Ý nghĩa của luận văn Nghiên cứu thành công đề tài: “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐUA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 10
1.1 Khái niệm quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 10• • JL • • • • • 1.1.1 Khái niệm "người bị buộc tội” 10
1.1.2 Khái niệm "lời khai chổng lại chính mình của người BBT” 13
1.1.3 Khái niệm "nhận mình có tội của người BBT” 16
1.2 Nội dung và hình thức thể hiện 20
1.2.1 Nội dung 20
1.2.2 Hình thức thê hiện 24
1.3 Cơ sở ghi nhận và ý nghĩa 26
1.3.1 Cơ sở ghi nhận 26
1.3.2 Ỷ nghĩa 28
1.4 Hậu quả pháp lý của hành vi thực hiện hoặc không thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 33
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự VỀ QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 36
Trang 22.1 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam vê quyên không buộc phải đưa
ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 36
2.1.1 Quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình theo quỵ định của pháp luật TTHS Việt Nam 36
2.1.2 Các quy định đảm bảo quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc
LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGUỜI bị buộc tội 68
3.1 Thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS Việt Nam về quyền không
buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có
tội của người bị buộc tội 68
3.1.1 Thực trạng 68
3.1.2 Nguyên nhân của nhũng hạn chế 76
3.2 Các yêu cầu và giải pháp đảm bào thi hành đúng quy định của BLTTHS
về quyền không buộc phài đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc
phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 80
3.2.1 Các yêu cầu đảm bảo thi hành đúng quy định của BLTTHS về quyền
không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình 80
3.2.2 Các giải pháp đảm bảo thi hành đủng quy định của BLTTHS về quyền
không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình của người bị buộc tội 86 KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 4DANH MỤC BẢNG
01 Bảng 1.1 Phạm vi nội dung trình bày lời khai của
Hình thức thể hiện cùa quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình của người bị buộc tội trong TTHS
26
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
ở bất kỳ lĩnh vực nào của xã hội, nhất là trong thời đại tiến bộ và hiện đại như hiệnnay Là một lĩnh vực có mối liên hệ trực tiếp đến quyền con người, tư pháp hình sự
hoạt động TTHS, quyền con người có nguy co bị xâm phạm nhất và để lại hậu quả
tụng là người BBT, bao gồm người bị bát, người bị tạm giừ, bị can, bị cáo Do đó,
quan trọng góp phần xây dựng, phát triển nền tư pháp tiến bộ, công bằng, văn minh,
hiệu lực pháp luật” và khẳng định trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thuộc
Ngoài các quy phạm đã được ghi nhận trong BLTTHS năm 2003 như quyền
trình bày lời khai; quyền bào chữa (tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa);
quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; quyền đưa ra tài liệu, đồ
thẩm quyền THTT; BLTTHS năm 2015 đà bổ sung thêm quy định quyền không
Đây là một trong nhừng điểm mới nổi bật trong quy định của BLTTHS năm 2015
về quyền của người BBT so với BLTTHS năm 2003, cũng như cả tiến trình lịch sừ
Trang 6phát triên pháp luật TTHS Việt Nam trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi
minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phụng sự nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam XHCN” Quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình
lực thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên nhằm nâng
cao trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tội phạm, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi hợp
Sự ghi nhận “quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình
luật TTHS Việt Nam Ở một khía cạnh khác, vẫn đang tồn tại sự tranh luận về quan
2015 ngay cả trước và sau khi Bộ luật có hiệu lực thi hành hoặc nhận thức đồng
Chính vì những lí lẽ trên đã đặt ra yêu cầu cần thiết để học viên lựa chọn đề tài:
2
Trang 7cũng như đảm bảo, tôn trọng và bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người BBT
trong hoạt động TTHS trên thực tiễn
2 Tình hình nghiên cún
TTHS Việt Nam Hầu hết những quốc gia ghi nhận quyền không buộc phải đưa ra
sự tự buộc tội” (The privilege against self-incrimination) Không hiếm các nghiên
tội”, có thể kể đến như: Origins of the Fifth Amendment: The privilege against self incrimination của Leonard w Levy xuất bản năm 1968; The privilege against self incrimination and Criminal justice của Andrew Choo, 2013; Silence and the privilege against self-incrimination trích trong Mục 8 Chương II tác phẩm The
Internationalisation of Criminal Evidence: Beyond the Common law and Civil law
Rights and Legitimacy: Reassesing and Reforming the privilege against self- incrimination in English law của Ian H Denis, Tạp chí luật Israel, SỐ 1-3/1997;
ở phạm vi nghiên cứu trong nước, nội dung nghiên cứu về quyền không
buộc phải • X đưa ra lời chính mình hoặc • buộc• X phải nhận• mình có tội • được• đề cập• X nhiều
trong các nghiên cứu liên quan đến quyền của người BBT và quyền bào chữa của
(người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo) trong Luật TTHS Việt Nam của
TTHS Việt Nam của ThS Đinh Hải Ninh, 2017; Bảo đảm quyền con người của người BBT trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS của tác giả Nguyễn Hừu
3
Trang 8của TS Luật sư Nguyên Trọng Hải, 2017; Có thê thây, vì là nội dung thuộc vân
nên quyền không buộc đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận
mình có tội mới chỉ dừng lại ở mức độ đề cập và phân tích sơ lược trong mối quan
hệ với quyền của người BBT cũng như quyền bào chữa của họ
quyền im lặng nhưng đã thể hiện nội hàm của quyền im lặng thì quyền này được
trên thế giới ghi nhận: Trực tiếp ghi nhận quyền im lặng cho người BBT trong Luật TTHS Việt Nam của tác giả Lê Huỳnh Tấn Duy, Tạp chí Khoa học pháp lý, số
Việt Nam cùa TS Vũ Công Giao và ThS Nguyễn Minh Tâm, Tạp chí Nhà nước và
trong TTHS của tác giả Võ Văn Tài, Tạp chí Luật học, số 11/2015; Quyền im lặng trong TTHS của ThS Nguyền Vũ Linh Giang, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
Liên quan đến tranh luận về điểm mới của Dự luật TTHS năm 2015 về
quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải chống
hiểu cho đủng nội hàm của quyền này Nội hàm của nó là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không buộc phải nhận tội, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình. Như vậy, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc• buộc phải• JL nhận• mình có tội•• mặc dù thể hiện• nội • hàm của quyền im±9/
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT với tên gọi
4
Trang 9thông dụng là quyền im lặng chưa thực sự thỏa đáng, dề gây đánh đồng, nhầm lẫn là
quyền im lặng dù về hình thức đã có sự phân biệt bằng dấu ngoặc kép (“quyền im
một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng nhưtrong áp dụng, thi hành trên thực tiễn liên quan đến “quyền im lặng” được thừanhận phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa pháp lý và mô hình TTHS Việt Nam
đưa ra lời khai chống lại chính mình, hoặc buộc phải nhận mình có tội đem lạinguồn tham khảo hết sức giá trị để tác giả của luận văn xây dựng và hoàn thiệnnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền này đúng với tên gọi pháp lý được thừa
lặng”
Kế thừa có chọn lọc những giá trị của các công trình nghiên cứu trước đây,
luận và thực tiễn về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mìnhhoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT theo quy định của pháp luật
nhận và thực thi áp dụng quyền này Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội tronghoạt động TTHS
Đe đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tiến hành giải quyếtnhững nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện một số vấn đề lý luận về quyền không
buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của
5
Trang 10người BBT như khái niệm, nội dung, hình thức thê hiện, hậu quả pháp lý cũng như
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật TTHS Việt Nam liên quan đến
quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận
mình có tội của người BBT, đồng thời phân tích, so sánh với quy định của pháp luật
mrpy TO _ s _ A ~ _ A A1 _
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành quy định của pháp luật TTHS liên quan đến
quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhậnmình có tội của người BBT trong hoạt động TTHS
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các vấn đề trên, đề xuất các giải pháp nhằm
đảm bảo thực thi đúng quy định của pháp luật TTHS về quyền không buộc phải đưa
ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cún
buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của
Đồng thời, nghiên cứu, so sánh với pháp luật TTHS quốc tế và một số nước trên thếgiới về quyền này
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận; quy định của pháp luậtTTHS Việt Nam về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình
hoặc buộc phải nhận mình có tội từ năm 2003 đến nay, trong đó có sự so sánh điểm
pháp lý về quyền của người BBT nói chung, quyền không buộc phải đưa ra lời khaichống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội nói riêng
6
Trang 115 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.7. Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đảng và nhà nước về pháp luật, cải cách tư pháp về quyền con người Từ đó khẳng
nhận mình có tội là một quyền hợp pháp, chính đáng của người BBT, góp phần bảođảm hoạt động TTHS được tiến hành đúng đắn, khách quan, quyền và lợi ích hợp
thể chế hóa quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc
Luận văn vận dụng các phương pháp tống hợp, thống kê, phân tích, đánh giá,
so sánh, của nghiên cứu khoa học pháp lý để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu ở
mỗi chương, trong đó:
- Phương pháp tống họp và phân tích tài liệu đối với các công trình nghiên
lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội làm nền tảng vững
chắc để xây dựng nên hệ thống cơ sở lý luận tại Chương 1
với quy định của pháp luật TTHS quốc tế và một số quốc gia về quyền không buộc
phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của
7
Trang 12- Phương pháp điêu tra, phân tích và đánh giá trong thực tiên thi hành quyđịnh cùa pháp luật về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình
hợp xây dựng các đề xuất nhằm bảo đảm thi hành đúng quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mìnhhoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng xuyên suốt trong luận văn thông
nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa của luận văn
Nghiên cứu thành công đề tài: “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự" sẽ góp phần cung cấp một số vấn đề lý luận có liên quan về người BBT, quyền của nhóm người này; giải quyết những bất cập phát sinh trong quy định
của pháp luật TTHS và thực tiễn thi hành nhằm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích
nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm, xây dựng nền tư pháp hiện đại vững
hoạt động TTHS Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệutham khảo cho những người nghiên cứu luật pháp hoặc hoạt động thực tiễn điều tra,truy tố, xét xử VAHS
7 Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mờ đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội
8
Trang 13Chương 2: Quy định của pháp luật tô tụng hình sự Việt Nam vê không buộc phái đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phái nhận mình có tội của người bị buộc tội
Chương 3: Thực tiền thỉ hành và các giải pháp đảm bảo thi hành đủng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội
9
Trang 14Chương 1 MỘT SỔ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA
LỜI KHAI CHÓNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH
CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 1.1 Khái niệm quyền không buộc phải đưa ra lòi khai chống lại chính mình hoặc • buộc • phải > nhận • mình có tội • của người bị buộc ” • • tội •
1.1.1, Khái niệm “người bị buộc tôi”
“Người BBT” là thuật ngữ pháp lý được ghi nhận lần đầu tiên tại khoản 1
được• • chứng minh theo trình tự luật• • định và có bản án kết tội• •của Tòa án đà có hiệulực pháp luật.” và được cụ thể hóa trong một số quy định của BLTTHS năm 2015.Theo điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015, thuật ngữ “người BBT” được giải
suy ra một số vấn đề liên quan đến nội hàm của khái niệm “người BBT” như sau:
Thứ nhất, người BBT là những người tham gia tố tụng có địa vị pháp lý khác nhau được xác định thông qua các quyết định tố tụng của cơ quan, người có thấm
quyền THTT theo từng giai đoạn TTHS khác nhau như lệnh bắt, quyết định tạmgiữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử,
lập kề từ khi có quyết định khởi tố bị can và tư cách bị cáo được xác lập kể từ khi
có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền Quyền và nghĩa vụ
tụng này
trong suốt quá trình giải quyết VAHS Chỉ đến khi cơ quan và người có thẩm quyền
10
Trang 15THTT chứng minh được tội phạm theo trình tự luật định và Tòa án có thâm quyên
thấm quyền THTT buộc phải áp dụng biện pháp ngăn chặn, cường chế theo luật
dựa trên căn cứ pháp lý cùng những tình tiết, sự vật được phản ánh khách quan trên
phạm tội do BLHS quy định Mặc dù là chủ thể BBT nhưng trong quá trình xác
định sự thật khách quan của vụ án từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử, cơ quan,
bản năm 2020 định nghĩa khái niệm “người BBT”: “ “Người BBT” là người bị cơ quan có thấm quyền áp dụng các biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm cho việc truy cứu TNHS trong bản án. ”[5, tr.86] Đồng quan niệm người BBT chỉ là người (thể
người bị xác định bởi quyết định tố tụng của cơ quan có thâm quyền với tư cách là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật khi có căn cứ cho rằng người đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, hoặc người
đỏ đã gây ra hành vi được pháp luật hình sự xác định là tội phạm và những dấu hiệu của hành vi đó được cơ quan THTTđưa ra theo thủ tục luật định. ”[22, tr.ll]
11
Trang 16Trong bài viêt “Vê người BBT theo quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2015” được đăng tải trên tạp chí điện tử Nghiên cứu lập pháp, tác giả viết:
“Người BBT là người hoặc phảp nhãn thương mại mà cơ quan, người có thẩm quyền, bằng quyết định tố tụng, xác lập tư cách của họ là người hị giữ trong trường họp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội ”[ 17] Tác giả bài viết đã lý giải rằng việc xác định người BBT là người hoặc pháp nhân thương mại còn tùy thuộc vào tư cách
hoặc bị cáo Nếu người BBT có tư cách pháp lý là người bị bắt, người bị tạm giữ thì
họ không thể là pháp nhân thương mại vì biện pháp ngăn chặn không được áp dụng
áp dụng biện pháp ngăn chặn với bị can và bị cáo
Khi xây dựng khái niệm “người BBT” tác giả luận văn theo quan điếm người
không đồng nhất Sự khác nhau của hai khái niệm này tương tự như người phạm tội
và chủ thể của tội phạm Chủ thể BBT là người hoặc pháp nhân thương mại BBT
đoạn tố tụng là người bị bắt, người bị tạm giừ, bị can hoặc bi cáo
Từ những nội dung đã được phân tích ở trên, tác giả luận văn đưa ra kháiniệm người BBT như sau:
Người BBT là người (cá nhân) có năng lực TNHS bị CO' quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tố tụng đê đảm bảo cho việc phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, truy cứu TNHS khi có đủ căn cứ theo luật định xác định người đó cỏ thế đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm Ngiỉời bị buộc tội tham gia tố tụng có địa vị pháp lý cụ thể là người bị bắt,
12
Trang 17người bị tạm giữ, bị can hoặc bị cáo được pháp luật quy định tương ứng với từng giai đoạn tố tụng nhất định.
1.1.2 Khái niệm “lời khai chống lại chính mình của người BBT"
điểm b khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015 nhằm chứng minh tội phạm, xác định
ỉ Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
b, Lời khai, lời trình bày;
những người tham gia tố tụng được cơ quan, người có thẩm quyền THTT thu thập,
khai người tố giác, báo tin về tội phạm; lời khai của người làm chứng, người chứng
kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đển vụ án và lời khai của nguyên đơn,
bị đơn dân sự được quy định từ Điều 91 đến Điều 98 BLTTHS năm 2015
Lời khai của những người
tham gia tố tụng: Cơ sở pháp lý
Phạm vi nội dung trình bày trong lòi khai
Điều 98 BLTTHS
năm 2015 Những tình tiết của vụ án
Trang 18Bảng 1.1 : Phạm vi nội dung trình bày trong lời khai cùa những người tham
Điều 92 BLTTHS
năm 2015
về tội phạm, vụ án, mối quan
đến việc tố giác, báo tin về
bị buộc tội, bị hại, người làmchứng khác và trả lời những
câu hỏi đăt • ra
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ
của mình
Điều 93 BLTTHS
năm 2015
đến việc bồi thường thiệt hại
do tội phạm gây ra
gia tô tụng
14
Trang 19Lời khai của người tham gia tô tụng khi đặt trong địa vị pháp lý cụ thê sẽ thêhiện nội dung, ý nghĩa, giá trị khác nhau và được phản ánh chủ quan dựa trên nhận
thức, ý chí của người tham gia tố tụng trong mối liên quan nhất định với VAHS
nguồn tin về tội phạm, về vụ án; Chình vì vậy, trong quá trình giải quyết VAHS,
gia tố tụng theo trình tự, thủ tục luật định Đồng thời, tiến hành đánh giá, xác minh
chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã phát hiện, thu thập được để xác định, làm rõ những vấn
pháp lý của lời khai khi được sử dụng làm căn cứ giải quyết VAHS
Trong TTHS, người BBT là những người tham gia tố tụng có địa vị pháp lý
trung tâm, là hạt nhân của chu trình tố tụng nên lời khai của nhóm người này đóng
quyền THTT trong chứng minh tội phạm và giải quyết những vấn đề khác liên quan cần làm rõ trong vụ án Vai trò quan trọng của lời khai của người BBT được thể
những tình tiết liên quan đến việc họ bị tình nghi thực hiện tội phạm hoặc nhữngtình tiết của vụ án về mặt giá trị pháp lý, chỉ những lời khai của người BBT có thật
trong vụ án Lời khai của người BBT không phải là chứng cứ duy nhất để chứng
đánh giá trong tổng thể thống nhất của vụ án, phản ánh rõ ràng tính khách quan và
liên quan với các tình tiết, chứng cứ, tài liệu khác cùa vụ án
15
Trang 20Người BBT phải chịu trách nhiệm hoàn toàn vê lời khai đã trình bày với cơ
nguy cơ bị truy cứu TNHS, bị kết án là người phạm tội Lời khai của người bị bắt,
hoặc khai báo gian dối, thậm chí là bị ép buộc
Tóm lại, lời khai chống lại chính mình của người BBT là lời trình bày được xác lập bằng miệng hoặc bằng vãn bản của những người tham gia tổ tụng có địa
vị pháp lý cụ thế là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hoặc bị cáo chửa đựng nội dung liên quan đến tình tiết, chứng cứ, tài liệu của vụ án có thê dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho người đó, khiến người BBT có nguy cơ bị truy cứu TNHS Lời khai chống lại chính mình của người BBT chỉ được coi là chứng cứ chứng minh trong VAHS khi được cơ quan, người có thâm quyền THTT thu thập, xác định theo trình tự, thủ tục luật định và phù hợp với những chứng cứ khác của vụ
án Không được dùng lời khai chống lại chính mình của người bị buộc tội làm chứng cứ duy nhất đê xác định người đó có tội.
1.1.3 Khái niệm “nhận mình có tội của người BBT"
minh tội phạm, đưa tội phạm còn ẩn nấp trong bóng tối ra ngoài ánh sáng, xác định
toàn diện, khách quan sự thật vụ án, làm rõ người BBT có tội hay vô tội Ó giai
đoạn khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử, người BBT có thể có hành vi “nhận mình
dạng hành động nói, được xác lập bàng miệng hoặc bằng văn bản Việc nhận mình
16
Trang 21có tội có thê liên trước hoặc liên sau nội dung trình bày vê diên biên thực hiện tội
phạm; bị hại; thiệt hại do hành vi mà người BBT gây ra hoặc đe dọa gây ra; thời
thực hiện tội phạm trước cơ quan, người có thẩm quyền THTT Nếu có đủ chứng cứ
hành vi thẻ hiện sự thừa nhận được xác lập hằng lời nói hoặc vãn bản của những người tham gia tổ tụng có địa vị pháp lý cụ thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hoặc bị cáo rằng người đó đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm được BLHS quỵ định là tội phạm được cơ quan, người có thâm quyền tiến hành THTT thu thập, xác định theo trĩnh tự, thù tục luật định trong quá trình giải quyết VAHS.
Ớ mồi giai đoạn của hoạt động TTHS, hành vi nhận mình có tội của người bị
buộc tội được thể hiện dưới những hình thức cụ thề như:
Người BBT chủ động tự thú, đầu thú Theo đó, người BBT đã tự nguyện
phạm bị phát hiện (đầu thú)
của những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của họ mà cơ quan điều tra đã
phát hiện, thu thập được
17
Trang 22Giai đoạn truy tô, người BBT đông ý vê tội danh và những nội dung liên
dùng để truy tố bị can trước Tòa án
Giai đoạn xét xử, người BBT trả lời những câu hỏi có nội dung là làm làm rõ
Trong lời nói sau cùng, người BBT thừa nhận tội danh trong bản luận tội của VKS
của bị can, bị cáo:
2 Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thề được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án Không được dùng lời nhận tội của bị can,
bị cáo làm chứng cứ duy nhất đê buộc tội, kết tôi.
Thứ nhất, người BBT có thể thừa nhận hoặc không thừa nhận là họ có tội
trong vụ án mà họ bị tình nghi phạm tội bởi trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc
buộc phải chứng minh là mình vô tội Trường hợp người BBT không nhận mình có
tội nhưng cơ quan, người có thấm quyền THTT có đủ các chứng cứ hợp pháp xác
truy cứu TNHS với người đó theo quy định của pháp luật
họ phải chịu mức hình phạt nặng hơn mặc dù có đù chứng cứ để xác định người đó
của vụ án không chỉ được chứng minh duy nhất bởi sự nhận tội của người đó mà là
18
Trang 23“tự nguyện” nhận mình có tội nhăm nhận tội thay cho người khác hoặc bị đe dọa,
nhân dân dần mất niềm tin vào hoạt động tư pháp nước nhà
có dấu hiệu tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm chỉ được coi là chứng cứ trong
tự, thủ tục luật định và phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án Kết quả cuối
mình có tội nhưng khuyến khích và ghi nhận thái độ tích cực hợp tác điều tra, làm
rõ tội phạm, thành khẩn khai báo, nhận tội của người BBT trong hoạt động TTHS
điểm s khoản 1 Điều 50 BLHS năm 2015 nếu người đó thực sự đã phạm tội
Từ những nghiên cứu về khái niệm “người BBT”, “lời khai chống lại chính
Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT trong TTHS là hành vi tố tụng của những người tham gia tổ tụng có địa vị pháp lý cụ thê là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hoặc bị cáo được pháp luật quy định trong quá trình giải quyết VAHS mà theo đỏ
họ được tự do ý chí trĩnh bày lời khai, trình bày ý kiến và không thê bị ép buộc, đe dọa, cưỡng bức dưới mọi hình thức trái pháp luật để phải trình bày những tình tiết,
19
Trang 24chứng cứ, tài liệu của vụ án hoặc trả lời các câu hỏi của chủ thề THTT mà người
đó cho rằng có thê dẫn đến hậu quả pháp lỵ bất lợi, khiến họ cổ nguy cơ bị truy cứu TNHS hoặc phải thừa nhận đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội• X • • • • 2 • • • •phạm mà BLHS quy định là tội phạm trong VAHS nhất định mà họ đang bị tình nghi phạm tội Sau đây gọi tắt là quyền không buộc phái lời khai tự buộc tội chính mình của người BBT trong TTHS.
1.2 Nội dung và hình thức thể hiện
1.2.1 Nội dung
chứa của quyền im lặng (The right to silence) đã được công nhận trong Luật nhânquyền quốc tế và pháp luật TTHS của nhiều nước trên thế giới Nếu tiếp cận dưới
xét xử, những người tham gia tố tụng có tư cách pháp lý cụ thể là người bị bắt,
bày lời khai, trình bày ý kiến trước cơ quan, người có thẩm quyền THTT NgườiBBT không thể bị ép buộc, cưỡng ép, đe dọa dưới mọi hình thức, biện pháp trái
pháp luật như mớm cung, bức cung, ép cung, tra tấn, dùng nhục hình, để phải đưa
ra lời khai, lời nhận tội trái với ý chí, mong muốn của người đó Đồng thời, họ có thể trình bày hoặc không trình bày những tình tiết, chứng cứ, tài liệu của vụ án cũng
như trả lời các câu hỏi của cơ quan, người có thẩm quyền THTT nếu như bản thân
họ cho rằng việc đó sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến
quyền, lợi ích hợp pháp cùa họ, khiến họ có nguy cơ bị truy cứu TNHS
quyền tuyệt đối, người BBT có thể thực hiện hoặc không thực hiện (từ bở) quyềnnày trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào ờ các giai đoạn tố tụng nếu họ cho rằng
20
Trang 25của người BBT là biêu hiện của sự chông đôi, ngoan cô, thiêu hợp tác trong quá
tội hoặc im lặng, không trình bày những tình tiết, chứng cứ, tài liệu của vụ án cũng
đến hậu quả pháp lý bất lợi cho người BBT có thể là chứng cứ chứng minh nếu được thu thập, xác định theo trình tự, thủ tục luật định và phù hợp với những chứng
chọn không thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình
nhưng cơ quan, người có thẩm quyền THTT vẫn phải tiến hành xác minh, đánh giálời khai, lời nhận tội của họ trong mối quan hệ tồng thể với toàn bộ các chứng cứcủa vụ án Không được dùng lời khai, lời nhận tội của người BBT làm chứng cứduy nhất để buộc tội, kết tội họ
của nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015) và nguyên tắc xác
hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội mà trình bày lời khai, trình bày ý kiến được ghinhận là quyền, không phải là nghĩa vụ của người BBT Do đó, họ hoàn toàn được tự
chủ, độc lập khi đưa ra lời khai và không thể bị ép buộc phải nhận tội hoặc khai báonhững tình tiết có thế gây bất lợi về mặt pháp lý cho họ Người BBT tự nguyện khai
minh tội phạm không phải thuộc về người BBT mà là chú thể THTT Lời khai, lờinhận tội cũng như sự im lặng, không nhận tội của người BBT không được coi là căn
21
Trang 26toàn bộ các chứng cứ đã được thu thập, xác minh, bao gôm các chứng cứ xác định
có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của người BBT Khi có đủ chứng cứ chứng minh người BBT đã thực
không nhận tội hoặc giữ im lặng, từ chối trả lời các câu hỏi chứa đựng nội dungchống lại chính họ của cơ quan, người THTT Ghi nhận và đảm bảo quyền không
trọng để đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội, khẳng định nguyên tắc xác định sự
thật vụ án trong hoạt động chứng minh tội phạm của TTHS
định và loại trừ quyền khai báo cũng như quyền bào chữa của người BBT Điều đó
có nghĩa là nếu người bị bắt, người bị giữ, bị can hoặc bị cáo thực hiện quyền không
buộc • X phải đưa ra lời khai tự • buộc • tội• chính mình thì họ vẫn• được thực• ••Xe/ hiện quyềntrình bày lời khai, trình bày ý kiến, quyền bào chữa (tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa) ở bất kỳ thời điếm nào trong các giai đoạn TTHS Quyền không
lặng tuyệt đối, mà nên hiểu là chỉ những tình tiết, chứng cứ hoặc những câu hỏi của
có thể gây bất lợi về mặt pháp lý, khiến họ có nguy cơ BBT, kết tội thì người đó có
thể trình bày lời khai, trình bày ý kiến đối với những tình tiết, chứng cứ hoặc những
pháp họ, làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chứng minh họ vô tội hoặc bào chừa
để giảm nhẹ TNHS Quá trình giải quyết vụ án, người BBT tích cực khai báo, sớm
trong các tình tiết giảm nhẹ TNHS mà Tòa án có thế xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với người BBT
22
Trang 27Thực hiện quyên không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình là
giao, ủy quyền cho người bào chữa của mình thay họ thực hiện quyền bào chừa,quyền khai báo nhằm tránh nguy cơ tự buộc tội chính mình hoặc khiến bản thân bị
những tình tiết, chứng cứ hoặc từ chối trả lời những câu hỏi của cơ quan, người có
thẩm quyền THTT chứa đựng nội dung gây bất lợi về mặt pháp lý cho người đó
không thể là căn cứ làm giảm hiệu quả bào chữa của họ tại phiên tòa xét xử Suy
thời không ngừng tôn trọng và bảo đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của
mình không bị hạn chế ở bất kỳ giai đoạn tổ tụng nào, cũng không phụ thuộc vào sự
quyền Nói cách khác, người BBT thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai
tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
23
Trang 28Nội hàm của quyên này đã phản ánh phạm vi tác động chỉ là lời khai, lờitrình bày cùa người BBT có nội dung chứa đựng sự tự buộc tội chính mình mà
chứng cứ, tài liệu có nguy cơ khiến người đó bị kết án là người phạm tội Quyền
hơn nội hàm của quyền tự chủ khai báo của người bị BBT Trước khi tiến hành lấy lời khai, hỏi cung trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa xét xử, người BBT phải được cơ quan, người có thẩm quyền THTT thông báo, giải
quyền này trong quá trình chứng minh tội phạm
ỉ.2.2 Hình thức thê hiện
hiện dưới hai hình thức: hành động và không hành động Nội hàm của quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình đã phản ánh hình thức thế hiện phổbiến, chủ yếu của quyền này - hình thức thể hiện dưới dạng không hành động, mà
hoặc im lặng, từ chối trả lời các câu hỏi của cơ quan, người có thẩm quyền THTT
Trong quá trình giải quyết VAHS còn cho thấy hình thức thể hiện dưới dạng
hành động là người BBT chối tội hoặc khai báo gian dối, quanh co, nửa chừng Cơ
chửng cứ khác của vụ án thì có thể bị nhầm lẫn cho ràng người BBT từ bỏ thực hiện
quyền này, tích cực hợp tác điều tra, làm rõ tội phạm, thành khấn khai báo khi
24
Trang 29người đó thực hiện quyên không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình
dưới hình thức hành động
Hình thức thể hiên • của quyền không buộc phảỉ đưa ra lòi khai tự buộc tội chính mình
- Người BBT im lặng, không thừa nhận
tôi hoăc hành • • • • ẵvi có dấu hiêu tôi pham•
mà BLHS quy định là tội phạm trong
- Người BBT chối tội, đưa ra lời khaikhắng định không thực hiện hành vi pham1 • tôi hoăc • • hành vi có dấu hiêu • •tôi
phạm mà BLHS quy định là tội phạm
trong một vụ án cụ thể mà người đó
đang bị tình nghi phạm tội;
- Người BBT không khai báo những tình
tiết, chứng cứ liên quan đến vụ án, hoặc
chứa đựng nội dung mà người đó cho
ràng có thể gây ra hậu quả pháp lý bất
- Người BBT khai báo gian dối, quanh
co, nửa chừng về những tình tiết, chứng
cứ liên quan đến vụ án hoặc đối với cáccâu hỏi của cơ quan, người có thẩm
quyền THTT có chứa đựng nội dung mà
pháp lý bất lợi, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, khiến
bản thân có nguy cơ phải chịu TNHS, bị
bi• buôc• •tôi khai báo với chủ thể THTT
những tình tiết, chứng cứ mặc dù biết rõ
vẫn cố ý thực hiện, hoặc khai báo, trả lời
không đầy đủ để trốn tránh TNHS hoặcgiảm nhẹ tội
Hậu quả
25
Trang 30Cơ quan, người có thẩm quyền THTT
không thể thu thập được thông tin tội
buôc• • tôi
thể thu thập được một số thông tin tội phạm cần xác minh, làm rõ từ lời khai,
có thể không có giá trị pháp lý, không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ
án, ảnh hưởng đến tính khách quan của các tình tiết, chứng cứ khác đã được pháthiện, thu thập trước đó
tự buộc tội chính mình của người bị buôc tội trong TTHS
1.3.1 Cơ sở ghi nhận
Trước hết, việc quy định quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội
chính mình được xây dựng xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền con người, quyền
công dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó có quyền
nhưng về mặt pháp lý họ được coi là không có tội cho đến khi được chứng minhtheo trình tự• luật định và có• • bản án kết tội của• • Tòa án đã có hiệu lực• pháp1 1 luật.• Do
phạm quyền của những người tham gia tố tụng có tư cách pháp lý cụ thể là người bị
26
Trang 31bộ phận câu thành của quyên của người BBT đê đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp
phạm này chỉ thực sự được hạn chế khi có đủ cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảoquyền của người BBT được thực hiện và tôn trọng trong toàn bộ quá trình giảiquyết VAHS Cùng với quyền bào chữa, quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến,quyền khiếu nại, thì quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính
tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của người BBT mà không thể phụ thuộc duy
phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình vừa thể hiện vừa bảo đảm giá trị pháp lý
hoạt động TTHS
Việc quy định quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình
27
Trang 32quan, người có thâm quyên THTT, không đê xảy ra oan, sai, không bở bọt tội phạm
đồng thời loại bỏ tư duy phiến diện, tiêu cực với người BBT, lạm quyền, ép buộc họphải khai báo, nhận tội dưới mọi hình thức, biện pháp trái pháp luật
Cuối cùng, quy định quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính
mình được xây dựng dựa trên cơ sở hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự
trong Luật nhân quyền quốc tế và nhiều hệ thống pháp luật TTHS trên thế giới dưới
hình thức ghi nhận trực tiếp hoặc tương tự hoặc được hàm chứa trong quyền im
tình trạng bức cung, nhục hình, trọng cung hơn trọng chứng dẫn đến oan, sai trong
pháp lý tiến bộ không thể phủ nhận của nền tư pháp hiện đại, công bằng và văn
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là cần thiết, phản ánh sự tiếp thu có
mà Việt Nam là thành viên phù họp với văn hóa, truyền thống pháp lý dân tộc, mô
của xã hội trong tương lai
1.3.2 Ỷ nghĩa
Trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến nay, vẫn tồn tại
không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình trong quy định quyền của
quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình nhưng thực tiễn
về quyền này hoặc phái sinh của quyền này là quyền im lặng hoặc đặc quyền chống
28
Trang 33lại việc tự buộc tội đã minh chứng những ý nghĩa pháp lý quan trọng mà quyên này
mang lại qua nhiều thập kỷ từ khi quyền không buộc phải đua ra lời khai tự buộc tội
quyền và lợi ích hợp pháp của người BBT trong hoạt động TTHS mà theo đó họ
việc khai báo, trình bày lời khai, trình bày ý kiến; không thể bị ép buộc đưa ra lời khai hoặc lời nhận tội khiến bản thân bị bất lợi về mặt pháp lý, có nguy cơ bị kết án
chứng cứ xác đáng chứng minh họ vô tội hoặc được giảm nhẹ TNHS Do đó, thực
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trong BLTTHS là sự thừa
giữa pháp luật TTHS Việt Nam với pháp luật TTHS quốc tế và các quốc gia phát
triển trên thế giới
một trong những nguyên nhân đó Do vậy, không thể đồng nhất, quy chụp việc
không quy định quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình là
29
Trang 34nguyên nhân dẫn đến oan, sai, bức cung, nhục hình Đồng thời, cũng không thể cho
ràng quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình không Cần thiết
chống lại sai phạm trong lĩnh vực tư pháp Bởi lể, quyền không buộc phải đưa ra lờikhai tự buộc tội chính mình là quyền tự thân của người BBT, mặc dù không phải là công cụ trực tiếp xử lý sai phạm cùa chủ thề THTT nhưng lại là một sự bảo đảm tố
hoạt động tố tụng đều phải tôn trọng, đảm bảo quyền tự chủ trình bày lời khai, trình
bày ý kiến của người BBT và không thể ép buộc người đó thừa nhận hành vi phạm tội hoặc đưa ra lời khai mà họ cho rằng có thể gây bất lợi về mặt pháp lý Từ đó, tạo
khai, xét hỏi hay tranh tụng góp phẩn đảm bảo tính minh bạch, công bằng của hoạt
nghiêm trọng như vụ án Nguyễn Thanh Chấn hay Huỳnh Văn Nén, ở một khía cạnh
tố tụng Cần thiết để không buộc phải nhận tội hoặc đưa ra lời khai gây bất lợi về mặt
thực tế người đó không thực hiện Đối với những người có thấm quyền THTT,
xuyên suốt quá trình THTT rất cần phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm chứng minh
30
Trang 35cứ xác định có tội hoặc vô tội, chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội và các tình tiêt tăng
nặng hoặc giảm nhẹ TNHS
định, nâng cao trách nhiệm chứng minh tội phạm của cơ quan, người có thẩm quyềnTHTT Đồng thời, gián tiếp yêu cầu những người hoạt động trong lĩnh vực tư phápphải không ngừng trau dồi, nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ, năng lực chuyênmôn nghiệp vụ và hoàn thiện đạo đức nghề nghiệp trong sạch, công bằng, khách
làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm cũng như không ngừng tôn trọng, bảo
trong TTHS, trong đó có người BBT Không thế phủ nhận rằng việc quy định trực
tiếp quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình ở một mức độ
nào đó sẽ là thử thách đối với những người THTT, nhưng không thể là dấu chấm
hết đưa vụ án vào ngõ cụt không thể làm rõ sự thật khách quan mà là động lực buộc
cải, chấp nhận sự trừng trị thích đáng từ luật pháp
Chù thể THTT ở mỗi giai đoạn tố tụng trước khi tiến hành lấy lời khai, hởi
ràng về quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình cho người
khai tự buộc tội chính mình là xu hướng tất yếu trong sự phát triển của nền tư pháphiện đại và chủ thể THTT phải thay đồi nhận thức, tư duy pháp lý phù họp với tiếntrình phát triển đương nhiên đó, cũng có nghĩa chủ thể THTT không thề sử dụngbiện pháp trái pháp luật như đe dọa, ép cung, mớm cung, bức cung hoặc dùng nhục
31
Trang 36biện pháp nghiệp vụ họp pháp tác động phù họp lên thái độ, tâm lý của người BBT
đề họ chủ động, tự nguyện hợp tác điều tra tội phạm, thành khẩn khai báo
Thứ tư, quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính minh là căn
bào chừa tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người BBT trong tiến trình
những cách thức của tự bào chữa nhưng lại có sự liên hệ mật thiết với quyền bào
chữa, cùng thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người BBT
lời khai, lời trình bày trước hoặc sau thời điếm người BBT thực hiện quyền này
Đôi khi, sự im lặng, từ chối trình bày hoặc trả lời từ phía người BBT chỉ được xem
nhắc trong việc khai báo hoặc tự bào chữa trước cơ quan, người có thẩm quyềnTHTT Người BBT mặc dù thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự
chữa, trình bày ý kiến đối với những tình tiết, chứng cứ hoặc các câu hỏi từ phía chủ
cứu TNHS hoặc tăng nặng TNHS Sự tham gia của người bào chữa khi người BBT
thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình là sự trợ
quyền tự bào chữa, đảm bảo thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội trong bảo vệ quyền
Nếu còn tồn tại tư duy cho rằng thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lờikhai tự buộc tội chính mình là chống đối, ngoan cố, bất hợp tác thì thực hiện quyền
tội, trốn tránh TNHS? Tương tự như quyền bào chữa, quyền không buộc phải đưa ra
32
Trang 37không ngừng của tư duy pháp lý tiên bộ đê xây dựng nên tư pháp hiện đại, công
bằng và văn minh, bảo vệ giá trị cốt lõi của TTHS - quyền con người, quyền và lợi
Người BBT thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội
phạt nặng hơn khi Tòa án quyết định hình phạt Cơ quan, người có thẩm quyền
THTT hoàn toàn có thể truy cứu TNHS đối với người BBT khi có đù các chứng cứ
nhận tội, im lặng, không trình bày hoặc từ chối trả lời các câu hỏi của chủ thể THTT
có chứa đựng nội dung mà họ cho rằng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi
lời khai tự buộc tội chính mình nhưng chứng cứ kết tội, buộc tội không đủ để chứng
chứng minh tội phạm cũng trở nên khó khăn hơn so với các vụ án khác
Trường hợp người BBT tự nguyện không thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc• • tội • chính mình mà tích cực• hợp • JL tác điều tra tội• phạm, thành1 • 'khẩn khai báo, nhận tội tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chứng minh tội phạm
33
Trang 38có thâm quyên xét xử quyêt định hình phạt Tuy nhiên, nêu người BBT bị ép buộckhông được thực hiện quyền này, hay nói cách khác họ bị ép phải khai báo, nhận tội
hình, thì lời khai, lời nhận tội của người BBT không có giá trị pháp lý để kết tội,
minh tội phạm trong trường hợp này không đảm bảo tính khách quan
Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu phát hiện có dấu hiệu của ép cung, bức
hiện hành vi ép cung, dùng nhục hình đối với người BBT sẽ bị truy cứu TNHS về
dùng nhục hình nhưng đã thực hiện hành vi tố tụng khác làm sai lệch sự thật khách
nghiêm trọng Đồng thời, Tòa án có thẩm quyền phải ra quyết định hủy bỏ bán ản kết tội trước đó, tuyên bố người bị buộc tội là không có tội và trả tự do ngay lập tứccho họ Người BBT thực hiện hay không thực hiện quyền không buộc phải đưa ra
quyết định tố tụng của mình, áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ
vô tội hoặc có tội và tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của người BBT
34
Trang 39TIÉU KÉT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền
và nhận mình có tội của người BBT; nội dung; hình thức thể hiện; cơ sở và ý nghĩa
dọa, cường bức dưới mọi hình thức trái pháp luật đế phải trình bày những tình tiết,chứng cứ, tài liệu của vụ án hoặc trả lời các câu hởi của chủ thể THTT mà người đó
TNHS hoặc phải thừa nhận đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội
nghi phạm tội
luật quốc tế và nhiều quốc gia có nền tư pháp tiến bộ trên thế giới thừa nhận và đảm
lĩnh vực tư pháp hình sự, làm thay đổi tư duy, ứng xử của chủ thể THTT với người
tội và xác định sự thật vụ án trong bảo vệ quyền con người và chứng minh tội phạm
trong hoạt động TTHS
35
Trang 40Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỔ TỤNG HÌNH sự VỀ QUYỀN KHÔNG
BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHÓNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC
BUỎC PHẢI NHÂN MÌNH CÓ TÔI CỦA NGƯỜI BI BUÔC TÔI
2.1 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về quyền không buộc phải đưa ra lòi khai chống C2T lại chính• mình hoặc• buộc phải nhận ♦ X • mình có tội của•người bị buộc tội
2.1.1 Quyền không buộc phủi đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
quan trọng đế đảm bảo thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh
bản đế bảo vệ quyền con người trong hoạt động TTHS Tuy nhiên, việc quy định trực tiếp quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình trong
BLTTHS lại trở thành một vấn đề nhạy cảm liên quan đến nguyên tắc dung hòa lợi
ích xã hội và lợi ích cá nhân trong đấu tranh phòng, chống và xử lý tội phạm Nếu quá đề cao lợi ích xã hội sẽ tất yếu xem nhẹ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
tạo điều kiện đế một bộ phận cá nhân lạm dụng, gây ra một số trở ngại nhất định đối
với chủ thể THTT trong hoạt động xác định sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ
của vụ án Quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc tội chính mình mặc dù ởmức độ nhất định nào đó sẽ là thử thách đối với chủ thể THTT nhưng không thể bị
phạm đi vào đường cùng, ngõ cụt Quyền không buộc phải đưa ra lời khai tự buộc
dân (Quyền con người theo nghĩa rộng), cũng là quyền chính đáng của những người
hoặc bị cáo phù hợp với Hiến pháp, pháp luật về bào vệ, tôn trọng quyền con người,
36