1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về nuôi con nuôi ở việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

95 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi Ở Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ Luật
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 23,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, góp phân nâng cao nhận thức cho người dân, cho các cán bộ nhà nước có thấm quyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi những hiểu biết pháp luật về nuôi con nuôi, đặc biệt là quan hệ giữa

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MUC NHŨNG TÙ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐÀU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ NUÔI CON NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI TẠI VIỆT NAM 1

1.1 Khái quát chung về nuôi con nuôi 1

1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi 1

1.1.2 Bản chất pháp lý và mục đích của việc nuôi con nuôi 5

1.1.3 Chính sách giải quyết việc nuôi con nuôi 6

1.1.4 Phân biệt với các hình thức nuôi dưỡng khác 8

1.2 Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi tại Việt Nam 9

1.2.1 Khái niệm về pháp luật nuôi con nuôi 9

1.2.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh việc nuôi con nuôi bằng pháp luật 12

1.3 Pháp luật về nuôi con nuôi của một số nước trên thế giới 19

1.3.1 Pháp luật nuôi con nuôi của Nhật Bản 19

1.3.2 Pháp luật nuôi con nuôi tại Pháp 20

1.3.3 Pháp luật về nuôi con nuôi của Trung Quốc 21

CHƯƠNG 2 THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÈ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM 25

2.1 Quy định pháp luật về nuôi con nuôi 25

2.1.1 Điều kiện nuôi con nuôi 25

2.1.2 Thấm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi 29

2.1.3 Thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi 31

2.1.4 Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi 35

111

Trang 2

2.1.5 Quyền và nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi 36

2.1.6 Chấm dứt nuôi con nuôi 42

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi ở Việt Nam 46

2.2.1 về giải quyết việc nuôi con nuôi 46

2.2.2 Đăng ký nuôi con nuôi thực tế 49

2.3 Khó khăn, vướng mắc trong nuôi con nuôi ở Việt Nam và nguyên nhân 53

2.3.1 Khó khăn, vướng mắc trong pháp luật điều chỉnh nuôi con nuôi ở Việt Nam 53

2.3.2 Khó khăn, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi ở Việt Nam 62

2.3.3 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc 67

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÈ NUÔI CON NUÔI 71

3.1 Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật nuôi con nuôi 70

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi 73

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam 73

3.2.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam 80

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

iv

Trang 3

MỞ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội phổ biến tại nhiều quốc gia và được pháp luật của các nước điều chỉnh Ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều gia đình nhận những đứa trẻ mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn làm con nuôi cho dù giữa họ không có mối quan hệ huyết thống để giúp chúng có cuộc sống đầy

đủ, hạnh phúc hơn Không chỉ có công dân ở trong nước mà cả người nước ngoài cũng có quyền nhận trẻ em tại Việt Nam làm con nuôi nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Đế xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi thì cần thực hiện thủ tục đăng ký nhận con nuôi theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam Việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi đã giúp cho nhiều đứa trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Đồng thời góp phần giúp nhiều người, đặc biệt là những cặp vợ chồng hiếm con, phụ nữ đơn thân được thực hiện quyền làm cha, mẹ

Trong những năm vừa qua, kế từ khi Luật nuôi con 2010 được Quốc hội khóa 12 kỳ họp thử 7 ban hành, nhiều văn bản QPPL quan trọng đã được sửa đổi, bổ sung Cụ thể Hiến pháp 2013 quy định về quyền trẻ em, LuậtHN&GĐ 2014, Luật hộ tịch 2014, BLDS 2015 và Luật trẻ em 2016 Đặc biệt hơn, kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2012 Việt Nam trở thành thành viên CƯLH

số 33 ngày 29 tháng 5 năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi còn nuôi quốc tế (dưới đây gọi là CƯLH) Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc hoàn thiện chính sách và hệ thống pháp luật bảo đảm tính khả thi của Công ước

Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong thực tiễn nuôi con nuôi tại Việt Nam, một số quy định cùa Luật nuôi con nuôi đã bộc lộ những điểm hạn chế

1

Trang 4

nhất định dẫn đến việc một số lượng lớn trẻ em có HCĐB trong cộng đồng và ngoài cộng đồng (tại các cơ sở trợ giúp xã hội) chưa được quan tâm tìm gia đình thay thế thông qua biện pháp nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi

có YTNN Nhiều địa phương gần như không quan tâm tới việc thực hiện Luật nên vẫn còn tồn tại các trường hợp nuôi con nuôi thực tế mặc dù chế định nuôi con nuôi thực tế quy định tại Luật nuôi con nuôi đã hết hiệu lực thi hành• 1 • • • • •

từ ngày 31/12/2015 Bên cạnh đó, vẫn còn những trường hợp lợi dụng việc nhận con nuôi để bóc lột sức lao động, lạm dụng tình dục, bạo hành, buôn bán trẻ em cần phải lên án và bảo vệ

Vì vậy, việc nghiên cứu Luận văn “Pháp luật về nuôi con nuôi ở Việt

Nam ” là cần thiết nhằm làm rõ hơn những quy định pháp luật về Nuôi con

nuôi ở Việt Nam, đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những điểm hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật Từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện những thiếu sót, bất cập về pháp luật Nuôi con nuôi ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính úng dụng và ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực tiễn đối với việc sửa đổi, bổ sung Luật nuôi con nuôi

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • • CT

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận văn nhằm nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi ở Việt Nam, thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta trong thời gian qua Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá hiệu quả, mức độ hoàn thiện và tính phù họp trong thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi Từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết những hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta hiện nay Qua đó đảm bảo quyền của trẻ em có HCĐB được CSTT thông qua biện pháp nuôi con nuôi trong nước và nuôi còn nuôi có YTNN

2

Trang 5

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đe thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn phải giải quyết được các vấn đề sau:

Thứ nhất, luận văn cần làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung pháp luật về nuôi con nuôi, những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật điều chình việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố ngước ngoài

Thứ hai, luận văn phân tích thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá hiệu quả, mức độ hoàn thiện và tình phù hợp trong thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi

Thứ ba, luận văn nghiên cứu, phát hiện những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi tại Việt Nam Qua đó đưa

ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn tập trung trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Hiến pháp 2013, Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật hộ tịch

2014, Luật trẻ em 2016 và một số Nghị định, Thông tư hướng dẫn khác có liên quan Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, Luận văn mở rộng phạm vi nghiên cứu pháp luật về nuôi còn nuôi của một số nước như Pháp, Tây Ban Nha, Hòa Kì và Canada

4 Phương pháp nghiên cứu

Đe đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà luận văn đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi trong mối quan hệ với pháp luật về dân sự, HN&GĐ và trẻ em

3

Trang 6

- Phương pháp phân tích, tông họp: được sử dụng chủ yêu trong các phần của Luận văn Cụ thể phương pháp này sử dụng để phân tích và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi Qua

đó khái quát hóa thực trạng hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng trong hoạt động cho nhận con nuôi ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra nhũng đề xuất, kiến nghị phù hợp

- Phương pháp thống kế số liệu: được sử dụng nhằm đánh giá kết quả giải quyết việc nuôi còn nuôi trong nước và nuôi con nuôi có YTNN trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2016 đến hết năm 2020, đánh giá mối tương quan giữa việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có YTNN

- Phương pháp đánh giá, so sánh: được sử dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác trên thế giới

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với tính chất là một đề tài nghiên cứu một cách khá toàn diện, có hệ thống các vấn đề về cơ sở lý luận của pháp luật về nuôi con nuôi và thực tiễn thực hiện pháp luật pháp luật nuôi con nuôi, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại một số đóng góp mới như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ một số vấn đề tồn tại

về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi từ đó đề xuất một số kiến nghị về phương hướng xây dựng và áp dụng pháp luật

Thứ hai, khẳng định trên cơ sở khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong việc tuân thủ, thi hành, áp dụng luật nuôi con nuôi trên địa bàn cả nước Thông qua đó, góp phần tăng cường hiệu quả quản

lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi trong giai đoạn hiện nay

4

Trang 7

Thứ ba, góp phân nâng cao nhận thức cho người dân, cho các cán bộ nhà nước có thấm quyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi những hiểu biết pháp luật về nuôi con nuôi, đặc biệt là quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; góp phần ổn định các quan hệ xã hội dân sự, phục vụ tích cực cho đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thứ tư, kết quả đạt được cùa luận văn góp phần làm rõ hơn những quy định của pháp luận hiện hành về nuôi con nuôi tại Việt Nam Luận văn có thể• JL A • • •• •

là tài liệu tham khảo hữu ích đối với sinh viên, đội ngũ giảng viên trong việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật về nuôi con nuôi

Ngoài ra, những giãi pháp hoàn thiện, xây dựng pháp luật về nuôi con nuôi ở Việt Nam còn là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lình vực về nuôi con nuôi tại Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: khái quát chung về nuôi con nuôi và pháp luật về nuôi con nuôi tại việt nam

Chương 2: thực tiễn pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi ớ việt namChương 3: Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Nuôi Con Nuôi ở Việt Nam

Và Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện

5

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ

NUÔI CON NUÔI TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về nuôi con nuôi

1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội đã có từ xa xưa và ngày càng phát triển vì nhiều mục đích khác nhau, có thể nhằm đáp ứng các nhu cầu, lợi ích vật chất như cần người thờ tự, người chăm sóc lúc tuổi già, cần người lao động hoặc xuất phát từ lòng nhân đạo, cám thông, chia sẻ với những trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Hiện tượng này thể hiện mối quan

hệ giữa cha, mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nhận nuôi con nuôi Để đảm bảo quyền lợi của bên nhận nuôi cũng như quyền lợi của trẻ được nuôi pháp luật đã thể chế quan hệ xã hội này thành quan hệ pháp luật Vấn đề con nuôi liên quan không chỉ đến các quan hệ gia đình, quan hệ dân sự mà nó còn liên quan đến những vấn đề chính trị- xã hội rộng lớn khác Dưới sự điều chỉnh cụ thể của các quy phạm pháp luật thì nuôi con nuôi diễn ra theo một trình tự, thủ tục nhất định không còn mang tính tự phát, tùy tiện như trước đây Ngay

từ thòi La Mã cổ đại đã hình thành chế định pháp luật về nuôi con nuôi Cho đến ngày nay, khái niệm nuôi con nuôi theo đa số các nước trên thế giới là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi Và dù khác nhau thế nào, nuôi con nuôi ở các nước đều có chung một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm

Trang 9

con nuôi có đây đủ các quyên và nghĩa vụ của cha, mẹ và con theo quy định của pháp luật Nuôi con nuôi được hình thành trong môi trường gia đình, nhằm tạo lập một gia đình mới nhờ vào chức năng nuôi dưỡng và qua đó tạo lập quyền và nghĩa vụ ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình.

Thứ hai, nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội liên quan đến trẻ em, đối tượng còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt,

do đó được pháp luật của hầu hết các nước điều chỉnh Nhiều nước đã từ lâu ban hành một đạo luật riêng về nuôi con nuôi

Ớ nước ta, vấn đề con nuôi cũng đã được quy định trong pháp luật từ thời phong kiến, tiêu biểu là trong bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật

lệ Hai Bộ luật này thể hiện rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người Việt Nam về gia đình và quy định điều chình quan hệ nuôi con nuôi trong thời

kỳ đó Sau này, vấn đề con nuôi cũng đã được Luật nuôi con nuôi 2010 và nhiều văn bản QPPL khác điểu chỉnh; qua đó bảo đảm quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc trong môi trường gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Khái niệm nuôi con trước đây theo một cách nào đó đã được đề cập trong các tài liệu liên quan Cụ thể, nuôi con nuôi theo Từ điển bách khoa toàn thư về các môn khoa học xã hội là một thực tiễn xã hội được thể chế hóa,• • • • • •theo đó một cá nhân thuộc về một gia đình hay một nhóm mang tính chất gia đình do sinh ra tiếp nhận nhưng mối liên hệ mới mang tính chất gia đinh và những mối liên hệ này được xã hội coi như ngang bằng với những mối liên hệ ruột thịt và thay thế một phần hoặc toàn bộ những mối liên hệ đó Hay theo

Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3 của Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội, năm 2003, thì: “Nuôi con nuôi là việc một người (người nuôi) nhận nuôi người khác (con nuôi) nhằm tạo ra những tình cảm gắn bó giữa hai người, bảo đảm cho người con nuôi được thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã/phường/thị trấn (UBND

2

Trang 10

câp xã) nơi người nuôi và của con nuôi công nhận và ghi vào sô hộ tịch Thông qua sự kiện pháp lý này giữa người nuôi và con nuôi phát sinh các quyền và nghĩa vụ như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ”1 Hay khi bình luận về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tập thể tác giả có nhận định rằng nuôi con nuôi là “việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi

và người được nhận làm con nuôi, dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi”.2

1 Từ điến bách khoa Việt Nam, tập 3, 4 (2003), Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt

Nam, Hà Nội, tr 316.

2 Tập thể tác giả (2000), Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình

Việt Nam, (2), tri 80

Tuy nhiên, chỉ khi Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời thì khái niệm trên đã chính thức được Luật định rõ nhằm tạo ra cách hiểu chung, thống nhất

về con nuôi và cha, mẹ nuôi Theo đó, Luật nuôi con nuôi năm 2010 khái niệm về con nuôi và cha, mẹ nuôi như sau: “Nuôi con nuôi là việc xác lập

quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thám quyền đăng kỹ Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thâm quyền đăng kỷ.”

Ta có thể xem xét khái niệm nuôi con nuôi nói trên dưới hai góc độ: góc độ xã hội và góc độ pháp lý

* Dưới góc độ xã hội

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội hình thành một cách tự nhiên • • • • • •trong đời sống của con người, nó xuất hiện và tồn tại từ lâu trong lịch sử, thể hiện sự gắn bó giữa con người với nhau trên cơ sở vì lợi ích chung, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người và mang tính nhân đạo sâu sắc Khi một

cá nhân được tiếp nhận vào một gia đình và tạo ra những liên hệ mới mang

3

Trang 11

tính chât gia đình mới, thay thê một phân hoặc toàn bộ môi liên hệ ruột thịt trước đây, những quan hệ mang tính chất gia đình này có giá trị như mối quan

hệ huyết thống và được xã hội thừa nhận

Quan hệ nuôi con nuôi có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như nuôi con nuôi theo phong tục tập quán, nuôi con nuôi lập tự, nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi lấy phúc Mặc dù các hình thức nuôi con nuôi này tồn tại và xác lập các quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con, nhưng các hình thức trên đều không được pháp luật ghi nhận Các hình thức nuôi con nuôi này trên thực tế đã hình thành quan hệ cha, mẹ và con, giữa họ đã tồn tại tình cảm yêu thương, chăm sóc, nhưng quan hệ nuôi dưỡng này thường chỉ tồn tại trên danh nghĩa giữa bên nhận nuôi và bên được nhận nuôi chứ không có ý nghĩa về mặt pháp luật Vì vậy, về nguyên tắc những hình thức nuôi con nuôi nói trên không được công nhận về mặt pháp lý mà chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về tình cảm giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi

Như vậy, dưới góc độ xã hội thì nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con trên thực tế giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi nhằm đáp ứng những nhu cầu về tình cảm và lợi ích giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi

* Dưới góc độ pháp lý

Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi là một hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con hợp pháp giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, mà không liên quan đến quan hệ huyết thống sinh học giữa hai bên”2 Theo quy định hiện hành, gia đình nhận trẻ em làm con nuôi được gọi là gia đình thay thế, vì lợi ích tốt nhất của con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trong môi trường gia đình phù hợp

4

Trang 12

1.1.2 Băn châtpháp lý và mục đích của việc nuôi con nuôi

1.1.2.1 Bản chat pháp lý của nuôi con nuôi

Trong bất cứ xã hội nào tồn tại quan hệ nuôi con nuôi thì con nuôi đều

“là con của người khác nhưng được một người hoặc người là vợ chồng nhận làm con đề nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục như con đẻ” Dưới góc độ pháp

lý, nuôi con nuôi là một hình thức pháp lý nhàm xác lập quan hệ cha mẹ và con hợp pháp giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi,

mà không liên quan đến quan hệ huyết thống sinh học giữa hai bên”, “nuôi con nuôi vừa là một sự kiện pháp lý” vừa là một “quan hệ pháp luật”3 Nuôi con nuôi còn có tính nghĩa dưỡng “Nghĩa dưỡng là một hành vi pháp lý tạo nên giữa hai người những mối quan hệ về phụ hệ hay mẫu hệ có tính giả tạo

và dân sự Nuôi con nuôi được hình thành trong môi trường gia đình, nhằm tạo lập một gia đình mới nhờ vào chức năng nuôi dưỡng và qua đó tạo lập quyền và nghĩa vụ ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình

Việc nuôi con nuôi bao gồm tập họp các sự kiện pháp lý Chỉ khi nào hội tụ đủ các sự kiện này quan hệ nuôi con nuôi mới phát sinh hiệu lực pháp

lý Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các bên đương sự thể hiện rõ rằng ý chí của mình đồng thời đáp ứng đầy

đủ các điều kiện cần thiết của việc nuôi con nuôi Nói cách khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các sự kiện cấu thành đã hội tụ đầy đú và được liên kết lại với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về nuôi con nuôi Vì vậy, có thế nói dưới góc độ pháp

lý nuôi con nuôi là sự kiện pháp lý

Điều kiện nuôi con nuôi bao gồm các điều kiện về nội dung và điều kiện về hình thức Hai điều kiện này có mối quan hệ với nhau và tạo ra hiệu lực pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi Vì vậy, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật nuôi con nuôi khi nó đáp ứng được các yếu tố sau: các điều

5

Trang 13

kiện vê chủ thê của việc nuôi con nuôi; sự thê hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi, ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi, ý chí của bản thân người nhận con nuôi (điều kiện về nội dung) và ý chí của nhà nước công nhận việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi (điều kiện về hình thức).

7.7.2.2 Mục đích của nuôi con nuôi

Trên thế giới, việc nuôi con nuôi được tiếp cận dưới góc độ là chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em có HCĐB, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em chứ không phải vì lợi ích của người nhận con nuôi Ó trong nước, kể t3ừ khi Luật trẻ em có hiệu lực thi hành biện pháp nuôi con nuôi ngày này được tiếp cần

3 Nguyễn Phương Lan, Cơ sở lý luận và thực tiễn cũa chế định pháp lý v'ê nuôi con nuôi ở Việt Nam Luận án

Theo Điều 2 Luật nuôi con nuôi quy định về mục đích nuôi con nuôi:

“Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững,

vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình ”.

1.1.3 Chính sách giải quyết việc nuôi con nuôi

Trên phương diện chính sách, Luật nuôi con nuôi đã thống nhất việc chính sách nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có YTNN, theo đó phải

6

Trang 14

ưu tiên nuôi con nuôi trong nước trước khi giải quyêt việc nuôi con nuôi nước ngoài, khuyến khích việc nuôi con nuôi đối với những trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em

mồ côi và trẻ em có HCĐB khác, nhà nước bảo hộ quyền nuôi còn nuôi và quyền được nhận làm con nuôi, khuyến khích hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc trẻ em có HCĐB, con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình và khuyến khích con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương đất nước Các chính sách này được bảo đảm thực hiện thông qua các quy định của Luật nuôi con nuôi, cụ thể như sau:

- Khi giải quyết việc nuôi con nuôi cần tôn trọng quyền cũa trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền và lợi ịch hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật

và đạo đức xác hội Chỉ cho làm con nuôi người nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước (Điều 4 Luật Nuôi con nuôi 2010)

- Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được thực hiện như sau: (1) Cha dượng, mẹ kế; cố, cậu, dì, chú, bác ruột cùa người được nhận làm con nuôi; (2) Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước; (3) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; (4) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; (5) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài (Điều 5 Luật nuôi con nuôi 2010)

- Nhà nước bảo hộ quyền nuôi còn nuôi và quyền được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 6 Luật Nuôi con nuôi 2010)

- Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có HCĐB Việc hồ trợ nhân đạo không được ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi (Điều 7 Luật nuôi con nuôi 2010)

7

Trang 15

- Nhà nước khuyên khích nhận trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mô côi, trẻ em

có HCĐB làm con nuôi (khoản 4 Điều 8)

- Con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc cùa mình Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc cùa mình Nhà nước khuyển khích, tao điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở ngước ngoài về thăm quê hương, đất nước (Điều 11 Luật Nuôi con nuôi 2010)

- UBND cấp xã, Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp có trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng (Điều 15 Luật nuôi con nuôi 2010)

1.1.4 Phân biệt với các hình thức nuôi dưỡng khác

Có thể nói nuôi con nuôi là hình thức có những ưu thế vượt trội và được khuyến khích áp dụng bởi những đặc trưng nhất định của nó so với những hình thức nuôi dưỡng khác, cụ thể như sau:

Hình thức nuôi dưỡng trẻ em tại các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một hình thức phổ biến nhất để chăm sóc, bảo vệ trẻ em Hình thức này thường có quy mô và mang tính tập thể, đây là điềm khác biệt lớn nhất so với hình thức nuôi con nuôi Việc nuôi con nuôi “mang tính chất

cá nhân và riêng tư”4, bởi vì sự chăm sóc, yêu thương của gia đình cha mẹ nuôi là hướng tới một cá nhân trẻ em cụ thể, đứa trẻ được sự quan tâm, chăm sóc thường xuyên, được thừa nhận là một thành viên của gia đình Trong một

số trường hợp một người hoặc hai người là vợ chồng có thể nhận nhiều đứa trẻ làm con nuôi, nhưng những đứa trẻ này vẫn có tình cảm gia đình, có quan

hệ cha mẹ và con, quan hệ anh chị em với nhau Điều đó mang lại cho đứa trẻ

sự tự tin, tình yêu thương, đảm bảo cho đứa trẻ được phát triển bình thường

mà sự nuôi dưỡng trong các cơ sở nuôi dưỡng không thể có được

4 Sớ Tư pháp Hà Nội (2003), “ Công tác giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam tại Hà Nội

làm con nuôi ” , Tham luận hội thảo tại Hà Nội.

8

Trang 16

Hình thức giám hộ được quy định tại Điêu 46 BLDS, theo đó, cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được lựa chọn theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của BLDS để• • • • • JL •/ • •thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Trong quan hệ giám hộ, người giám hộ không có nghĩa

vụ nuôi dưỡng mà chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục người được giám hộ và việc chăm sóc này chủ yếu bằng tài sản của người được giám hộ, giữa họ không có quan hệ cha mẹ và con Trong khi đó, trong quan hệ nuôi con nuôi, giữa các bên có quan hệ cha mẹ và con và nghĩa vụ nuôi dưỡng là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên

Với sự yêu thương, chăm sóc của gia đình nhận nuôi có ý nghĩa lớn đối với việc phát hiện và phát triển khả năng của trẻ Trẻ em sống trong gia đình mới sẽ tự tin và không bị mặc cảm với số phận Mặt khác điều đó có tác động tích cực đến việc hoàn thiện nhân cách của trẻ

1.2 Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi tại Việt Nam

1.2.1 Khái niệm về pháp luật nuôi con nuôi

Quan hệ nuôi con nuôi đã được điều chỉnh từ rất lâu trong lịch sử pháp luật thế giới, từ thời La Mã cổ đại đã hình thành chế định về pháp luật nuôi con nuôi Ớ Việt Nam vấn đề nuôi con nuôi cũng đã được quy định trong pháp luật từ thời phong kiến mà tiêu biểu là bộ Quốc triều hình luật và Hoàng việt luật lệ, mặc dù hai bộ luật này mang bản chất giai cấp phong kiến song vẫn chứa đựng nhiều yếu tổ tiến bộ

Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ Quốc triều hình luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác như: quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ và nhà chồng, anh- chị-em Việc nuôi con nuôi được quy định tại các Điều 380, 381, 506 theo

đó việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như

9

Trang 17

con đẻ, ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đôi với cha mẹ nuôi.

Bộ Hoàng việt luật lệ được ban hành dưới triều Nguyễn, đã có những quy định về nghĩa tử và nghĩa dưỡng Tử hệ nghĩa dưỡng là một tử hệ giả tạo (hay nhân tạo) được thiết lập bởi ý chí của các cá nhân trong những hoàn cảnh

và thể thức được luật pháp chuẩn nhận, nó cũng phát sinh những tương quan pháp lý tương tự như trong tử hệ tự nhiên, nhưng theo các điều kiện nhất định như: có thể nuôi một người đồng tông hay khác họ, trường hợp nếu biết rõ cha mẹ đẻ của dưỡng tử thì việc nhận dưỡng tử phải được cha mẹ đẻ của nó ưng thuận

Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia làm ba kỳ là Nam kỳ, Bắc kỳ,

và Trung kỳ Thực dân Pháp đã ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ áp dụng ớ Nam kỳ và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đã Nằng; Bộ dân luật Bắc kỳ được ban hành để thi hành trên toàn Bắc kỳ thay cho Bộ luật Gia Long

và Bộ luật dân sự Trung kỳ để thi hành trên toàn Trung kỳ về quan hệ gia đình, các bộ luật này đã quy định về vấn đề nuôi con nuôi Trong đó quy định khá cụ thể về hình thức (thể thức) của việc nhận con nuôi; về điều kiện lập con nuôi; về quan hệ giữa con nuôi với gia đình cha mẹ đẻ; về quyền và nghĩa

vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi Đây là một trong những điểm tiến bộ được ghi nhận trong Bộ Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ là đã có những điều khoản quy định về nghĩa vụ của cha mẹ với con cái nói chung và con nuôi nói riêng rất tiến bộ Với những điều khoản này, các Bộ Dân luật thời kì này đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc đề cao quyền con người đối với trẻ em nói chung và trẻ em được nhận làm con nuôi nói riêng trong gia đình Việt Nam dưới thời Pháp thuộc Ngoài nghĩa vụ cơ bản như bất kỳ triều đại nào trước đó là cha mẹ nuôi có nghĩa vụ nuôi nấng, chăm sóc, dạy bảo con nuôi, Điều 193 Dân luật Bắc kỳ và Điều 192 Dân luật Trung kỳ còn nói rõ “cha mẹ nuôi phải đối đãi con nuôi cũng như con đẻ”; ngược lại người con nuôi đối

10

Trang 18

với cha mẹ nuôi phải chịu các nghĩa vụ và phận sự như con đẻ; Luật cũng quy định chế tài đối với người đứng nuôi nếu đế con nuôi phải thiếu thốn, hoặc đối đãi tàn nhẫn thì tòa đệ nhị cấp có thể tuyên án tước bỏ người đứng nuôi (Điều 201 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 200 Bộ Dân luật Trung kỳ) Việc quy định chế tài này cũng là một điếm tiến bộ đáng kể trong pháp luật nuôi con nuôi thời kỳ này.

Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, tại Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và bảo vệ tất cả các quyền của công dân về chính trị, kinh tế, văn hóa trong đó có quyền được chăm sóc nuôi dưỡng của trẻ em, Điều 14 Hiến pháp ghi nhận “ trẻ em được săn sóc về mặt giáo dưỡng” Những quy định về nuôi con nuôi bước đầu mang tính “khai phá” là các quy định cơ sở Đen Hiến pháp năm 1959 là cơ sở pháp lí quan trọng để điều chỉnh quan hệ gia đình trong thời kì này, sau đó Luật HN&GĐ cũng đã được ban hành vào ngày 29/12/1959, Luật HN&GĐ năm 1959 là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi Tuy nhiên, vấn đề nuôi con nuôi mới chỉ được quy định rất sơ sài bởi một điều luật (Điều 24) Ở miền Bắc, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961 kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch Ngày 21/06/1961, Bộ Nội vụ ban hành Thông

tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng kí hộ tịch nói trên Ở miền Nam, cũng trong giai đoạn này, chính quyền Ngụy Sài Gòn đã ban hành Bộ Dân luật ngày 20/12/1972

Sau khi đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta bước sang một thời kỳ mới Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời và đã ghi rõ mục đích của việc nuôi con nuôi là “nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt” (Điều 34); Nhà nước Việt Nam luôn “khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm con nuôi” (Điều 38)

11

Trang 19

Luật cũng đã quy định điêu kiện vê con nuôi và nhận nuôi con nuôi, thủ tục công nhận việc nuôi con nuôi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong vấn đề nuôi con nuôi

Đến Luật HN&GĐ năm 2000 đã dành hẳn một chương (Chương VIII) quy định về con nuôi Song các vấn đề liên quan đến nuôi con nuôi còn được quy định tản mát trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, hai khung pháp lý

về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hầu như riêng rẽ, làm cho cơ chế thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi thiếu đồng bộ

và thống nhất Do đó, để khấc phục các hạn chế này Luật Nuôi con nuôi đã được Quốc hội Khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010 đã quy định một cách chi tiết, đầy đủ quan hệ nuôi con nuôi

Từ sự phân tích trên có thể hiểu pháp luật nuôi con nuôi là hệ thống tông

họp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh việc xác lập, thay đổi, chẩm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa người nhận nuôi, người được nhận nuôi và các chủ thê khác cỏ liên quan trong việc hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi.

1.2.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh việc nuôi con nuôi bằng pháp luật

Đe đảm bảo trật tự và ổn định xã hội, nhà nước nào cũng cần đến các công cụ, phương tiện điều chỉnh hành vi và các quan hệ xã hội của con người nhằm đưa các hành vi của cá nhân, tổ chức vào những khuôn khổ nhất định, theo những tiêu chí, nguyên tắc nhất định nhằm trật tự hóa các mối quan hệ xã hội về nguyên tắc, pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng,

có liên quan đến lợi ích chính đáng của cá nhân, lợi ích công cộng, lợi ích của quốc gia.5 Do quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi là quan hệ cha, mẹ và con đặc biệt, phát sinh trên cơ

sở ý chí, tình cảm giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi, quan hệ

5 Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất

bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

12

Trang 20

này được tạo lập một cách có chủ định mà không dựa trên cơ sở sinh học huyết thống tự nhiên nên cần có sự điều chỉnh bằng pháp luật Quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi không chỉ đơn thuần là việc đem lại cơm no, áo ấm cho trẻ mà nó còn là giúp cho trẻ có một gia đình thực thụ, được cha mẹ nuôi chăm sóc, đùm bọc, bảo vệ, chính vì vậy mà pháp luật quổc tế và pháp luật của mỗi quốc gia đều có nhũng quy định cụ thể và rõ ràng để điều chỉnh về vấn đề nuôi con nuôi nhằm bảo đảm được quyền cơ bản của trẻ em.

Chế định nuôi con nuôi được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì nó là sự bảo vệ về pháp lý rất cần thiết nhằm đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần được sự chăm sóc từ phía gia đình và xã hội Ớ Việt Nam pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi được hình thành từ lâu và được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các vãn bản quy phạm pháp luật khác Sự điều chinh thống nhất việc nuôi con nuôi và tăng cường trách nhiệm của toàn xã hội trong việc giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để các em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế, hòa nhập với cộng đồng và có điều kiện phát triển thành người có ích cho xã hội là tất yếu, đồng thời còn bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi, giúp họ ổn định tư tưởng và yên tâm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con nuôi như con đẻ Ngoài ra, còn thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của Việt Nam khi tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 và Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế Do đó, cần phải có hành lang pháp lý

ổn định cho việc bảo đảm quá trình giải quyết cho trẻ em làm con nuôi theo đúng tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; ngăn ngừa và chống các hành vi mua bán trẻ em hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi nhằm mục đích trục lợi khác

13

Trang 21

Trong những năm qua, pháp luật vê nuôi con nuôi của Việt Nam đã thê hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ, minh bạch, góp phần đấu tranh phòng chống hiện tượng mua bán trẻ em làm con nuôi hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; góp phần quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng

và giáo dục trong môi trường gia đình

Sự điều chỉnh bằng pháp luật việc nuôi con nuôi xuất phát từ những đặc điếm khách quan và bản chất cùa quan hệ nuôi con nuôi, từ yêu cầu phải bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi, do đó, việc điều chỉnh bằng pháp luật việc nuôi con nuôi là cần thiết bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất: Quan hệ nuôi con nuôi là quan hệ cha mẹ và con phát sinh trên cơ sở ỷ chỉ của các chủ thê mà không phải phát sinh một cách tự nhiên từ quan hệ huyết thống.

Quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi là quan hệ cha, mẹ và con đặc biệt, các chủ thể trong quan hệ pháp luật nuôi con nuôi bao gồm cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi và con nuôi Quan

hệ này phát sinh dựa trên ý chí, tình cám giữa các bên chù thể, được tạo lập một cách có chủ định Việc nuôi con nuôi phải được thực hiện trên tinh thần• • • JL * * *

tự nguyện, các chủ thể liên quan đến việc cho, nhận con nuôi phải thể hiện ý chí của mình một cách tự nguyện và trung thực Tất cả phải xuất phát từ sự chủ động, từ yếu tố tình cảm, nhu cầu thiết thực, có suy nghĩ kĩ càng trước khi

đi đến quyết định Việc có xác lập quan hệ cha mẹ con hay không là do chính bản thân các chủ thể của quan hệ này quyết định trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chủ động và hiếu biết đầy đủ về hậu quả pháp lí của nó

Vì không phải là một quan hệ tự nhiên nên các bên chủ thể phải có các điều kiện, không như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ hình thành một cách

tự nhiên bằng con đường huyết thống, sự gắn bó tình cảm và mối liên hệ giữa

14

Trang 22

cha mẹ đẻ với con đẻ là quy luật tự nhiên có tính bên vững, không thê thay đổi bởi nguồn gốc huyết thống Trong khi đó nuôi con nuôi là việc đưa một đứa trẻ vào một môi trường gia đình với bố mẹ nuôi, không phải bố mẹ ruột của trẻ theo nguyên tắc nhất định.

Vì vậy, pháp luật cần quy định những điều kiện cần thiết, cơ bản nhất phải có đối với người nhận nuôi và người được nhận nuôi và con nuôi, đề việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng, bảo đảm việc xác lập quan hệ cha mẹ và con lâu dài, bền vững, đồng thời bảo đảm tạo được môi trường gia đình an toàn cho trẻ, trẻ được hưởng sự nuôi dưỡng, giáo dục tốt nhất

Thứ hai: Mục đích của việc nuôi con nuôi là xác lập quan hệ cha mẹ và con, hảo vệ quyền cơ bản của trẻ em

Việc nuôi con nuôi, trước hết phải xuất phát từ mục đích là vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi Lợi ích tốt nhất đối với trẻ em được nhận làm con nuôi phải xem xét trong mọi mặt cuộc sổng của trẻ em, liên quan đến suốt cuộc đời của trẻ, do đó cần phải cân nhắc một cách toàn diện về lợi ích của trẻ và là yếu tố có tính quyết định đến việc cho, nhận con nuôi Quyết định cho, nhận con nuôi nhằm mang lại cho trẻ được nhận làm con nuôi một mái ấm gia đình, được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Đồng thời việc nuôi con nuôi cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi, nhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha, mẹ và con cái Bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em, việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, nhất là những cặp

vợ chồng vô sinh, hiếm con; phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân

Xuất phát từ ý nghĩa xã hội và mục đích nhân đạo của việc nuôi con nuôi, nên càn phải có pháp luật điều chỉnh cụ thế, phải quy định rõ mục đích của việc nuôi con nuôi, nhằm tránh những hành vi lạm dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm quyền trẻ em Ví dụ: buôn bán trẻ em, sử dụng trẻ em

15

Trang 23

vào những hoạt động phi pháp, trái đạo đức hoặc nuôi con nuôi vì mục đích trục lợi

Điều 2 Luật Nuôi con nuôi 2010 đã chỉ rõ mục đích của nuôi con nuôi là: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, hảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình".

Thứ ba: Trong quan hệ nuôi con nuôi luôn tồn tại ba mối quan hệ cơ bản: Quan hệ cha mẹ nuôi với con nuôi, con nuôi với cha mẹ đẻ, cha mẹ đẻ

và cha mẹ nuôi.

Kể từ thời điểm được nhận làm con nuôi thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ Cụ thể là: Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thưong yêu, trông nom, nuôi dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quyền thừa kế của nhau

Ngoài các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, người con được cho làm con nuôi không chấm dứt hoàn toàn quan hệ với cha mẹ đẻ Con nuôi vẫn có quyền thừa kế của cha mẹ đẻ và ngược lại, cha mẹ đẻ vẫn có quyền thừa kế của con đã cho làm con nuôi Quy định này tồn tại từ Quốc triều hình luật, cho đến tận ngày nay đều có quy định con nuôi vẫn có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ đẻ.6

6 Nguyễn Phương Lan (2011), “ Hệ quá pháp lý của việc nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi Việt Nam ”,

Luật học, (10).

Người đã được nhận làm con nuôi đã thiết lập quan hệ nuôi dưỡng với cha nuôi, mẹ nuôi nhưng không vì thế mà quan hệ huyết thống với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ ruột bị mất đi Do vậy, việc kết hôn giữa

16

Trang 24

người con nuôi và những người thân thuộc trong mối quan hệ huyết thống vẫn

bị cấm trong phạm vi ba đời

về quan hệ giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi: Trong quá trình thực hiện việc cho, nhận con nuôi thì cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có mổi liên hệ• • 7 • • • •với nhau trong việc thỏa thuận thực hiện một số quyền theo quy định của pháp luật như: thỏa thuận về việc thay đổi phần khai về cha, mẹ từ cha, mẹ

đẻ sang cha, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh và sổ đăng ký khai sinh của con nuôi hoặc thỏa thuận giữ lại một số quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với quy định của pháp luật

Vi vậy, việc quy định, điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể là cần thiết, đảm bảo sự ổn định, bền vững lâu dài của quan hệ nuôi con nuôi, cũng như bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của các bên chủ thể, mà trước hết là của trẻ em được nhận nuôi

Thứ tư: Việc nuôi con nuôi, đặc biệt là việc nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài cần phải được điều chinh bằng pháp luật

Ke từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đối mới đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, giao lưu về mọi mặt giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng phát triển, thì các quan hệ về hôn nhân

và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài, trong đó có các quan hệ nuôi con nuôi cũng ngày càng phát triển Việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý an toàn, vững chắc cho việc giải quyết và quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này là điều cần thiết nhằm ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý những hành vi lợi dụng việc nuôi con nuôi đế mua bán, chiếm đoạt trẻ em Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài có thể có nguy cơ dẫn đến những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền của trẻ em, bời nhũng hành vi mua bán trẻ em nhằm mục đích trục lợi Do đó, việc quy định cụ thể các điều kiện, thủ tục, quy trình chặt chẽ trong toàn bộ quá trình xác lập, thực hiện việc nuôi con nuôi, cũng như những chế tài cần thiết khi có

17

Trang 25

hành vi vi phạm là cân thiêt.

Thứ năm: Đảm bảo sự phù hợp và tương thích với luật pháp quốc tế

Nuôi con nuôi là một vấn đề quan trọng không chỉ trong hệ thống pháp luật của nhiều nước mà còn thể hiện rất rõ trong pháp luật quốc tế vấn đề nuôi con nuôi được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì

nó là sự bảo vệ về pháp lý rất cần thiết nhằm đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần được sự chăm sóc từ phía gia đình và xã hội Chính vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, tuy mỗi nước có những quy định khác nhau về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, nhưng đều có chung một mục đích đó là nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em

Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế đa phương, ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm tạo ra một cơ chế hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa Việt Nam với các nước liên quan về lĩnh vực nuôi con nuôi, đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện được hưởng những gì tốt đẹp nhất, cũng như tạo thuận lợi hơn về mật thủ tục cho cha mẹ nuôi trong lĩnh vực này, đồng thời hạn chế đến mức tối đa những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này Do đó, việc làm cho pháp luật Việt Nam hài hoà với thông lệ quốc tế cũng như pháp luật của nhiều nước về nuôi con nuôi là việc làm cần thiết, nhằm đảm bảo tốt nhất lợi ích của trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài

Thứ sáu: Quy định các quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi là cơ sở pháp lỷ đế giải quyết các tranh chấp phát sinh, cũng như có cơ sở pháp lý đề

xử lỷ những hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Các quy định của pháp luật về nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để giải quyết một cách hợp tình họp lý, phù họp với thực trạng khách quan của quan

hệ nuôi con nuôi và bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các bên khi

18

Trang 26

xảy ra tranh châp vê quyên và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và con nuôi trong quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi, cũng như xử lý các hành vi

vi phạm của cá nhân, tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực nuôi con nuôi Bới không có các quy định mang tính quy phạm thì cơ quan nhà nước sẽ không có căn cứ để giải quyết, vì vậy quyền và lợi ích của các bên không được bảo đảm trong những trường hợp xảy ra tranh chấp hoặc có hành vi vi phạm trong lĩnh vực này

1.3 Pháp luật về nuôi con nuôi của một số nước trên thế giới

1.3.1 Pháp luật nuôi con nuôi của Nhật Bản

Pháp luật của Nhật Bản sự có sự phân biệt cụ thể giữa huỷ việc nuôi con nuôi và chấm dứt việc nuôi con nuôi Điều 814 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định một trong các bên của quan hệ nhận con nuôi có thể khởi kiện để chấm dứt quan hệ nhận con nuôi trong những trường hợp sau đây: (i) nếu bên khởi kiện đã bị bên kia ngược đãi thậm tệ; (ii) nếu sau 3 năm hoặc lâu hơn mà vẫn không rõ người được nhận làm con nuôi đã chết hay còn đang sống; (iii) nếu có nguyên nhân dẫn đến việc tiếp tục quan hệ nhận con nuôi trở lên khó khăn Đồng thời, Điều 739 và Điều 802 quy định: “việc nuôi con nuôi bị hủy khi không có ý chí chung của các bên trong việc nhận con nuôi, lồi về lý lịch của người con nuôi hoặc vì các nguyên nhân khác; khi việc đăng ký nhận con nuôi không thực hiện theo đúng quy định.7 Tuỳ từng trường họp cụ thể, việc nuôi con nuôi còn có thể bị húy khi vi phạm các điều kiện nuôi con nuôi.8

7 Xem Điều 802 và Điều 739 Bộ luật Dân sự Nhật Bản

8 Xem Điều 804 đến 806 Bộ luật Dân sự Nhật Bản.

Bộ luật Dân sự của Nhật Bản còn quy định: người nhận con nuôi phải

là người chưa thành niên Nếu người nhận con nuôi chưa thành niên thì có thể yêu cầu Toà án huỷ việc nuôi con nuôi Việc nuôi con nuôi vẫn được công nhận nếu người nhận con nuôi đã qua sáu tháng kể từ ngày thành niên hoặc

19

Trang 27

người con nuôi chấp nhận việc nuôi con nuôi.9 Như vậy, việc tuyên bố hủy việc nuôi con nuôi càn được giải quyết một cách mềm mỏng, linh hoạt để đảm bão quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

9 Xem Điều 804 Luật Dân sự Nhật Bản.

Người được nhận làm con nuôi không bị giới hạn về độ tuổi, trừ trường hợp là người cao tuổi

1.3.2 Pháp luật nuôi con nuôi tại Pháp

Pháp là nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi đứng thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ) và chiếm vị trí số một tại Châu Âu Một trong những nước mà Pháp xin nhận con nuôi nhiều nhất chính là Việt Nam Tính từ khi Hiệp định năm 2001 về hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Pháp có hiệu lực, hơn 2000 trẻ em Việt Nam trên tổng số 5876 trẻ em đã được công dân Pháp nhận làm con nuôi Tính đến nay, danh sách chờ xin con nuôi ở Việt Nam của riêng cơ quan con nuôi AFA - Pháp là khoảng 2200 hồ sơ

Nguồn cơ bản của các quy định về nuôi con nuôi quốc tế của Pháp

i Công ước La Hay 1993;

i Hiệp định định hợp tác về nuôi con nuôi giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Pháp;

ii Đạo luật ngày 6-2-2001 về giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế Đạo luật quy định về nuôi con nuôi và các hệ quả tại Pháp của các quyết định nuôi con nuôi nước ngoài Các quy định về xung đột pháp luật của Pháp đã được xây dựng theo hướng của các án lệ Pháp, do Tòa Giám đốc thẩm tuyên, trong đó có hai phán quyết nổi tiếng là phán quyết Pistre và Torlet, đưa ra quy phạm xung đột pháp luật về nuôi con nuôi nước ngoài

Nguyên tắc chung của việc nhận nuôi con nuôi nước ngoài

Nguyên tắc chủ yếu là xác định luật áp dụng đối với các điều kiện liên

20

Trang 28

quan đên người xin nhận con nuôi và luật áp dụng đôi với các điêu kiện liên quan đến trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi Theo quy định của Điều 370-3 đạo luật năm 2001, việc nuôi con nuôi phải tuân thủ các điều kiện quốc gia của người xin nhận con nuôi Trong trường hợp hai vợ chồng nhận con nuôi thì phải tuân thủ các quy định của luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân của hai

vợ chồng Việc nuôi con nuôi của hai vợ chồng sẽ không được thực hiện nếu pháp luật quốc gia của hai vợ chồng cấm đoán việc nuôi con nuôi Ngoài ra,việc xin nhận con nuôi (trẻ vị thành niên) cũng không được thực hiện nếu như pháp luật của trẻ em nước ngoài cấm đoán việc nuôi con nuôi, trừ trường hợp trẻ em đó được sinh ra và sống tại Pháp

Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi nước ngoài được thực hiện tại Pháp chính là hệ quả theo pháp luật của Pháp Nếu như quyết định nuôi con nuôi đã được tuyên ở nước ngoài thì việc nuôi con nuôi sẽ phát sinh hệ quả pháp lý của một trong hai hình thức: (i) nuôi con nuôi đơn giản hoặc (ii) nuôi con nuôi trọn vẹn Tòa án Pháp sẽ căn cứ vào ý kiến đồng ý của người có thẩm quyền cho trẻ em làm con nuôi để tuyên bố hình thức nhận con nuôi (Điều 370-4 và Điều 370-5 Đạo luật ngày 06-02-2001)

Thù tục xin nhận con nuôi nước ngoài

Ở Pháp thủ tục xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi được chia thành hai loại:

i Đối với trẻ em của những nước là thành viên của Công ước La Hay 1993 thì áp dụng thủ tục theo quy định của công ước

ii Các trường hợp còn lại sẽ không tuân theo thủ tục quy định tại Công ước La Hay 1993

1.3.3 Pháp luật về nuôi con nuôi của Trung Quốc

Trung Quốc hiện là một trong những nước cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài nhiều nhất trên thế giới, sổ lượng hồ sơ xin con nuôi nộp tại cơ quan

21

Trang 29

trung ương của Trung Quôc tăng nhanh Sô lượng trẻ em có thê được cho làm con nuôi thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu của người xin con nuôi.

Nguồn cơ bản của các quy định về nuôi con nuôi của Trung Quốc

i Công ước La Hay 1993;

ii Luật Nuôi con nuôi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 29/12/1991 và được sửa đổi ngày 04/11/1998;

iii Nghị định số 15 của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sừa đổi các biện pháp đăng ký nuôi con nuôi của người nước ngoài ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 12/05/1999

Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cả cha, mẹ nuôi và con nuôi trên nguyên tắc công bằng, tự nguyện và không trái đạo đức xã hội

Việc nuôi con nuôi không được trái với các quy định của Luật kế hoạch hóa gia đình

Người nước ngoài nhận trẻ em Trung Quốc làm con nuôi phải thực hiện các biện pháp đăng ký phù hợp với Luật nuôi con nuôi của Trung Quốc, tuân theo pháp luật Trung Quốc và các quy định pháp luật liên quan về nuôi con nuôi của nước mà người xin con nuôi cư trú

Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa luật của Trung Quốc và luật của người xin con nuôi cư trú thì các cơ quan, ban ngành của chính phủ hai nước

sẽ đàm phán để thống nhất cách giải quyết

Người nước ngoài xin con nuôi thông qua chính phủ của nước người đó

cư trú hoặc tồ chức con nuôi của nước đó được phép hoạt động tại Trung Quốc, gửi hồ sơ đến tổ chức nuôi con nuôi của Trung Quốc

Sau khi kiểm tra đơn xin nuôi con nuôi, những tờ liên quan của người nước ngoài xin con nuôi và xem xét nguyện vọng của người nước ngoài xin con nuôi, tổ chức nuôi con nuôi của Trung Quốc sẽ lựa chọn trẻ em làm con

22

Trang 30

nuôi thích hợp trong sô những trẻ em được Sở Nội vụ của chính quyên nhân dân cấp tỉnh, vùng tự trị hoặc thành phố tự trị dưới sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương giới thiệu làm con nuôi Trẻ em đó phải đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Luật Nuôi con nuôi và sẽ thông qua chính quyền nước ngoài hoặc cơ quan nuôi con nuôi nước ngoài gửi cho người xin con nuôi thông tin về trẻ em được cho làm con nuôi và người giao trẻ em làm con nuôi.

Neu người nước ngoài xin con nuôi đồng ý nhận trẻ em đó làm con nuôi thì tổ chức nuôi con nuôi của Trung Quốc sẽ thông báo cho người xin con nuôi đến Trung Quốc để nhận con nuôi, đồng thời cũng báo cho các cơ quan hữu quan như Sờ Nội vụ của chính quyền nhân dân tỉnh, vùng tự trị hoặc thành phố tự trị dưới sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương và gửi cho người giao trẻ em làm con nuôi văn bản thông báo của người nước ngoài đồng ý nhận trẻ em làm con nuôi

Ở Trung Quốc, trẻ em dưới 14 tuổi có thể được làm con nuôi người nước ngoài nếu thuộc diện: mồ côi, bị bõ rơi hay gia đinh khỏ khăn không có khả năng nuôi dưỡng

Một cặp vợ chồng người nước ngoài muốn xin trẻ em Trung Quốc làm con nuôi phải đáp ứng được những điều kiện tương đối ngặt nghèo:

i Họ phải ở độ tuổi từ 30 đến 50 Nếu nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thì phải từ 30 đến 55 tuổi

ii Vợ chồng đang trong thời kỳ hôn nhân thì ít nhất phải kết hôn từ

2 năm trở lên Nếu đã từng ly hôn (không quá hai lần) thì thời gian kết hôn của họ phải trên 5 năm

iii Cả hai vợ chồng đều phải khỏe mạnh, không được mắc các bệnh như:

+ AIDS;

23

Trang 31

viii Cả hai vợ chồng không thuộc một trong các trường hợp:

+ Có tiền sử về bạo lực gia đình, lạm dụng tình dục, bõ rơi hoặc lạm dụng trẻ em;

+ Có tiền sử dùng chất ma túy;

+CÓ tiền sử nghiện rượu và thời gian cai nghiện dưới 10 năm

Neu một người đàn ông không có vợ xin trẻ em gái làm con nuôi thì ngoài các điều kiện chung cần đáp ứng, người đàn ông này bắt buộc phải hơn con nuôi ít nhất 40 tuổi

Trong trường họp người vợ hoặc chồng giao con mình làm con nuôi sau khi người chồng hoặc người vợ kia qua đời thì bố, mẹ đẻ của người chồng, người vợ qua đời được quyền ưu tiên nuôi dưỡng đứa trẻ Với quy định này thì ông, bà sẽ được quyền ưu tiên nuôi cháu khi cha, mẹ của trẻ em qua đời

24

Trang 32

CHU ÔNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NUÔI CON NUÔI• • • •

Ở VIỆT NAM

2.1 Quy định pháp luật về nuôi con nuôi

2.1.1 Điều kiện nuôi con nuôi

2.1.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi

* Đối với người nhận con nuôi trong nướcĐiều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện gồm: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trờ lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ờ bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt

Thứ nhất, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: người có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ là người thành niên (người từ đủ mười tám tuổi trở lên) và không phải là người bị Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, 23, 24 BLDS 2015 Đáng chú ý

là nếu người nhận nuôi mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác dẫn đến có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nhưng chưa có quyết định tuyên

bố của Tòa án thì chưa có quy định về việc từ chối giải quyết việc nhận nuôi con nuôi đối với những người này

Thứ hai, điều kiện “hơn con nuôi từ 20 tuổi trờ lên”: đây là điều kiện về

độ tuổi của người nhận con nuôi Tuy không quy định về độ tuổi tối thiểu để có thể nhận nuôi con nuôi nhưng pháp luật Việt Nam lại quy định sự chênh lệch tối thiểu về độ tuổi giữa người được nhận nuôi và người nhận nuôi Có thế nói

sự chênh lệch về độ tuổi này sẽ đảm bảo được người nhận con nuôi sẽ đủ năng lực hành vi dân sự cũng như hoàn thiện về tâm sinh lý và đảm bào đủ về khả

25

Trang 33

năng tài chính đê có thê nuôi một đứa trẻ có điêu kiện sông tôt Ngoài ra, còn đảm bảo đuợc truyền thống gia đình, giúp cho cả cha mẹ nuôi và con nuôi có cách cư xử đúng mực với nhau Khoảng cách độ tuổi cũng là biện pháp để nhà làm luật giảm bớt khả năng lạm dụng tình dục của người nhận nuôi với con nuôi Khoảng cách này không áp dụng đối với một số trường hợp theo quy định của luật như trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ,

Như vậy, Luật chỉ quy định khoảng cách về độ tuồi tối thiểu giữa người nhận nuôi và con nuôi, nhưng luật chưa quy định về độ tuổi tối đa của người nhận nuôi Điều này dễ dẫn đến thực tể nhiều người có tuổi cao, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người nhận nuôi lúc này bị hạn chế khiến cho lợi ích của trẻ được nhận nuôi không được bảo đảm, mục đích cùa việc nuôi con nuôi sẽ không đạt được

Thứ ba, về điều kiện “có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chồ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”: về điều kiện về sức khỏe cúa người nhận nuôi phải tốt, không được mắc bệnh hiếm nghèo vì nếu cha mẹ nuôi không có được sức khỏe tốt thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái cũng

sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều Ngoài ra người nhận nuôi còn phải có đủ điều kiện kinh tế, tài chính và phải chứng minh được có tài sản, có thu nhập để đảm bảo cho trẻ một môi trường sống ổn định Cùng đó thì người nhận con nuôi cũng phái dành ra quỹ thời gian để quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, chơi đùa cũng trẻ Nhiều cha mẹ nuôi tuy đầy đủ điều kiện về mặt sức khỏe, tài chính nhưng lại không thế đủ thời gian dành cho con nuôi thì vẫn có thế sẽ không được xem là

đủ điều kiện này Tuy nhiên, luật lại chưa xác định cụ thể thế nào là được coi

là đảm bảo điều kiện này và cũng không có quy định về việc miền điều kiện này có được áp dụng đối với vợ hoặc chồng của cô, dì, chú, bác, cậu ruột nhận cháu làm con nuôi hay không, do vậy, gây nên nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng;

26

Trang 34

Thứ tư, điêu kiện “có tư cách đạo đức tôt”: Cha mẹ là tâm gương phản chiếu lại tính cách, nhân cách của mỗi đứa trẻ Neu như cha mẹ không có tư cách đạo đức tốt thì đứa trẻ sau này cũng không thể tốt Đồng thời với quy định này hạn chế việc lợi dụng trẻ vào những mục đích không tốt Vì vậy, đây

là một yếu tổ cần thiết đảm bảo cho con nuôi được sống trong môi trường gia đình lành mạnh Tuy nhiên trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ

kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về độ tuổi, điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chồ ở Mặc dù đây là một điều kiện cần thiết, tuy nhiên cũng giống như điều kiện thứ ba, Luật lại không có quy định cụ thể tiêu chí nào để xác định như thế nào là một người “có tư cách đạo đức tốt”

Ngoài những điều kiện nêu trên, những người sau đây không được nhận con nuôi:

- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cụ thể như trường hợp cha mẹ bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lồi cố ý hoặc có hành

vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản cùa con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh như trại cai nghiện, trại cải tạo, cơ sớ phục hồi nhân phẩm

- Đang chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo

- Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông

bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dồ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

27

Trang 35

* Điêu kiện đôi với người nhận nuôi có yêu tô nước ngoàiNgoài các điều kiện theo quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010 (những điều kiện được áp dụng đối với người nhận nuôi trong nước) thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo pháp luật của nước nơi người nhận nuôi thường trú Trên thực tế, có những trường hợp khó khăn trong việc xác định điều kiện của người nhận nuôi như: pháp luật một số nước công nhận hôn nhân đồng giới và cho phép những người này có quyền nhận con nuôi,

2.1.1.2 Điều kiện đối với người được nhận nuôi

Thứ nhất, xét về độ tuổi, theo Điều 8 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định thì độ tuổi của của người được nhận làm con nuôi có các trường hợp sau:

Một là, trẻ em dưới 16 tuổi, theo Điều 21 BLDS 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi và người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Ở lứa tuổi chưa thành niên trẻ chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa thể độc lập khi tham gia vào các giao dịch dân sự nếu không có sự đồng ý của người giám hộ Cho nên pháp luật Việt Nam quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là trẻ dưới 16 tuổi

Hai là, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ

kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi thì vẫn được nhận làm con nuôi Vì khi từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, nhưng khi thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý Những giao dịch đó là giao dịch lớn và trẻ vẫn chưa đủ chín chắn trong nhận thức để quyết định nên cần có người giám hộ đồng ý và

28

Trang 36

chỉ những người được xem là thân thích nhât với trẻ mới được nhận trẻ làm con nuôi trong trường hợp này để tránh một phần nào đó việc lợi dụng trẻ cho những mục đích không tốt của người nhận nuôi trẻ.

Ngoài điều kiện về độ tuổi, một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng Một gia đình có thể nhận nhiều người con nuôi nhưng một người con nuôi chỉ có thể có làm một con nuôi của gia đình mới Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ

em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi Luật nuôi con• 2 • • •nuôi năm 2010 không cho phép người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi riêng, việc nhận con nuôi khi đã có vợ/chồng cần có sự thống nhất ý chí của người còn lại Vợ chồng nhận nuôi con nuôi phải có hôn nhân hợp pháp, được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn thì không được nhận con nuôi Luật cũng không cho phép một người được nhận làm con nuôi của nhiều gia đình hoặc nhiều người độc thân

2.1.2 Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi

Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định đăng ký việc nhận nuôi con nuôi là điều kiện cần thiết để quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được pháp luật công nhận Đây cũng là thủ tục bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi của

cả người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi

* Đối với việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký là ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là ủy ban nhân dân cấp xã), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc cỏ sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì cơ quan có thẩm

29

Trang 37

quyên đăng ký là Uy ban nhân dân câp xã thường trú của người nhận con nuôi Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bàn xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em

ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi

có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi

Trình tự thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi được quy đinh tại Điều

19, 20, 22 Luật nuôi con nuôi và các Điều 8-10 Nghị định số 19/2011/NĐ-

CP Theo đó, hồ sơ nhận nuôi con nuôi được chủ thể có quyền nộp tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết Thời hạn giãi quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày kể từ ngày Cơ quan có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ họp lệ

* £>óz với việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là

ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi Trường hợp trẻ em ờ cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi và Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra và xừ

lý hồ sơ của người nhận con nuôi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ

hồ sơ hợp lệ từ Sở Tư pháp Khi thẩm định hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Cục Con nuôi lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội đế xác định người nhận con nuôi có điều kiện tốt nhất đề chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi Sau khi thẩm định nếu không chấp thuận, Cục Con nuôi trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do bằng văn bản

Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con

30

Trang 38

nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú ở nước không có Cơ quan đại diện, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất đối với họ Neu các bên có đủ điều kiện, Cơ quan đại điện• • • • z X * *đăng ký việc nuôi con nuôi trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày lấy ý kiến của những người liên quan.

2.1.3 Thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi

Điều 16-23 Luật nuôi con nuôi 2010, nhằm tạo điều kiện cho những cặp vợ chồng hoặc những người độc thân có nhu cầu và đủ điều kiện xin nhận nuôi con nuôi trong nước nhưng vần chưa tìm được trẻ thích hợp thì có thể đăng ký nhu càu nhận con nuôi với Sở Tư pháp nơi người đó thường trú; nếu

có trẻ em để giới thiệu làm con nuôi thì Sở Tư pháp giới thiệu đến ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em đó thường trú để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật

* Lập và nộp hồ sơ nuôi con nuôi bao gồm:

□ Hồ sơ của người nhận con nuôi trong nước được lập thành 01 bộ gồm có (Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010):

- Đơn xin nhận con nuôi

- Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế

- Phiếu lý lịch tư pháp

- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân

- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bảnxác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do ủy ban

Trang 39

Khi người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi không thuộc diện cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kể nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi và không cùng thường trú tại một địa bàn xã, thì việc xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi được thực hiện như sau:

- Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng kỷ việc nuôi con nuôi tại Úy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi, thì văn bản về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi do ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó thường trú xác nhận

- Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú, thì công chức tư pháp - hộ tịch xác minh hoàn cảnh gia đình, tình trạng chồ ở, điều kiện kinh

tế của người nhận con nuôi

□ Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi (Điều 18 Luật Nuôi con nuôi 2010):

Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng và hồ sơ của người được nhận làm con nuôi bao gồm:

- Giấy khai sinh

- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp

- Hai ảnh toàn thân, nhìn thắng chụp không quá 06 tháng

- Biên bản xác nhận do úy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bở rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối

32

Trang 40

với trẻ em mô côi; quyêt định của Tòa án tuyên bô cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đổi với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đề mất năng lực hành vi dân sự.

- Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng

* Giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi (Điều 19 - Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010):

Sau khi đã hoàn thành hồ sơ của người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi, người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ tại úy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú và thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ

Khi đó ủy ban nhân nhân cấp xã tiếp nhận hồ sơ thì phải tiến hành kiềm tra hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch phải nghiên cứu, tìm hiểu tâm

tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan Trường hợp người được nhận làm con nuôi có cha mẹ đẻ, thì công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra việc cha mẹ đẻ có thỏa thuận với cha mẹ nuôi để giữ lại quyền, nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi

Việc lấy ý kiến những người liên quan do công chức tư pháp - hộ tịch của ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện và việc lấy ý kiến về việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại Thậm chí trong trường họp cha mẹ ruột của trẻ không còn chung sống với nhau mà

33

Ngày đăng: 12/07/2022, 09:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hồng Bắc (2003), Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đôi mới và hội nhập. Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đôi mới và hội nhập
Tác giả: Nguyễn Hồng Bắc
Năm: 2003
2. Bộ Tư pháp (2003), Hỏi - đáp về đăng kỷ việc nuôi con nuôi, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - đáp về đăng kỷ việc nuôi con nuôi
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2003
3. Bộ Tư pháp (2005), Hội thảo pháp luật Cộng hòa Liên hang Đức về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Tổ chức tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo pháp luật Cộng hòa Liên hang Đức về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
4. Bộ Tư pháp (2006), Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 08/12 hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 08/12 hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2006
5. Chính phủ (2002), Nghị định so 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định so 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7 sửa đôi bô sung một sổ điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một sổ điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7 sửa đôi bô sung một sổ điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một sổ điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phù (2011), Nghị định so 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định so 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi
Tác giả: Chính phù
Năm: 2011
8. Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp (2006), Pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
9. Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp (2009), Pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam và một số nước trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam và một số nước trên thế giới
Tác giả: Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2009
10. Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp (2009), Báo cáo rà soát quy định pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát quy định pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi
Tác giả: Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp
Năm: 2009
11. Phạm Thùy Dương (2006), Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài - thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài - thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Phạm Thùy Dương
Năm: 2006
12. Lê Thị Ngọc Hoa (2009), ’’Những tồn tại trong cơ chế giải quyết vấn đề con nuôi quốc tế và giải pháp khắc phục”, Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề pháp luật về nuôi con nuôi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lê Thị Ngọc Hoa
Năm: 2009
14. Nguyễn Phương Lan (2009), ” Nuôi con nuôi thực tế: thực trạng và giải pháp”, Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề pháp luật về nuôi con Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Phương Lan
Năm: 2009
13. Đào Thị Thu Hường (2004), Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài hướng tới gia nhập Công ước La Hay Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w