Các công trình ở dạng bài viết như: Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thực trạng và một số giải pháp của tác giả Nông Xuân Trường thuộc Vi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công hố trong hất kỳ công trình nào khác Các số liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chỉnh xác, tin cậy và trung thực, khoa học Đồng thời tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của luận văn Tỏi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị khoa luật xem xét để tôi có thể hảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Quan Thị Tuyến
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA Bộ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự NÃM 2015 VÈ NHIỆM vụ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIẺM SÁT TRONG TIẾP NHẬN VÀ KIỂM SÁT NGUỒN TIN VÈ TỘI PHẠM 8
1.1 Một số vấn đề lý luận 8
1.1.1 Đổi tượng, phạm vi và nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp 11
1.1.2 Ý nghĩa, vai trò của kiểm sát hoạt động tư pháp 14
1.2 Quy định của BLTTHS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiếm sát trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm 18
1.2.1 Khái niệm và các nguồn tin về tội phạm 18
1.2.2 Khái niệm hoạt động kiểm sát nguồn tin về tội phạm 24
1.2.3 Đặc điếm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát• ĩ • • • 7 i • • trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm 28
1.3 Trình tự, thủ tục trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của • 7 • CT • • • • • 7 > •/ • Viện kiểm sát trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm 30
1.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm 30
1.3.2 Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm 35
1.3.3 Kiểm sát kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 38
Kết luận chương 1 40
Trang 3CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG THựC HIỆN NHIỆM vụ, QUYỀN
HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIẾM SÁT TRONG TIẾP NHẬN VÀ KIÉM SÁT NGUỒN TIN VÈ TỘI PHẠM
TÙ THỤC TIỄN TỈNH HÀ GIANG 41
2.1 Tình hình tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm 41
2.2 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát• • • • • 7 ± • • trong việc tiếp nhận, kiểm sát tiếp nhận nguồn tin về tội phạm 43
2.2.1 Thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm 43
2.2.2 Thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm 47
2.3 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 56
2.4 Một số hạn chế, tồn tại, nguyên nhân trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm 57
2.4.1 Những hạn chế, bất cập 57
2.4.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 64
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỤC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIẺM SÁT TRONG CÔNG TÁC TIẾP NHẬN, KIỂM SÁT NGUỒN TIN VÈ TỘI PHẠM 68
3.1 Dự báo những yếu tố ành hưởng đến việc thực hiện tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm từ thực tiễn tỉnh Hà Giang 68
3.1.1 về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Giang 68
3.1.2 về tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang 69
Trang 43.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiêm sát việc tiêp nhận
nguồn tin về tội phạm 71
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện tốt công tác tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm 71
3.2.2 Giải pháp nâng cao công tác tồ chức, chỉ đạo điều hành 74
3.2.3 Giải pháp về công tác cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất 76
3.2.4 Giải pháp về tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 78
3.2.5 Tăng cường giám sát đối với hoạt động của Viện kiểm sát 80
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6MỞ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao quyền năng pháp lý cho cơ quan duy nhất có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự đó là Viện kiểm sát Viện kiếm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình kiếm sát tính hợp pháp,tính có căn cứ của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Bảo đảm mọi cho pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, đồng thời mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý, không bò lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp từ giai đoạn tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
Đây là hoạt động mở đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, là căn
cứ đế kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ
án hình sự Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt
động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm" chỉ rõ: Viện kiểm sát các cấp phải kiểm sát chặt chẽ
việc tiếp nhận, giải quyết đối với toàn bộ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cúa Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
1
Trang 7hành một số hoạt động điều tra, nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người không phạm tội ngay từ đầu Như vậy, có thể khẳng định hoạt động kiếm sát tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiếm sát có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết đế đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội được phát hiện và xử lý kịp thời và đúng pháp luật, đây là một hoạt động không thể thiếu trong tố tụng hình sự Thực tiễn Thực hành quyền công tố cho thấy, nếu kiềm sát tốt nguồn tin về tội phạm thì sẽ giúp cho việc đồng ý hoặc hủy bỏ các quyết định khởi tố hay không khởi tố của Viện kiểm sát đổi với Cơ quan điều tra chính xác và có căn cứ, đồng thời quyết định chất lượng Thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và Cáo trạng truy tố đảm bảo
xừ lý theo đúng quy định của pháp luật, tránh làm oan, sai và bỏ lọt tội phạm
BLTTHS năm 2015 đã quy định VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm với 11 điều luật cụ thể và 40 điều khoản sửa đối, bố sung xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia tố tụng Theo đó, VKS chuyển từ nhiệm vụ kiểm sát (mang tính thụ động) sang thực hành quyền công tố và kiểm sát (mang tính chủ động, tích cực, gắn và đồng hành với hoạt động của CQĐT) Có thể nói đây là bước chuyền căn bản trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, góp phần quan trọng vào việc chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm Nhưng thực tiễn cũng cho thấy việc thực hiện nhiệm vụ kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm của Viện kiểm sát vẫn còn tồn tại một số hạn chế Do vậy, việc phân tích làm rỗ quy định của BLTTHS và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm cùa Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm có ý nghĩa rất lớn đối với công tác kiểm sát
Xuất phát từ tầm quan trọng nêu trên của công tác thực hành quyền công tố trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về về tội phạm và đồng thời bản
2
Trang 8thân tác giả đang công tác tại bộ phận hình sự của đơn vị Viện kiêm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, đã được trải qua quá trình thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại địa phương do đó đã lựa chọn đề tài
"Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm theo luật to tụng hĩnh sự Việt Nam (trên cơ
sở thực tiễn tại tỉnh Hà Giang)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cún tống quát
Với đề tài nghiên cứu áp dụng pháp luật, mục tiêu cùa việc nghiên cứu
là phân tích làm rõ các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiếm sát nhân dân trong tiếp nhận và kiếm sát nguồn tin
về tội phạm dưới khía cạnh của luật TTHS và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ,• JL • • • • • •••-'quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiếm sát
2.2 Mục tiêu nghiên cún cụ thể
Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:
+ Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định cùa Luật TTHS về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận nguồn tin tội phạm và kiếm sát nguồn tin về tội phạm
+ Đánh giá thực trạng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm, trên cơ sở thực tiễn hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này tại tỉnh Hà Giang từ giai đoạn
2015 đến năm 2020
3 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cửu về đề tài tố giác, tin báo, tội phạm Công tác kiếm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo về tội phạm (gọi chung là
3
Trang 9nguôn tin vê tội phạm) dưới các góc độ khác nhau như: Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Dương Tiến Mạnh với đề tài Kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (Hà Nội - 2015);
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trương Văn Chung với đề tài Tổ giác,
tin báo về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiền tỉnh Hậu Giang (Hà Nội- 2015).
Các công trình ở dạng bài viết như: Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thực trạng và một số giải pháp của tác giả Nông Xuân Trường thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 09/5/2014; Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
kiếm sát việc giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cùa
tác giả Lưu Trọng Nguyên, tạp chí kiểm sát số 12/2009; Một số điểm mới cúa
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của tác giả Hoàng Đình Đắc - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc nẫm 2017
Như vậy việc nghiên cứu công tác kiểm sát nguồn tin về tội phạm không phải mới Các công trình nói trên đã nghiên cứu ở khía cạnh tống quát phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật ở địa phương như Hà Giang thì chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu một cách đầy đủ và có hệ thống về những kết quả đã đạt được cũng như những vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát nguồn tin về tội phạm tại địa bàn tỉnh Hà Giang để từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết nguồn tin về tội phạm
Ket quả nghiên cứu của đề tài luận văn cỏ ý nghĩa quan trọng về phương
4
Trang 10diện lí luận và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến chức năng của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin
về tội phạm Làm rõ hạn chế tồn tại trong các quy định của pháp luật thực định về thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm để từ đó có những đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn
Luận văn cũng được sử dụng là nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo phục vụ công tác thực tiễn ở địa phương Luận văn được kết cấu bao gồm 03chương cơ bản như sau:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của BLTTHS năm
2015 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cùa Viện kiểm sát
+ Chương 2: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đôi tượng nghiên cún
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và thực trạng áp dụngquy định của pháp luật vê hoạt động tiêp nhận nguôn tin vê tội phạm và thực hiện chức năng kiếm sát nguồn tin về tội phạm
4.2 Phạm vi nghiên cún
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của BLHS năm 2015 và Luật tồ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm
Vì một trong những mục đích yêu cầu của đề tài là thực tiễn pháp luật
5
Trang 11tại một địa phương do vậy đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện công tác tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm trong 5 năm (từ 2015 đến 2019) trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
5 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chù nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm
Trong quá trình nghiên cứu sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, thống kê các phương pháp này luôn hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đế làm rõ những vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
5.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là địa bàn tỉnh Hà Giang vị trí địa lý nằm ở phía đông bắc của đất nước Việt Nam Hà Giang có đường biên giới trên đất liền giáp với các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc với chiều dài đường biên giới 274km Điều kiện tự nhiên vô cùng khó khăn, giao thông đi lại còn nhiều hạn chế, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn lạc hậu, với 22 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn tỉnh, tình hình phát triển kinh tế khó khăn, chênh lệch lớn giữa miền ngược và miền xuôi,đời sống của người dân chủ yếu dựa vào nên kinh tế nông lâm nghiệp
Với điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế xã hội còn nhiều khó • • • i •khăn, trình độ hiểu biết nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế do đó việc phát sinh tội phạm trên địa bàn tỉnh ngày càng gia tăng Từ những điều kiện phát sinh tội phạm như vậy các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt là Cơ quan
6
Trang 12điều tra và Viện kiểm sát luôn chủ động thường xuyên nắm địa bàn, kịp thời phát hiện những tội phạm cũng như tiếp nhận nguồn tin tội phạm để kịp thời
xử lý, giải quyết Từ thực tiễn cho thấy việc nghiên cứu đề tài có tầm quan trọng trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, đặc biệt đối với một tỉnh miền núi nơi cực Bắc của tổ quốc đang trên con đường phát triển, hội nhập, thì tội phạm ngày càng manh động, tinh vi và diễn biến khó lường
7
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
TÓ TỤNG HÌNH sụ NĂM 2015 VÈ NHIỆM vụ, QUYÈN HẠN
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TIẾP NHẬN VÀ • • •
KIẺM SÁT NGUỒN TIN VÈ TỘI PHẠM
1.1 Một số vấn đề lý luận
Theo Hiến pháp năm 1959 quyền tư pháp được hiếu là bảo vệ pháp luật, là nền tư pháp của quốc gia, gồm hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước và tồ chức nghề nghiệp mà hoạt động của các cơ quan, tổ chức này trực tiếp hoặc hồ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
Quyền lực tư pháp (quyền tư pháp) là một bộ phận cấu thành nên quyền lực nhà nước và gắn liền với hoạt động bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thề trong xã hội Theo Hiến pháp năm 2013, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Như vậy, khi thực hiện quyền tư pháp cần có sự phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước, hay có nhiều cơ quan cùng tham gia thực hiện quyền tư pháp Quyền tư pháp sẽ bao gồm: Quyền xét xử cùa Tòa án (trọng tâm); các quyền khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án và bổ trợ tư pháp cùa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án và các cơ quan bổ trợ
tư pháp nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cùa cá nhân, tổ chức đế duy trì công lý Trong đó, Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp (Điều 102 Hiến pháp năm 2013), Cơ quan điều tra, Viện
8
Trang 14kiêm sát, cơ quan Thi hành án được coi là cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp.
Hoạt động tư pháp có liên quan mật thiết với khái niệm tư pháp và quyền tư pháp, đó là hình thức hoạt động nhằm thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, về bản chất, hoạt động tư pháp chính là hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền tham gia thực hiện quyền tư pháp Như vậy, hoạt động
tư pháp là hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiếm sát, Tòa án và cơ quan Thi hành án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tể, lao động và giải quyết các quan hệ pháp luật khác, bao gồm: Hoạt động điều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiếm sát hoạt động tư pháp; hoạt động xét xử; hoạt động thi hành án và các hoạt động của các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền trong việc tiến hành một số hoạt động tư pháp theo trình tự thủ tục tố tụng Trong đó, hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm
về mặt tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, mồi nhánh quyền lực đều phải bị kiểm soát để đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp Cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực luôn được đặt ra trong tổ chức bộ máy nhà nước, đặc biệt là cơ chế giám sát, kiểm soát từ bên ngoài mồi hệ thống cơ quan, bởi vì nó luôn đạt hiệu quả cao và hạn chế việc vi phạm, lạm dụng quyền lực Hoạt động tư pháp cũng không thoát ly được việc bị kiểm soát bởi cơ chế giám sát, kiếm soát này Một trong những phương thức kiếm soát
đó là kiểm sát hoạt động tư pháp, đây cũng là một phương thức kiếm soát việc thực hiện quyền lực tư pháp
Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 Điều 107) Lần đầu tiên trong Luật tổ chức VKSND năm 2014 đưa ra khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp như sau: Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính
9
Trang 15hợp pháp của các hành vi, quyêt định của cơ quan, tô chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định cùa pháp luật” (khoản 1 Điều 4).
Như vậy, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp, trong đó, có thể phân thành 02 nhóm chủ yếu là kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự và kiểm sát hoạt động tư pháp ngoài lĩnh vực hình sự
Trong lĩnh vực hình sự, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đúng pháp luật Đặc biệt, chức năng kiếm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với chức năng thực hành quyền công tố
Đối với kiếm sát hoạt động tư pháp ngoài lĩnh vực hình sự, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp chính là một phương thức giám sát, kiểm soát đối với hoạt động tư pháp, nhằm đảm bảo các hoạt động đó được tiến hành đúng pháp luật, hạn chế việc cơ quan tư pháp lạm dụng quyền lực để vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tố chức
Quy định này khẳng định tư tưởng xuyên suốt: Bất kỳ ở đâu và khi nào
có hoạt động tư pháp thì ở đó có trách nhiệm kiểm sát của VKSND, trách nhiệm này xuất hiện từ khi bắt đầu và luôn song hành với việc thực hiện hoạt động tư pháp Đây là một phương thức kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp, mà VKSND là chủ thể kiểm soát nhằm đãm bảo cho hoạt động của các cơ quan tư pháp được thực hiện một
10
Trang 16cách đúng đăn, nghiêm chình, hạn chê việc lạm quyên từ phía các cơ quan này Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là một phương thức kiểm soát, giám sát hiệu quả, có vai trò quan trọng trong phòng ngừa vi phạm pháp luật, khả năng lạm quyền trong hoạt động tư pháp Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nếu VKSND phát hiện vi phạm thì có quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, cá nhân khắc phục vi phạm Đây là
sự khác biệt so với các phương thức kiểm tra, giám sát của cơ quan thanh tra (chủ yếu là kiến nghị về các biện pháp xử lý) Bên cạnh đó, so với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh và thống nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tố chức, cá nhân
'Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là một chức năng hiến định của VK.SND, cũng là việc VK.SND sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động tư pháp được thực hiện đúng đắn
1.1.1 Đoi tượng, phạm vỉ và nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp
* về đối tượng của kiêm sát hoạt động tư pháp
Với những quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VK.SND năm 2014 và các luật về tố tụng tư pháp, đối tượng của kiểm sát hoạt động tư pháp chính là sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong hoạt động tư pháp Bởi vì kiểm sát hoạt động tư pháp chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể trong hoạt động tư pháp Bản chất của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp là kiếm tra tính hợp pháp của các quyết định và hành vi của cá nhân, tồ chức, cơ quan trong hoạt động tư pháp Như vậy, đối tượng của hoạt động kiếm sát hoạt động tư pháp chính là các
11
Trang 17quyêt định và hành vi của các cơ quan, tô chức và cá nhân tham gia vào quan
hệ pháp luật tố tụng tư pháp Việc xác định đúng đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp để phát hiện, kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định và hành vi đỏ có ý nghĩa quan trọng nhằm thực hiện được mục đích của công tác kiểm sát và thực hiện có hiệu quả các quyền năng pháp lý cùa VKSND, hướng tới mục tiêu bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân
* về phạm vi của kiêm sát hoạt động tư pháp
Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014, phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp được xác định ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết
vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 4) Bên cạnh đó, các hoạt động kiềm sát việc tuân theo pháp luật được phân chia thành những lĩnh vực khác nhau, gắn với từng giai đoạn tố tụng và từng lĩnh vực khác nhau trong hoạt động tư pháp và được gọi là các công tác kiểm sát Với mồi công tác kiểm sát có đối tượng, phạm vi, nội dung (nhiệm vụ, quyền hạn) riêng, nhưng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và cùng hướng đến mục đích chung của kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm: Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật
12
Trang 18* Nội dung của kiêm sát hoạt động tư pháp
Trên cơ sở đối tượng, phạm vi, mục đích cũa kiểm sát hoạt động tư pháp, nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp được xác lập theo các giai đoạn tố tụng và lĩnh vực cụ thể khác nhau trong hoạt động tư pháp, đó chính
là các công tác kiếm sát cụ thể trong phạm vi hoạt động tư pháp Theo khoản
2 Điều 6 Luật tổ chức VKSND năm 2014, nội dung cùa kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm 09 công tác cụ thể: (1) Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; (2) Kiềm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự; (3) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố; (4) Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự; (5) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự; (6) Kiếm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; (7) Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính; (8) Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan có thấm quyền theo quy định của pháp luật; giãi quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền; (9) Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp
Với 09 công tác kiểm sát nêu trên có thể chia thành 02 nhóm: Nhóm 1 - Kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự và nhóm 2 - Kiểm sát hoạt động tư pháp ngoài lĩnh vực hình sự Với nhóm 1 - trong lĩnh vực hình sự, phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp được bắt đầu từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Cơ sở của xác định thời điểm bắt đầu kiểm sát hoạt động tư pháp là khi quyền công tố được phát động Hoạt động kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự sẽ chấm dứt khi kết thúc các hoạt động tố tụng và mục đích các hoạt động tố tụng đạt được Nội dung của 05 khâu công tác kiếm sát trong lĩnh vực hình sự này chính là hoạt động xem xét
13
Trang 19tính hợp pháp của các quyêt định và hành vi của các cơ quan, tô chức, cá nhân trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đến giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Điều đáng chú ý là nội dung của 05 khâu công tác kiểm sát này luôn gắn chặt với nội dung của chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố Thông qua việc kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự, một mặt để phát hiện vi phạm của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của chủ thể này, mặt khác, là tiền đề quan trọng để VKSND thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố trong
tố tụng hình sự Với nhóm 2, kiểm sát hoạt động tư pháp trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dân sự - hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tương trợ tư pháp Nội dung của 04 khâu công tác kiếm sát này tập trung vào việc kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân, tố chức trong hoạt động tư pháp ngoài lĩnh vực hình
sự, như kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; tham gia phiên tòa, phiên họp giãi quyết vụ án hành chính; kiềm sát việc thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới; kiểm sát hồ sơ thi hành án; kiếm sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thi hành án; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, dân sự, hành chính, tạm giữ, tạm giam Qua công tác kiếm sát này, nếu phát hiện vi phạm pháp luật, VKSND phải kịp thời kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu các cơ quan, tố chức, cá nhân khắc phục vi phạm để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
1.1.2 Ỷ nghĩa, vai trò của kiểm sát hoạt động tư pháp
Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong lịch sử lập hiến, lập pháp của đất nước qua từng giai đoạn đã và đang là minh chứng
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong cơ chế giám sát và kiểm soát quyền
14
Trang 20lực nhà nước nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng Trong giai đoạn hiện nay, chức nâng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp vẫn phát huy vai trò quan trọng trong giám sát quyền lực tư pháp Kiểm sát hoạt động tư pháp có tác dụng phòng ngừa và ngăn chặn mọi hành vi lạm dụng quyền lực công trong hoạt động tư pháp, nhằm phát hiện vi phạm, kịp thời xử
lý, bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Ý nghĩa, vai trò của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thề hiện qua những nội dung chủ yếu sau đây:
* Ỷ nghĩa về mặt lý luận
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước mà Quốc hội giao cho VKSND để giám sát nhánh quyền lực tư pháp Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước, về bản chất là Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tuy nhiên có sự phân công, phân cấp trong tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước Thông qua quy định của Hiến pháp và Luật, Quốc hội giao cho nhiều cơ quan nhà nước giám sát việc thực hiện quyền lực và theo dõi, kiểm tra, yêu cầu các cơ quan
đó báo cáo tình hình giám sát Hoạt động giám sát, kiếm soát của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013 chủ yếu tập trung vào các cơ quan nhà nước ở trung ương và cá nhân đứng đầu cơ quan đó, đây là dạng hoạt động giám sát mang tính chính trị Đe giám sát, kiểm soát quyền lực một cách cụ thể, Quốc hội giao cho cơ quan nhà nước khác có chức năng, nhiệm vụ mang tính chuyên môn cao, như các ủy ban chuyên trách của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, hay chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, đây là dạng hoạt động giám sát mang tính chuyên môn Như vậy, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND bắt nguồn từ chức năng giám sát của Quốc hội, sẽ phát huy hiệu quả bởi được thiết kế như cơ chế quyền lực kéo dài của Quốc hội để giám sát hoạt động tư pháp
15
Trang 21* Y nghĩa vê mặt pháp lý Một là, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp có sự
độc lập về tổ chức so với các cơ quan bị kiểm sát (đối tượng của kiểm sát hoạt động tư pháp) Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, VKSND là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức theo ngành dọc, không nằm trong hay không bao trùm các cơ quan thực hiện quyền tư pháp và
cơ quan tham gia trong hoạt động tư pháp như Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án Do vậy, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp độc lập, bảo đảm cho hoạt động giám sát được khách quan, trung thực, có hiệu lực, hiệu quả cao
Hai là, trong hoạt động tư pháp, VKSND là cơ quan duy nhất tham gia
toàn bộ các giai đoạn (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xữ, thi hành án) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, do đó, VK.SND có thẩm quyền tham gia vào tất cả các lĩnh vực (tố tụng tư pháp hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án ) trong hoạt động tư pháp Đây là tiền đề và giá trị quan trọng để đảm bảo cho VKSND có khả năng giám sát hiệu quả nhất toàn bộ quá trình tố tụng và các lĩnh vực khác trong hoạt động tư pháp, cũng là đế giám sát toàn bộ quá trình thực hiện quyền tư pháp Bên cạnh đó, với bộ máy tổ chức và hoạt động của VKSND tương đối hoàn thiện để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ mang tính chuyên môn sâu, hoạt động thường xuyên, liên tục, có nhiều chức danh tư pháp theo ngạch Qua đó, VKSND có đủ cơ sở để phát hiện vi phạm trong hoạt động tư pháp và
là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho hoạt động giám sát có tính chuyên nghiệp và hiệu quả cao
* Ỷ nghĩa về mặt thực tiễn
Từ khi Luật tổ chức VKSND đầu tiên được Quốc hội thông qua cho đến nay, với tư cách là một thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước, VKSND
16
Trang 22đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiêm sát hoạt động tư pháp có hiệu quả Ket quả từ thực tiễn của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là minh chứng rõ ràng nhất về sự cần thiết của VKSND nói chung và sự cần thiết của
cơ chế giám sát hoạt động tư pháp nói riêng Hàng năm, Viện trưởng VKSND tối cao báo cáo công tác của ngành Kiếm sát nhân dân trước Quốc hội về kết quả thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đều được đánh giá cao, đạt và vượt các chi tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội về công tác này (được thể hiện trong các báo cáo công tác hàng năm của ngành Kiểm sát nhân dân) Qua đó cho thấy, ý nghĩa về thực tiễn của chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp của VKSND là đáng ghi nhận, có vai trò quan trọng, là chỗ dựa đáng tin cậy của Quốc hội trong giám sát quyền lực tư pháp Kiểm sát hoạt động tư pháp vừa là cơ chế kiếm soát từ bên ngoài, độc lập với đối tượng giám sát, nhưng lại có khả năng bao quát và giám sát được toàn bộ, từng hoạt động cụ thể trong quá trình thực hiện hoạt động tư pháp, nham đảm bảo Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh, hạn chế sai phạm, vi phạm của các cơ quan tham gia thực hiện hoạt động tư pháp Bởi lẽ, VKSND chỉ xem xét đối tượng kiếm sát hoạt động tư pháp dưới phương diện có hợp pháp hay không
mà không can thiệp vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan này Neu VKSND phát hiện vi phạm thì thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu khắc phục những vi phạm đó; hoặc tập hợp nhiều vi phạm phổ biến đế kiến nghị đến cơ quan quản lý hoặc cơ quan quyền lực nhà nước, cũng như tham mưu cho cấp ủy Đảng để chỉ đạo, khắc phục vi phạm Vì vậy, hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp, mà hướng đến mục tiêu bảo đăm pháp luật được thực hiện, chấp hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tố chức
17
Trang 231.2 Quy định của BLTTHS năm 2015 vê nhiệm vụ, quyên hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm
1.2.1 Khái niệm và các nguồn tin về tội phạm
Có nhiều cách hiểu về khái niệm nguồn tin về tội phạm, có quan điểm cho rằng, chì có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức cung cấp, kiến nghị mới là nguồn tin về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng, mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là nguồn tin về tội phạm
Nguồn tin về tội phạm là những thông tin liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật được các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho các cơ quan
có thẩm quyền Các thông tin về tội phạm này được pháp luật quy định là những cơ sở để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không, điều đó cũng khẳng định cơ quan có thẩm quyền muốn khởi tố vụ án hình sự, muốn xác lập quan
hệ tố tụng hình sự phải bắt đầu từ những tin tức về tội phạm được tiếp nhận, giải quyết theo quy định của pháp luật chứ không phải là những lời đồn đại không có căn cứ
Có quan điểm nêu: "Tổ giác về tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong BLHS, còn tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc
do người phạm tội tự thú
Quan điểm khác cho rằng: "Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thấm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự” Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thấm quyền giải quyết theo
18
Trang 24quy định tại khoản 2, khoản 5 Điêu 100, Điêu 101 và Điêu 103 của Bộ luật Tô tụng hình sự năm 2003.
Tại Thông tư liên ngành số 03/TT-LN ngày 15/5/1992 cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Bộ Quốc phòng - Bộ Lâm nghiệp - Tổng cục Hài quan (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 03) hướng dẫn thi hành các quy định cùa Luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã nêu định nghĩa:
Tin báo và tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội (gọi tắt là người, cơ quan, tồ chức) cung cấp cho
cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú [22]
Hiện nay khái niệm trên không còn phù hợp trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Trong khi đó BLTTHS năm 2003 không quy đỉnh rõ thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm mà chỉ quy định chung:
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tố chức Neu tố giác bang miệng thì cơ quan tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chừ ký của người tố giác Cơ quan tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra bằng văn bản [32, Điều 101],
Tại thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT- BCA- BQP- BTC- BNN&PTNT -VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Liên ngành Trung ương đã giải thích khái niệm tổ giác, tin báo về tội phạm như sau:
Tố giác về tội phạm là những thông tin hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân cụ thể cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm
19
Trang 25trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tô chức cung câp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
Theo chúng tôi tố giác về tội phạm được hiểu là những thông tin, hành
vi có dấu hiệu tội phạm được cá nhân phát hiện và tố cáo với cơ quan có thẩm quyền Tin báo về tội phạm được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan có thấm quyền Đen nay, BLTTHS năm
2015 đã nêu cụ thể, chi tiết về khái niệm tin báo, tố giác tội phạm, do đó tại khoản 1 Điều 144 BLTTHS năm 2015, quy định:
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu
hiệu tội phạm với cơ quan có thấm quyền
Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do
cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng Theo quy định tại khoản
2 Điều 144 BLTTHS năm 2015, tin báo về tội phạm được thể hiện dưới hai dạng đó là: tin báo do cơ quan, tồ chức, cá nhân cung cấp thông qua việc báo tin trực tiếp với cơ quan có thấm quyền trong việc tiếp nhận và giải quyết tin báo; tin báo về tội phạm thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: mạng xã hội, bài báo Tại khoản 4 Điều 144 BLTTHS quy định rõ hình thức cùa tố giác, tin báo về tội phạm được thế hiện bằng lời nói hoặc văn bản, quy định mở này đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong việc phát hiện, tố giác, tin báo
về tội phạm
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thấm quyền kiến nghị
bằng vãn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu có liên quan cho Cơ quan có thấm quyền xem xét xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm
Người phạm tội tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với
20
Trang 26cơ quan, tô chức vê hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.
Thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện”
là những vụ việc Cơ quan có thẩm quyền đã bắt, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và vụ việc đã rõ “dấu hiệu của tội phạm” đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình
sự và cả những vụ việc sau khi Cơ quan có thấm quyền phát hiện phải tiến hành xác minh một số tài liệu mới đù căn cứ kết luận hành vi có cấu thành tội• • • • phạm hay không và có thế được khởi tố vụ án hình sự hoặc giải quyết bằng việc xử lý hành chính hoặc không có hành vi vi phạm, những vụ việc này phải được thụ lý giải quyết theo trình tự quy định tại BLTTHS và Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT ngày 29/12/2017
Có quan điểm cho rằng Tố cáo và nguồn tin về tội phạm là hai khái nhiệm tương đồng, có bản chất như nhau, nhưng được giải quyết theo cách thức trình tự, thủ tục khác nhau Theo đó, để làm rõ bản chất của nguồn tin về tội phạm và tố cáo cần có những cách phân biệt cụ thể:
Tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người
hoặc hành động phạm pháp nào đó; Vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn
Trên bình diện pháp lý, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Tố cáo năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019) thì:
Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thấm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tố chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tố chức, cá nhân
Tố cáo ở đây là khái niệm chung, là việc công dân thực hiện quyền của mình báo tin về tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Tuỳ theo lĩnh vực pháp luật bị vi phạm
21
Trang 27mà người ta phân biệt các loại tô cáo khác nhau Tô cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự (khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo) Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 1 Điều 3 Luật Tố cáo).
Tố cáo và nguồn tin về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định Tổ cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm Còn đối với nguồn tin về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHS Do đó, có thể nói, khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm theo luật TTHS Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: Tố cáo là quyền của công dân, còn cung cấp nguồn tin về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chì phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật đối với nguồn tin về tội phạm thì phát sinh ngay khi công dân biết về dấu hiệu tội phạm Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một tội phạm đang chuấn bị hoặc đã được thực hiện Công dân có thế bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: "Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều
390 BLHS, nếu biết mà không tố giác tội phạm
Có nhiều cách hiểu về tố giác, tin báo tội phạm Có quan điểm cho rằng, chỉ có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức cung cấp, kiến nghị mới là tố giác, tin báo về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng, mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác Có quan điểm nêu: Tố giác về tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong BLHS, còn tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
22
Trang 28hội cung câp cho cơ quan có trách nhiệm tiêp nhận và giải quyêt; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú.
Như vậy, có thể hiểu Nguồn tin về tội phạm là những thông tin về tội
phạm được quy định trong BLHS do cổng dân, cơ quan nhà nước, tô chức chính trị, chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, tố chức kinh tể, (gọi tắt là người, cơ quan, tô chức) cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau;
do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú
đê cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định của BLTTHS Đây chính là cơ sở lý luận để quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự
ghi nhận “Nguồn tin về tội phạm”
Trong BLTTHS một thuật ngữ lần đầu tiên được quy định trong bộ luật TTHS là “nguồn tin về tội phạm” Theo BLTTHS năm 2015: “Nguồn tin về tội
phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thâm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” [14, Điều 4, khoăn 1, điểm d].
Như vậy, BLTTHS năm 2015 quy định về nguồn tin về tội phạm gồm 5 loại nguồn như sau:
+ Tố giác về tội phạm;
+ Tin báo về tội phạm;
+ Kiến nghị khởi tố;
+ Lời khai của người phạm tội tự thú;
+ Thông tin về tội phạm do cơ quan cỏ thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
Đối với điều tra tội phạm, nguồn tin về tội phạm là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn cho các cơ quan pháp luật xem xét tính chất nghiêm trọng hay không của sự việc đã được những chủ thể báo tin, tố giác đến; tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin đến đâu; có dấu hiệu của tội phạm
23
Trang 29hay không Nguôn tin vê tội phạm là căn cứ đê CQĐT mở ra những hoạt động điều tra, xác minh theo luật định ở các giai đoạn tiếp theo.
1.2.2 Khái niệm hoạt động kiếm sát nguồn tin về tội phạm• • • O ơ • L •
Kiểm sát là việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước Nội dung của khái niệm kiểm sát là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp hành pháp luật Pháp luật thực định chì quy định một loại chủ thề
có chức năng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đó là Viện kiểm sát
Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan nhà nước được Hiến pháp và các văn băn pháp luật khác cùa Nhà nước quy định trao cho quyền hạn được thực hiện nhiệm vụ kiếm sát nguồn tin về tội phạm Đây là chức năng đặc thù cùa Viện kiểm sát cùng chức năng thực hành quyền công
tố, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để VKS thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn cùa mình, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 quy định:
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện
vi phạm pháp luật nham bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội [14, Điều 20J
Có ý kiến cho rằng, tham gia “kiểm tra việc chấp hành pháp luật” trong TTHS không chỉ có Viện kiểm sát mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân, công dân và toàn thể xã hội nói chung Quyền của các chủ thể khác được “kiểm tra việc chấp
24
Trang 30hành pháp luật của Nhà nước” trong lĩnh vực Tô tụng hình sự xuât phát từ những chế định quan trọng của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và địa vị pháp lý cơ bản của công dân về bản chất, các hoạt động của các chủ thề này như theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý do, quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm., cũng ảnh hưởng đến “phát hiện kịp thời vi phạm” và “loại trừ
vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân” trong Tố tụng hình sự Nhưng không thể coi đây là hoạt động kiềm sát việc tuân theo pháp luật trong
tố tụng hình sự mà chỉ là các hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của Viện kiếm sát và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là một số quyền mà pháp luật cho phép chỉ có Viện kiểm sát mới có khi thực hiện hoạt động kiểm sát, các quyền này cũng đồng thời là nghĩa vụ của Viện kiểm sát, tạo nên sự khác biệt về phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát mà các chủ thế khác không có Quyền của VKS khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng hình sự được thể hiện cụ thể qua các quyền của Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên
Các quyền và nghĩa vụ của VKS đặt trong mối quan hệ tổng thể tạo ra một phương thức kiểm sát đặc trưng, cho phép phân biệt dễ dàng hoạt động kiếm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát với hoạt động giám sát (bao gồm cả ủy ban Tư pháp Quốc hội) Phương thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS thể hiện ở việc kiểm tra, giám sát một cách liên tục -
cụ thể - trực tiếp đối với các hoạt động tố tụng Tính liên tục thể hiện ở chỗ trong toàn bộ quá trình giải quyết một vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền
và nghĩa vụ trong tất cả các giai đoạn từ khởi tố - điều tra - truy tố - xét xử - thi hành án Từ khi một người mới bị là tình nghi cho khi người đó được xóa
án tích Tính cụ thể của phương thức kiềm sát chính là việc Viện kiểm sát
25
Trang 31giám sát chi tiêt, tỉ mì các hoạt động cụ thê: khám nghiệm hiện trường, hỏi cung, lấy lời khai Viện kiểm sát kiểm sát trực tiếp đối với các hoạt động tổ tụng thể hiện ở việc có mặt, theo sát, nhắc nhở kịp thời khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động giải quyết vụ án.
Tính trực tiếp, cụ thể, liên tục của phương thức kiểm sát không nên hiểu là Viện kiểm sát phải có mặt, theo dõi và giám sát mọi hoạt động, mọi lúc, mọi nơi Tùy vào điều kiện thực tế về nhân sự, số lượng vụ án, tính chất từng loại vụ án và quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà Viện kiểm sát sẽ quyết định khi nào phải kiểm sát trực tiếp diễn biến của một hoạt động tố tụng
và khi nào chỉ cần kiểm sát thông qua kết quả hoạt động tố tụng
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố,kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có công tác kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tồ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Công tác tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm là một trong những hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát nhân dân
Trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm là việc Viện kiếm sát nhân dân sử dụng các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền kiểm sát do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Mục đích công tác kiểm sát tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nhằm đảm
26
Trang 32bảo mọi thông tin vê tội phạm đêu phải được tiêp nhận, kiêm tra, xác minh,
xử lý kịp thời; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đù, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật
Căn cử vào quy định của Hiến pháp, BLTTHS, Luật tổ chức và các khái niệm,phạm vi công tác kiếm sát, theo tác giả, kiểm sát tiếp nhận nguồn tin về tội phạm là Việc Viện kiêm sát nhân dân sử dụng tông hợp quyền năng
pháp lý thuộc nội dung công tác kiêm sát do pháp luật tố tụng hình sự quy định để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với vụ việc, đối tượng có dấu hiệu tội phạm
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, công tác Kiếm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin tội phạm là hoạt động giám sát liên tục, cụ thể, trực tiếp các hoạt động cơ quan điều tra thực hiện trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết theo quy định của pháp luật
Bên cạnh chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm chúng ta cần phân biệt với chức năng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử Thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm là hoạt động thực hiên các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết đói với những thông tin có dấu hiệu tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp theo quy định của pháp luật Các hoạt động thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm như phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con
27
Trang 33người, quyên công dân trong việc giải quyêt nguôn tin vê tội phạm; đê ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự là hai chức năng độc lập nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Từ khi cơ quan điều tra tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin băo về tội phạm thì đã phát sinh hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát.
1.2.3 Đặc điểm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát • • • • • ' 1 • • trong tiếp nhận và kiếm sát nguồn tin về tội phạm
1.2.3 ỉ Chủ thể kiểm sát nguồn tin tội phạm
Kể từ khi Hiến pháp năm 1959 ghi nhận VKSND là hệ thống cơ quan Nhà nước và được cụ thể hóa bằng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1960 Trải qua quá trình phát triền của đất nước và lịch sử xây dựng pháp luật qua từng thời kỳ khác nhau nhưng nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của Viện kiêm sát là chức năng THQCT và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Cụ thể tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “VKSND thực hành quyền
công và kiểm sát hoạt động tư pháp".
Chức năng kiếm sát hoạt động tư pháp được quy định tại khoản 1 Điều
4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân theo đó Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, cá nhân, tổ chức trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá tình giải quyết vụ án hình
sự, giãi quyết vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình, hành chính, kinh doanh, thương mại Viện kiểm sát tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm là
28
Trang 34chức năng đặc thù của Viện kiêm sát cùng với chức năng THQCT, nhăm bảo đăm việc thực hiện các quy đinh, pháp chế XHCN, bảo vệ quyền công dân.
Hệ thống tổ chức VKSND được xây dựng theo bốn cấp VKND tối cao, VKSND cấp cao; VKSND cấp tinh, VKSND cấp huyện Theo luật tổ chức VK.SND năm 2014 các cơ quan này trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp sẽ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình trong việc tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1.2.3.2 Đổi tượng và phạm vi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiêm sát trong việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm
Hoạt động tuân theo pháp luật trong quá trình tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thấm quyền theo quy định của luật TTHS chính là đối tượng của công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm được quy định cụ thể tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự, công dân có thể tố giác tội phạm với CQĐT trong công an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân, CQĐT của Viện KSND tối cao; CQĐT của VKS Quân sự Trung ương,
Bộ đội Biên phòng, Cơ quan Hải quan, Cơ quan Kiểm Lâm, Lực lượng cảnh sát biến và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý mà phát hiện mà tiếp nhận nguồn tin về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thi tiến hành giải quyết Tương ứng với
hệ thống các cơ quan trên là hoạt động cùa người tiến hành tổ tụng bao gồm các Thủ trường, Phó thủ trưởng, Điều tra viên,
Theo quy định trên thì hiện nay BLTTHS quy định hai nhóm chủ thể chính là Cơ quan điều tra và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra:
- Theo luật tổ chức Cơ quan điều tra, hiện nay hệ thống CQĐT ở Việt
29
Trang 35Nam bao gồm ba hệ thống là hệ thống CQĐT của công an nhân dân, hệ thốngCQĐT của quân đội nhân dân và CQĐT của VKSND Các CQĐT trên là các CQĐT chuyên trách, được luật trao cho nhiệm vụ, quyền hạn điều tra trong hầu hết các vụ án hình sự có dấu hiệu tội phạm Do đó, các cơ quan này là cơ quan chủ yếu nhất hoạt động tiếp nhận nguồn tin về tội phạm.
- Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là hệ thống cơ quan nhà nước được quy định tại Điều 35 của BLTTHS năm 2015
và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 như: Các cơ quan của Bộ đội Biên phòng, các cơ quan Kiểm Lâm, các cơ quan Hải quan, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển các cơ quan này là các cơ quan quản lý hành chính trong ngành, lĩnh vực được pháp luật cho phép tiến hành mọt số hoạt động điều tra các vụ án hình sự phát sinh từ lĩnh vực đó Các cơ quan này được tiến hành hoạt động điều tra khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý
Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn kiếm sát đối với việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm từ khi các cơ quan có thấm quyền điều tra tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cho đến khi quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự và ban hành thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm
1.3 Trình tự, thủ tục trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của • 2 • CT • • • • • 2 1 V • Viện kiểm sát trong tiếp nhận và kiểm sát nguồn tin về tội phạm
1.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm
Trình tự thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm là cách thức tổ chức, thực hiện việc tiếp nhận, xử lý tổ giác, tin báo về tội phạm của cơ quan,
tố chức Trình tự, thủ tục tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật khác nhau như Thông tư liên tịch số 06/2013, Thông tư liên tịch số 01/2018, Điều 145 BLTTHS năm 2015, quy định: “Mọi
tổ giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải
30
Trang 36quyêt kịp thời Cơ quan, tô chức có trách nhiệm tiêp nhận không được từ chói tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”.
Điều 8 thông tư Liên tịch số 06/2013 của liên ngành Trung ương quy định: Tồ chức tiếp nhận tổ giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố “1
Cơ quan điều tra trong công an nhân dân và Viện kiểm sát các cấp phải tổ chức trực ban hình sự để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, phân loại và chuyển ngay cho các đơn vị có thẩm quyền giải quyết Đối với tố giác, tin báo về tội phạm khi nhận được qua đơn thư công văn kiến nghị hoặc các phương tiện thông tin đại chúng thì các cơ quan như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Bộ đội biên phòng, Cơ quan hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được tiến hành một số hoạt động điều tra phải tiếp nhận vào số tiếp nhận tin báo tố giác, tội phạm và kiến nghị khởi to Neu các cá nhân trực tiếp đến để tố giác tội phạm tại cơ quan thì phải lập biên băn tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm và có chữ ký của người tố giác Trường hợp cá nhân tố giác tin báo về tội phạm qua điện thoại các phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận, ghi vào số tiếp nhận tin báo, tố giác, trường hợp đặc biệt có thế ghi âm, ghi hình Đối với trường hợp người phạm tội tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú
Các quy định về thủ tục tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã kế thừa quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cùng các văn bản pháp luật trước đó Tại Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau: Các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm khi trực tiếp nhận được tin báo, tố giác về tội phạm phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận, có thể ghi âm, ghi hình có
âm thanh việc tiếp nhận Trường hợp tố giác tội phạm gửi qua dịch vụ bưu chính điện thoại hoặc phương tiện thông tin khác thì ghi vào số tiếp nhận
31
Trang 37Trường hợp phát hiện tin báo tô giác tội phạm không thuộc thâm quyên giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyến tin báo, tố giác tội phạm kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho cơ quan điều tra có thẩm quyền Viện kiếm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu có liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát giải quyết Công an xã, phường thị trấn, Đồn công an có trách nhiệm tiếp nhận và tiến hành xác minh sơ bộ, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tin báo, tố giác tội phạm cùng tài liệu có liên quan cho cơ quan điều tra có thẩm quyền Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp Viện kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố phát hiện Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiếm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục thì trong thời hạn 05 ngày Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan đang thụ lý, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được nhược điểm của BLTTHS 2003 khi quy định rõ trường hợp Viện kiểm sát được trục tiếp thực hiện việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm:
Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm
32
Trang 38pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiêm tra, xác minh tô giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục [14],
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra có ý nghĩa quan trọng Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát cần phải xác định được trình tự, thủ tục tiếp nhận, tin báo tố giác của các cơ quan có nhiệm vụ theo quy định Trong quá trình kiểm sát việc tiếp nhận nếu phát hiện những vi phạm như: Không tiếp nhận mặc dù nguồn tố giác, tin báo
về tội phạm là đúng quy định, đúng thủ tục thì Viện kiểm sát kiến nghị, yêu cầu khắc phục ngay Ngoài ra Viện kiểm sát còn cần phải kiểm sát chặt chẽ việc lập sồ tiếp nhận, thụ lý, phân loại của Cơ quan có thẩm quyền điều tra cùng cấp đối với các tin báo, tố giác về tội phạm nham theo dõi kịp thời tình hình việc tiếp nhận đối với tin báo, tố giác về tội phạm Việc kiểm sát tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm được cụ thể hóa bằng các công việc như sau:
Thứ nhất, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố do các cơ quan, tổ chức cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin Sau khi vào sổ tiếp nhận, Viện kiểm sát phải chuyển tin báo, tố giác tội phạm đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền Đây là nhiệm vụ được quy định cụ thể trong bộ luật tố tụng hình sự, trong trường hợp các cá nhân,
tồ chức đã đến Viện kiểm sát để tố giác, báo tin về tội phạm Sau khi Viện kiểm sát chuyển tin báo, tố giác tội phạm đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết Viện kiểm sát phài trực tiếp kiểm sát việc giải quyết tin báo
tố giác tội phạm đó
Thứ hai, Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
33
Trang 39động điêu tra trong việc tiêp nhận tin báo, tô giác tội phạm Trong giai đoạn này kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại tin báo, tổ giác tội phạm của Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đầy
đù, kịp thời đến Viện kiểm sát Sau khi nhận được thông báo kiếm sát viên sẽ cập nhật vào sổ theo dõi tin báo, tố giác tội phạm Khi phát hiện việc phân loại của cơ quan có thấm quyền điều tra chưa chính xác, kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo viện để trao đổi với cơ quan điều tra khắc phục Trong một
số trường hợp cơ quan điều tra không ghi vào sổ thụ lý đẩy đủ đối với tin báo,
tố giác với nhiều lý do khác nhau Vì vậy, việc kiểm sát của Viện kiếm sát trong giai đoạn này sẽ đảm bảo được việc tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm được tiến hành đầy đủ đúng theo quy định của pháp luật
Hoạt động kiếm sát việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát là hoạt động có tính chất phức tạp Ngoài việc nắm rõ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự còn phải nắm được các quy định liên quan đến việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sổ hoạt động điều tra Cùng với đó Viện kiểm sát phải nắm được và hiểu được nghiệp vụ điều tra án hình sự của Cơ quan điều tra thì mới phát hiện được vi phạm cùa Cơ quan điều tra Ngoài ra, Viện kiếm sát còn có nhiệm vụ kiểm sát việc chuyển tin báo, tố giác tội phạm
để giải quyết theo thẩm quyền Qua xác minh sơ bộ nếu thấy tin báo, tố giác tội phạm không thuộc thẩm quyền kiểm sát thì kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo
để có văn bản yêu cầu cơ quan điều tra chuyển tin báo đến cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết, đồng thời ra văn bản thông báo đến Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát để Viện kiểm sát nơi tiếp nhận tiến hành kiểm sát
34
Trang 401.3.2 Kiêm sát việc giải quyêt nguôn tin vê tội phạm
Theo quy định bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thể hiện thông qua việc VKSND trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm Tại Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát còn kiềm sát việc tạm đình chỉ và phục hồi giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm Cơ quan điều tra phải tiến hành phân loại tin báo, tố giác thuộc thấm quyền giải quyết của mình hay không Neu tin báo, tố giác thuộc thẩm quyền giãi quyết của mình thì trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm Thủ trưởng cơ quan điều tra phải ra Quyết định phân công điều tra viên, cán bộ điều tra tiến hành giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm Đối với Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Cơ quan hải quan, Cơ quan kiểm lâm, kiểm ngư, cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân) khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực mình quản lý mà tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm thì cấp trưởng trực tiếp chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, phân công Cán bộ điều tra thuộc quyền hoặc ra quyết định phân công cấp phó trong việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đồng thời thông báo bằng văn bản đến Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là hoạt động quan trọng Với nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và các văn bản có
35