyên như BLTTDS năm 2004, chỉ sửa đổi thẩm quyền đối với đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết Việc sửa đổi nhằm khắc phụchạn chế do BLTTDS năm 2004 quy định không rõ nên hiểu khác nhau về thẳm quyền Tòa án khi bị đơn và bất động sản tranh chấp ở hai nơi khác nhau thì thấmquyền của Tòa án nơi bị đơn cư trú hay Tòa án nơi có bất động sản là đối tượng tranh chấp Đẻ tránh việc thay đổi thẩm quyền không cần thiết mà thực tế đã áp dụng trong trường hợp vụ án đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúngquy định của BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ nếu trong quá trình giải quyết có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịchcủa đương sự thì Tòa án đó tiếp tục giải quyết Đây cũng là điểm mới so với BLTTDS năm 2004
về nguyên tắc chung thẩm quyền giải quyết vụ án KDTM của Tòa án theolãnh thổ được xác định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS Trường hợp đương sự tự thỏa thuận với nhau bàng văn bản thì có quyền yêu Cầu Tòa án nơi
cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết thì việc thỏa thuận đó không được trái với quy định tại Điều 35 và Điều 37 của BLTTDS Ví dụ: Trong vụ
án, nguyên đơn cư trú tại huyện LV của tỉnh ĐT và bị đơn cư trú tại huyện CM của tỉnh AG Theo nguyên tắc Tòa án huyện CM tỉnh AG nơi bị đơn cư trú có thẩmquyền giải quyết Nếu các bên thỏa thuận Tòa án nơi nguyên đơn cư trú thì phải bảo đảm thẩm quyền cùa cấp Tòa án Trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện thì thỏa thuận chỉ được chấp nhận khi các đương sự thỏa thuận Tòa án huyện
36
Trang 40CM của tỉnh AG giải quyêt Nêu các đương sự thỏa thuận Tòa án tỉnh AG giải quyết thì thoa thuận đó không được chấp nhận Việc xác định nơi cư trú, làm việc,nơi có trụ sở quy định tại Điều 39 của BLTTDS được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án Trường hợp vụ án đã thụ lý và đang giải quyết đúng quy định của BLTTDS về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thìTòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ án mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có
sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự
Thực trạng, có quan điềm cho rằng việc khởi kiện phải được thực hiện tại Tòa án có thẩm quyền phải đúng thẩm quyền theo loại vụ án, cấp Tòa án và lãnh thổ,nhưng cũng có quan điểm cho rằng chỉ cần đúng về thẩm quyền theo loại vụ án là hợp lý vì thẩm quyền theo loại vụ án của Tòa án là cơ sở để phân định rõ ràng, tách bạch giữa thẩm quyền giải quyết của Tòa án với thẩm quyền giải quyết của các tổ chức khác, tránh sự chồng chéo trong hệ thống các cơ quan Nhà nước Đương sự chỉ được thực hiện quyền khởi kiện theo những loại vụ án mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nếu khởi kiện không đúng thẩm quyềntheo loại việc thì Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện Tòa án sẽ phải có trách nhiệm xem xét việc khởi kiện có đúng thấm quyền theo cấp và theo lãnh thố hay không sau khi đã nhận đơn và kiểm tra các điều kiện thụ lý vụ án Nếu khởi kiện không đúng về thẩm quyền theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ thì Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện mà phải chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án theo quy định cùa pháp luật Bởi lẽ, khi chú thể
có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc khi được pháp luật trao quyền đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước theo quy định tại Điều 186, 187 BLTTDS, thì họ mới được thực hiệnquyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ và các quan hệ pháp luật có tranh chấp phảithuộc thẩm quyền của Tòa án để phân biệt với thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước Bên cạnh, yêu cầu khởi kiện phải chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đà có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luậtcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự ổn định các quan hệ xã hội
37