Đe tài đã phân tích góp phần làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các hội, tổ chức phi chính phủ, từ đó nêu ra một số giải pháp đối mới quản lý nhà nước về
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chính xảc, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viêt Lời cam đoan này đê nghị Khoa Luật xem xét đê tôi
có thế bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thị Hằng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biêt ơn sâu săc tới:
TS Vũ Thị Thu Quyên, người hướng dẫn khoa học đã giúp tác giả thực hiện luận văn này
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm Đe tài khoa học cấp nhà nước “Hoàn thiện quản lý nhà nước về hội, tổ chức phi chính phủ đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (Mã số: KX.01.32/16-20”) do TS Nghiêm Vũ Khải làm chủ nhiệm năm 2020 về việc đã cung cấp và cho phép học viên sử dụng các cơ sở dữ liệu của đề tài đế tham khảo trong việc thực hiện luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành với các thầy cô giáo lớp Cao học Luật về Quyền Con người khóa QH2019 đà giúp tôi lĩnh hội những kiến thức cơ bản về lĩnh vực quan trọng này
Xin trân trọng cảm ơn Khoa Luật Đại học Quốc gia đã tố chức khóa học bổ ích và lý thú, các thầy cô giáo Khoa Luật, Phòng Đào tạo và Bộ môn Luật Hiến pháp - Hành chính đã tạo điều kiện giúp đờ trong suốt thời gian khóa học và thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
rr-r ỉ _ _ • 7
Tác giá
Đỗ Thị Hằng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh muc các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VÈ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI,
CÁC TIÊU CHUẨN QUÓC TẾ VÈ TỤ DO HIỆP HỘI VÀ QUẢN
LÝ NHÀ N ƯỚC VỀ HỘI 8
1.1 Khái quát lý thuyết về hội và vốn xã hội 8
1.1.2 1.1.3 1.2. 1.2.1 1.2.2 1.2.3 1.3. 1.3.1 1.3.2 Kết luận Chuong 1 Khái niệm hội
Sự hình thành, phát triển của hội
Vai trò của hội như là một nguồn vốn xã hội
Khái quát về các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội
Khái niệm và vị trí của tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế
Nội hàm của tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế
Các yêu cầu đặt ra với việc bảo đảm tự do hiệp hội trong pháp luật quốc gia 28
Khái quát về quản lý nhà nước về hội 32
Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về hội 32
Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về hội 34
10 12 16 16 20 1.1.1 8 40 CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ HỘI Ở VIỆT NAM HIÊN NAY: NHÌN TÙ GÓC ĐÔ LÝ THUYẾT VỀ VÓN XÃ HỘI VÀ CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ Tự DO HIỆP HỘI 41
2.1 Thực trạng quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay 41
2.1.1 Khái quát sự phát triển của chính sách, pháp luật quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam 41
Trang 42.1.2 Cơ chế quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay 45
2.1.3 Những ưu điểm và hạn chế của khung pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam 49
2.2 Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về hội ờ Việt Nam hiện nay từ góc độ lý thuyết về vốn xã hội 55
2.3 Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay tù’ góc độ các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội 59
Kết luận Chương 2 65
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM,GIẢI PHÁP ĐỐI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 66
3.1 Quan điểm đổi mới quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay 66
3.1.1 Đối mới quản lý nhà nước về hội cần dựa trên nhận thức rõ ràng và sâu sắc về tính tất yếu khách quan và vai trò quan trọng của hội trong xã hội hiện đại và trong điều kiện của nước ta hiện nay 66
3.1.2 Đổi mới quản lý nhà nước về hội cần đối mới về nội dung và phương thức lãnh đạo cùa Đảng đối với các hội 67
3.1.3 Đối mới quản lý nhà nước về hội cần bảo đảm sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội 68
3.1.4 Đổi mới quản lý nhà nước về hội cần thay đổi tư duy về đối tượng và phương thức quản lý 69
3.2 Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay 70
3.2.1 Các giải pháp vĩ mô 70
3.2.2 Các giải pháp cụ thể 74
Kết luận Chương 3 88
KÉT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẲT
Tên viết tắt Tên đây đủ•X
NGO Tố chức phi chính phù (non-governmental organizations)
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
ICESCR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
OSCE ủy ban Họp tác và An ninh châu Âu
UDHR Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Lịch sử loài người là lịch sử của những sự liên kết giữa các cá nhân và nhóm
xã hội, tạo thành những cộng đồng xã hội Sự liên kết này ban đầu mang tính tự phát, xuất phát từ việc đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, về sau, nó ngày càng mang tính tự giác và có tố chức hơn
Xã hội càng phát triển thì những sự liên kết này ngày càng được mở rộng, có nội dung và hình thức sâu sắc, đa dạng và cũng ngày càng được tổ chức chặt chẽ, hình thành các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ (từ sau đây gọi tắt là “hội”)
Sự hình thành và phát triển của các hội là một phương thức cần thiết để các
cá nhân và nhóm xã hội khác nhau có thể bày tỏ tiếng nói, ý kiến của mình trước cộng đồng xã hội, tạo sự hiểu biết, hiệp thương và đồng thuận, nhằm giữ gìn sự ổn định xã hội Sự phát triển của các hội cũng tạo điều kiện để các nhà quản lý có thể lắng nghe được đầy đủ hơn, đáp ứng được tốt hơn những nhu cầu, tâm tư nguyện vọng của nhiều nhóm xã hội khác nhau, nhất là các nhóm yếu thế, các nhóm thiều
số, nhằm có được các giải pháp hợp lý để điều hòa những mâu thuẫn và xung đột xã hội Tiếng nói đồng thuận chung của các tổ chức xã hội và tổ chức dân sự sẽ giúp cho những chiến lược xây dựng và phát triền cộng đồng và quốc gia có được sức mạnh và nguồn lực lớn từ xà hội - điều mà các nhà nghiên cứu gọi là “vốn xã hội”
Ỏ góc độ luật quốc tế, tự do hiệp hội được ghi nhận và bảo vệ trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng về quyền con người như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (ƯDHR, 1948 - Điều 20), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966 - Điều 22), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xà hội và vãn hóa (ICESCR, 1966 - Điều 8), Công ước ILO số 87 về Tự do hiệp hội và Bảo vệ quyền được tổ chức CO87, 1948 - các điều 1-11), Công ước ILO số 98 về Quyền tổ chức
và đàm phán tập thể (CO98, 1949 - các điều 1-6), Công ước ILO số 135 về những đại diện của người lao động (C135- 1971)
Như vậy, kể cả từ góc độ xã hội và góc độ luật quốc tế, việc bảo đảm tự do
Trang 7hiệp hội là rất quan trọng Tuy nhiên, trong thực tiễn, do những khó khăn trong việc quản lý hoạt động của các hội nên trong thực tế ở nhiều quốc gia, nhà nuớc đã tìm cách hạn chế hoạt động của các hội, nhất là các tồ chức phi chính phủ Ví dụ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập và nhiều nước đang phát triển khác đã đưa ra một số chính sách và luật pháp nhằm hạn chế hoạt động của các hội Họ chấp nhận để “vốn
xã hội ngủ” để ngăn ngừa những sự bất ổn định xà hội
Ỏ Việt Nam, quyền lập hội của công dân đã được Hiến pháp quy định và trong thực tế Nhà nước đã tạo điều kiện cho hội hoạt động, phát triển qua việc ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động cùa các hội Chính vì vậy, kể từ Đổi mới (1986), các hội ở nước ta phát triển nhanh về số lượng, quy mô, phạm vi và tính chất hoạt động Theo Tờ trình số 578/TTr - CP ngày 27 tháng 10 năm 2015 về dự án Luật về Hội, về số lượng, tính đến tháng 12 năm 2014, cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương Một số hội đã được xác định là tổ chức chính trị - xã hội, tố chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp và 10 hội được thành lập đảng đoàn để lãnh đạo hoạt động; các hội còn lại được xác định là tố chức xã hội - nghề nghiệp, tồ chức xã hội, tổ chức xà hội - nhân đạo về cơ bản, mô hình tồ chức và hoạt động của các hội là phù hợp với quy mô, tính chất, vai trò của từng hội Nhiều hội đã phát huy tốt vai trò tập hợp, đoàn kết hội viên, có đóng góp tích cực vào việc bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên
Tuy nhiên, quản lý nhà nước về hội ở nước ta hiện vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn tới chưa phát huy hết được vai trò và tiềm nàng cùa các tố chức xã hội, chưa tận dụng hết được “vốn xã hội” Nhìn chung, “vốn xà hội” ở nước ta mới được khai thác được một phần, một phần lớn vẫn còn đang ở dạng “ngủ” Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia như hiện nay, việc đế cho
“vốn xã hội” ngủ là một sự lãng phí rất lớn Thực tế ở các nước trên thế giới cho thấy, chỉ khi phát huy được vai trò và tiềm năng của các tổ chức xã hội thì quốc gia mới có thể hưng thịnh và phát triển bền vững
2
Trang 8Từ những phân tích ở trên, có thê thây nhu câu câp thiêt cân hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về hội ở nước ta hiện nay, đế vừa bảo đảm được an ninh, trật
tự xã hội, vừa phát huy được vai trò và tiềm năng của các hội, hay nói cách khác là
sử dụng được “vốn xã hội” nhằm đẩy nhanh sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Luận văn này góp phần vào việc đó
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tại Việt Nam đã có nhiều công trinh nghiên cứu về xã hội dân sự, tổ chức xã hội trong đó tiêu biểu như sau:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: "Đổi mói quản lý nhà nước về hội, tô chức phi chính phủ ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế" do ông Nguyễn Tiến Thành, Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ làm chủ nhiệm (2016) [13] Đe tài đã phân tích góp phần làm
rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các hội, tổ chức phi chính phủ, từ đó nêu ra một số giải pháp đối mới quản lý nhà nước về hội, tổ chức phi chính phủ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện để các hội, tố chức phi chính phủ hoạt động tự nguyện, tự quản, tự chủ và phát triển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cùa đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thiêm về “Vai trỏ quản lý nhà nước đổi với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam: Lý luận
và thực tiễn" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008) [14] đã đề cập và phân tích một cách khá toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn về khái niệm, đặc điểm, nội dung quản lý nhà nước (QLNN) đối với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam từ năm 1986 đến nay Đặc biệt công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích những đặc điếm khác biệt giữa cơ chế ỌLNN đối với các tố chức chính phủ và các tổ chức phi chính phú trong và ngoài nước đang hoạt động tại Việt Nam Trên cơ sở đó, các tác giả đã nêu
ra các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả, hiệu lực QLNN đối với các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam những năm tiếp theo
- Tác giả Thang Văn Phúc (2002) với công trình nghiên cứu “Vai trỏ của các hội trong đôi mới và phát triền đất nước" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) [9] đà trình bày những nhận thức chung về hội và đặc điềm của hội ở Việt Nam; luận
3
Trang 9chứng vai trò cũa hội thông qua việc phân tích hoạt động và những thành tựu chủ yếu của một số hội, hiệp hội.
- Tác giả Lưu Văn Minh (Tạp chí Quản lý nhà nước số 183/4 - 2011) với bài
viết “ Bàn về thê chế quản lý các hội, tô chức phi chỉnh phủ của một số nước trên thế giới" đã phân tích hệ thống về thể chế quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ của các nước trên thế giới và đề xuất một số giá trị tham khảo cho việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về tồ chức và hoạt động cùa các hội ở nước ta hiện nay
- Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Ngọc về “Đôi mới phương thức quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế" (Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 3, 2011) [7] đã phân tích nhũng tác động của hội nhập quốc tế đối với công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng về kinh tế - xà hội của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua, những vấn đề khắc phục và cơ chế hành chính, giấy phép đăng ký, các thủ tục hành chính khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tố chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam vừa đảm bảo đúng thủ tục pháp lý quốc tế vừa đảm bảo được mục tiêu phát triển ồn định và bền vững của nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- PGS.TS Nguyễn Minh Phương (2016) với bài nghiên cứu “Một số vấn đề
về hội và quản lý nhà nước về hội ở nước ta hiện nay" đăng trên Tạp chí Lỷ luận chính trị số 9 [101 đã khái quát thực trạng tổ chức, hoạt động của hội ở Việt Nam từ khi xuất hiện đến nay Tác giả cũng đã đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước
về hội, đồng thời đưa ra những định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về hội
-Đặc biệt, đề tài khoa học cấp nhà nước “Hoàn thiện quản lỷ nhà nước về hội, tô chức phi chính phủ đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" (Mã số: KX.01.32/16-20” do TS Nghiêm Vũ Khải làm chủ nhiệm năm
2020 [6] đã phân tích khá toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước
về hội ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động của các tố chức
xã hội, đề tài đã đề xuất nhiều giải pháp có giá trị thực tiễn trong việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển của đất nước trong thời gian tới
4
Trang 10Bên cạnh các công trình nghiên cửu quan trọng trên, còn nhiêu nghiên cứu khác đăng trên các tạp chí như: tạp chí Triết học, tạp chí Lý luận chính trị, tạp chí Thông tin khoa học xã hội, Nhà nước và phát luật, Quản lý nhà nước cũng liên quan đến đề tài luận văn.
Như vậy, có thể thấy đề tài luận vãn không hoàn toàn mới Tuy nhiên, với cách tiếp cận liên ngành lấy luật học làm trung tâm và kết hợp với triết học, chính trị học và xã hội học, luận văn vẫn có thể cung cấp một góc nhìn phân tích mới về các vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về hội ờ nước ta hiện nay Nói cách khác,
đề tài luận văn vẫn có giá trị về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về hội ở nước ta hiện nay theo hướng vừa phù họp với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, vừa bảo đảm được an ninh, trật tự xã hội, qua đó phát huy được vai trò và tiềm năng của các hội nhằm đẩy nhanh sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Hướng đến mục đích đó, luận văn đề ra những nhiệm vụ cần giải quyết như sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam, trong đó gắn kết với lý thuyết về vốn xã hội và các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những kết quả, hạn chế dựa trên việc tham chiếu với lỷ thuyết về vốn xã hội và các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội;
- Đe xuất các quan điểm, giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay theo hướng bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội trong khi vẫn phát huy được vốn xã hội và không mâu thuẫn với các tiêu chuẩn quốc tế về
tự do hiệp hội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ chế quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay
5
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước về hội
ở Việt Nam Những vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý nhà nước về hội ở những quốc gia khác cũng có thế được phân tích, nhưng chỉ để so sánh cho việc nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam
về không gian và thời gian, đề tài nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam từ Đổi mới (1986) đến nay và tác động của nó trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình phân tích, đề tài sẽ tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam
5 Phuong pháp luận và phưong pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp luận duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin
và các lý thuyết về vốn xã hội, lý thuyết về tính phổ quát, tính không thể tước đoạt
và tính phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người là cơ sở để phân tích
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết họp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng họp, đánh giá, so sánh đề làm sáng tỏ các vấn đề trong luận văn
6. Y nghĩa lý luận, thực tiên
về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần củng cố những hiểu biết khoa học về nguồn gốc, động lực, nội dung, cơ chế tổ chức, vị trí, vai trò của các hội, cũng như cơ chế quản lý nhà nước về hội ở các quốc gia và đặc biệt là ởViệt Nam hiện nay
về mặt thực tiền, đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức hữu quan cua Việt Nam khi nghiên cứu, dự đoán, phân tích, xây dựng
và thực hiện các chính sách, văn bản pháp luật về quản lý nhà nước về hội Kết quả nghiên cứu cũng có thề sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu
về quyền con người và luật hiến pháp, luật hành chính ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội
và các cơ sở đào tạo khác
6
Trang 127 Kêt câu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 03 chương với kết cấu như sau:
Chương 1 Khái quát lý thuyết về hội và vốn xã hội, các tiêu chuẩn quốc tế
về tự do hiệp hội và quản lý nhà nước về hội
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam hiện nay: Nhìn từ góc độ lý thuyết về vốn xã hội và các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội
Chương 3. Quan diêm, giải pháp đôi mới quản lý nhà nước vê hội ở ViệtNam hiện nay
7
Trang 13Chương 1KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VÈ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI, CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÈ TỤ DO HIỆP HỘI VÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ HỘI
1.1 Khái quát lý thuyết về hội và vốn xã hội
1.1.1 Khái niệm hội
Trên thế giới hiện có nhiều định nghĩa về hội (association), nhưng theo quan điểm phổ biến thì hội là tô chức liên kết tự nguyện của những người cùng nghề nghiệp, nhu cầu, sở thích, được những người tham gia (hội viên) tin cậy, uỷ thác niềm tin của mình, và thậm chí uỷ quyền đại diện lợi ích của mình Vì vậy, hội có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tính năng động tích cực cúa quần chúng trên tất cả mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá [6]
Cũng theo quan điểm phổ biến trên thế giới, điểm khác biệt cơ bản giữa hội
và các cơ quan nhà nước thể hiện ở chỗ hội là các tồ chức “ngoài” bộ máy nhà nước, vì thế không đại diện và không được sử dụng quyền lực công Cũng chính vì thế, hội không phải thực hiện các nhiệm vụ, cũng như không được bao Cấp ngân sách hoạt động từ nhà nước Tổ chức và hoạt động của hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về tài chính, dân chủ, công khai, minh bạch, phi lợi nhuận, đề cao sự đồng thuận giữa các thành viên [6]
Trong khi đó, hội cũng khác biệt với các doanh nghiệp, thể hiện ở chỗ hoạt động của hội không nhằm mục tiêu lợi nhuận như các doanh nghiệp Mục tiêu hoạt động chủ yếu của hội là tập hợp các nhu cầu cùa cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng
để hình thành nên các nhu cầu xà hội, nhu cầu chính sách, tạo môi trường xà hội thuận lợi để hội viên, thành viên hình thành và phát triển tri thức, kỹ năng quản lý
xã hội; bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp cùa thành viên, hội viên [61
Từ những phân tích ở trên, trong phạm vi luận vàn này, tác giả sử dụng khái niệm về hội như sau: Hội là tô chức được hình thành trên cơ sở tự nguyên của công dân cùng chung mục đích, hoạt động trên nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật
8
Trang 14và điêu lệ hội; tự nguyên, tự quản; dân chủ, bình đăng, minh bạch; không vì mục đích lợi nhuận; nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên và cộng đồng, đuợc thành lập và quản lỷ theo pháp luật của Việt Nam.
Từ định nghĩa nêu trên, có thế thấy hội bao gồm cả các tô chức xã hội mà được thành lập theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam (như Hội Luật gia, Liên đoàn Luật sư, Hội Nhà báo ) và các tô chức phi chỉnh phủ - tức là các tổ chức xã hội được lập ra theo pháp luật nhưng không bắt nguồn từ sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trên thế giới hiện cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức phi chính phủ (non-governmental organizations, hay NGƠ) Dù vậy, quan điểm phố biến cho rằng tổ chức phi chính phủ cũng là nhũng hội, có tư cách pháp nhân, không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận Tố chức phi chính phủ cũng khác biệt với các cơ quan công quyền và doanh nghiệp Tuy nhiên, có quan điềm cũng cho rằng, tổ chức phi chính phủ đồng thời khác biệt với các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hay các thiết chế tôn giáo, vì các tố chức phi chính phủ chỉ hoạt động phục vụ lợi ích công cộng, không nhằm các mục tiêu tín ngưỡng, chính trị hay quyền lợi của một nhóm nhất định nào
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam hiện nay, khái niệm tổ chức phi chính phủ chỉ áp dụng đối với tố chức phi chính phú nước ngoài được cấp
có thẩm quyền cho phép hoạt động tại Việt Nam Cụ thể, Nghị định 12/2012 của Chính phủ nêu định nghĩa như sau: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài là “các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân, hoặc các hình thức tổ chức xã hội, phi lợi nhuận khác, được thành lập theo luật pháp nước ngoài, có hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại Việt Nam” Như vậy, những đặc trưng cơ bản của
tổ chức phi chính phủ nước ngoài được nêu ở trên bao gồm tính “phi lợi nhuận”, và
“hoạt động hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo” (có thể xem là các tổ chức phi chính phủ Việt Nam) Chiếu theo những đặc trưng này, hiện nước ta có khá nhiều tổ chức có những dấu hiệu tương tự, được thành lập theo các luật khác nhau và có
9
Trang 15nhiêu tên gọi khác nhau, gôm các tô chức khoa học và công nghệ (theo Luật khoa học
và công nghệ), các tố chức về giáo dục (theo Luật giáo dục), quỹ xã hội, quỹ từ thiện (theo Nghị định về quỹ xã hội, quỹ từ thiện) về bản chất, hoạt động của tổ chức này
là tương đồng với hội (nêu ở phần trên), điểm khác biệt lớn nhất là ở cơ cấu tố chức (tổ chức phi chính phủ không có hội viên (cá nhân, tập thể) như các hội)
Từ những phân tích ở phần trên, trong phạm vi luận vàn này, tác giả đề xuất khái niệm về tổ chức phi chính phủ là hội không có hội viên, thành lập trên cơ sở tự nguyện của những người cùng chung mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng, hoạt động trên nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, tôn chỉ mục đích của tố chức,
tự nguyên, tự quản, dân chủ, bình đẳng, minh bạch; không vì lợi nhuận, được thành lập và quản lý theo phảp luật của Việt Nam.
1.1.2 Sự hình thành, phát triển của hội
Liên quan đến sự hình thành và phát triển của hội, một số nghiên cứu đà đề cập đến những lý thuyết sau đây
Lý thuyết về sự bần cùng gắn liền với tên tuổi của nhà xã hội học Denton E Morrison Trong nghiên cứu của mình về hội công bố vào năm 1978, Denton E Morrison cho rằng sự hình thành các hội có nền tảng từ nhu cầu và quyền lợi của những cá nhân và nhỏm yếu thế mà đã tham gia vào các hội Nhiều người trong số
họ thường bị xem là những người bần cùng, có địa vị xã hội thấp kém và luôn cảm thấy bị tước đoạt một số quyền lợi căn bản về vật chất và tinh thần Theo cách tiếp cận của lý thuyết về sự bần cùng, các cá nhân bị rơi vào hoàn cảnh như vậy thường
có xu hướng tố chức các hoạt động thành một phong trào xã hội để cải thiện, hoặc
đế bảo vệ quyền lợi và cải thiện các điều kiện sống của họ [29]
Lý thuyết này do William Kornhauser đề xướng trong cuốn sách nhan đề The
Politics of Mass Society (Nền chính trị của xã hội đại chúng) xuất bản năm 1959 Theo lỷ thuyết này, các hội được hình thành từ các cá thế trong cộng đồng - những người cảm thấy không được coi trọng hoặc bị tách rời khỏi xã hội nơi họ đang sống
10
Trang 16William Kornhauser tin răng các hội thường cung câp cho các thành viên của nó một cảm giác được trao quyền, và hy vong làm thay đổi được địa vị xã hội của họ Điều đó đôi khi khiến cho thành viên của các hội trở nên dễ bị kích động, khiển họ
có xu hướng liên kết một cách tự nhiên với nhau thành phong trào xã hội [36]
Lý thuyết này do nhà chính trị học, xã hội học người Mỹ tên là Neil J Smelser đề xướng trong một cuốn sách xuất bản tại New York vào năm 1962, có tên là “Theory of Collective Behavior” (Lý thuyết về hành vi tập thể) Trong cuốn sách này, Neil J Smelser đã đưa ra sáu yếu tố khuyến khích các cá nhân tham gia các hội, cũng như tham gia vào việc phát triển phong trào xã hội, đó là:
- Hiện trạng xã hội có thể khiến mọi người tham gia vào các hội tin rằng xã hội của họ đang có vấn đề
- Cơ câu xã hội tạo ra sự căng thăng và không thoa mãn trong một sô đông người
- Sự gia tăng và lan rộng của các ý kiến xung quanh những giải pháp cho những vấn đề xã hội mà mọi người đang quan tâm
- Sự gia tăng của các yếu tố mang tính kết tủa sự bất mãn khiến nảy sinh một chất xúc tác (thường là tù’ một sự kiện cụ thể) để biến nó thành một phong trào xà hội
- Sự thiếu sự kiểm soát xã hội Đối với một thực thể xà hội cần thay đổi, nếu• • • • • • J S
các hội bị kiềm chế, cấu trúc của thực thế xà hội đó có thế bị phá vỡ nhanh chóng
và mạnh mẽ, và khi đó xã hội trở nên bị mât kiêm soát
- Sự huy động Đây là thành phân tô chức thực sự, tập trung các nguôn lực, đây mạnh phong trào và lôi cuốn mọi người tham gia, dẫn tới phá vỡ cấu trúc xã hội
Lý thuyết này được đưa ra lần đầu trong tác phẩm “Hành vi tập thể” của hai nhà xã hội học là Turner, L và Killian (1972), trong đó hai ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn lực với sự mở rộng, phát triển và thành công của các hội
và phong trào xã hội [27] Nguồn lực ở đây được hiểu rất rộng, bao gồm: kiến thức, tiền bạc, phương tiện truyền thông, sự cần mẫn trong công việc, tình đoàn kết, tính hợp pháp, và sự hỗ trợ từ trong nội bộ cũng như từ bên ngoài từ tầng lớp quyền
11
Trang 17lực Lý thuyêt này cũng cho răng các hội và phong trào xà hội phát triên khi các tô chức và cá nhân có thế huy động đủ nguồn lực để hành động Giải thích tại sao một
số cá nhân ở trong hoàn cảnh bần cùng, thiếu thốn vẫn có thể huy động được các nguồn lực, lý thuyết này nhấn mạnh tới khả năng huy động nguồn lực ngay cả đối với các hội yếu thế nếu nó biết cách khai thác tâm lý của xã hội [28]
Lý thuyết huy động nguồn lực cũng cho thấy khả năng hoạt động vận động
xã hội là hết sức mạnh mẽ nếu nó tạo được sự gắn kết giữa nhũng người cùng có những mối quan tâm và nhu cầu chung [28] Thông qua phát hiện này, lý thuyết về huy động nguồn lực gợi mở rất nhiều vấn đề xung quanh nội dung và phương thức hoạt động của các hội, những nguyên nhân khiến các tổ chức này có thể mở rộng phạm vi theo kiểu “vết dầu loang”, gây ảnh hưởng lớn đối với xã hội
Tóm lại, từ những lý thuyết nêu trên, có thể thấy sự hình thành, phát triển của các hội là có nguyên nhân nội sinh từ bản chất của con người (là động vật xã hội) và bản chất của xã hội loài người Việc các hội hình thành, phát triển là tất yếu, khách quan, không thể dùng ý chí hay quyền lực cùa nhà nước hay cùa một cá nhân,
tổ chức nào khác để ngăn ngừa hay cấm cản Thay vào đó, chỉ có thể điều chỉnh để việc thành lập các hội diễn ra trong trật tự và an toàn, và hoạt động của các hội có
sự cân bằng giữa lợi ích của hội và lợi ích cùa các thành viên, giữa lợi ích của hội
và lợi ích của cộng đồng, quốc gia, dân tộc và nhân loại
/ 1.3 Vai trò của hội như là một nguồn vốn xã hội
Khái niệm von xã hội• •
vốn xã hội (social capital) được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác như vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn con người Khái niệm vốn xã hội (social capital) đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ ở Việt Nam Phần lớn các học giả cho rằng L.J Hanifan (một quan sát viên quốc gia các trường học vùng nông thôn ở Tây Virginia - Mỹ) là người đầu tiên đưa ra khái niệm thuật ngữ này vào năm 1916 và từ những năm 1980 trở lại đây thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội quan tâm nhiều hơn và trở nên phổ biến hơn Theo Hanifan: “Vốn xã hội là những giá trị
12
Trang 18vô hình được tích lũy trong đời sông hàng ngày của con người, như thiện chí, sự đoàn kết, sự đồng cảm, quan hệ xã hội giữa các cá nhân và cộng đồng tạo nên một chỉnh thể xã hội Mỗi cá nhân sè trở nên lạc lõng nếu làm việc đơn độc Nhung nếu
họ giao tiếp với những người xung quanh, nhũng giá trị xã hội sẽ được tích lũy, nó
sẽ mang lại lợi ích cho cá nhân mỗi người cũng như cho xà hội và cải thiện đáng kế chất lượng cuộc sống của toàn cộng đồng”
Đến hiện tại, có nhiều chuyên gia, học giả cả trong và ngoài nước đưa ra nhũng khái niệm khác nhau về vốn xã hội nhung thực tế chưa có sự thống nhất về khái niệm này Song từ những điếm chung trong các khái niệm mà các học giả đưa
ra, tác giả bài viết xin được đưa ra khái niệm của riêng mình Có thể hiểu một cách đơn giả nhất, vốn xã hội là nguồn lực tạo liên kết, các giá trị được chia sẻ và hiểu biết trong xã hội cho phép các cá nhân, các nhóm/tô chức tin tưởng lẫn nhau và làm việc cùng nhau, giải quyết các việc chung và phát triển lan tỏa Nó được tạo
ra thông qua việc phát triển các quan hệ xã hội hay mạng lưới xã hội và các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích vốn xã hội cung cấp chất gắn kết tạo thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi và đổi mới Nó có thể đem lại lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế và được đo lường bằng các yếu tố “vô hình”, yếu
tố phi vật chất
Vai trò của hội như là một nguồn vốn xã hội
Nhiều công trinh nghiên cứu gần đây đã chứng minh vai trò to lớn của các hội với cộng đồng và quốc gia, dân tộc, từ đó cổ vũ quan điểm xem các hội như là một “nguồn vốn xã hội”, và nhiệm vụ của các nhà nước là khai thác, sử dụng nguồn vốn này phục vụ sự phát triến của xã hội
Cụ thế, các tác giả Rupasingha A, Goetz SJ, Freshwater D trong một bài báo
có tên là "Sản phẩm vốn xã hội ở nước Mỹ” công bố trên tạp chí “The Journal of Socio-economics” vào năm 2006 cho ràng các hội được hình thành không phải chỉ
là để tụ tập, hội hè đình đám, để tổ chức uống rượu và đi du ngoạn, mà là nơi giúp các cá nhân và nhóm liên kết lại, nói lên tiếng nói của mình Các hội một mặt là phương tiện giúp cho các cá nhân và nhóm tránh được trạng thái biệt lập, mặt khác
13
Trang 19cho phép các cá nhân thực hiện những hoạt động tương tác, tạo ra sức mạnh chung cùa cộng đồng Các cá nhân, thông qua những hoạt động trong tố chức hội, có thể khai thác sức mạnh chung này như khai thác một nguồn vốn Từ cách tiếp cận đó, các tác giả nhấn mạnh rằng trong xã hội hiện đại, cần xem các hội như một nguồn vốn xã hội và cần khai thác, sử dụng nguồn vốn đó để giúp các cá nhân vượt qua các trở ngại và phát triển năng lực của bản thân họ [391.
Cũng có quan điểm xem các hội như là một nguồn vốn xã hội, Mahyar Arefi [19] cho ràng điều quan trọng nhất để huy động được nguồn vốn này là yếu tố
đồng thuận Đồng thuận đóng vai trò là một chỉ số tích cực trực tiếp của vốn xã hội Ở đây, đồng thuận có hàm ý là "sự quan tâm chung” - hay sự thoả thuận giữa các thành viên để tạo thành hành động tập thể, thành sức mạnh chung Bởi vậy, theo Mahyar Arefi, hành động tập thể trong một hội là một chỉ số đế đo lường mức độ của vốn xà hội
Tương tự, theo phân tích của các tác giả Paul van Seeters và Paul James, thì với tính chất là một sự hỗ trợ xã hội đắc lực cho cá nhân, các hội có thể tồn tại, mở rộng và bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của con người Nó khiến cho một cá nhân
có thể sẽ là thành viên của đồng thời nhiều hội và liên hiệp hội Sự chọn lựa tham gia vào các hội nhìn chung là mang đến nhừng nguồn lực tốt cho các cá nhân và cộng đồng, và do vậy, theo Paul van Seeters và Paul James, thì về hình thức, người nào càng tích cực tham gia vào nhiều hội, người đó sẽ có nguồn vốn xã hội càng lớn Đây chính là điểm cần nhấn mạnh khi nói đến vị trí và vai trò của các hội.• • •
Tiếp tục mở rộng những quan điểm của các tác giả nêu trên, Edwards và Foley, trong một ấn bản đặc biệt có tên là Nhà khoa học Hành vi Hoa Kỳ, đã phân tích sâu sự gắn kết giữa những vấn đề mà các ông nêu lên là "Vốn xã hội, Xã hội Dân sự và Nen dân chủ đương đại", từ đó đưa ra hai nhận định quan trọng trong nghiên cứu về vốn xã hội đó là:
Thứ nhất, giống như các hình thức vốn khác, vốn xã hội không có sằn cho tất
cả mọi người Nó phụ thuộc rất nhiều vào những điều kiện khách quan về địa lỷ và
xã hội, cũng như điều kiện chủ quan về khả năng tham gia của từng cá nhân vào
14
Trang 20mạng lưới xã hội Điêu kiện khách quan lý tưởng cho việc phát huy vôn xã hội là một xã hội dân chù và phát triển, nơi mà mọi cá nhân có thể tham gia vào các hội một cách dễ dàng, về điều kiện chủ quan, trình độ văn hoá và khả năng tài chính của một cá nhân là những yếu tố thuận lợi cho việc tham gia vào các hội.
Thứ hai, không phải tất cả vốn xã hội đều được tạo ra như nhau Giá trị của một nguồn vốn xã hội cụ thể phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh kinh tế, xã hội ở nơi sinh sống, và vị thế, vai trò của các cá nhân trong cộng đồng - những điều tác động đến khả năng tham gia rộng rãi của cá nhân vào các hội
Đối với một quốc gia, việc phát huy vốn xà hội liên quan đến sự thành công của nền dân chủ và sự tham gia chính trị của người dân về vấn đề này, nhà khoa học chính trị nối tiếng, giáo sư trường Harvard là Robert D Putnam trong cuốn sách
”Sự sụp đô và hồi phục của cộng đồng người Mỹ” xuất bản nãm 2000 đã đưa ra nhận xét rằng, việc không chú trọng huy động vốn xã hội gắn liền với sự suy giảm gần đây về sự tham gia chính trị của người dân Mỹ Từ các nghiên cứu thực nghiệm của mình, Putnam nhận thấy khi người dân ít tham gia vào các hội, thì đồng thời họ cũng không có khả năng mở rộng sự liên kết đế thực hiện điều mà ông gọi là “bắc
cầu vốn xã hội ”.
Cũng từ những nghiên cứu của mình, Putnam đà đưa ra một lý thuyêt nôi tiếng có tên là “Zý thuyết về vốn xã hội ngủ ”, trong đó ông khắng định rằng việc hạn chế hoạt động của các hội có thề khiến cho xã hội trở nên trì trệ, chậm phát triến Việc để cho vốn xã hội “ngủ” cũng giống như điều mà các nhà kinh tế học vẫn thường gọi là để vốn [tư bản] trong trạng thái “vốn chết” vậy [31]
Chịu ảnh hưởng của R Putnam, Paul van Seeters và Paul James cho rằng nước nào có nhiều hội và quản lý, phát huy tốt vai trò của các hội thì nước đó sẽ có được những nguồn vốn xã hội lớn Các ông cho rằng, sự tồn tại của các hội thường gắn liền với nhừng đặc trưng riêng của mỗi quốc gia, nhưng tự bản thân chúng luôn
là thước đo sự tiến bộ và tiềm năng của mồi quốc gia đó vấn đề là ở chỗ, cần phải nhận biết tầm quan trọng và khắc phục được những mặt hạn chế của của các hội đế một mặt không để các hội “ngủ” (trở thành “vốn chết”), mặt khác cũng không để
sự hoạt động của các hội tạo ra bất ổn cho xã hội.• 9 9 9 9 9
15
Trang 21Ở khía cạnh thứ hai nêu trên, nhà xã hội học Mỹ Portes, A trong một bài viết nhan đề Social Capital: its origins and applications in modern sociology (Vốn xã hội: Nguồn gốc và ứng dụng của nó trong xã hội học hiện đại) công bố vào năm
1998, bên cạnh việc nêu lên những nhân tố có thể giúp nâng cao vốn xã hội của hội, cũng xác định một số hậu quả tiêu cực có thề phát sinh đối với các thành viên và với
xã hội nếu như hội không được tồ chức và quản lý phù hợp, đó là: sự khép kín, loại trừ người ngoài nhóm; hạn chế về sự tự do cá nhân, bao gồm cả sự tự do trình bày ý kiến trong nhóm; và quan điểm cực đoan gây rối loạn cộng đồng [33]
Từ những lý thuyết trên, có thề khẳng định hội có vai trò đặc biệt quan trọng với sự tồn tại và phát triển cùa các cộng đồng và các quốc gia Mặc dù vậy, hội cũng đồng thời tiềm ẩn những rủi ro với an ninh, trật tự xã hội ở nhũng nơi nó được thành lập và hoạt động Bởi vậy, việc tôn trọng, bảo vệ tự do hiệp hội là cần thiết, song đồng thời cũng cần đặt hội dưới sự quản lý của nhà nước, và dưới sự chế ước của pháp luật
1.2 Khái quát về các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội
1.2.1 Khái niệm và vị trí của tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế
Tự do hiệp hội (hay ‘"quyền tự do hiệp hội” - freedom of association) là một trong những quyền con người cơ bản được thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc tế và hiến pháp của hầu hết quốc gia Nội hàm cơ bản của tự do hiệp hội được
đề cập trong Điều 20 ƯDHR, theo đó, mọi người đều có quyền hội họp hòa bình và
tự do hiệp hội; không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào Nguyên tắc cơ bản đó của tự do hiệp hội đã tiếp tục được khẳng định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế sau này
Tự do hiệp hội được ghi nhận và bảo vệ trong rất nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền, cụ thể như sau:
- Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR 1948 - Điều 20);
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966 - Điều 22);
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1CESCR 1966 - Điều 8);
16
Trang 22- Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC 1989 - Điều 15);
- Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của tất cả người lao động di trú và các thành viên gia đình họ (ICRMW 1990 - Điều 26)
- Công ước quôc tê vê bảo vệ tât cả mọi người khỏi bị đưa đi mât tích(ICPPED 2006);
- Công ước về quyền của người khuyết tật (ICRPD 2006 - Điều 29);
- Tuyên ngôn về những người bảo vệ nhân quyền (Tuyên ngôn về quyền
và trách nhiệm của các cá nhân, các nhóm, các tố chức trong xã hội nhằm thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản đã được toàn thế giới công nhận, 1998 - Điều 5);
- Công ước ILO số 87 về Tự do hiệp hội và Bảo vệ quyền được tổ chức C.O87, 1948-các điều 1-11);
- Công ước ILO số 98 về Quyền tồ chức và đàm phán tập thể (C.O98, 1949
- các điều 1-6);
- Công ước ILO số 135 về những đại diện cùa người lao động (C 135, 1971).Ngoài ra, tự do hiệp hội còn được quy định trong những văn kiện pháp lý quan trọng của các cơ chế nhân quyền khu vực, ví dụ:
- Tuyên ngôn châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người (1948 - Điều 22);
- Công ước nhân quyên châu Mỹ (ACHR 1969 - Điêu 16);
- Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền của các dân tộc(AfCHPR 1981 - Điều 10);
Hiến chương châu Phi về quyền và phúc lợi của trẻ em (ACRWC 1990 Điều 8);
Công ước nhân quyên châu Au (ECHR 1950 - Điêu 11);
- Hiến chương Xã hội châu Âu (ESC 1961 - Phần 1 mục 5);
17
Trang 23- Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu (CFREU 2000 - Điều 12);
- Công ước khung vê bảo vệ các nhóm thiêu sô quôc gia cùa Hội đồng châu
Au (CFNM 1995 - Điêu 7 và 8);
- Hiên chương A Rập vê quyên con người (ACHR 2004 - Điêu 24);
Trong luật nhân quyền quốc tế, tự do hiệp hội có ý nghĩa rất to lớn và về nhiều mặt, cụ thể như sau:
Thứ nhãt, tự do hiệp hội là một trong những yêu tô nên tảng cho một xã hội dân chủ
Theo luật nhân quyên quôc tê, quyên tự do trong việc liên kêt thành các nhóm theo lựa chọn của cá nhân để theo đuổi các mục tiêu và quyền lợi chung của
họ là đặc điểm cần thiết trong một xã hội dân chú Tự do hiệp hội công nhận các nguồn đa dạng về tổ chức, bao gồm các đảng phái chính trị, các NGOs, các tổ chức tôn giáo, các nghiệp đoàn và các tổ chức khác Vai trò quan trọng của các tổ chức này trong nền dân chủ đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế Chẳng hạn, Vãn kiện Copenhagen 1990 (Văn kiện của Hội nghị Copenhagen về các chiều hướng phát triển con người cùa ủy ban Hợp tác và An ninh châu Âu - OSCE), đoạn
26, đã nêu rõ, nền dân chủ mạnh mẽ phụ thuộc vào sự tồn tại, như một phần không thể thiếu trong đời sống quốc gia, cùa các giá trị và thực tiễn dân chủ, cũng như sự
đa dạng của các thể chế dân chủ
Theo Tòa án Nhân quyền châu Âu, tình trạng dân chú của một quốc gia có thể được đánh giá theo cách thức mà tự do hiệp hội được bảo đảm theo luật pháp của quốc gia đó và cách thức mà chính quyền áp dụng quyền này trên thực tế Trong khi đó, ủy ban Venice cũng cho rằng cách thức mà pháp luật quốc gia quy định về
tự do hiệp hội và việc áp dụng quyền này trên thực tế của các nhà chức trách phản ánh tinh trạng dân chủ trong quốc gia đó [36]
Thứ hai, tự do hiệp hội là phương tiện quan trọng đê thực thi các quyền con người khác
Tuyên bố của Liên Họp Quốc về quyền và trách nhiệm cùa các cá nhân, nhóm, tố chức trong xã hội trong việc thúc đấy và bảo vệ các quyền con người và tự
18
Trang 24do cơ bản đã được công nhận toàn câu (hay còn gọi là Tuyên bô vê những người bảo vệ nhân quyền, 1999) khẳng định: để thúc đẩy vào bảo vệ các quyền con người
và tự do cơ bản, mọi người phải có tự do hiệp hội ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế
Đó là bởi thông qua việc thành lập và hoạt động cùa các hội, các cá nhân có thể liên kết lại để thực hành và bảo vệ các quyền cơ bản như: quyền sống, quyền an toàn về thân thể, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do đi lại Việc tham gia các hội nghề nghiệp cũng như các tổ chức cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, các
tổ chức tù’ thiện góp phần thúc đấy và thực hiện các quyền kinh tế, xà hội, văn hóa Việc tham gia thành lập hoặc gia nhập các tố chức công đoàn giúp người lao động có cơ hội tốt hơn trong việc bảo vệ các quyền lao động cơ bản, chẳng hạn, quyền có việc làm chính đáng, quyền làm việc trong môi trường an toàn, cơ hội bình đắng về phúc lợi và khả năng phát triến, cải thiện điều kiện làm việc, tiền lương, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Tự do hiệp hội cũng giúp các cá nhân thực hành các quyền chính trị cơ bản như quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia vào các hoạt động công Tự do hiệp hội đặc biệt càng có ý nghĩa đối với các nhóm thiếu số về dân tộc, sắc tộc, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người sống chung với HIV/AIDS, các nhóm LGBTI, lao động nhập cư ) nhằm giúp họ chống lại sự phân biệt đối xử hoặc kỳ thị, hoặc để thực hành và bảo vệ các quyền của mình trong bối cảnh tiếng nói và vị thế bất lợi của họ dề bị khiến cho các quyền của họ bị xâm phạm nhiều nhất
Thứ ha, tự do hiệp hội có tỉnh liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau với các quyền khác
Các quyền con người mang tính phổ quát, không thể chuyển nhượng, không thế phân chia và có tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau Do đỏ, tự do hiệp hội có mối quan hệ mật thiết với rất nhiều quyền, trong đó có thể kể đến: quyền tự do biểu đạt
và ngôn luận, quyền tự do hội họp hòa bình, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền không bị phân biệt đối xử, quyền về tài sản, quyền có biện pháp khắc phục hiệu quả, quyền được xét xử công bằng, quyền tự do đi lại và quyền riêng tư và bảo vệ
dữ liệu, quyền cho các thành viên công đoàn được đình công
19
Trang 25Trong sô các quyên và tự do nêu trên, tự do hiệp hội có môi quan hệ mật thiết nhất với tự do hội họp và tự do ngôn luận Không thế có tự do hội họp và hiệp hội nếu không có tự do ngôn luận Ngược lại, tụ’ do ngôn luận sẽ được đảm bảo một cách hiệu quả thông qua việc thực thi tự do hội họp và hiệp hội Ngoài ra, theo ủy ban Venice, tự do hiệp hội còn gắn kết với các quyền tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo, ngôn luận và biểu đạt Người ta sẽ không thể bảo vệ các quyền cá nhân nếu công dân không thể tổ chức tập hợp dựa trên các nhu cầu và lợi ích chung và lên tiếng cho các vấn đề đó một cách công khai [36] OSCE/ODIHR và ủy ban Venice nhấn mạnh, tự do hiệp hội phải được ghi nhận như một công cụ để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân có thể được thụ hưởng đầy đủ quyền tự do biểu đạt và tự do ngôn luận của mình, bất kế là họ thực hành quyền đó một cách riêng lẻ hay qua hành động tập thề Cách tiếp cận này cũng được Tòa án nhân quyền liên châu Mỹ ủng hộ, thể hiện qua các phán quyết của tòa trong các vụ kiện liên quan đến các chính phủ quốc gia châu
Mỹ, chẳng hạn vụ García và các thành viên gia đình kiện Guatemala (2012) [32].
1.2.2 Nội hàm của tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế
Điều 22 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy định về tự do hiệp hội trong Điều 20 UDHR, trong đó nêu rõ: Mọi người có tự do hiệp hội với những người khác, kế cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình Như
vậy, có thể thấy tự do hiệp hội bao gồm hai khía cạnh chính: (i) Thành lập các hội mới, hoặc gia nhập các hội sẵn có; (ii) tự do hoạt động, điều hành hội, bao gồm việc tìm kiếm, huy động các nguồn lực để thực hiện các mục đích đã đặt ra
ỉ.2.2 ĩ Quyền thành lập và gia nhập hội
Nội dung chủ yếu của tự do hiệp hội là quyền thành lập và gia nhập các hội, tức là quyền tự do nói chung của cá nhân trong việc liên kết với các nhóm theo lựa chọn Các quyền này được ghi nhận trong cả hai công ước nhân quyền quốc tế quan trọng nhất là ĨCCPR (Điều 22) và ĨCESCR (Điều 8), bao gồm cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn đế bảo vệ lợi ích của bản thân với tư cách là người lao động hoặc người sử dụng lao động Ngoài ra, Công ước quốc tế về tự do hiệp hội và bảo
vệ quyền tổ chức của Tổ chức Lao động Quốc tế 1948 (Công ước ILO 87) cũng xác
20
Trang 26định mọi người lao động và người sử dụng lao động đêu có quyên thành lập và gia nhập các tồ chức do họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước.
về chủ thể của quyền, Điều 22 ICCPR ghi nhận tất cả mọi người đều được hưởng tự do hiệp hội Điều đó có nghĩa là chủ thể của quyền này không bị giới hạn
ở công dân, mà còn bao gồm cả người nước ngoài và người không quốc tịch đang sinh sống hợp pháp ở một quốc gia [51 Cách hiểu này tương thích với quy định của Điều 2 ICCPR về không phân biệt đối xử và các Nghị quyết 15/21, 21/16, 24/5 của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc Ví dụ, Nghị quyết 24/5 nhắc nhở các quốc gia
về nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ các quyền của tất cả cá nhân được tụ họp ôn hòa và liên kết tự do trên mạng Internet cũng như ngoài đời thực, kể cả trong các bối cảnh bầu cử, bao gồm những người có quan điềm hoặc niềm tin thuộc nhóm thiểu số hoặc bất đồng đang tìm cách thực hành hoặc thúc đẩy các quyền đó [5] Các báo cáo cùa chuyên gia Liên Hợp Quốc nêu rõ: luật pháp của các quốc gia không nên áp đặt bất cứ giới hạn cụ thể nào đối với các cá nhân, bao gồm trẻ em, người nước ngoài, các nhóm thiểu số về ngôn ngữ hoặc sắc tộc, các cá nhân đồng giới, song giới, chuyến giới, lường giới, phụ nữ trong việc thụ hưởng các quyền tự do hội họp
và tự do hiệp hội [38] Ngoài ra, tự do hiệp hội cũng mở rộng cho chính bản thân các tổ chức hợp pháp, ví dụ, hai hội quyết định lập thành một tổ chức [36]
Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền thành lập và gia nhập hội bao hàm cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của người lao động (Điều 22 1CCPR, Điều 8 ICESCR) Mọi người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nháp các tố chức do họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước (Điều 2 Công ước ILO số 87 về tự do hiệp hội và bảo
vệ quyền tổ chức, 1948)
về thủ tục thành lập hội, tự do hiệp hội bảo vệ các hội một cách công bằng, không phân biệt hội có đăng ký và không đăng ký Các cá nhân tham gia các hội không đăng ký cũng được tự do tiến hành bất cứ hoạt động hợp pháp nào, bao gồm quyền tố chức và tham gia vào các cuộc tập hợp/tụ họp một cách ồn hòa, và không
bị coi là những hành vi phạm tội theo pháp luật hình sự [38]
21
Trang 27Theo luật nhân quyên quôc tê, việc các chính phủ đòi hỏi một sô loại thú tục đăng ký nhất định đế thành lập một hội có tu cách pháp nhân là chấp nhận được, nhưng quan trọng là các nhân viên nhà nước phải hành động một cách thiện chí, nhanh chóng kịp thời và không phân biệt đối xử về vấn đề này, Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc cho rằng, các thủ tục đăng ký thành lập hội phải đơn giản, không
quan tư pháp để xem xét hành động của một cơ quan nhà nước mà từ chối cho phép phiền hà, và thậm chí là miễn phí [38] Một số ví dụ tốt về thủ tục đăng ký lập hội có thể kế đến như Bulgary (không mất phí), Nhật Bản (thủ tục nhanh chóng, nộp qua mạng Internet) Chuyên gia LHQ cũng đề xuất việc đăng ký không nên được xem là hoạt động xin cấp phép, nói cách khác, nên áp dụng “thủ tục thông báo” hơn là “thủ tục cho phép trước” để thành lập một tổ chức [38]
Với thủ tục thông báo, các hội sẽ tự động được trao tư cách pháp nhân khi nhà chức trách nhận được thông báo từ các sáng lập viên về việc hội đó đã được thành lập Tuy nhiên, việc thông báo không phải là điều kiện bắt buộc cho sự tồn tại của một hội [38] Nói cách khác, những hội không đăng ký hoặc thông báo thì vẫn
có quyền hoạt động, chỉ có điều là không có tư cách pháp nhân Việc thông báo là
để các cơ quan thống kê có thông tin về hội Hệ thống thông báo này được áp dụng
ở nhiều quốc gia như Djibouti, Maroc, Bồ Đào Nha, Senegal, Thụy Sĩ, Uruguay Ngoài ra, khi có luật mới được thông qua thì không nên yêu cầu các hội đã đăng ký trước đó phải đăng ký lại [38J
Các thù tục đăng ký hoặc thông báo đều cần phải thực hiện nhanh chóng Pháp luật cần đặt ra giới hạn thời gian ngắn cho việc phúc đáp hồ sơ đăng ký, buộc các cơ quan phụ trách việc đăng ký phải hành động, không thề trì hoãn việc đãng ký hội vô thời hạn hoặc từ chối không nêu lý do Trong thời gian này, các hội được giả định là sẽ được hoạt động hợp pháp trừ phi có chứng minh điều ngược lại Việc không đưa ra phúc đáp trong một giới hạn thời gian ngắn đã được quy định đồng nghĩa với giả định ràng hội đang hoạt động hợp pháp [38] Quyết định từ chối việc đăng ký cần phải có nêu rõ lý do và thông báo rõ bằng văn bản Các hội bị từ chối
22
Trang 28đơn có thê khiêu nại, khiêu kiện trước một tòa án độc lập, không thiên vị [38] Uy ban về tự do hiệp hội của ILO cho rằng việc không thế đưa ra trước cơ thành lập một công đoàn là vi phạm các nguyên tắc tự do hiệp hội [38].
Theo Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ đầy đủ quyền hiệp hội cả trong đời sống thực cũng như trên mạng trực tuyến (Nghị quyết 24/5) Mạng Internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội, các công nghệ thông tin và truyền thông khác là những công cụ quan trọng hỗ trợ
tự do hiệp hội trong đời sống thực, và mọi người đều có quyền liên kết trong các không gian ảo, tập hợp trong môi trường mạng trực tuyến đế bày tở ý kiến cũa mình (Nghị quyết 21/16) Tất cả các quốc gia cần đảm bảo việc tiếp cận Internet được duy tri mọi lúc, kể cả khi có bất ổn chính trị Mọi ý định chặn nội dung trực tuyến cần phải được tiến hành bởi cơ quan tư pháp có thẩm quyền, hoặc một cơ quan độc lập với bất cứ ảnh hưởng chính trị, thương mại nào hoặc các ảnh hưởng không thích đáng nào khác [38]
Đồng thời với việc thành lập, cá nhân có quyền gia nhập và rút lui khởi các hội Tương tự, các hội có quyền ngưng hoạt động và tự giải tán Tuy nhiên, việc cơ quan nhà nước đình chỉ hoạt động hoặc giải tán hội cần phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của luật
1.2.2.2 Quyền hoạt động tự do và được hảo vệ khỏi sự can thiệp phi lỷ
Quyền hoạt động tự do cùa các hội tương ứng với nghĩa vụ của các nhà nước trong việc tôn trọng, thực thi và bảo vệ tự do hiệp hội Luật nhân quyền quốc tế đòi hỏi các nhà nước có nghĩa vụ thực thi các biện pháp chủ động và thụ động nhằm đảm bảo các quyền tự do căn bản, trong đó có tự do hiệp hội
Theo Điều 17 ICCPR, các nhà nước có nghĩa vụ kiềm chế, không can thiệp vào công việc nội bộ của hội và tôn trọng quyền riêng tư của hội Cụ thể, các nhà chức trách không được đặt điều kiện cho các quyết định và những hoạt động của hội; đảo ngược kết quả bầu cử thành viên ban lãnh đạo; đặt điều kiện trong ban lãnh đạo của hội phải có sự hiện diện của đại diện chính phủ; yêu cầu các hội nộp• • 1 ••• • • 1 e/ • • JLbáo cáo (kiểm duyệt) trước khi xuất bản; hoặc yêu cầu nộp kể hoạch hoạt động để
23
Trang 29thông qua trước Các cơ quan độc lập có quyên xem xét các báo cáo cùa hội như là một cơ chế đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, nhưng một thù tục như vậy không được tùy tiện và phải tôn trọng nguyên tắc không phân biệt đối xử
và quyền riêng tư [38]
Luật nhân quyền quốc tế cũng ấn định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc thúc đấy tự do hiệp hội thông qua việc tiến hành các biện pháp tích cực để thiết lập
và duy trỉ môi trường thuận lợi cho hoạt động cùa các hội Thành viên của hội cần phải được thực hành tự do hiệp hội của họ mà không sợ rằng họ có thế bị đe dọa, bị bạo lực, bao gồm việc quấy rối, xử tử vắn tắt hoặc tùy tiện, bắt giữ hoặc giam giữ tùy tiện, tra tấn, các chiến dịch truyền thông bôi nhọ, hoặc cấm đi lại [38] Các quốc gia cũng có nghĩa vụ không cản trở trái pháp luật việc thực hành tự do hiệp hội Thành viên các hội cần phải được tự do xác định điều lệ, cơ cấu tố chức, hoạt động của hội và đưa ra các quyết định mà không có sự can thiệp của nhà nước Bên cạnh những quyền khác, các hội cần được hưởng quyền thể hiện chính kiến, truyền bá thông tin, lôi kéo sự tham gia của công chúng, vận động các chính phủ và các cơ quan quốc tế về nhân quyền [38]
Nghĩa vụ nêu trên đòi hởi các nhà nước phải tạo điều kiện cho các hội tiếp cận các nguồn lực để duy trì hoạt động và phát triển Khả năng các hội có thể tìm kiếm, tiếp cận và sử dụng các nguồn lực trong nước, ngoài nước và quốc tế là một phần quan trọng và không thế tách rời của tự do hiệp hội [381 Thuật ngữ “các nguồn lực” dùng để chỉ các nguồn tài chính được chuyến giao, các đóng góp phi tài chính, các nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực, v.v [38] Việc tiếp nhận nguồn tài chính trong
và ngoài nước không nên bị yêu cầu phải được nhà chức trách cấp phép Các hội có đăng ký và không đăng ký đều cần có quyền tự do tìm kiếm và đảm bảo nguồn tài chính và các nguồn lực từ các chù thể trong nước, ngoài nước và quốc tế [38]
1.2.2.3 Giới hạn chỉnh đáng đối với tự do hiệp hội
Theo luật nhân quyền quốc tế, tự do hiệp hội không phải là một quyền tuyệt đối, tương tự như đối với một số quyền chính trị khác như tự do ngôn luận, tự do hội họp hòa bình Các quốc gia có thế đưa ra nhũng hạn chế trong việc thực hiện
24
Trang 30quyên này dựa trên những quy định của luật quôc tê Điêu 29 ƯDHR và Điêu 22 ICCPR quy định việc thục hiện tự do hiệp hội không bị hạn chế, trừ những hạn chế
do pháp luật quy định và sự hạn chế đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hay các quyền và tự do của người khác
Mặc dù tự do hiệp hội thuộc về mọi cá nhân, không phân biệt tuổi tác, quốc tịch, nơi cư trú , ICCPR cho phép giới hạn quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát Theo đó, các quốc gia có thế đặt ra những hạn chế hợp pháp về quyền này đối với những người thuộc các lực lượng vũ trang và cảnh sát (Khoản 2 Điều 22 ICCPR) Lý do của những hạn chế đó là bởi các lực lượng này đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng và an ninh, duy trì trật tự xã hội, do đó họ cần có sự trung lập, không nên bị lôi cuốn vào các xung đột mang tính phe nhóm hoặc bị chi phối bởi các quan điềm chính trị do tham gia vào các hội, bao gồm cả các đảng chính trị (theo quy định luật nhân quyền quốc tế); ngoài ra, quân nhân tại ngũ tham gia các hội nhóm nghề nghiệp không tương hợp với các nguyên tắc về kỷ luật quân đội (đây là lý do mà một số quốc gia hạn chế cả quyền bầu cử, ứng cử của thành viên lực lượng vũ trang) Sự hạn chế này được coi là phong theo Khoản 2 Điều 11 Công ước Nhân quyền châu Ầu 1950
Nghị quyết 15/21 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc tái xác định nội dung của điều 21 và 22 ICCPR về việc quyền tự do hội họp hòa bình và tự do hiệp hội không phải là các quyền tuyệt đối, đồng thời khẳng định rõ các quyền này “có
thê phải chịu những giới hạn được luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia hoặc an toàn, trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe và đạo đức công cộng, hoặc bảo vệ các quyền và tự do của người khác ”
Để hạn chế sự lạm dụng tùy tiện của các quốc gia trong việc viện dẫn nhừng
lý do nhằm hạn chế tự do hiệp hội, Liên Hợp Quốc và các tố chức bảo vệ nhân quyền đã thông qua một số văn kiện đế xác định nội hàm của các khái niệm được coi là lý do để đặt ra giới hạn chính đáng đối với tự do hiệp hội Cụ thế, Đoạn 29 của Các nguyên tắc Siracusa về Giới hạn và đình chỉ các điều khoản trong Công
25
Trang 31ước quôc tê vê các quyên dân sự và chỉnh trị 1984 xác định: chỉ có thê viện dân lý
do “an ninh quốc gia” để giới hạn một số quyền khi điều đó là cần thiết để “bảo vệ
sự tồn tại của quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự độc lập chính trị của quốc gia trước việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực tù’ bên ngoài.” Nguyên tắc 2 của Các nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, tự do biêu đạt và tiếp cận thông tin 1995 khẳng định: “hạn chế được biện minh với lý do an ninh quốc gia là không chính đáng nếu mục đích thực chất hoặc hiệu quả có thể thấy được là đế bảo
vệ lợi ích không liên quan đến an ninh quốc gia, bao gồm, ví dụ, để bảo vệ một chính phủ khỏi xấu hổ hay khởi phải phô bày những hành động sai trái” [38]
Báo cáo cùa Báo cáo viên đặc biệt cùa Liên Hợp quốc về tự do hội họp và tự• • •XA • • • X •
do hiệp hội (A/HRC/23/39) tháng 5/2014 về quyền của các tổ chức xã hội trong việc tìm kiếm, tiếp nhận và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực và tài chính cho thấy các chính phủ sử dụng kênh tài chính để làm rào cản hạn chế tự do hiệp hội của các tổ chức này [38] Báo cáo ghi nhận vai trò và thành tựu to lớn của các tổ chức
xã hội trong việc bảo về các quyền dân sự, chính trị, trong đó có tự do hội họp và hiệp hội; đồng thời kêu gọi các chính phủ có biện pháp tích cực đế tạo điều kiện cho
sự phát triển của các tổ chức xã hội Xu hướng tăng cường kiểm duyệt, xiết chặt hoạt động của các tổ chức xà hội ở tất cả các châu lục là cảm nhận chung cùa cộng đồng quốc tế Đây là mối đe dọa hiện hữu đối với việc thực thi và bảo đảm các quyền về tự do hiệp hội và hội họp hòa bình của người dân [38]
Quy định về việc chống áp dụng các hạn chế quyền một cách tùy tiện còn thể hiện ở chỗ các chính phủ không thế biện minh bằng việc lấy lý do “vì những mục đích hợp pháp khác” Chẳng hạn, theo luật nhân quyền quốc tế, việc chống tội phạm
và bản thân việc chống tội phạm không phải là lý do hợp pháp để hạn chế tự do hiệp hội Ví dụ, việc chống gian lận, biển thủ công quỹ, rửa tiền và các tội phạm khác là mối quan tâm hợp pháp của nhà nước, nhưng việc đơn thuần theo đuổi mối quan tâm hợp pháp không phải là lý do phù hợp để hạn chế tự do hiệp hội Các giới hạn
áp đặt với quyền này phải được quy định rõ trong luật và chứng minh được “là sự cần thiết” trong một xã hội dân chủ Các giới hạn phải có mức độ tương xứng đối
26
Trang 32với lợi ích cân được bảo vệ (Điêu 12 ICCPR) và cân phải là cách thức can thiệp tôi thiểu để đạt được mục tiêu mong muốn là bảo vệ lợi ích đó [38].
Theo luật nhân quyền quốc tế, các nhà nước không được thiết lập các giới hạn đặc biệt cho tự do hiệp hội trong giai đoạn bầu cử, bởi đây là thời điểm đặc biệt trong đời sống chính trị quốc gia, gắn liền với việc thực thi (để khẳng định, thậm chí tăng cường) các nguyên tắc dân chủ Trong thời gian diễn ra bầu cử, các điều kiện đặt ra với việc hạn chế quyền cần quy định chặt chẽ hơn, ở mức độ cao hơn so với bối cảnh bình thường [38] Các cuộc bầu cử đích thực có thể không đạt được nếu tự
do hiệp hội bị hạn chế [38] Tất cả các hội đều có quyền tự do tham gia các hoạt động liên quan tới tiến trình bầu cử, dù họ có ủng hộ chính phù hay không [38]
về việc đình chỉ hoạt động của hội, các hội không thể bị đình chỉ hoặc giải thế chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ báo cáo hoặc vì một vi phạm pháp luật nhở Nếu không hoàn thành nghĩa vụ báo cáo thì vi phạm nhỏ đó không thề dẫn đến việc đóng cửa hoặc truy tố hình sự đại diện của hội; thay vào đó, các hội nên được yêu cầu nhanh chóng khắc phục thiếu sót trong hoạt động [38] Việc đình chỉ hoặc buộc giải thế chỉ nên thực hiện hội có những vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc gia, tạo ra mối nguy hiểm rõ ràng, sắp xảy ra, với những lợi ích được bảo vệ phù hợp với quy định của luật nhân quyền quốc tế Những biện pháp quyết liệt như vậy cần
có sự phù hợp tương xứng với mục đích hợp pháp, chỉ được sử dụng khi các biện pháp nhẹ nhàng hơn sẽ không có hiệu quả [38], và chỉ có thể được thực hiện bởi các tòa án độc lập và không thiên vị [38]
Ở cấp độ khu vực, trong phán quyết ngày 13/02/2003 về vụ Đảng Phồn vinh Refah Partisi và những người khác kiên Thô Nhĩ Kỳ, Tòa án Nhân quyền châu Âu khẳng định: khả năng hạn chế tự do hiệp hội từ phía nhà chức trách chỉ là hãn hữu Theo đó, việc từ chối đăng ký hay giải tán một đảng chính trị là “ngoại lệ cũa nguyên tắc tự do hiệp hội”, chỉ được áp dụng một cách đích xác vi lý do kích động bạo lực, hằn thù, hay phủ nhận các nguyên tắc căn bản của xã hội dân chủ Chẳng hạn, Tòa án nhân quyền châu Âu cho rằng từ chối việc đăng ký một đảng chính trị chỉ dựa duy nhất vào chương trinh hành động của đảng này bị xem là “bất cân
27
Trang 33xứng” (Phán quyêt ngày 09/4/2002 trong vụ Yasas, Karatas, Aksoy và Đảng Lao động của Nhân dân kiện Thố Nhĩ Kỳ); và việc giải tán một đảng phái ủng hộ khủng
bố đã được chấp nhận với lý do giữ gìn và bảo vệ các nguyên tắc của một xã hội dân chủ (Phán quyết ngày 30/6/2009 trong vụ Herri Batasuna và Batasuna kiện Tây Ban Nha) [38].
1.2.3 Các yêu cầu đặt ra với việc bảo đảm tự do hiệp hội trong pháp luật quốc gia
OSCE/OIHR đưa ra các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng pháp luật quốc gia liên quan đến tự do hiệp hội như sau:
- Nguyên tắc thứ nhất: Giả định ủng hộ việc thành lập hợp pháp, các mục tiêu và hoạt động của tổ chức
Cần phải giả định ủng hộ tính hợp pháp của việc thành lập các hiệp hội và các mục tiêu và hoạt động của họ, bất kể các thủ tục áp dụng cho việc thành lập đó là gì
- Nguyên tắc thứ hai: Trách nhiệm cùa nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ
và tạo điều kiện cho việc thực hành tự do hiệp hội• • • • • • JL •
Nhà nước sẽ không can thiệp vào các quyền và tự do của các hiệp hội và củanhũng người thực hành tự do hiệp hội của mình Nhà nước sẽ bảo vệ họ khỏi sự can thiệp của các chủ thể phi nhà nước Nhà nước cũng sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hành tự do hiệp hội bằng cách tạo ra một môi trường thuận lợi cho các hiệp hội có thể hoạt động Điều này có thể bao gồm việc đơn giản hóa các yêu cầu thủ tục, đảm bảo các yêu cầu đó không là gánh nặng thái quá, hỗ trợ việc tiếp cận các nguồn lực
và tiến hành các biện pháp tích cực để vượt qua những thách thức cụ thể mà các các nhân hay các nhóm yếu thế hay dễ bị tổn thương đang phải đối mặt
-Nguyên tắc thứ ba: Tự do thành lập và tư cách thành viênTất cả mọi người, tự nhiên và pháp lý, quốc tịch và không quốc tịch, và các nhóm bao gồm những người như vậy, đều được tự do thành lập hội, có hoặc không
có tư cách pháp nhân Tất cả mọi người sẽ được tự do quyết định liệu có tham gia hoặc vẫn là thành viên của hội hay không Không ai bị buộc phải ra khỏi hội hoặc
bị xử phạt vỉ thuộc về hoặc không thuộc về một hội Các hội sẽ được tự do xác• 1 • • • • • • • • •
28
Trang 34định các quy định của họ vê tư cách thành viên, chỉ tuân theo nguyên tãc không phân biệt đối xử.
- Nguyên tắc thứ tư: Tự do xác định mục tiêu và hoạt động, bao gồm phạm vi hoạt động
Những người sáng lập và thành viên cùa các hội sẽ tự do quyết định các mục tiêu và hoạt động của hội, trong phạm vi giới hạn do các luật tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế quy định Khi theo đuổi các mục tiêu của họ và triển khai các hoạt động của họ, các hội sẽ không bị can thiệp vào việc quản lý, tố chức và công việc nội bộ của họ Các hội có quyền xác định phạm vi hoạt động của mình, nghĩa
là họ có thể xác định liệu họ có muốn hoạt động tại địa phương, khu vực, quốc gia hoặc quốc tế Các hội cũng có thể được tự do trở thành thành viên của các hội, liên đoàn và liên minh khác, ở cấp quốc gia hoặc quốc tế
- Nguyên tắc thứ năm: Đối xử bình đẳng và không phân biệt bất lợiPháp luật và chính sách liên quan đến các hội sẽ được áp dụng thống nhất và không được phân biệt với cứ người nào, nhóm nào vỉ bất cứ lý do gì, chẳng hạn tuổi tác, tình trạng xuất thân, màu da, giới tính, bản dạng giới, tình trạng sức khỏe, tình trạng nhập cư hoặc cư trú, ngôn ngữ, quốc tịch, sắc tộc, nguồn gốc xã hội, khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, tài sản, chúng tộc, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, khuynh hướng tình dục hoặc tình trạng khác Không người nào hoặc nhóm người nào muốn thành lập một hội mà được lợi thế thái quá hoặc bị bất lợi thái quá so với người khác hoặc một nhóm người khác Tư cách thành viên hoặc không phải là thành viên trong hội sẽ không tạo căn cứ đề đối
xử phân biệt đối xử với con người
- Nguyên tắc thứ sáu: Tự do biểu đạt và tự do ngôn luậnCác hội có quyền tự do biểu đạt và tự do ngôn luận thông qua các mục tiêu
và hoạt động của họ Đây là quyền bổ sung thêm bên cạnh quyền cá nhân của các thành viên trong hội về tự do biếu đạt và tự do ngôn luận Các hội có quyền tham gia vào các vấn đề tranh luận chính trị và công khai, bất kề quan điểm của họ nhất trí với chính phủ hay cổ vũ cho một sự thay đổi trong luật
29
Trang 35- Nguyên tăc thứ bảy: Tự do tìm kiêm, tiêp nhận và sử dụng nguôn lựcCác hội có quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và sử dụng các nguồn lục tài chính, vật chất và nhân lực, dù là trong nuớc, nuớc ngoài hay quốc tế, để theo đuổi các hoạt động cùa họ Đặc biệt, các quốc gia sẽ không hạn chế hoặc ngăn chặn việc tiếp cận của các hội tới các nguồn tài lực trên cơ sở quốc tịch hoặc nguồn gốc quốc gia của nguồn lực, cũng nhu không kỳ thị những nguời nhận các nguồn lực đó Quyền tụ do này phải tuân thủ các yêu cầu của pháp luật áp dụng chung về hải quan, ngoại tệ, chống rửa tiền và khủng bố, cũng như các quy định đối với vấn đề minh bạch và nguồn tài trợ cho các cuộc bầu cử và các đảng chính trị, trong phạm
vi bản thân các yêu cầu này là tương thích với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế
- Nguyên tắc thứ tám: Quản trị tốt về pháp luật, chính sách và các thực hành A
Ạ ĩ- • •
vê hiệp hội
Việc thực thi pháp luật, chính sách và thực tiễn liên quan đến hiệp hội sẽ được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền, bao gồm các cơ quan hành chính, hành động vô tư và kịp thời, không chịu ảnh hưởng chính trị và các ảnh hường khác Cơ quan quản lý cũng phải đảm bảo rằng công chúng có thông tin cần thiết về các thủ tục và chức năng của cơ quan này để dễ dàng hiểu và tuân thủ Phạm vi quyền hạn cùa cơ quan quản lý phải được xác định rõ trong luật và tất cả các nhân viên của cơ quan đó phải có trình độ phù hợp và được giám sát phù hợp Các quyết định và hành vi của cơ quan quản lý sẽ được mở công khai đề xem xét độc lập Các nhân viên của các cơ quan quản lý sẽ thực thi nhiệm vụ của họ một cách cần mẫn,
và bất kỳ sai lầm nào sẽ được sửa chữa và việc lạm quyền sẽ bị xử phạt Các hội sẽ được tham vấn,một cách hữu ích trong việc đưa ra và thực hiện bất kỳ luật, chính sách và thực tiễn nào liên quan đến hoạt động của họ Pháp luật, chính sách và các thực hành sẽ được xem xét nhằm thúc đẩy việc thực hành tự do hiệp hội trong môi trường đang thay đối mà các hội đang hoạt động
- Nguyên tắc thứ chín: Tính hợp pháp và tính chính đáng của các hạn chếBất cứ hạn chế nào đối với tự do hiệp hội và quyền của các hội, kể cả xử phạt, đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế Cụ thể, mọi hạn chế
30
Trang 36phải được luật quy định và phải có mục đích chính đáng Ngoài ra, luật quy định phải được rõ ràng, chắc chắn và có thể dự đoán trước, đặc biệt trong trường hợp các quy định trao quyền cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Luật quy định phải được thông qua theo một quy trình dân chủ, đảm bảo có sự tham gia và xem xét cùa người dân, và sẽ được tiếp cận một cách rộng rãi Các mục đích chính đáng duy nhất được các tiêu chuẩn quốc tế công nhận trong việc giới hạn là anh ninh quốc gia hoặc an toàn công cộng, trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng hoặc đạo đức công chúng và bảo vệ các quyền và tự do của người khác Phạm vi của các mục đích chinh đáng này sẽ được diễn giải một cách chặt chẽ.
- Nguyên tắc thứ mười: Tính tương xứng của các hạn chếBất kỳ hạn chế nào đối với tự do hiệp hội và quyền của các hiệp hội, bao gồm các biện pháp tràng phạt, đều phải là cần thiết trong một xã hội dân chủ và do
đó, tương xứng với mục đích chính đáng cũa các hạn chế đó Nguyên tắc cùa sự cần thiết trong một xã hội dân chủ đòi hởi phải có sự cân bằng hợp lý giữa lợi ích cùa những người thực hành tự do hiệp hội, chính bản thân các hội và lợi ích của xã hội nói chung Nhu cầu về những sự hạn chế phải được cân nhắc cẩn thận, do đó, sẽ được dựa trên bằng chứng thuyết phục Sự can thiệp ít xâm phạm nhất sè luôn được chọn Sự hạn chế sẽ luôn được hiểu và áp dụng một cách hạn hẹp và sẽ không bao giờ hoàn toàn dập tắt quyền hoặc xâm phạm bản chất của quyền Cụ thể, mọi lệnh cấm hoặc giải thế một hội sẽ luôn là biện pháp cuối cùng, chẳng hạn như khi một hội đã tham gia vào hành vi tạo ra mối đe dọa bạo lực sắp xảy ra hoặc vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, và sẽ không được sử dụng để giải quyết các tội không nghiêm trọng Tất cả các hạn chế đều phải dựa trên các hoàn cảnh của vụ việc và không áp dụng các hạn chế bao trùm
- Nguyên tắc thứ mười một: có biện pháp khắc phục hiệu quả đối với sự vi phạm quyền
Các hội, những người sáng lập và thành viên của hội và tất cả những người tìm kiếm việc thực hành tự do hiệp hội của họ đều tiếp cận được các biện pháp khắc• • • • JL • • lu • • • JL luphục hiệu quả nhằm thách thức hoặc tìm kiếm việc rà soát các quyết định ảnh
31
Trang 37hưởng đên việc thực hành các quyên của họ Điêu này nghĩa là cung câp cho các hội
và tất cả những người liên quan quyền khởi kiện hoặc kháng án và đạt được việc rà soát tư pháp cho bất cứ hành vi nào hoặc không có hành vi nào của nhà chức trách
mà có ảnh hưởng đến các quyền cùa họ, bào gồm các hành vi liên quan đến thành lập hội và sự tuân thủ hiến chương hoặc các yêu cầu pháp lý khác Để đảm bảo biện pháp khắc phục hiệu quả, điều bắt buộc đối với các thủ tục tư pháp, bao gồm cả kháng cáo và rà soát, là phải phù hợp với các tiêu chuẩn xét xử công bằng Hon nữa, các thủ tục cần phải rõ ràng và chi phí phải chăng Các biện pháp khắc phục sẽ phải nhanh chóng và sẽ bao gồm sự đền bù đầy đủ, bao gồm bồi thường cho những tổn thất về mặt đạo đức và tài chính
1.3 Khái quát về quản lý nhà nước về hội
Theo một số từ điển, quản lý được hiểu là “tổ chức, điều khiển của một đơn vị, một cơ quan ” [6], “ làm cho hoạt động tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất’, [6] “ sự tác động có ý thức để chí huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan’[6]
Như vậy, mặc dù có ít nhiều khác nhau, khái niệm quản lý có điểm chung đó
là sự tác động có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục đích đã đề ra
Quản lý nhà nước về hội cũng là một dạng quản lý - đó là quản lý về xã hội
Nó có những điểm khác với một số dạng quản lý về kỹ thuật, hay về thiên nhiên, môi trường xét về chủ thể, và đặc biệt là ở đối tượng quản lý Trong quản lý nhà nước về hội thì đối tượng quản lý chính là các tố chức xã hội, còn chủ thể quản lý chủ yếu là bộ máy nhà nước
Từ nhũng phân tích ở trên, trong phạm vi luận văn này, tác giả xác định khái niệm “quản lý nhà nước về hội và tổ chức phỉ chính phủ” là “ các phương thức
32
Trang 38mà Nhà nước tác động vào hội và tô chức phỉ chính phủ đê định hướng tô chức, hoạt động của hội và tô chức phi chính phủ theo mục đích mà nhà nước đặt ra
Quản lý nhà nước về hội cũng có nhừng đặc điếm giống như quản lý nhà nước nói chung, đó là tính quyền lực phục tùng, tính tổ chức điều hành, tính khoa học, tính kế hoạch, tính chủ động sáng tạo , song có những đặc điểm riêng, xuất phát từ đặc trưng của đối tượng quản lý là các tổ chức xã hội, cụ thể như sau:
Thứ nhất, do đối tượng quản lý không phải là một cơ quan nhà nước, nên quản lý nhà nước về hội cần phải đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cùa đối tượng quản lý trong tổ chức và hoạt động Nhà nước không nên can thiệp sâu vào công việc nội bộ của các hội, mà chỉ là tạo điều kiện mọi mặt cho các hội hoạt động.<^2 • • • • 7 • • • • • •• 4^2
Nếu Nhà nước can thiệp sâu vào tổ chức và hoạt động của các hội thì vô hình chung
đã làm mất đi tính chất tự nguyện, tự quản cùng tác dụng và sự thu hút của hội đối với quần chúng
Thứ hai, do đối tượng quản lý là những pháp nhân hình thành từ sự tự nguyện của những nhóm công dân cùng chung mục đích, ý nguyện nên quản lý nhà nước về hội phải dựa trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của đối tượng quản lý Hội đều có tư cách là một tố chức của công dân, hoạt động hợp pháp, vì lợi ích tập thể, lợi ích của cộng đồng và của xã hội nên cần được Nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện thực hiện hoạt động của mình Sự tôn trọng của Nhà nước
về hội còn xuất phát từ nguồn gốc, bản chất của nhà nước là thiết chế quyền lực công do người dân lập ra, nên phải tôn trọng các thiết chế khác cũng do nhân dân lập ra đó là hội
Th ứ ha, nội dung quản lý nhà nước về hội rất đa dạng Điều này xuất phát từ tính chất rộng lớn, phong phú trong tổ chức và hoạt động của hội Xét tống quát, những nội dung chính của quản lý nhà nước về hội ở Việt Nam bao trùm các vấn đề như:
(i) Quy định về quyền lập hội của công dân;
(ii) Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của hội;
(iii) Quy định về xử lý các vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước về hội;
(iv) Quy định về các cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước về hội
33
Trang 391.3.2 Các yêu tô tác động đên quản lý nhà nước vê hội
Như đã đề cập ở trên, quản lý nhà nước về hội là một hoạt động có chù đích
và mang tính quyền lực của cơ quan nhà nước Vì vậy, cũng như bất kỳ hoạt động nào của nhà nước, quản lý nhà nước về hội chịu sự tác động của nhiều yếu tố Ớ Việt Nam, những yếu tố cơ bản tác động đến cách thức và hiệu quả quản lý nhà nước về hội bao gồm:
Đặc thù chính trị xã hội Việt nam là có một đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạo toàn diện nhà nước và xã hội Vì vậy, mọi đường lối, chính sách của Đảng đều trở thành nguồn cho hệ thống pháp luật quản lý nhà nước, trong đó có quản lý nhà nước về hội
Từ ngày thành lập (1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trương dân chủ hóa xã hội, qua đó tạo lập sự đoàn kết và phát huy mọi nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển đất nước theo phương châm ‘cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Đặc biệt từ sau khi khi đối mới và hội nhập, nhận thức của Đảng
về tính chất, đặc điểm, vai trò của các hội càng được củng cố, phù hợp hơn với xu thế chung của thời đại
Ngày 28/5/2013, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng đã ban hành Kết luận số 64-KL/TW một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, trong đó nhấn mạnh: “ Quy định chặt chẽ về tồ chức và hoạt động của các hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự đảm bảo kinh phí hoạt động và tuân thủ pháp luật Sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước về quản lý tổ chức và hoạt động hội phù hợp với tình hình mới ” Quy định này đã làm rõ quan điểm chỉ đạo về tính chất, tổ chức và hoạt động cũng như sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các hội ở ViệtNam trong thời kỳ hiện nay
Bên cạnh đó, nhận thức rõ vai trò, tâm quan trọng của các hội trong điêu kiện
r
mới của đât nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiêu đường lôi, chủ trương chỉ đạo đổi mới tổ chức và hoạt động của các hội, nhất là đối với các hội có
34
Trang 40tính chât chính trị - xà hội và chính trị - xà hội - nghê nghiệp, hội có đảng đoàn và hội có tính chất đặc thù khác.
Nhưng mặt khác cũng có thể thấy rằng, nhận thức chính trị của Đảng vẫn còn
e dè và cảnh giác với quyền tự do hiệp hội, xuất phát từ tư duy “bao cấp “ về tư tưởng, và tư duy “nhà nước hóa” trong hoạt động của hội Điều đó thể hiện ở chỗ trong những năm gần đây, Vấn đề “xã hội dân sự” không được khuyến khích thảo luận, trao đối, cho thấy tinh thần quá cảnh giác với âm mưu lợi dụng xã hội dân sự
đế thực hiện “diễn biến hòa bình”, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Trong khi
đó, theo quan điềm của Mác và Ăng ghen, cũng như theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, xã hội dân sự là một xu thế phát triển tất yếu, nó tạo ra vốn xã hội để nhân dân mưu cầu hạnh phúc và phát triển thịnh vượng Đặc biệt, trong thể chế kinh
tế thị trường mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, xã hội dân sự chính là một bộ phận cấu thành của thể chế đó, vì vậy nếu chúng ta quá cảnh giác đến mức cấm đoán sự phát triển của xã hội dân sự thì cũng đồng nghĩa với sự bở lờ một cơ hội phát triển của đất nước
Khi nói tới hội và quyền tự do hiệp hội, không thể không bàn đến xã hội dân
sự, bởi lẽ hạt nhân của xà hội dân sự chính là các hội, và ngược lại, xã hội dân sự là không gian môi trường cho hội phát triển lành mạnh
Việc có những thế lực lợi dụng diễn đàn xã hội dân sự và quyền tự do lập hội
để chống phá Đảng và Nhà nước trên thực tế vẫn diễn ra, nhưng đó là những hành
vi vi phạm pháp luật, không nên vì nhừng vi phạm đó đề cấm đoán xã hội dân sự Việc thừa nhận xã hội dân sự và xử lý những vi phạm lợi dụng xà hội dân sự chính
là biện pháp thúc đấy xã hội dân sự phát triến lành mạnh
Tóm lại, Đảng Cộng sản Việt Nam đà có chủ trương tôn trọng các hội và quyền tự do hiệp hội - đó là yếu tố quyết định mang tính xuất phát điểm cho quản lý nhà nước về hội Tuy nhiên, những ghi nhận đó là cần thiết nhưng chưa đủ đế thành quyết tâm chính trị mạnh mẽ Quan điếm về hội và tự do hiệp hội của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện vẫn còn e dè, vi thế khi thế chế hoá vào pháp luật, việc quản lý nhà nước về hội hiện mới được tiếp cận dưới góc độ quản lý “cai trị”, “quản lý” hơn
35