Băng chữ viêt tăt theo vân abcVăn phòng quốc gia về tiêu chuấn nông sản và thực phẩm The National Bureau of Agricultural Commodity and Food StandardsHiệp hội thương mại điện tử Associati
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞĐẦU 1
1 T ính cấp thiết của đ ' ê tài 1
2 T inh hình nghiên cứu 4
3 Mục TIÊU VÀ NHIỆM vụ nghiên cứu 7
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 P hương pháp NGHIÊN cứu 8
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIEN của luận văn 8
7 Cơ CẤU CỦA LUẬN VĂN 9
CHƯƠNG 1 10
NHỮNG VẪN ĐÊ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN SẢN PHẨM trong lĩnh vực THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 10 1.1 K hái niệm , đặc điểm thương mại điện tử và thông tin sản phẩm trong lĩnh vực thương mại ĐIỆN TỬ 10
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 10
1.1.2 Đặc điểm của TMĐT 14
1.1.3 Khái niệm về thông tin sản phẩm trong TMĐT 15
1.1.4 Ýnghĩa, vai trò của thông tin sản phẩm trong lĩnh vực TMĐT 21
1.2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC THÀNH Tố cơ BẢN VÀ CÁCH THỨC TRÌNH BẦY THÀNH Tố cơ BẢN CỦA THÔNG TIN SẢN PHẨM TRONG TMĐT 25
1.2.1 Quy định về quyền được cung cấp thông tin của NTD 25
1.2.2 Quy định về các yếu tô'thông tin sản phẩm trong TMĐT 27
1.2.3 Quy định thông tin vè nguồn gốc sản phẩm 28
1.2.4 Quy định thông tin về xuất xứ sản phẩm 30
1.2.5 Quy định thông tin về nhãn hiệu sản phẩm 32
1.2.6 Quy định về nhận diện sản phẩm 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 43
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP UẬT VÀ THỰC TIEN thực hiện pháp luật về thông tin sản PHẨM TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ỞVIỆT NAM 43
2.1 QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN SẢN PHẨM CỦA NTD TRONG TMĐT 43
Trang 22.2 Q uy ĐỊNH YẾU Tố THÔNG TIN VÀ THÔNG TIN SẢN PHAM trong TMĐT 49
2.3 CÁC vấn đề liên quan đến nguồn gốc sản phẩm trong TMĐT 54
2.4 Q uy định về xuất xứ hàng hóa trong TMĐT ở V iệt N am hiện nay 60
2.5 Q uy đinh về nhãn hiệu sản phẩm và việc bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong TMĐT 66
2.6 Q uy định về nhận diện sản phẩm trong TMĐT 70
K ết LUẬN CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3 78
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐẢM BẢO THÔNG TIN SẢN PHẨM TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỪ 78
3.1 Đ ịnh hướng hoàn thiện pháp luật về thông tin sản phẩm trong LĨNH vực TMĐT 78
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về thông tin sản phẩm trong TMĐT phải phù hợp với cơ sở chính trị, kinh tế- xã hội 78
3.1.2 Pháp luật về thông tin sản phẩm trong thương mại điện tử phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 81
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về thông tin sản phẩm trong thương mại điện tử phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia 85
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về thông tin sản phấm trong TMĐT đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật TMĐT ở Việt Nam 91
3.2 G iải pháp hoàn thiện các quy định về thông tin sản phẩm công bố trong thương mại điện tử 93
3.3 G iải pháp giám sát và hạn • • • • chê ' các VI PHẠM CỦA CHỦ THẾ TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 98
kết luận C hương 3 101
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
I T iếng V iệt 104
II T iếng A nh 107
III TÀI LIỆU TRANG MẠNG (W ebsite ) và dự thảo 107
Trang 3Băng chữ viêt tăt (theo vân abc)
Văn phòng quốc gia về tiêu chuấn nông sản và thực phẩm (The National Bureau of Agricultural Commodity and
Food Standards)Hiệp hội thương mại điện tử (Association for Electronic Commerce)
ứng dụng (Application)
An Toàn Thực PhẩmChỉ thị-BỘ Chính trị
An toàn Sản phẩm tiêu dùng (Consumer Product Safety) Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership)
Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement) Luật Hiện đại hóa An toàn thực phẩm (Food Safety Modernization Act)
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Tariffs and Trade) (Vòng đàm phán Uruguay chuyển GATT thành WTO
Cơ sở hạ tầng-thông điệp dữ liệu-Các quy tắc cơ bản-Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu -Các ứng dụng thương mại điện tủ’ (Infrastructure- Message- Basic Rules- Sectorial Rules/ Specific Rules-
Applications)Công nghệ thông tin và truyền thông (Infomation Commercial Technlogy)
Tố chức tiêu chuân hoá quốc tế (International Standard Organization)
Marketing-Sales-Distribution- Payment NHCNnhãn hiệu chứng nhận
nhãn hiệu hàng hóanhãn hiệu nổi tiếngnhãn hiệu dịch vụ nhãn hiệu tập thể người tiêu dùng
Sở hữu trí tuệOne Time Password, -Mật khấu chỉ sử dụng một lần trong giao dịch điện tử
Trang 4TMĐT
UNCTAD
thồng tin điện tửthương mại điện tửHội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (United Nation Conference on Trade and Development)
TRIPS Hiệp Định về Các Khía Cạnh Liên Quan Đen Thương
Mại Của Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (Agreement on Trade- Related Aspect of Intellectual Property Rights)
TT-BCT
wco
WIPO
Thông tư-BỘ Công Thương
Tố chức Hải quan Thế giới (World Custom Organization)
Tổ chức Sờ hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property Organization)9 A
WTO Tô chức Thương mại thê giới (World Trade
Organization)
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU.
1 Tính câp thiêt của đê tài.
Thời đại công nghệ 4.0 đã làm thay đổi cơ bản các hình thức giao dịch thương mại trên toàn cầu trong chuỗi cung ứng sản phẩm, từ kế hoạch tạo sản phẩm từ lúc sơ khởi trên mạng thông tin điện tử đến khi ra sản phẩm cuối cùng Như khi một người tiêu dùng (NTD) muốn có sản phẩm may mặc hợp
ý mình có thế tìm trên mạng các thông tin cần thiết liên quan đến sản xuất nguyên liệu thô để dệt vải từ khâu nuôi và chăm sóc tằm lấy kén tơ cho đến khâu nhuộm màu dệt vải, rồi sau đó đặt các thiết kế mẫu mã hoa văn định hinh trên vải, các kiểu cách phù hợp với số đo của bản thân Hoạt động trao đối hàng hóa và dịch vụ từ chỗ phải dựa vào các công đoạn trong chuỗi cung ứng sản phẩm và nhận tiền trực tiếp của các nhà sản xuất trung gian, và qua mồi khâu trung gian các thông tin chính về sản phẩm liên quan đến nguồn gốc xuất
xứ cũng như cách dùng, chất lượng và tuối thọ đều chỉ là trong công đoạn đó
mà không được sâu chuồi lại thì với việc phát triến thương mại thông tin điện
tử trong thời đại 4.0 toàn bộ các yếu tố liên quan về sản phấm có thể được tìm kiếm từ các trang mạng điện tử của doanh nghiệp sản xuất hoặc trên sàn giao dịch thương mại điện tử (TMĐT)
Trên thế giới, giao dịch thương mại với các sản phẩm hàng hóa đà và đang được đưa vào hệ thống điện tử trực tuyến - TMĐT - từ khâu quảng bá sản xuất nguyên liệu thô đến sản phẩm cuối cùng được thấy trên mạng, và tò
đó NTD có thể nghiên cứu các thông tin dịch vụ sản phẩm hàng hóa đó rồi đặt hàng và thanh toán tiền bằng lệnh chuyển tiền qua các ứng dụng (app) và mật khẩu dùng một lần (SOFT OTP) Tuy nhiên, TMĐT giúp các hoạt động giao dịch thương mại tự động diễn ra trên một nền tảng thống nhất cả ngày lẫn đêm, trong cả tuần và suốt năm trên toàn thế giới chỉ với màn hình đối mặt rất thuận tiện cho sản phấm thì lại có các không thuận lợi khác nảy sinh như NTD
1
Trang 6không thê kiêm tra vật lý hàng hóa, không thê xem xét chât lượng sản xuât từ nguyên liệu thô cho đến sản phẩm cuối cùng để phát hiện các lỗi của hàng hóa, mẫu mã cũng như màu sắc sản phẩm không như mong muốn v.v Do vậy, các giao dịch TMĐT của thế giới cũng đang đối mặt với yêu cầu liên quan đến công bố thông tin sản phẩm trên mạng cho NTD được tìm hiểu rõ trước khi có các quyết định mua hàng, đặc biệt với các sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người như COV1D 19 mà hiện đang lan rộng trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, TMĐT đà và đang phát triển nhanh chóng trong quá trình Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới[31J Giao dịch thương mại truyền thống đang dần dịch chuyển sang giao dịch TMĐT Nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam với các nhận thức và kiến thức của người sản xuất và tiêu dùng về sản phẩm hàng hóa trên nền tảng kỹ thuật số và TMĐT là còn chưa được đồng đều Sự phát triển các sản phẩm điện tử thông minh mà NTD
dễ dàng sở hữu cũng như nhiều nhân sự Việt Nam đang có kiến thức và kỹ năng lập trình cho các chương trình TMĐT đã đang thúc đẩy TMĐT phát triển mạnh trên mọi lĩnh vực Dịch bệnh COVID 19 vừa qua đang thúc đẩy TMĐT phát triển đột phá trên nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tể xã hội cũng như mọi nền tảng áp dụng thành tự khoa học mới khác, hệ thống TMĐT trên không gian mạng giúp NTD có thể lựa chọn các sản phẩm thích hợp và có thể tiết kiệm được thời gian di chuyển đến chợ hay kho truyền thống nhận hàng cũng như tối ưu hóa được hệ thống giao nhận hàng Tuy nhiên, thông tin sản phấm hàng hóa được đưa trên các sàn giao dịch TMĐT thường ngắn gọn và phần lớn các nhà sản xuất nguyên liệu thô cũng như doanh nghiệp sản xuất vật liệu trung gian và sản phấm hàng hóa đều tận dụng lợi thế trên mạng và quy định còn nhiều các điểm chưa đồng bộ để tạo lợi thế cạnh tranh cho mình với mục đích đế tăng khả năng bán được nhiều sản phấm trên trang mạng TMĐT của doanh nghiệp thì chỉ có các thông tin có lợi nhất cho sản phầm và tác động
2
Trang 7vào thị hiêu NTD mới được đưa trên TMĐT, còn các thông tin mà có thê gây bất lợi cho việc NTD mà có thể tù’ đó NTD cân nhắc việc đặt hàng hay không thì lại được để cập rất ít hoặc có thể không được để cập tới Như vậy, xét về thực tế hiện nay các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến công bố thông tin sản phẩm từ khâu sản xuất ra nguyên liệu thô cho đến sản phẩm hàng hóa cuối cùng cũng như hướng dẫn sử dụng sản phẩm hiện nay còn chưa đồng
bộ và chưa chặt chẽ Các quy định thông tin về sản phẩm do nhiều cơ quan đơn vị làm đầu mối chịu trách nhiệm Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công bố thông tin sản phẩm nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau và do nhiều đơn vị khác nhau cùng chịu trách nhiệm hoặc mỗi đơn
vị chịu trách nhiệm riêng lẻ nên khi có các yếu tố nảy sinh giữa NTD và nhà sản xuất liên quan đến thông tin sản phẩm được cồng bố chính thức trên mạng
đã là không đầy đủ để tạo hành lang pháp lý bảo vệ NTD đặt mua hàng trên mạng Ví dụ như việc thông tin chưa đầy đủ về nước mắm liên quan đến asen
mà không đưa ra chi tiết là asen vô cơ hay hữu cơ làm cho NTD nghi hoặc với các sản phẩm nước mắm truyền thống mà sau đó các pháp lý sử lý các pháp nhân gây nên tình trạng nghi hoặc này không biết quy trách nhiệm theo cho
ai, bộ ngành nào và theo văn bản pháp quy nào Đặc biệt trong thời kỳ dịch bệnh COVID19 vừa qua, các thông tin liên quan các sản phẩm phòng chống dịch như khẩu trang và nước sát khuẩn, quần áo bảo hộ chống dịch và găng tay và thậm chí là các máy móc lớn như máy trợ thở hay máy xét nghiệm được giao dịch trên sàn TMĐT liên thông từ thể giới về Việt Nam đã không có các kiểm chứng thông tin liên quan đến giá cả và chất lượng theo trang mạng TMĐT chính thống cũng như thông tin về quy trình đấu thầu các thiết bị thiết yếu phục vụ sức khỏe con người đã không được tìm thấy kịp thời trên toàn Việt Nam dẫn đến nhà nước thiệt hại về người và của, đồng thời NTD bị thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần nhưng chưa có quy phạm pháp luật và các chế tài
3
Trang 8cụ thể để xử lý việc thiếu thông tin về giá, thuế, phí nhập khẩu hay hướng dẫn vận hành cũng như tính năng sử dụng với chất lượng hàng hóa trên sàn TMĐT Các nghiên cứu khoa học về thông tin sản phẩm công bố hiện nay mới chỉ là thực trạng các bài báo hay bài viết về thông tin phân phối đơn thuần mà chưa được đề cập một cách đầy đủ về lý luận và thực trạng pháp luật liên quan thông tin sản phẩm trong lĩnh vực TMĐT.
2 Tình hình nghiên cứu.
Trên thế giới, Internet đã làm thay đổi cơ bản các giao dịch thương mại,
từ hoạt động trao đồi hàng hóa và dịch vụ lấy tiền trực tiếp giừa các bên sang hoạt động nhìn các thông tin dịch vụ hàng hóa trên mạng và thanh toán bằng lệnh chuyển tiền[53][48] Như đà đề cập bên trên, NTD từ chỗ trực tiếp đến chợ và tìm và lựa chọn các sản phẩm cần thiết rồi thanh toán tiền, sang việc tìm kiếm các sản phẩm mình cần trên trang mạng thông tin điện tú’ của doanh nghiệp sản xuất hoặc trên sàn giao dịch TMĐT TMĐT giúp các hoạt động giao dịch thương mại tự động diễn ra trên một nền tảng thống nhất 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần và 365 ngày trong nãm với tương tác giao diện trên toàn thế giới chỉ với màn hình đối mặt rất thuận tiện cho tìm kiếm sản phẩm Tuy nhiên giao dịch trên TMĐT thì NTD lại không thể kiểm tra vật lý hàng hóa, không thể phát hiện được lồi vật lý cùa sản phẩm Do vậy, các giao dịch qua sàn TMĐT của thế giới cũng đang đối mặt với các yêu cầu liên quan đến công bố thông tin sản phẩm trong TMĐT
Tại Việt Nam hiện nay, kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập của Việt Nam đã, đang thúc đẩy TMĐT phát triển mạnh trên mọi lĩnh vực Giao dịch thương mại truyền thống đang dần dịch chuyển sang giao dịch TMĐT, đặc biệt đối với các loại bệnh dịch có tính truyền nhiễm cao như COVID 19• • • • • Jhiện đang lan rộng trên toàn cầu đã và đang thúc đẩy TMĐT phát triển đột phá trên nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội Thông qua hệ thống thương
4
Trang 9mại hàng hóa trên không gian mạng, NTD có thê lựa chọn các sản phâm thích hợp Tuy nhiên, thông tin sản phấm được đưa vào giao dịch trong TMĐT thường rất ngắn gọn Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa đều tận dụng lợi thế trên mạng và quy định còn nhiều các điểm chưa đồng bộ để không đưa ra các thông tin bất lợi về sản phẩm của họ so với sản phẩm cùng loại cùa đơn vị khác, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho mình với mục đích để tăng khả năng bán được nhiều sản phẩm trên trang mạng TMĐT của doanh nghiệp Doanh nghiệp cân nhắc chỉ đưa ra các thông tin có lợi nhất cho sản phẩm và tác động vào thị hiếu NTD, và các thông tin mà có thể gây bất lợi cho việc NTD có thể từ đó cân nhắc việc đặt hàng thì lại được để cập rất ít hoặc có thể không được đề cập tới Thực tế các quy định của pháp luật liên quan đến công
bố thông tin sản phẩm (liên quan chuồi hàng hóa) cũng như hướng dẫn sử dụng sản phấm hiện nay còn chưa đồng bộ và chặt chè Các quy định thông tin về sản phẩm do nhiều cơ quan đơn vị làm đầu mối chịu trách nhiệm, và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công bố thông tin sản phẩm nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như trong Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật tiếp cận thông tin, Luật Thương mại, Luật Giao dịch điện tử, Bộ luật dân sự, Luật an toàn thông tin mạng, Luật an toàn thực phẩm v.v nên khi có các yếu
tố nảy sinh giữa NTD và nhà sản xuất liên quan đến thông tin sản phẩm được công bố chính thức trên mạng đã là không đầy đủ đế tạo hành lang pháp lý bảo vệ NTD đặt mua hàng trên sàn TMĐT Trong thời kỳ dịch bệnh COVID
19, các thông tin liên quan các sản phẩm khẩu trang và nước sát khuẩn, quần
áo bảo hộ chống dịch và găng tay được giao dịch trên sàn TMĐT đà không có các kiểm chứng chính xác dẫn đến NTD bị thiệt hại nhưng chưa có các chế tài
cụ thể để xử lý Các nghiên cứu khoa học về thông tin sản phẩm công bố hiện nay mới chỉ là thực trạng các bài báo hay bài viết về thông tin phân phối đơn
5
Trang 10thuân mà chưa được đê cập một cách đây đủ vê lý luận và thực trạng pháp luật liên quan thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT Có một số Luận án hay luận văn nghiên cứu các đề tài có liên quan đến thông tin sản phẩm và TMĐT như Luận án Tiến sỹ Luật Kinh tế của Lê Văn Thiệp 2016 “Pháp luật TMĐT
Khoa học xã hội; Luận án Tiến sỹ Luật học cuả Nguyễn Mạnh Thắng “Luật
học Áp dụng tạp quán giải quyết các tranh chấp thương mại ở Việt Nam ”
Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ Luật Kinh tế cùa Tống Phước Long 2018 “Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong giao dịch TMĐT” Trường Đại học Luật Đại học Huế Một số sách chuyên khảo, tham khảo, công trình nghiên cứu có liên quan tới một số khía cạnh pháp lý cung cấp thông tin sản phẩm và giao dịch thương mại và TMĐT như Giáo trình luật Hợp đồng của PGS.TS Ngô Huy Cương [46]; Các quy định về chức năng nhiệm vụ cùa Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương năm 2021 trong trang mạng (website) của Bộ tư pháp [32] Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học có liên quan, đăng trên các tạp chí, như Bài viết học thuật của Lê Thị Kim Hoa
“Hợp đồng TMĐT và các biện pháp hạn chế rủi ro”; Đoàn Văn Trường
(2002) “Nghiên cứu người tiêu dùng những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi
học pháp lý Bộ Tư pháp (2008) “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
thực trạng và hướng hoàn thiện”; thông tin Khoa học pháp lý, số 1/2008;
Nguyễn Như Phát (2010), “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Từ hai góc nhìn
A - Âư\ Hội thảo Pháp ngữ khu vực 27 - 28/9/2010 do Nhà Pháp luật Việt -
Pháp và Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) tố chức với sự hỗ trợ của
Bộ Ngoại giao CH Pháp và Tổ chức quốc tế Pháp ngữ; Trần Thanh Điện
(2013) “Tài liệu hướng dẫn học tập TMĐT” Đại học cần Thơ; Tùng Bách
(2013) “Bao vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch TMĐT” Cục quản
6
Trang 11lý cạnh tranh, website: vca.gov.vn; TS Lại Kiên Cường (2014) “Phòng ngừa
tội phạm trong lĩnh vực TMĐT của lực lượng Cảnh sát nhân dân” Học viện
Cảnh sát nhân dân -Bộ Công an; GS.TS Nguyễn Thị Mơ (2015) “Câm nang
pháp lỷ về hợp đồng điện tử” Nxb Lao động Xã hội; Sách trắng TMĐT của
Hiệp hội TMĐT Việt Nam (2020), Chỉ số TMĐT Việt Nam (2020) Cục Thương mại và Điện từ Việt Nam v.v Các công trình trên đã làm rõ một số vấn đề về nội dung khi nghiên cứu pháp luật TMĐT và chủ yếu tập trung nghiên cứu về bảo vệ NTD, hợp đồng TMĐT Những công trinh khoa học trên là tài liệu vô cùng quí giá giúp tác giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, nhưng các công trình kế trên không nghiên cứu riêng và tổng thể pháp luật về thông tin sản phẩm và TMĐT và mối quan hệ của nó tới NTD Do vậy, luận văn này nghiên cứu về Thông tin
sản phẩm trong lĩnh vực TMĐT theo pháp luật ờ Việt Nam hiện nay.
3 Mục tiêu và nhiêm vụ nghiên cứu.• • • ơ
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thông tin sản phẩm trong TMĐT và nâng cao ỷ thức pháp luật về thông tin sản phẩm trong TMĐT ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở đó, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về thông tin sản phẩm trong TMĐT: khái niệm, đặc điểm, nội dung, ỷ nghĩa của thông tin sản phẩm trong TMĐT
- Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thông tin sản phẩm trong TMĐT ở Việt Nam hiện nay, kinh nghiệm pháp luật của một số nước và rút ra bài học cho Việt Nam
- Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thông tin sản phẩm trong TMĐT ở Việt Nam trong thời gian tới
7
Trang 124 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tưọng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quan điếm, ý kiến, đánh giá
và các quy phạm pháp luật hiện hành chi phối đến thông tin sản phẩm trong lĩnh vực TMĐT trên thế giới và tại Việt Nam; thực tiễn xây dựng và thực thi các quy định pháp luật thông tin sản phẩm tại Việt Nam; kinh nghiệm quốc tế
về thông tin sản phẩm và TMĐT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thông tin sản phẩm và TMĐT là một lĩnh vực rất lớn, có thể nói là mở rộng ra cả nền kinh tế, mà có thể có các nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và có thể được tiến hành bởi nhiều cơ quan tổ chức Do vậy, trong phạm
vi công trinh nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá tính phù họp, đồng bộ cũng như thống nhất của pháp luật về thông tin sản phẩm trong lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam và đi cùng với đó là vẩn đề bảo vệ NTD trong giao dịch TMĐT
5 Phưong pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên sự kết họp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học trong khoa học xã hội và nhân văn như: phương pháp phân tích các quy định của pháp luật, phân tích thực trạng của thông tin sản phẩm được cung cấp trên các sàn TMĐT hiện nay; phương pháp phân tích, tống hợp các dữ liệu có liên quan; phương pháp so sánh, đối chiếu các quy phạm của Việt Nam cũng như các nước khác có liên quan đế chứng minh các luận điểm mà tác giả đặt ra trong nghiên cứu luận văn này
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Một trong các tính mới của đề tài là đề tài được đưa ra trong thời gian dịch bệnh COVID 19 vừa qua, giao dịch TMĐT tăng cao đột biết với xu thế tiến tới thay thế một phần không nhỏ giao dịch thương mại truyền thống, việc
8
Trang 13công bô đây đủ các thông tin sản phâm đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính bền vững thị trường và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong giao dịch thương mại TMĐT, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng,
đã xuất hiện từ lâu trên thế giới dưới hình thức đặt hàng qua điện thoại nhưng loại hình này mới thực sự định hình trong những năm gần đây với sự phát triển vượt bậc của mạng viễn thông và các thiết bị điện tử Sự trực quan về thông tin sản phẩm trong TMĐT là yếu tố then chốt cho việc giao dịch giữa các bên nhưng vị thế tiếp cận thông tin lại không được bình đẳng khi mà người mua không có các công cụ cũng như thời gian để theo đuổi thông tin một cách toàn diện Thêm vào đó, pháp luật Việt Nam còn nhiều yếu tố bất cập liên quan đến thông tin sản phẩm như nguồn gốc xuất xứ, thành phần sản phẩm Luận văn này cũng có tham khảo và so sánh với một số các nghiên cứu tại Việt Nam và tham khảo pháp luật của các quốc gia trên thế giới về thông tin sản phẩm trong TMĐT nhàm so sánh đánh giá có phù họp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội của Việt Nam, thuần phong mỷ tục cũng như phong tục tập quán của người Việt
7 Cơ cấu của luận văn.
Luận văn có kết cấu truyền thống, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thông tin sản phẩm trong lĩnh vực thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam về thông tin sản phẩm trong lĩnh vực thương mại điện tử
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thông tin sản phẩm trong lĩnh vực thương mại điện tử
9
Trang 14Chương 1 NHŨNG VẪN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN SẢN PHẨM TRONG
LĨNH VỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỦ' 1.1 Khái niệm, đặc điếm thương mại điện tử và thông tin sản phẩm trong lĩnh vực thương mại điện tử• O • •
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử• ơ • ♦
Thương mại là hành vi đặc thù của con người trong quá trình phát triển
xã hội, văn minh nhân loại Các hành vi thương mại tồn tại qua suốt các thời
kỳ lịch sử với nhiều hình thức cũng như nội hàm cũa chính nó thay đổi theo
để phù hợp tiến trình phát triển cũng như nhận thức của con người về thương mại Giao dịch thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến giao dịch thương mại
vô cùng đa dạng bởi chính sự hiểu biết của con người trong bối cảnh của xã hội đương thời, nhất là trong thế kỷ XXI, thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, một mô thức giao dịch thương mại vô cùng thuận tiện ngày càng được phổ biến rộng khắp và hon hết, được đón nhận như một sự tất yếu của sự phát triển thương mại của cả thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đó là TMĐT
Hành vi thương mại theo như pháp luật của Pháp [45] [56] theo bản chất được phân định thành hai loại: Thứ nhất, các hành vi được coi là hành vi
thương mại ngay cả khi chúng được thực hiện một cách riêng rẽ; Thứ hai các
hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại trong trường hợp do thương nhân thực hiện Các hành vi thương mại hình thức là các hành vi được coi là hành
vi thương mại ngay cả khi chúng được những người không phải là thương nhân thực hiện Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi phụ thuộc vào hoạt động thương mại hoặc các thương gia như các trái vụ giữa các thương nhân với nhau [45] [56] Có thể thấy, hành vi thương mại được nhận diện từ hai phương diện: đầu tiền, do bản chất của hành vi đó với mục đích sinh lời;
10
Trang 15những đặc thù riêng bởi nó găn các hành vi thương mại truyên thông với phương thức giao dịch mới: “điện tử”.
Dưới góc nhìn công nghệ,l TMĐT là loại hình thương mại mới xuât hiện cuối thế kỷ XX và phát triển ngày càng mạnh mẽ cho đến nay Sự lý giải
về hình thức giao dịch của TMĐT đều gắn liền các hành vi thương mại truyền thống với phương thức giao dịch mới xuất hiện là “điện tử” và điều này tạo nên các thách thức mới phi truyền thống kill mà thuật ngữ “điện tử” vẫn còn
tin (CNTT) vào trong hoạt động thương mại chính là sự khác biệt giữa thương mại truyền thống và TMĐT Có lẽ chính vì thế mà sự phát triển cùa CNTT sẽ thúc đẩy TMĐT phát triển nhanh chóng, ngược lại, sự phát triển của TMĐT cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của CNTT và truyền thông (1CT- Information and Communication Technology) như phần cứng và phần mềm chuyên cho các ứng dụng TMĐT, dịch vụ thanh toán cho TMĐT v.v nhưng điều này lại có thề dẫn đến sự trì trệ trong hoạt động thương mại kill mà bộ máy quản lý hành chính vốn được thiết lập để tạo nên sự ổn định có thể không bắt kịp với sự biển đổi của công nghệ thông tin trong thời đại 4.0
Dưóí góc nhìn kinh tê, TMĐT là quá trình mua, bán, trao đôi hànghóa, dịch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, bao gôm mạng Internet.Theo nghĩa hẹp, TMĐT đơn giản chỉ là việc tiên hành các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viên thông Phương tiện điện tử và mạng viễn thông sử dụng phổ biến trong TMĐT là điện thoại, ti vi, máy fax, mạng truyên hình, mạng internet, mạng intranet, mạng extranet trong đó máy tính và mạng internet cùng các thiêt bị thông minh đi động là được sử dụng nhiều nhất để tiến hành các hoạt động TMĐT
vì nó có khả nàng tự động hóa cao các giao dịch Theo nghĩa rộng, TMĐT không chỉ dừng lại ở việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, mà nó còn mở rộng
Trang 16ra cả về quy mô và lĩnh vực ứng dụng Xuất phát từ thực tiễn nảy sinh trong quá trình NTD tìm kiếm thông tin sản phẩm trên các trang TMĐT mà các nhà lập pháp đã đặt ra các khái niệm về TMĐT chung nhất đề đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm đến tay NTD.
Tổ chức Thương mại thế giới WTO cho rằng: “TMĐT là một lĩnh vực
thương mại mới liên quan đến thiết lập giao dịch điện tử hàng hóa xuyên biên giới [60].
Hiệp hội TMĐT (AEC - Association for Electronic Commerce), và một
số tổ chức khác như Hội nghị Liên Họp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD-United Nation Conference on Trade and Development) cho rằng:
- Dưói góc độ doanh nghiệp, TMĐT bao gồm các hoạt động của doanh nghiệp, theo chiều ngang: “TMĐT là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kỉnh doanh bao gồm tiếp thị (quảng cảo chào hàng - marketing), bản hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử” Khái niệm này đã đề
cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉ giới hạn ở riêng mua và bán, toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ Tiếp thị - Bán hàng - Phân phối - Thanh toán (MSDP)[60], trong đó:
o M - Marketing (có web, hoặc xúc tiến thương mại qua internet)
o s - Sales (có web, có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết họp đồng)
o D - Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng)
o p - Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua ngân hàng)Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông (internet) vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia TMĐT
12
Trang 17- Dưới góc độ quản lý nhà nước, TMĐT bao gôm các lĩnh vực Cơ sở
hạ tầng; Thông điệp dữ liệu; Các quy tắc cơ bản; Các quy tác riêng; Điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu; Các ứng dụng TMĐT (ĨMBSA)[68]:
o 1 - Infrastructure: Cơ sở hạ tầng “Công nghệ thông tin” và truyền thông là yêu cầu đầu tiên để phát triển TMĐT
o M - Message: Liên quan đến “thông điệp dữ liệu” Thông điệp chính
là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng trong TMĐT Ví dụ như hợp đồng điện tử, chào hàng, hởi hàng qua mạng, chứng từ thanh toán điện tử đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu”
o B - Basic Rules: Các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về TMĐT: chính là các luật điều chinh các lĩnh vực liên quan đến TMĐT trong một nước hoặc khu vực và quốc tế như các quy định về thương mại của WTO, quy định
về sở hữu trí tuệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO
o s - Sectorial Rules/ Specific Rules: Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu của TMĐT như: chúng thực điện tử, chữ ký điện tử, Ngân hàng điện tử (thanh toán điện tử)
o A - Applications: Được hiểu là các ứng dụng TMĐT, hay các mồ hình kinh doanh TMĐT Cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển, trên cơ sở đã giải quyết được 4 vấn đề trên
Như vậy, tác giả cho rằng TMĐT là việc tiến hành hoạt động thương
mại kinh doanh hàng hóa hoặc/và cung Cấp dịch vụ giữa các bên trong quan
hệ giao dịch thông qua các phương tiện điện tử như mảy tỉnh, ứng dụng điện
cả trong lĩnh vực phần cứng và phần mềm chuyên dụng, trong đó máy tính và cùng các thiết bị thông minh đi động có kết nối mạng internet tại thời điểm hiện tại được sử dụng nhiều nhất đê tiến hành các hoạt động TMĐT.
13
Trang 181.1.2 Đặc điêm của TMĐT
TMĐT với tư cách là một mô thức tiến hành hoạt động thương mại mới xuất hiện và phát triển sau kế thừa các đặc tính chung của các loại hình thương mại truyền thống khác như tự do ý chí, năng lực chủ thể v.v Tuy nhiên, TMĐT lại có những đặc điểm khác biệt cơ bản do sự phát triển của TMĐT gắn liền
và tác động qua lại với sự phát triển của CNTT và truyền thông (ICT)
Trong hoạt động thương mại truyền thống, các bên trong giao dịch phải
có sự liên hệ trực tiếp để tiến hành giao dịch và ký kết hợp đồng Hình thức giao dịch vẫn tồn tại thông qua các yếu tố vật lý hiện hữu trên thực tế một cách trực tiếp trong khi đối với các giao dịch TMĐT, việc giao kết hợp đồng được tiến hành gián tiếp thông qua mạng viễn thông Theo hình thức giao dịch này, dữ liệu của một phần hoặc toàn bộ giao dịch xuất hiện dưới dạng điện tử
và được ltru trữ trong các thiết bị lun trữ như ố cứng, máy chủ, v.v (tồn tại hiện hữu dưới dạng vật lý) Theo sự phát triến của công nghệ số, các phương tiện điện tử ngày càng được phố biến và mở rộng về ngoại diện, thêm vào đó
là độ bao phủ của các mạng viễn thông và Internet mà giờ đây các bên tham gia vào giao dịch khồng phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và lưu trữ thông tin giờ đây có thể được số hóa và đưa vào lưu tại các kho lưu trữ mềm điện toán đám mây
Phạm vi hoạt động cùa thị trường trong TMĐT là thị trường phi biên giới Thông qua Internet, mọi người ở tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia vào giao dịch, TMĐT xuất hiện khiến cho chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa bảo hộ trở nên yếu thế so với sự xuất hiện ngày càng mạnh mẽ của toàn cầu hóa Các khái niệm về biên giới giữa các quốc gia, thị trường, dân tộc, văn hóa, tín ngưỡng trở nên lu mờ với sự xuất hiện của một thị trường mới, duy nhất và không chia tách Sự hiện hữu của nó, ngay cả khi mới trên ý tưởng: toàn cầu hóa, đã khiến
14
Trang 19cho các thực thê, thê chê kinh tê, chính trị trên khăp thê giới phải xem TMĐT không còn là một hình thức thương mại đơn thuần nừa mà còn là một lình vực mới về cả kinh tế, chính trị lẫn luật pháp.
Trong hoạt động TMĐT phải có tối thiểu ba chủ thể tham gia Đối với các hoạt động thương mại truyền thống, các chủ thể cơ bản là bên bán và bên mua [46][44] nhưng đối với TMĐT, sự tham gia của bên thứ ba là các website TMĐT là không thế thiếu với tư cách là bên tạo nền tảng cho các giao dịch TMĐT Bên thứ ba này có thể là nhà cung cấp dịch vụ mạng, cơ quan bảo mật thông tin giao dịch, và cũng có thể là bên cung cấp dịch vụ thanh toán, v.v
TMĐT phụ thuộc vào trình độ CNTT và dữ liệu người dùng Trong mồi trường toàn cầu, việc tiếp cận NTD, với tư cách là bên mua, là điều tất yếu
Sự cạnh tranh trong TMĐT vô cùng khốc liệt khi bên bán không phải bán cho một khu vực, một địa phương mà bán cho một thị trường toàn cầu và bên mua, với tất cả sự lựa chọn họ có, sẽ bị tiếp cận dựa trên dữ liệu người dùng ghi nhận trong suốt quá trình tham gia TMĐT Hoạt động thu thập dữ liệu người dùng này mang tính hệ thống và bắt buộc đối với người sử dụng đề có thể sử dụng dịch vụ cùa bên cung cấp
Như vậy, TMĐT mang cả đặc điểm động và tĩnh, kế thừa các đặc tính chung của thương mại truyền thống và tiến bộ của công nghệ thông tin trong giao dịch thương mại đã được số hóa với phạm vi hoạt động toàn cầu và bị ảnh hưởng cả kinh tế, chính trị lẫn luật pháp
1.13 Khái niệm về thông tin sản phẩm trong TMĐT
1.13.1 Thông tin và thông tin sản phẩm
Khái niệm về thông tin:
Thông tin là khái niệm trừu tượng và cũng là đơn vị để diễn tả các thực thể và phi thực thể nhưng định nghĩa thồng tin là không thống nhất ngay cả đối
với các từ điển Từ điến Oxford English Dictionary cho ràng thông tin là “điều
15
Trang 20người ta đánh giả hoặc nói đền; là tri thức, tin tức” còn theo từ điên Bách khoa
toàn thư Việt Nam thì thông tin là “một khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại, khái quát về các điều hiểu biết, tri thức thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đôi giữa các đổi tượng với nhau
Nguyên nhân cùa việc này là bởi thông tin, với đặc điểm trừu tượng và
vô hình, được nhìn nhận dưới nhiều góc nhìn khác nhau trong nhiều lĩnh vực khác nhau Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết cùa con người Mặt khác, theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, kỷ hiệu, hình ảnh v.v hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người
Tại Việt Nam, theo khái niệm được đưa ra tại Khoản 1 Điều 2 Luật tiếp cận thông tin 2016 thì thông tin là “tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản,
hồ so; tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bủn in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghì hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra ”[5],
Khái niệm về sản phẩm:
Theo Điều 4 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 05/2007/QH12 quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa và tồ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa; quản lý chất lượng sản phấm, hàng hóa tại Việt Nam thì khái niệm sản phẩm và hàng hóa như sau:
“Sản phâm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng
“Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đôi, mua bán, tiếp thị.”
16
Trang 21Kêt hợp lại, có thê thây thông tin sản phâm là nhừng tin, dữ liệu phản ánh các thuộc tính của sản phẩm bởi người bán, nhà cung cấp nhằm đáp ứng
kỳ vọng của khách hàng Tuy nhiên, không phải lúc nào kỳ vọng của người mua đối với sản phẩm cũng được thỏa mãn bởi nhiều nguyên nhân khác nhau
Trong giao kết họp đồng thương mại, sản phẩm được xem như là đối tượng của họp đồng Sản phẩm này có thể bao gồm hàng hóa, cung ứng dịch
vụ hoặc thực hiện công việc Đối với đối tượng là hàng hóa, các yếu tố của hàng hóa như chủng loại, nguồn gốc, xuất xứ, đặc điểm kỹ thuật, tình trạng hàng hóa v.v là những thông tin cơ bản để xác định hàng hóa đó chính là đối tượng trong hợp đồng Ngoài ra, với từng loại hàng hóa khác nhau lại có những đặc thù riêng về yêu cầu thông tin hàng hóa cho giao dịch như bất động sản, thực phẩm, dụng cụ y tế, v.v Đối với đối tượng là cung ứng dịch vụ hoặc thực hiện công việc thì thông tin sản phẩm là công việc, dịch vụ này là gì; những công việc, dịch vụ nào được coi là ngoài phạm vi; cách thức xác định tiến độ, mức độ hoàn thành công việc, dịch vụ v.v Thông tin sản phẩm trong hợp đồng thương mại có thế được diễn tả dưới nhiều dạng thức Hình thức thông tin thường thấy nhất là dừ liệu dạng văn bản mô tả các khía cạnh sản phẩm Tuy nhiên, một số hình thức khác có thể kể đến như hình ảnh, âm thanh, v.v có thể tạo ra một số nhầm lẫn khi nhận thức của các bên về cùng một sản phẩm có thể
có sự khác biệt nhất định[50][51]
Có thể thấy, thông tin sản phẩm trong hợp đồng thương mại là yếu tố cốt lồi nhằm xác định đối tượng của họp đồng Thông tin sản phẩm càng chi tiết thì đối tượng của họp đồng càng được xác định rõ ràng hơn Một trong những tranh chấp chính của hợp đồng thương mại là việc không thực hiện đúng các thỏa thuận và cam kết được ghi nhận tại họp đồng trong đó có một phần nguyên nhân bởi đối tượng họp đồng không được mô tả một cách đầy
đủ, thiếu sót thông tin sản phẩm dẫn đến khi thực hiện hợp đồng đã không
17
Trang 22giao hàng, cung ứng dịch vụ, thực hiện công việc đúng như kỳ vọng của các bên, ảnh hưởng tới lợi ích của các bên [50].
1.1.3.2 Thông tin sản phẩm trong TMĐT.
Tính đặc thù của TMĐT là hợp đồng được ký kết khi không có sự có mặt đầy đủ của các bên và công cụ trung gian truyền đạt ý chí của các bên trong trường hợp này là các phương tiện điện tử Sự gặp gồ ý chí này giống với các
phương thức thương mại truyền thống khác cũng phải có đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Khác với thương mại truyền thống, thay vì tiếp xúc trực tiếp với đối tượng của hợp đồng và đánh giá trực quan về sản phấm thì bên mua chỉ biết được sản phẩm thông qua các thông tin được mô tả thông qua phương tiện điện
tử Cách thức tiếp nhận thông tin gián tiếp này tạo nên sự bất lợi đối với các bên trong quan hệ họp đồng Trong pháp luật Pháp, bộ luật tiêu dùng dành hắn một mục quy định về “mọi họp đồng bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ được ký kết mà các bên không trực tiếp có mặt đồng thời, giữa NTD và cá nhân, tố chức kinh doanh sử dụng một hoặc nhiều phưong thức trao đổi thông tin tù’ xa”[45]
Mặt khác, việc đưa ra lời đề nghị giao kết họp đồng thồng qua phương tiện điện tử có khả năng dẫn đến bất cập cho hoạt động thương mại của người bán khi các thông tin của hợp đồng cũng như đối tượng của họp đồng được lưu giữ trên các phương tiện điện tử trung gian như máy chủ Thêm vào đó, nghĩa
vụ thông tin tại lời đề nghị giao kết hợp đồng đóng vai trò then chốt cho sự thành công của giao dịch TMĐT Luật Thương mại Việt Nam 1997 có quy định tại Điều 56 về Hiệu lực của giao dịch và đàm phán trước khi hợp đồng mua bán hàng hóa được kỷ kết như sau [46]: “Từ thời điểm hợp đồng mua bản hàng hóa được kỷ kết, mọi thư từ giao dịch và đàm phán trước đó về hợp đồng đều hết hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác ”, Có thế thấy một
sự khắng định về giá trị của giai đoạn tiền hợp đồng khi mà giai đoạn này là
18
Trang 23khoảng thời gian mà các bên thê hiện sự thiện chí cho việc giao kêt hợp đông Tuy năm 1997 chưa phải thời điểm mà TMĐT phổ biến tại Việt Nam nhưng
nó cũng cho thấy tầm quan trọng của giai đoạn này trong ký kết hợp đồng
Theo Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 có quy định tại điều 443 về Nghĩa
vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn sử dụng thì “Bên hán có nghĩa vụ cung cấp cho hên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bên bán không thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có yêu cầu hên bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bản vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết họp đồng thì bên mua cỏ quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu Cầu hồi thường thiệt hại ”[ 13] Điều 443
này cho thấy yếu tố thông tin sản phẩm giai đoạn tiền họp đồng đóng vai trò cốt yếu để đi đến việc ký kết không chỉ có họp đồng thưong mại truyền thống
mà cũng tương tự đối với hợp đồng TMĐT
Trong các giao dịch, có sự nhận thức chung rằng những yếu tố của hợp đồng tương lai bắt nguồn từ giai đoạn tiền hợp đồng và ẩn sâu trong tư duy của người giao kết [46][ 13] Trong TMĐT, điều này lại càng được thế hiện rõ ràng khi mà sự lựa chọn của khách hàng trong TMĐT thường dựa trên những thông tin mà bên bán cung cấp Vì vậy theo J.H.M van Erp, giai đoạn tiền hợp đồng
có hai nghĩa vụ là nghĩa vụ thiện chí và nghĩa vụ thông tin [46] Nhiều quốc gia trên thế giới đều có quy định về việc này như tại Điều 227b, Quyền 76, Bộ luật dân sự Hà Lan có quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi hợp đồng được giao kết, hay như tại điều LI21 - 18 Bộ luật tiêu dùng Pháp áp dụng đối với họp đồng bán hàng từ xa, quy định một số thông tin bắt buộc phải có trong
đề nghị giao kết hợp đồng Hơn nữa, tại điều Ll 11 -1 cũng của bộ luật này có quy định là “cá nhân, tô chức kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, trước khi kỷ kết hợp đồng phải tạo điều kiện cho NTD có thê biết được các đặc tính cơ bản
19
Trang 24của hàng hóa, dịch vụ ”[57] và trách nhiệm chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ này thuộc về bên bán.
Một giới hạn khác của thông tin hợp đồng nói chung và thông tin sản phấm nói riêng đó là khả năng nhận biết của bên mua Thông tin sản phẩm có thể được diễn giải bằng nhiều cách từ trực quan như hình ảnh dến mô tả bằng văn bản Trên thực tế, việc bán hàng trên TMĐT thường kết hợp cả hai phương thức này đế cung cấp thồng tin nhưng việc nhận thức thông tin của khách hàng
có thể gây ra nhiều rắc rối Ví dụ như thông tin của sản phẩm lưu hành tại Việt Nam được ghi bằng các thứ tiếng không bao gồm tiếng Việt (vô ý hoặc cố ý) hạn chế khả năng tiếp cận trên thực tế của NTD đối với sản phấm trên các phương tiện điện tử Mặt khác, việc mô tả quá nhiều thông tin cũng không phải
là một lựa chọn tích cực khi trình độ hiều biết của đại đa số NTD, ngay cả những người kinh nghiệm nhất, không đủ đế thực sự hiểu những thông tin sản phẩm đó mang những giá trị thực sự gì hay có ý nghĩa như thế nào
Nghĩa vụ thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng là điều tất nhiên để thể hiện sự thiện chí đế đi đến giao kết Tuy nhiên, có một số nghĩa vụ thông tin phải tiếp tục được thực hiện sau khi hợp đồng được ký kết Giao dịch TMĐT
là giao dịch từ xa thông qua các phương tiện điện tử Với các giao dịch truyền thống, thông tin cùa hợp đồng được thế hiện, lưu trữ dưới dạng vật lý nhưng TMĐT lại lưu trữ thông tin trong các máy chủ, ổ cứng Nghĩa vụ thông tin kéo dài ở chỗ, hợp đồng cần phải được xác nhận thông qua một phương tiện lun trữ điện tử cho phép khách hàng tiếp cận chúng trong thời hạn hợp lý[44, Chg.4]
Như vậy, theo quan điểm cùa tác giả, thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT là thông tin về sản phẩm thê hiện được các đặc tính sản phẩm như màu sắc, chất liệu, công dụng v.v được công bố trên trang TMĐT dưới nhiều hình thức như vãn bản, hình ảnh v.v với mục đích cung cấp cho NTD những yếu tố cần thiết đê nhận thức sản phẩm, tiến tới việc kỷ kết và thực hiện giao dịch.
20
Trang 251.1.4 Y nghĩa, vai trò của thông tin sản phâm trong lĩnh vực TMĐT.
Thông tin sản phấm trong lĩnh vực TMĐT có ý nghĩa quan trọng về cả mặt pháp lý và cả dưới góc độ quản trị hoạch định chính sách sản phẩm bởi thường thì các sản phẩm được cấu trúc ở năm mức độ[69J:
Mức độ lợi ích cốt lõi: là những lợi ích cơ bản mà người mua đã mua
theo thông tin ghi trong TMĐT
Mức độ sản phấm chung: là sản phấm cơ bản được thừa nhận đúng như thực trạng của nó như thông tin ghi trong TMĐT
Mức độ sản phẩm mong đựi: là những tập hợp những thông tin về thuộc tính và điều kiện cũa sản phấm người mua thường mong đợi khi mua sản phẩm mà người bán bổ sung vào để làm cho sản phẩm của mình khác biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh có hay không được đề cập trong TMĐT
Mức độ sản phấm hoàn thiện: là sản phẩm bao gồm những dịch vụ và lợi ích phụ thêm làm sản phẩm khác với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
Mức độ sản phẩm tiềm ẩn: là tập hợp nhừng thông tin về tính chất và dịch vụ mới trong TMĐT có thể có mà sẽ được bố sung vào hàng hóa
Nhìn từ góc độ trên, theo tác giả, thông tin sản phẩm là yếu tố không thế thiếu trong quan hệ giao dịch giữa người bán với NTD trong TMĐT, trong quan hệ cạnh tranh giữa các thương nhân với nhau trên sàn TMĐT, và trong việc bảo vệ quyền lợi của NTD với các ý nghĩa hậu kiểm sau này Ý nghĩa và vai trò của thông tin sản phẩm trong TMĐT thể hiện ở một số ý chính sau:
Thứ nhất, mỉnh bạch về thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT
Minh bạch về thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT có vai trò và
ý nghĩa quan trọng; NTD trong giao dịch thương mại luôn đứng ở vị trí yếu thế so với thương nhân và điều này lại càng được thể hiện rõ trong TMĐT bởi thương nhân là người đưa thông tin sản phẩm lên các phương tiện điện tử như
21
Trang 26sàn TMĐT website, v.v và do vậy, họ có toàn quyên quyêt định những thông tin nào có thế xuất hiện và những thông tin nào không xuất hiện.
Minh bạch thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT không chỉ là điều kiện cho nguyên tắc thiện chí trong giao kết hợp đồng mà còn là sự cần thiết
để bảo vệ quyền lợi NTD NTD trong quan hệ họp đồng nói chung và họp đồng TMĐT nói riêng luôn luôn ở vị trí yếu thế so với thương nhân Trong giao dịch TMĐT, sự yếu thế này càng được thể hiện rõ không chỉ về sự bất cân xứng về thông tin như trong thương mại truyền thống mà còn về phương thức giao kết hợp đồng TMĐT Sự khác biệt giữa hai phương thức thương mại này khiến cho khả năng tiếp cận thông tin giừa hai bên trong quan hệ hợp đồng trở nên khó khăn hơn đồng thời cũng khiến thông tin trở nên khó kiểm chứng hơn
Theo Luật cạnh tranh 23/2018/QH14, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là “hành vi của doanh nghiệp trải với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kỉnh doanh, gảy thiệt hại hoặc có thẻ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích họp pháp của doanh nghiệp
sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong đó “a)
Thị trường sản phâm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả’ và “b) Thị trường địa lỷ liên quan là khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ được cung cấp cỏ thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác hiệt đảng kê với các khu vực địa lý lán cận ”[11 ].
Các yếu tố thồng tin sản phẩm làm cho hành vi cạnh tranh khồng lành mạnh dễ dàng thực hiện trên sàn TMĐT hơn vì người dùng không phân biệt được sự khác nhau giữa sản phẩm với nguồn gốc xuất xứ khác nhau nhưng có cùng công dụng trên cùng một “mặt phẳng - trực quan hóa” để có thể so sánh
22
Trang 27Mặt khác, cách tiếp cận về thông tin trong hợp đồng có thể bị lẫn lộn giữa hành vi lừa dối với nghĩa vụ thông tin trong quan hệ hợp đồng Theo điều
127 Bộ luật dân sự 2015 thì lừa dối trong giao dịch dân sự là “hành vi cố ý của
một bên nhằm làm cho bên kia hiền sai lệch về chủ thể, tính chất đổi tượng
tính chất khiến cho hai loại hành vi này khó để phân biệt Với hành vi lừa dối, hậu quả của hành vi, theo pháp luật Việt Nam, là giao dịch vô hiệu [13] Hành
vi lừa dối là hành vi có chủ đích mà nhất thiết phải có sự thiếu thiện chí hoặc
sự bất cẩn của đối tượng thực hiện Nó có thề được diễn dịch từ bất kỳ hành động, cáo buộc hoặc trình bày nào có khả năng che giấu thực tế, hoặc thậm chí
từ sự im lặng về một số khuyết tật hoặc đặc tính của sản phẩm Trong trường hợp này, thương nhân khi tham gia TMĐT phải lường trước đến tính đặc thù của loại hình thương mại này Tuy nhiên, với việc vi phạm nghĩa vụ theo các điều 423 đến 426 Bộ Luật dân sự 2015 thì “ bên mua có quyền hủy bỏ họp
dứt hiệu lực cùa họp đồng, bên làm xảy thiệt hại phải bồi thường cho bên kia
và hoàn trả nhau những gì đã nhận nhưng xuất phát điểm cùa hai thể thức này lại khác nhau Họp đồng bị vô hiệu khi vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của họp đồng còn hợp đồng bị hủy bỏ là việc một trong các bên vi phạm các điều khoản có trong họp đồng hoặc/và do một bên đề nghị hủy bỏ[13]
Nhìn ra bên ngoài, Điều L441-1 Bộ Luật Tiêu Dùng Pháp coi hành vi lừa dối là tội hình sự và phải chịu chế tài hình sự với hình phạt là hai năm tù và khoản phạt ba tràm nghìn euro trong khi nghĩa vụ thông tin lại thuộc về việc dân sự khi các bên trong quan hệ họp đồng không hoàn thành nghĩa vụ này[5 6]
Có thể thấy, ranh giới giữa hai loại hành vi này (bất cẩn hay có chủ đích làm người dùng nhầm lẫn về thông tin sản phẩm trong TMĐT) vẫn còn mập
23
Trang 28mờ kill mà sự phân định thường dựa vào mức độ nghiêm trọng của vụ việc, thứ
có thể biểu hiện ra, và vào mức độ thiện chí, thứ khó có thế đo lường được Như vậy, minh bạch về thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT có vai trò
và ý nghĩa đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên tham gia TMĐT
Thứ hai, vai trò thông tin sản phẩm trong TMĐT bảo vệ quyền của NTD
Quyền được an toàn là một trong những quyền của mọi công dân trong một xã hội văn minh Bảo vệ quyền lợi NTD vừa là thước đo nhân quyền, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững cùa các quan hệ xã hội Thông tin sản phẩm liên quan đến an toàn cho NTD là một trong các yếu tố bắt buộc phải công bố trong TMĐT
An toàn của NTD và thông tin sản phấm hàng hóa trong giao dịch TMĐT
là việc NTD có các thông tin của các sản phẩm trong TMĐT về khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản cùa NTD có thế có, theo Khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 59/2010/QH12 thì đó có thể do "Hàng hóa
sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sình từ thiết kế kỹ thuật, Hàng hóa đơn
lẻ có khuyết tật phát sinh từ quả trình sản xuất, chế hiến, vận chuyển, lưu giữ; Hàng hóa tiềm ân nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng
phẩm ở đây là việc giao dịch thông qua TMĐT đã khiến cho NTD không thể kiểm chứng hàng hóa một cách trực tiếp mà gián tiếp thồng qua các thông tin
từ người bán và có nhiều thông tin quan trọng đối với quá trình sử dụng nhưng lại bị bỏ qua bởi cả bên bán lẫn bên mua Thông tin về quá khứ cùa sản phẩm
và tình trạng hiện tại của sản phẩm là điều bắt buộc phải có vì nó mô tả đối tượng của hợp đồng, xác định các đặc tính của đối tượng hợp đồng và phân biệt sản phẩm đang là đối tượng của họp đồng với các sản phẩm (sự vật, hiện tượng) khác Nhưng sau khi ký kết hợp đồng, NTD sè là người chịu rủi ro trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm bất kể đấy là hàng hóa hay dịch vụ Sẽ rất khó
24
Trang 29để lường hết những gì có thể xảy ra vì thế thông tin sản phẩm càng chính xác bao nhiêu thì khả năng phát sinh các vấn đề không mong muốn lại càng thấp bấy nhiêu Mặt khác, sự chi tiết của thông tin sản phẩm trong giao dịch thương mại, nhất là trong TMĐT dù chỉ mô tả gián tiếp nhưng tạo niềm tin cho NTD
về sản phẩm qua đó thể hiện nguyên tác thiện chí trong quan hệ họp đồng Cũng có thể nói sự thể hiện đầy đù và trung thực của thông tin sản phẩm trên các trang TMĐT là một phần cấu thành nên sự thiện chí của người bán khi đề nghị giao kết hợp đồng với người mua (đặt hàng) Điển hình như khi cung cấp thông tin sản phẩm trên các phương tiện thông tin điện tử, bên bán ngoài những thông tin cơ bản như thành phần, nguồn gốc, xuất sứ, nhàn hiệu còn phải công
bố cả khả năng phát sinh ảnh hưởng không mong muốn đển sức khỏe, tính mạng và tài sản trong qua trình sử dụng sản phẩm
Như vậy, vai trò và ý nghĩa cúa thông tin sản phấm trong giao dịch TMĐT được thể hiện cho tất cả các sản phẩm được NTD cơ bản lựa chọn và là• • 1 • • •sản phẩm đươc thừa nhận đúng như thực trạng của nó như thông tin ghi trong TMĐT có bao hàm hay không bao hàm những tập hợp những thông tin về thuộc tính và điều kiện của sản phẩm NTD mong đợi được bổ sung bởi người bán nhưng không được để cập trong thời điểm giao kết họp đồng TMĐT
1.2 Nội dung quy định pháp luật về các thành tố CO’ bản và cách thức trình bầy thành tố co’ bản cùa thông tin sản phẩm trong TMĐT
1.2.1 Quy định về quyền đưọc cung cấp thông tin của NTD
Quyền được thông tin là quyền cơ bản của tất cả mọi người Trong TMĐT, NTD có quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, cũng như sản phấm hàng hóa đang giao dịch nói chung và trong TMĐT nói riêng để NTD có các cân nhắc xem xét trước khi giao kết hợp đồng Quy định tại các Điều 12, 13 Luật Bảo vệ quyền
25
Trang 30lợi NTD nêu rõ “tô chức, cả nhân kỉnh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp cho NTD những thông tin về hàng hóa, dịch vụ ” [3] [64].
Các thông tin về sản phẩm trong TMĐT mà NTD có quyền được nhận gồm các thông tin như đã quy định phải ghi trên nhãn hàng hóa theo quy định trong Nghị định 43/2017/NĐCP Khoản 1 Điều 3 Nghị định 43/2017/NĐCP quyền của NTD được cung cấp thông tin được “/Aé hiện ở dạng thông tin cung
cấp cho NTD thông qua bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đỉnh, đủc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì th ương phẩm của hàng hóa với nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hỏa ’’[26] để NTD nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; đề nhà sản xuất, kinh doanh, thông tin, quảng bá cho hàng hóa của minh và để các cơ quan chức nàng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát
Các thông tin ghi trên nhãn hàng hóa bao gồm cả nhãn gốc của hàng hóa (do tố chức, cá nhân sản xuất hàng hóa gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa khi sản xuất ra hàng hóa đó) và nhãn phụ của hàng hóa bằng tiếng Việt nếu nhãn chính không phải là tiếng Việt Các thông tin này cũng bao gồm cả hình thức đóng gói và bao bì thương phẩm và định lượng của hàng hóa; ngày sản xuất và “hạn sử dụng” hoặc “hạn dùng”; các nguyên liệu kể cả chất phụ gia dùng để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và tồn tại trong thành phẩm kể cả trường hợp hình thức nguyên liệu đã bị thay đối và thành phần định lượng của mỗi loại nguyên liệu kể cả chất phụ gia dùng để sản xuất
ra hàng hóa đó; giá hàng hóa, dịch vụ trong giao dịch TMĐT; các cảnh báo ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD của hàng hóa, dịch
vụ (có thể xảy ra) và các biện pháp xử sự cố xảy ra và phòng ngừa; các thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa và các hướng dẫn sử dụng, điều kiện, thời hạn, địa điếm, thủ tục bảo hành trong
26
Trang 31trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành[26] Nêu NTD nhận thông tin sản phấm qua bên thứ ba thì bên thứ ba có trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ, tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo trong TMĐT Tố chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp thông tin sản phẩm cho NTD thông qua trang mạng thì bảo đảm cung cấp và chịu trách nhiệm về thông tin mình cung cấp liên quan tên, số điện thoại, địa chỉ, trụ sở, địa chỉ cơ sở sản xuất sản phẩm, chất lượng, chi phí giao hàng (nếu có), phương thức thanh toán, giao hàng, thời gian có hiệu lực, mức giá [22][24][15]v.v.
Như vậy, quyền được cung cấp thông tin của NTD trong TMĐT đã được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam
1.2.2 Quy định về các yếu tố thông tin sản phẩm trong TMĐT
Yếu tố thông tin sản phẩm được quy định với đặc điểm đặc trưng của sản phẩm trên nhãn hiệu (có hay không có) tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp Các yếu tố thông tin sản phẩm này được nhà sản xuất đưa ra có thể là một hoặc kết hợp một số các yếu tố sau, khi các yếu tố đó được biết đến rộng rãi và tạo được uy tín nhất định, nó bao gồm:
- Từ ngữ đặc trưng: thường là trên nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại của doanh nghiệp và màu sắc đặc trưng, hoặc âm thanh, mùi vị v.v
- Kiểu dáng công nghiệp và kiểu dáng đặc trưng của sản phẩm,
- Biếu trưng (logo): nhàn hiệu hình đặc trưng của doanh nghiệp và khấu hiệu đặc trưng (slogan), phương thức phục vụ, chăm sóc khách hàng
Có thể thấy, trong các quy định yếu tố thông tin sản phẩm trên thì biểu trưng (logo) với các nhãn hiệu hình hoặc phần hình đặc trưng cùng các từ ngữ đặc trưng của nhà sản xuất, tên sản phẩm, các thành phần sản phẩm bao gồm
cả chất phụ gia, nguồn gốc và xuất xứ sản phẩm hàng hóa được quy định cụ thế trong vãn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam theo các Luật chất lượng
27
Trang 32sản phâm, hàng hóa 05/2007/ỌH12; Luật thương mại 36/2005/QH11 (sửa đôi,
bổ sung năm 2017, 2019); Luật bảo vệ quyền lợi NTD 59/2010/QH12 Theo
đó, sản phẩm được nhận diện thông qua nhãn hàng hóa gốc, nhãn hàng hóa phụ, đóng gói, ngày sản xuất, hướng dẫn bảo quản và sử dụng v.v Yếu tố thông tin trong thông tin sản phẩm trong TMĐT được quy định trong Điều 4 Nghị định 43/2017/NĐCP về nhận diện sản phẩm thông qua nhàn hàng hóa này[26]
Như vậy, quy định về các yếu tố thông tin sản phẩm trong giao dịch TMĐT đã được các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp đầy đủ trên các trang TMĐT với nhàn hàng hóa với các thông tin về nguồn gốc và xuất xứ sản phẩm hàng hóa, cũng như các cảnh báo về sản phẩm hàng hóa cho NTD
1.2.3 Quy định thông tin về nguồn gốc sản phẩm
Nguồn gốc sản phẩm là một trong các thành tố cơ bản của thông tin sản phẩm Trên phạm vi toàn cầu, nguồn gốc sản phẩm là cụm tù’ hiện nay đang được rất nhiều người quan tâm Nguồn gốc sản phẩm bắt đầu được quan tâm nhiều khi mà NTD phải đối mặt hàng ngày với thực phẩm không sạch, mỹ phẩm giả, thuốc chừa bệnh giả, sản phẩm nông nghiệp chứa chất cấm độc hại hay dư thừa hóa chất, đồ chơi trẻ em không rồ nguồn gốc
Nguồn gốc sản phẩm, theo đúng nghĩa mặt chừ của nó, là giúp NTD tìm hiểu về thông tin nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm mà họ đã mua, từ lúc sản phẩm đang được này bán trên kệ hàng truyền thống hay trên sàn TMĐT ngược
về nơi sản xuất ban đầu, rà soát từng công đoạn trong chế biến và phân phối
Như vậy, thông tin liên quan nguồn gốc sản phấm giúp NTD biết được nguồn gốc sản xuất sản phẩm trong cả quá trình sản xuất sản phẩm đó
Quá trình tìm kiếm thông tin nguồn gốc sản phấm, theo dõi, nhận diện được một đơn vị sản phẩm qua từng công đoạn của quá trình sản xuất, chế biến, phân phối được gọi chung là “truy xuất nguồn gốc sản phẩm” TMĐT phát triển đã đang đặt ra các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc sản phẩm
28
Trang 33Quy định của Việt Nam tại Điêu 10, Điêu 12, Điêu 16 Luật Chât lượng sản phẩm, hàng hóa quy định nghĩa vụ của người sản xuất, nhập khẩu v.v về tổ chức và kiểm soát quá trình vận chuyển, lưu giữ, bảo quản hàng hóa sản phẩm
đế duy trì chất lượng; điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, các biện pháp
để duy trì chất lượng hàng hóa trong vận chuyển, lưu trữ, bảo quản Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa chưa quy định cụ thể về truy xuất nguồn gốc
Từ năm 2005, Liên minh Châu Âu quy định bắt buộc các nước thành viên truy xuất nguồn gốc sản phẩm Theo ủy ban Châu Âu, “truy xuất nguồn gốc là hoạt động giám sát, xác định một đo'n vị sản phầm, dịch vụ qua từng công đoạn theo thời gian, địa diêm của quả trình sản xuất, chế biết, lưu trữ,
thống truy xuất nguồn gốc là “hệ thống bao gồm hoạt động định danh sản
phâm, thu thập và lưu trữ thông tin về trạng thải sản phẩm theo thời gian, địa diêm nhằm quản lỷ thông tin về chất lượng và an toàn của sản phẩmCác
nước phát triển thưong mại truyền thống và TMĐT trên thế giới đều phát triển
hệ thống truy xuất nguồn gốc Hệ thống siêu thị bán lẻ ở Anh tăng cường hệ thống kiểm định này Tháng 1/2011, Hoa Kỳ ban hành Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm (FSMA - Food Safety Modernization Act), trong đó: yêu cầu tăng cường theo dõi, truy vết, lưu trữ hồ sơ đối với thực phẩm nguy cơ cao Ireland, Canada quy định nghiêm ngặt về dán nhãn mác, nhận diện sản phẩm,
cơ sở sản xuất Năm 2006 Ần Độ thiết lập và áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử GrapeNet của các nhà sản xuất, chế biến nho Năm 2010, Thái Lan ban hành chuẩn quốc gia về truy xuất nguồn gốc điện tử, xây dựng cổng thông tin truy xuất nguồn gốc điện tử, Văn phòng quốc gia về tiêu chuẩn nông sản và thực phẩm (ACFS-The National Bureau of Agricultural Commodity and Food Standards) tập huấn và hỗ trợ nông dân đăng ký dùng miễn phí
29
Trang 34Triên khai truy xuât nguôn gôc thường gặp khó ở khâu hệ thông dữ liệu Truy xuất nguồn gốc được sử dụng dưới 3 dạng là phương pháp truyền thống, phương pháp điện tử và phương pháp kết hợp của cả 2 dạng này.
Trong TMĐT, công nghệ thông tin và các thiết bị điện tử đã giúp việc cập nhật và quản lý thông tin Đặc biệt, ngoài các ứng dụng quét mã vạch chuyên dụng, nhiều mạng xã hội (có giao diện TMĐT) cũng tích hợp công cụ quét mã vạch phục vụ truy xuất dữ liệu thông tin sản phâm nội bộ và truy xuất
dữ liệu theo thông tin kết xuất mã vạch - Quick Response Code - QR Code được phát hành hoặc in lên nhãn mác sản phẩm để lưu hành trên thị trường, NTD muốn kiểm tra thông tin đó có thể dùng các ứng dụng trên phương tiện thiết bị điện tử như Smartphone để Scan (Quét) giải mã để đọc dừ liệu, thông tin về sản phẩm được lưu trữ của máy chủ ở trên
Công nghệ truy xuất nguồn gốc và các quy định liên quan truy xuất nguồn gốc có sử dụng công nghệ thông tin hiện được rất nhiều nước phát triển
áp dụng như một khâu bắt buộc phải có của sản phẩm nếu muốn đưa ra lưu thông trên thị trường
1.2.4 Quy định thông tin về xuất xứ sản phẩm
Một sản phấm khi đã hoàn thiện đế đưa ra lưu thông trên thị trường thi trở thành hàng hóa mua bán trao đổi NTD có thể tìm hiểu để xem sản phẩm được rao bán trao đổi do ai sản xuất, ở đâu v.v có phù hợp với yêu cầu hàng hóa họ đang tìm kiếm hay không Vậy, đề cập đến xuất xứ sản phẩm chính là
đề cập đến xuất xứ hàng hóa
Luật pháp các nước đều có quy định về xuất xứ hàng hóa "Xuất xứ hàng
hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thô nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thô tham gia vào
30
Trang 35quá trình sản xuât ra hàng hóa đó”[6][26][27] Như vậy, quôc gia hoặc vùng lãnh thố được công nhận xuất xứ hàng hoá thuộc 1 trong 2 trường hợp nêu trên.
Khái niệm “xuất xứ” và khái niệm “nơi sản xuất” là khác nhau mặc dù • • •xuất xứ hàng hoá và nơi sản xuất đều cho biết hàng hoá được sản xuất tại đâu
Xuất xứ và nơi sản xuất là hai khái niệm có bản chất khác nhau, không dễ phân biệt, và dễ bị nhẫm lẫn Xuất xứ hàng hoá là thuật ngữ pháp lỷ, còn nơi sản xuất là từ ngừ thông dụng chỉ khu vực sản xuất ra hàng hoá Có thế phân biệt xuất xứ và nơi sản xuất dựa vào khái niệm, bản chất và giá trị pháp lý
- Xuất xứ hàng hoá là nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất
ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cuối cùng đối với hàng hoá[6][26][27] Bản chất chứng nhận nơi xuất xứ hàng hoá để hưởng các
ưu đãi thuế quan Và giá trị pháp lý của xuất xứ hàng hóa là được cấp “Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá”, là bắt buộc phải ghi trên nhãn hàng hoá
- Nơi sản xuất là chỉ khu vực sản xuất, chế biến ra sản phẩm đó, đươc NTD xem là nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Bản chất của nơi sản xuất là cung cấp thông tin cho NTD về nơi sản xuất ra hàng hoá Nơi sản xuất không
có giá trị pháp lý, chỉ có giá trị thương mại nhằm khẳng định nơi sản xuất hàng hoá để thu hút NTD
Trên thế giới, các quốc gia đã quan tâm đến xuất xứ hàng hóa từ rất sớm
1986 đã thoả thuận rằng mục tiêu của Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Uruguay là nhằm "tự do hóa và mở rộng hơn nữa thương mại thế giới", " tăng cường vai trò của GATT" (Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch - General Agreement on Tariffs and Trade) và " nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống GATT đối với việc phát triển môi trường kinh tế quốc tế"; và tiếp tục thực hiện các mục tiêu của GATT 1994 Các quốc gia Thừa nhận rằng những quy tắc xuất xứ rõ ràng và dự đoán được trước và việc áp dụng chúng sẽ thúc đấy dòng
31
Trang 36chảy thương mại quôc tê với Mong muôn đảm bảo răng các quy tăc xuât xứ tự chúng không tạo ra trở ngại không cần thiết với thương mại;
Như vậy, xuất xứ hàng hóa là cơ sờ để áp dụng các chính sách thuế khác nhau cua các quốc gia trong hoạt động thương mại Trong khuỏn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hoặc các hiệp định thương mại tự do (FTA) đều
có quy định về ưu đãi thuế quan cho hàng hóa đáp ứng các quy tắc xuất xứ xuất nhập khẩu giữa các nước
1.2.5 Quy định thông tin về nhãn hiệu sản phẩm
Trên phương diện pháp lý, khái niệm “nhãn hiệu” được luật hóa quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam, còn “thương hiệu” thì không phải khái niệm được luật hóa
giới (WIPO) thì nhãn hiệu là “các dấu hiệu dùng để phân hiệt hàng hoá, dịch
vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khủc nhau
Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 50/2005/ỌH11 đưa ra định nghĩa nhãn hiệu “là dấu hiệu dùng đê phân hiệt hàng hóa, dịch vụ của các tô chức, cá nhân khác nhau ”[2],
trong thương mại, quảng cáo nên nó trở nên thông dụng được đa số NTD sử dụng và được cho là tương đương với “nhãn hiệu”
Như vậy, thuật ngữ “nhãn hiệu” và “thương hiệu” sử dụng trong bối cảnh khác nhau, dưới góc độ pháp lý chúng ta sử dụng “nhãn hiệu”, còn ở góc độ quản trị doanh nghiệp thường dùng thuật ngữ thương hiệu
Do đó, theo quy định của pháp luật, chỉ có “nhãn hiệu” mới là đối tượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bảo hộ thông qua việc cấp văn bằng bảo hộ hay còn gọi là giấy chứng nhận, còn “thương hiệu” được tạo nên qua quá trình xây dựng, phát triến doanh nghiệp, giúp khấng định sức cạnh
32
Trang 37tranh và giá trị của mình trên thị trường Trên nhẫn hiệu sản phăm, các thành
các câu thành thông tin sản phâm được các nhà sản xuât, các tô chức thương mại truyền thống và điện tử quan tâm nhiều nhất, đặc biệt trong thời kỳ bùng
nổ TMĐT như hiện nay Theo Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn dưới luật như Nghị định số 122/2010/NĐCP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 103/2006/NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp và một số văn bản khác thì quy địnhquy định này nhấn mạnh đến chức năng và cũng là mục đích cùa nhãn hiệu, là đế phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Xét về nội dung, có thể thấy đây là một định nghĩa mở, không có sự hạn chế các dấu hiệu
cụ thế được sử dụng làm nhãn hiệu, về mặt pháp lý, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau đều
có thế trở thành nhãn hiệu Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những thông tin hoặc nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sựkết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của nước ngoài cho thấy quy định về nhãn hiệu rất rõ ràng Theo TS Vũ Thị Phương Lan [47] pháp luật Hoa Kỳ quyđịnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu của Hoa Kỳ được điều chỉnh bởi Đạo luật Lanham (Lanham Act) Luật vê Nhãn hiệu ban hành nàm 1946 và được sửa đổi nhiều lần, gần đây nhất là ngày 7/10/2016) Trong Luật này có hai quy phạm liên quan đến định nghĩa về nhãn hiệu, nhưng chung nhất thì các yếu tố
A r F \
được công nhận trong khái niệm nhãn hiệu chỉ bao gôm những yêu tô truyên thống như tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hay sự kết họp giữa chúng mà thôi Cục Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ đề cập các đặc điểm đặc thù của NHCN [47]
mà một trong những yêu cầu quan trọng trong việc đăng ký NHCN tại Hoa Kỳ
33
Trang 38là pháp nhân xin đăng ký phải “có khả năng bảo đảm giá trị” của hàng hóa liên quan, ví dụ như NHCH ST24-ST25 đang được 4 tổ chức ở Hoa Kỳ đăng ký làm dấy lên lo ngại về việc Việt Nam mất nhãn hiệu ST24 Tuy nhiên, do quy định của pháp luật Hoa kỳ là người sở hữu NHCN phải là người đại diện cho các hàng hóa đăng kỷ NHCN vì khi người đăng ký NNHCN mà không phải là đại diện cho các hoàng hóa xin đăng ký NHCN thì có thể không bảo đảm cho việc bảo vệ lợi ích công chúng khỏi những hành vi không trung thực.
Như vậy, hiện chưa có khái niệm chung nhất cho thông tin Nhãn hiệu Sản phẩm trong TMĐT Do vậy, theo tác giả, khái niệm Thông tin Nhãn hiệu sản phẩm trong TMĐT trong luận văn này có thể hiểu là những thông tin dấu
hiệu nhận biết về sản phẩm dùng đê phân hiệt hàng hỏa, dịch vụ của các tô chức, cá nhân khác nhau trong TMĐT Do vậy, những thề hiện trong TMĐT
của nhàn hiệu sản phẩm chính là các dấu hiệu thông tin hoặc nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yểu tố đó được thề hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc với các tên gọi về nhãn hiệu như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu chứng nhân, nhãn hiệu liên kết, và nhãn hiệu nổi tiếng Trong thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu cùa các nước và quốc tế, nhãn hiệu thường được chia thành các loại khác nhau dựa trên các căn
cứ phân loại khác nhau và tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại
Thứ nhất, Nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) và Nhãn hiệu dịch vụ (NHDV)
Có hai loại nhãn hiệu là NHHH và NHDV[2] Trong luận văn này đề cập đến nhãn hiệu hàng hóa sản phẩm Sự phân biệt giữa hai loại nhãn hiệu này chỉ ở chỗ NHHH là những dấu hiệu phân biệt được gắn lên các sản phẩm là hàng hóa; còn các NHDV là những dấu hiệu phân biệt dành cho các sản phấm dịch vụ, tức là các sản phẩm vô hình do một người hay một doanh nghiệp thực hiện đế phục vụ một hay nhiều người hay doanh nghiệp khác Ngoài sự khác biệt này, NHHH và NHDV cơ bản trùng nhau về bản chất NHDV thể hiện đầy
34
Trang 39đủ chức năng biêu hiện nguôn gôc và phân biệt đôi với dịch vụ giông các chức năng tương tự’ của NHHH đối với hàng hóa và được đãng ký, gia hạn và hủy
bỏ theo cùng một cách như NHHH và được chuyển giao hoặc cấp phép sử dụng cũng theo cùng những điều kiện như NHHH
Thứ hai, Nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT)
Nhãn hiệu nổi tiếng là tên gọi của một trong các loại NHHH (quần bò Levis, đồ điện tử SOVY v.v) hay NHDV (icloud, phát chuyển nhanh v.v)
Trên thế giới, các tập đoàn lớn đã chú ý tới việc bảo hộ nhàn hiệu sản phẩm do họ sản xuất hoặc tạo ra, đặc biệt là các NHNT NHNT là một loại nhàn hiệu được xác định dựa trên cơ sở tính lản tỏa trong người dùng, được nhiều người sử dụng tin dùng và có tính phân biệt cao Nhiều NHNT ngoài giá trị phân biệt nguồn gốc sản phẩm hàng hóa còn là sự bảo đảm đối với chất lượng của sản phẩm mang NHNT nữa Tình trạng vi phạm quyền đối với NHNT diễn ra khắp nơi trên thế giới đặt ra nhu cầu bảo hộ đặc biệt hơn các nhãn hiệu thông thường Hệ thống pháp luật các quốc gia đều có các quy định
về NHNT ở các mức độ khác nhau khi phát triến công nghiệp vì phải tuân thủ Điều 6bis của Công ước Paris NHNT của thế giới đã hòa nhập môi trường thương mại toàn cầu và vào Việt Nam
Tại Việt Nam, khái niệm NHNT theo khoản 20 Điều 4 Luật SHTT 2005
NHNT là “ nhãn hiệu được người tiêu dùng biểt đên rộng rãi trên toàn lãnh
6biscủa Công ước Paris trong việc điều chỉnh NHNT nhưng chưa cụ thể bảo hộNHNT khoản 2 Điều 1 Nghị định 06/2001/NĐCP có quy định chi tiết hơn với định nghĩa chung chung vê NHNT Khoản 5 Điêu 1 Nghị định sửa đôi bô sung này đã có một quy định khá linh hoạt về nguyên tắc xác định thẩm quyền quyết định nhãn hiệu nào là NHNT : “Quyền SHCN đối với NHNTphát sinh trên cơ
sở quyết định công nhận của cơ quan nhà nước có thâm quyền ”[16].
35
Trang 40Thứ ba, Nhãn hiệu liên kêt (NHLK)
Phát triến thương mại toàn cầu của các tập đoàn lớn đã đưa một loại nhãn hiệu mới vào hệ thống pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam, đó là NHLK NHLK được hiểu ‘7ổ các nhãn hiệu tương tự với nhau và các nhãn hiệu
trùng nhau do cùng một chủ thê đãng kỷ để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau ’"[16] Luật SHTT 2005 quy định:
“Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thê đăng kỷ, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phấm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc
có liên quan với nhau” [2] Theo định nghĩa này, có hai loại NHLK.
- Loại thứ nhất là NHLK bao gồm một loạt các nhàn hiệu tương tự nhau được một chủ sở hữu đãng ký dùng cho các hàng hóa, dịch vụ cùng loại hay tương tự nhau[2] (ví dụ như nhãn hiệu liên kết của tập đoàn VINGROUP với việc đăng ký bảo hộ cho nhiều nhãn hiệu tương tự như VinDS, VINPEARL, VINMEC, VINCOM, VINHOMS, Vinpeark Discovery, Vinpearlolf)
- Loại thứ hai là NHLK bao gồm các nhãn hiệu giống hệt nhau nhưng đăng ký cho nhiều sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau[2] (ví dụ nhãn hiệu Honda có thể được đăng ký cho các loại xe máy do Honda sản xuất) Mục đích cùa loại NHLK này là cho phép chủ nhãn hiệu có thể độc quyền sử dụng một loại nhãn hiệu mà không sợ bị sao chép bởi những đối thủ cạnh tranh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt đối với một NHNT, để tránh cho NTD bị nhầm lẫn về thông tin sản phẩm khi bị gắn các nhãn hiệu tương tự hoặc gần giống với nhãn hiệu họ yêu thích cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại hay khác loại mà đối với những NHNT, chỉ cần sự sao chép tương tự cũng đã có thê gây ra sự nhầm lẫn đối với NTD và ảnh hưởng lớn tới giá trị của nó, đặc biệt trong TMĐT khi mà hình ảnh chỉ lướt qua, như việc giả mạo nhận diện các sản phẩm TMĐT của một số ngân hàng gần đây
36