1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong tố tụng dân sự ở việt nam (luận văn thạc sỹ luật học)

110 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Trong Tố Tụng Dân Sự Ở Việt Nam
Tác giả Cao Thị Duyên
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 28,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, tại Việt Nam đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tôi có thể bảo vệ luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Cao Thị Duyên

1

Trang 2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN iMỤC LỤC iiDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viCHƯƠNG 1: TỐNG LUẬN VỀ NHIỆM vụ VÀ QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CÁP CAO TRONG HOẠT ĐỘNG 5

TỐ TỤNG DÂN Sự 51.1 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong cơ cấu quyền lực Nhà nước

51.1.1 VỊ trí của Viện kiểm sát nhân dân trong cơ cấu quyền lực Nhà nướccộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 51.1.2 Thực tế hoạt động của mô hình Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam hiện• • • • • nay và liên hệ với thế giới 12

1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân đề thực hiện chức năngđược giao 18

1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố 18

1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát hoạt động tư pháp 201.2.3 Quyền kháng nghị và quyền kiến nghị 221.3 Vị trí, cơ cấu của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hệ thống ngành

tư pháp 261.3.1 Vị trí và cơ cấu của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 261.3.2 Ý nghĩa và đánh giá hiệu quả khi thành lập Viện kiểm sát dân cấp cao 301.4 Tổng quan về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp caotrong tố tụng dân sự 331.4.2 KSXX theo thủ tục GĐT, TT 34

• •

11

Trang 3

1.4.3 Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn và kiểm sát việc giải quyết khiếu

nại, tố cáo 35

1.4.4 Công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ đối với công tác KSXX của VKSND cấp dưới 37

1.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cùng cấp trong hoạt động tố tụng dân sự 37

1.5.1 Lịch sử hình thành Tòa án nhân dân cấp cao 37

1.5.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao trong hoạt động tố tụng dân sự 38

Chương 2: PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ 41

QUYÊN HẠN VÀ NHIỆM vụ CỦA VIỆN KIÊM SÁT CAP CAO TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN sự VÀ VẤN ĐỀ TÓ CHỨC THI HÀNH 41

2.1 Kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị 41

2.1.1 Quy định về cấp xét xử phúc thẩm 41

2.1.2 Quy định về kháng cáo, kháng nghị 42

2.1.3 Kiểm sát việc xét xử phúc thẩm 45

9 r r 9 f 2.2 Kiêm sát việc giải quyêt theo thủ tục giám đôc thâm, tái thâm đôi với các bản án, quyết định dân sự của Tòa án cấp tĩnh, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị 51

2.2.1 Giai đoạn trước phiên tòa 51

2.2.2 Giai đoạn tại phiên tòa 52

2.2.3 Sau phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 53

• • • ill

Trang 4

2.3 Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân câp cao kháng nghị theo thủ tục

phúc thẩm đối với bàn án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp

luật của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 54

2.3.1 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm 54

2.3.2 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm 55

2.3.3 Thủ tục kháng nghị phúc thẩm 56

2.3.4 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị 58

2.4 Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền 60

2.4.1 Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 60

2.4.2 Thời hạn kháng nghị 62

2.4.3 Căn cứ, điều kiện để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 63

2.4.4 Nội dung, hình thức quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 66

2.4.5 Trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 67

2.4.6 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 72

2.5 Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ kiểm sát xét xử của VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện 73

2.5.1 Trả lời báo cáo thỉnh thị của VKSND các địa phương 73

2.5.2 Ban hành thông báo rút kinh nghiệm 74

2.5.3 Ban hành kiến nghị 74

2.5.4 Tổ chức các Hội nghị, Hội thảo khoa học, tập huấn nghiệp vụ 76 Chương 3: KIẾN NGHỊ CÁC ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HẠN VÀ NHIỆM vụ

iv

Trang 5

CỦA VIÊN KIẾM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TRONG HOAT ĐÔNG TỐ

TỤNG DÂN Sự VÀ TỐ CHỨC THI HÀNH 78

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật việt nam hiện hành về nhiệm• • • X J • X X • • • • vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong tố tụng dân sự 78

3.1.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của VKSND cấp cao từ khi thành lập đến nay: 78

3.1.2 Các dạng vi phạm thông qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự: 83

3.2 Định hướng hoàn thiện nhiệm vụ, quyên hạn của Viện kiêm sát nhân dân cấp cao trong hoạt động tố tụng dân sự và tổ chức thi hành 87

3.4 Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hoạt động tố tụng dân sự và tổ chức thi hành 93

3.4.1 về tổ chức cán bộ 93

3.4.2 Công tác phối hợp với các cơ quan khác 97

3.4.3 Hoàn thiện hệ thống quy chế 97

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

V

Trang 6

DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT

Cum từ viết tắt • Nguyên nghĩa

BLDS Bô luât Dân sư• • •

Trang 7

MỎ ĐẦU

1 Tính câp thiêt của việc nghiên cứu đê tài

Qua 60 năm tồn tại, trưởng thành và phát triển, Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhiều nội dung cải cách tư pháp Trong đó, theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị thì những nội dung về cải cách tư pháp đòi hỏi phải được thể chế hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nói chung và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nói riêng Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị đã cụ thể hóa nội dung cải cách là “Đôi mới

tô chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiêm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và chỉ rõ việc thành lập hệ thống Tòa án nhân dân (viết tắt

TAND) bốn cấp (thay vì ba cấp như trước đây)

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiếm sát nhân dân gồm Viện kiểm

sát nhãn dân tối cao và các Viện kiêm sát khác do luật định ” (khoản 2 Điều

107) Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013, tương ứng với những quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp cao, Điều 40 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về hệ thống VKSND 4 cấp Như vậy, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định

về Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là một cấp kiểm sát trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta VKSND cấp cao có nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao Hai nhiệm vụ, quyền hạn này xuất phát từ nhiệm vụ đặc trưng, xuyên suốt của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và đối với từng cấp kiểm sát nói riêng Với vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định, VKSND cấp cao là mô hình có tính “đột

phá ” thể hiện quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đăng và Nhà nước về cải

cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Ngoài ra, từ thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài “Nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 8

của Viện kiêm sát nhân dân câp cao trong tô tụng dân sự ở Việt Nam ” với

mong muốn góp phàn hoàn thiện lý luận, hoàn thiện các quy định cùa pháp luật hiện hành nhằm khẳng định tầm quan trọng và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hoạt động tố tụng dân sự Đồng thời, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc dân

sự nhanh chóng và đúng pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong

tố tụng dân sự, tại Việt Nam đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đề cập một cách trực tiếp hoặc lồng ghép với những nội dung liên

quan, có thể kể đến như: Luận văn thạc sĩ luật học “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiêm sát nhân dân trong tổ tụng dân sự Việt Nam ” của tác giả Phùng

Thanh Hà, năm 2014; Đề án “Nghiên cứu việc chuyển VKS thành Viện công tố” cùa VKSND tối cao, năm 2012; “Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm” của

TS Dương Thanh Biểu, năm 2008; “Nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiêm

sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự nhằm thực hiện tot Bộ luật Tổ tụng dân

sự năm 2015 ” của tác giả Nguyễn Thị Thủy Khiêm đăng trên Tạp chí kiểm sát số 20 năm 2016; “Kiêm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án và vấn để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thầm, giảm đốc thâm, tải thâm dân sự của Viện kiểm sát’’ của tác giả Trần Đình Sơn

đăng trên Tạp chí kiểm sát số 20 năm 2016; các Nghị quyết liên quan đến lĩnh vực dân sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đang có hiệu lực thi hành và các chỉ thị, hướng dẫn, báo cáo của ngành Kiểm sát nhân dân Mặc dù các công trình trên đều liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nhưng chưa đầy đủ, cụ thể và chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của cấp kiểm sát mới - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hoạt động

tố tụng dân sự thì chưa có Do đó, đề tài “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam” rất cần được nghiên cứu và luận giải sâu sắc trong bối cảnh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu • • • O

Để đánh giá một cách đầy đủ về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hoạt động tố tụng dân sự ở Việt Nam, Luận văn

2

Trang 9

tập trung phân tích vị trí, vai trò và ý nghĩa của Viện kiêm sát nhân dân câp cao trong hệ thống ngành kiềm sát nhân dân đồng thời nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam về nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao nói riêng trong hoạt động tố tụng dân sự cũng như thực tiễn áp dụng.

4 Đối tưọng và phạm vi nghiên cứu

Đe có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận văn phải giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, cơ sở lý luận về nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vụ việc dân sự và đề cập nguyên nhân bức thiết của việc thành lập Viện kiếm sát nhân dân cấp cao

Thứ hai, pháp luật Việt Nam hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn củaViện kiêm sát nhân dân câp cao trong tô tụng dân sự

Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong những năm vừa qua đồng thời kiến nghị một số giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân cấp cao

Luận văn nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát cấp cao

từ khi Luật tố chức Viện kiểm sát nhân dân có hiệu lực thi hành, từ tháng 6 năm 2015 (thành lập Viện kiểm sát nhân dân cấp cao - cấp kiểm sát mới) và

Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 vì vậy số liệu về thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hoạt động tố tụng dân sự được thực hiện trong thời gian từ 01/6/2015 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lê nin về nhà nước và pháp luật, dựa trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế và cải cách tư pháp Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: phân tích, so sánh, bình luận, trao đổi, thống kế

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, người viết đặt nhiệm vụ, quyền

3

Trang 10

hạn của Viện kiêm sát nhân dân câp cao trong giải quyêt các vụ việc dân sự trong mối liên hệ với nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nói chung đồng thời có sự so sảnh về thẩm quyền áp dụng pháp luật.

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không,

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện Cụ thề như trên cở sờ đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó

6 Đóng góp mói về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham kháo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiếm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao; kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có kháng cáo, kháng nghị mà chưa được giải quyết; kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có kháng nghị mà chưa được giải quyết.; Giải quyết đơn

đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tĩnh được Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý mà chưa được giải quyết

Ngoài ra, Luận văn còn làm rõ thẩm quyền kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao theo thủ tục phúc thẩm đổi với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã cỏ hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tình

4

Trang 11

trong phạm vi lãnh thô thuộc thâm quyên.

7 về bố cục của luận văn• •

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Tong quan về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong tố tụng dân sự

Chương 2: Phân tích các quy định pháp luật về quyền hạn và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong tố tụng dân sự và vấn đề tổ chức thi hành

Chương 3: Kiến nghị các định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền hạn và nhiệm vụ của Viện kiềm sát nhân dân cấp cao trong tố tụng dân sự và tồ chức thi hành

CHƯƠNG 1: TỐNG LUẬN VÈ NHIỆM vụ VÀ QUYỀN HẠN CỦA

VIỆN KIÉM SÁT NHÂN DÂN CÁP CAO TRONG HOẠT ĐỘNG • • •

TỐ TỤNG DÂN SỤ

1.1 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong cơ cấu quyền lực

Nhà nước

1.1.1 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong cff cấu quyền lực Nhà

nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước mà ở đó tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước Theo thuyết tam quyền phân lập, ba nhánh quyền lực nhà nước là: lập pháp (làm pháp luật, ban hành pháp luật); hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp luật, xử lý hành vi phạm tội Theo quan điểm của nhà nước

5

Trang 12

Việt Nam, tư pháp chi công việc tô chức giữ gìn, bảo vệ pháp luật Bộ chính trị đã chỉ rõ “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam cụ thể hóa đầy đũ nguyên tắc hiến định “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phổi hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [6]

Bộ máy Nhà nước được tố chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Đây chính là bước phát triến trong nhận thức của Đảng ta tiếp thu những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ớ nước ta Trong điều kiện không có đối trọng và kiềm chế lẫn nhau giữa các quyền lực như ở các nhà nước theo nguyên tắc phân quyền thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động nhà nước là cách thức kiểm soát quyền lực chủ yếu ở nước ta và vì thế đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, nâng cao hiệu lực của Nhà nước trước hết phải là hoàn thiện cách thức, cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, kiện toàn các cơ quan và các thiết chế giám sát Trong cơ chế giám sát đó thì Viện kiềm sát là một thành tố, là thiết chế giám sát có tính chuyên nghiệp cần thiết cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình Ờ góc độ khác phải thấy ràng, Chính phủ, Viện kiếm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao không chỉ

là đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội mà các cơ quan này cũng có vai trò nhất định trong phản biện quyền lực của Quốc hội thông qua những ý kiến phản hồi về tính thiếu khả thi, chồng chéo không thống nhất của hệ thống pháp luật, nhũng hạn chế của các đạo luật cụ thể do Quốc hội ban hành Đây chính là quan hệ biện chứng về kiểm soát quyền lực trong điều kiện cụ thể của nước ta

Hơn nữa, một trong những yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội là bảo đảm pháp chế thống nhất giữa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước

6

Trang 13

với ý chí, nguyện vọng cùa nhân dân, thực hiện pháp chê thông nhât đê công cuộc cách mạng của nước ta giành thắng lợi Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng đứng đắn quan điểm của Lênin trong tác phẩm “Bàn về song trùng trực

thuộc và pháp chế” để thành lập cơ quan viện kiểm sát nhân dân - một trong

những cơ quan mới của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước là tập trung dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và căn cứ vào những quy định của Hiển pháp năm 1959, lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước dân chù nhân dân Việt Nam “Viện kiểm sát nhãn dãn tối cao nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa kiểm

sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân Các Viện kiêm sát nhân dân địa phương và Viện kiêm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vỉ luật định” [14, Điều 105] Như vậy Viện kiểm sát

nhân dân được quy định là một cơ quan nhà nước độc lập, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II thông qua

Lần đầu tiên, chế định về cơ quan viện kiểm sát nhân dân xuất hiện trong Hiến pháp của Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan trong cơ cấu tổ chức tư pháp nhà nước, thực hiện một chức năng mới của Nhà nước là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và công dân theo quy định của pháp luật Sự ra đời của viện kiểm sát nhân dân là do bản chất của nhà nước và nguyên tắc cơ bản về

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta - quyền lực nhà nước là thống nhất, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ quy định Đó cũng là điều cơ bản nhất trong tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh - Trưởng

7

Trang 14

ban soạn thảo Hiên pháp xã hội chủ nghĩa đâu tiên của nước ta Chủ tịch Hô Chí Minh đã căn dặn “Trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dãn giao cho

viện kiêm sát nhân dân là cơ quan đi kiếm sát việc chấp hành pháp luật của người khác; ngành kiêm sát hơn ai hết phải là những người gương mẫu chấp hành pháp luật”', cũng vì vậy, cán bộ kiếm sát phải “công minh, chinh trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” [30,tr 14-15]

Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan tư pháp của Nhà nước Việt Nam, do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ năm

1976 đến nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) lập ra Bộ máy và nguyên tắc tổ chức, nội dung hoạt động của viện kiểm sát nhân dân được quy định cụ thể, chi tiết trong Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

về nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân từ khi thành lập năm 1960 đến nay được được quy định cụ thể, chi tiết trong Hiến pháp và pháp luật Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc độc lập và chế độ lãnh đạo tập trung thống nhất trong toàn ngành, không phụ thuộc vào các cơ quan chính quyền địa phương Viện trưởng Viện kiếm sát, các kiểm sát viên Viện kiếm sát nhân dân địa phương không phải là một thành viên của chính quyền địa phương Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, viện trường và các kiểm sát viên ở bất cứ cấp nào cũng đều thừa hành quyền lực của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thực thi nhiệm vụ

Tuy vậy, các viện kiểm sát địa phương không phải là một bộ máy tách rời mọi hoạt động của địa phương Viện kiểm sát địa phương vừa thực thi chức năng, nhiệm vụ theo luật định, vừa chịu sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương và sự giám sát của hội đồng nhân dân địa phương Trong kế hoạch công tác, viện kiểm sát các địa phương phải tuân theo sự chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng thời phục vụ các chủ trương của cấp ủy đảng

8

Trang 15

trong việc tăng cường pháp chê và cúng cô trật tự pháp luật ở địa phương Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải kết hợp chặt chẽ nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành với sự lãnh đạo của cấp ũy địa phương.

Nguyên tắc tập trung thống nhất đòi hỏi sự lãnh đạo chặt chẽ của các viện kiểm sát cấp trên đối với viện kiểm sát cấp dưới trên cơ sờ quán triệt chức năng, nhiệm vụ Viện kiểm sát cấp dưới được “thinh thị" viện kiểm sát

cấp trên, còn tòa án cấp dưới thì không được “xin ỷ kiến ” tòa án cấp trên để

bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chì tuân theo pháp luật Việc thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động tập trung, thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân bảo đàm tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật của cơ quan tư pháp, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật và tham gia xây dựng pháp luật

Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân các cấp do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên; Viện trưởng viện kiểm sát các địa phương và Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đây là nguyên tắc đặc trưng trong tổ chức, hoạt động, làm nên sức mạnh của ngành

Như vậy, từ khi ngành kiếm sát nhân dân Việt Nam ra đời đến nay, nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành với sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và chức năng của ngành kiểm sát có mối quan

hệ biện chứng: Nguyên tắc tập trung thống nhất đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho ngành kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng công tố và kiềm sát việc tuân theo pháp luật; đồng thời chính chức năng kiểm sát nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chinh và thống nhất đòi hỏi ngành kiểm sát nhân dân Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc đó

Để bảo đảm tính nghiêm minh và tính hiệu quả, nguyên tắc tổ chức và

9

Trang 16

hoạt động của Viện kiêm sát nhân dân còn phải găn kêt chặt chẽ với nguyên tắc Đảng lãnh đạo Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã khẳng định, Đăng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định ngay từ khi thành lập và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đó là: nước Việt Nam độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội Từ mục tiêu đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được đường lối cách mạng đứng đặn và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Từ thực tiễn lịch sử cách mạng, năm 1980, Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trên cơ sở quy định của Hiến pháp

và pháp luật, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong các thời kỳ đều đặt ra nhiệm vụ phải nắm vững đường lối, chù trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, lấy đó làm cơ sở để xây dựng phương hướng, mục tiêu hành động Sự lãnh đạo của Đảng đối với Viện kiểm sát nhân dân không chỉ là nguyên tắc mà còn là nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự phát triển toàn diện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau đây:

- Xác định phương hướng, nhiệm vụ chính trị trong tổ chức và hoạt động thực hành quyền công tổ và kiểm sát các hoạt động tư pháp

- Quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách chung của Đảng, kết hợp hài hòa với đặc điểm của từng địa phương trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ

- Giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên bảo đảm tiêu chuẩn tài và đức, nhất là việc lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ chủ chốt của Viện kiểmX • • • • • •sát các cấp [4]

10

Trang 17

- Tuân theo sự lãnh đạo của tập thê câp ủy vê phương hướng, nhiệm vụ chính trị nhưng không thụ động, cấp ủy không can thiệp vào công việc cụ thể

về tư pháp, về truy tố hay không truy tố những vụ án cụ thể

Kể từ ngày thành lập đến nay, trải qua 90 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rằng, đối với một đảng cầm quyền thì việc xây dựng một nhà nước vững mạnh, pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất

là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng trong tiến trình phát triển của xã hội Khi giao cho viện kiểm sát trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Đãng thấy rõ đây là một công việc đầy khó khăn và phức tạp, phải cỏ sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, về mặt nhân sự, ở Trung ương, Đảng đều phân công một đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đối với viện kiểm sát ở các địa phương, kể từ khi thành lập ngành đến nay, Ban Bí thư Trung ương đều chủ trương cơ cấu chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát vào cấp ủy tỉnh, thành phố và quận, huyện Tố chức và hoạt động của Viện kiểm sát luôn là một trong những nội dung lãnh đạo của các cấp ủy đảng nhằm đảm bảo hoạt động của viện kiểm sát vừa phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị của Đảng và• X * * * • • •Nhà nước ờ địa phương, vừa giữ vững nguyên tắc pháp chế thống nhất Điều

đó, đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng về công tác tư pháp,

về vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ cách mạng [2]

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố thuận lợi đối với tố chức và hoạt động của Viện kiểm sát các cấp về phần mình, ngành kiểm sát nhân dân luôn đặt cho mình trách nhiệm chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên nắm vững quan điểm của Đảng về bản chất của nhà nước và vai trò của pháp luật

xã hội chủ nghĩa; đồng thời xác định phương hướng, nội dung hoạt động của

11

Trang 18

toàn ngành trong từng thời kỳ, phải quán triệt những quan điêm cơ bản, những chính sách lớn của Đảng Viện kiểm sát các cấp luôn bám sát các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đàng, tích cực tranh thủ sự lãnh đạo của cấp

ủy không chỉ trong việc xác định phương hướng chính trị cùa công tác kiểm sát trong từng thời gian, mà cả trong quá trình tố chức thực hiện các mục tiêu

đã đề ra; chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, thỉnh thị đối với cấp ủy [ 1 ]

Đẻ đảm bảo tính hiệu quả, tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật của viện kiểm sát nhân dân - cơ quan tư pháp, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật và tham gia xây dựng pháp luật, phải gắn chặt nguyên tắc tổ chức và hoạt động tập trung, thống nhất với nguyên tắc Đảng lãnh đạo, bảo đảm cho viện kiểm sát nhân dân triển khai thực hiện các nhiệm

vụ theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng trong xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Thực tế hoạt động của mô hình Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam• • • C7 • •

hiện nay và liên hệ với thế giới.

Ngành kiểm sát nhân dân đã tham gia và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng hệ thống pháp luật; trong cải cách tư pháp; góp phần xây dựng và thực hiện những nhiệm vụ chính trị của Đảng; thực hiện tốt chức năng được Hiến định

Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và viện kiềm sát các cấp tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy chế tồ chức hoạt động và quy chế nghiệp vụ theo hướng đề cao trách nhiệm của lãnh đạo, kiểm sát viên viện kiềm sát các cấp; xây dựng, ban hành nhiều quy chế nghiệp vụ; phối hợp xây dựng, ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Viện kiểm sát với các cơ quan hữu quan, nhất

là các cơ quan tư pháp [22]

Tại Kết luận số 20 - KL/TW ngày 22/5/2012 nêu rõ “Viện kiêm sát

nhãn dãn thực hành quyền công tố và kiêm sát hoạt động tư pháp Sửa đôi,

12

Trang 19

bồ sung một số quy định về nguyên tắc tô chức và hoạt động của Viện kiêm sát nhân dân theo định hướng cải cách tư pháp ” Từ năm 2012, toàn ngành

tiếp tục triển khai nghiêm túc Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ chính trị về Đề án đổi mới

tố chức và hoạt động của tòa án, viện kiếm sát và cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49 - NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 để phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[7]

Theo quy định tại Điều 107, Chương VIII của Hiến pháp năm 2013

“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp• • • • • • JL JLluật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tồ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chinh và thống nhất”

Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tổi cao Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân [16, Điều 109]

Đây là lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc này như một nguyên tắc hiến định đối với tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân Nguyên tắc này một mặt nhằm tăng tính độc lập, thẩm quyền cho kiểm sát viên, ngăn ngừa sự can thiệp trái pháp luật của cá nhân, tổ chức vào hoạt động nghiệp vụ của kiềm sát viên, đồng thời phù hợp với nguyên tắc tập trung

13

Trang 20

thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát, bảo đảm sự lãnh đạo của Viện trưởng viện kiểm sát mỗi cấp và sự lãnh đạo tập trung thống nhất cùa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Các quy định về quyền con người, quyền công dân được báo đảm tại Điều 31 của Hiến pháp năm 2013, đã đặt ra cho Viện kiểm sát nhân dân trách nhiệm mới trong thực hành quyền công tố, kiềm sát hoạt động tư pháp, đặc biệt là trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã làm rõ vị trí, vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong mối quan hệ phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước theo tư tưởng của Hiển pháp Cùng với chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân được xác định là thiết che

kiểm sát hoạt động tư pháp, có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên

đối với cơ quan điều tra, tòa án, cơ quan thi hành án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp Các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định, yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân Mặt khác, Luật cũng quy định rõ các cơ chế giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thông qua các thiết chế dân chủ đại diện (như Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại biểu hội đồng nhân dân) thông qua dân chủ trực tiếp và các tồ chức chính trị - xã hội, đồng thời, quy định cơ chế cơ quan điều tra, tòa án, cơ quan thi hành án và các cơ quan khác

có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có quyền kiến nghị Viện kiểm sát xem xét đối với hành vi, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân không cỏ căn

cứ, trái pháp luật khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân

Luật đã tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn nội dung nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành bằng việc làm rõ mối quan hệ giữa Viện

14

Trang 21

trưởng viện kiêm sát nhân dân câp trên với Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân cấp dưới và ngược lại, thông qua các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp Đồng thời, làm rõ thêm quy định của Hiến pháp về nguyên tắc hoạt động của kiểm sát viên như sau: Kiểm sát viên phải chấp hành quyết định của Viện trường Viện kiếm sát Khi

có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì kiểm sát viên có quyền

từ chối nhiệm vụ được giao và phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với Viện trưởng; trường hợp Viện trưởng vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và kiểm sát viên phải chấp hành nhưng không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo lên Viện trưởng Viện kiềm sát nhân dân cấp trên có thẩm quyền Viện trưởng đã quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

Qua 60 năm kể từ khi thành lập đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quan tâm xây dựng chức năng nhiệm vụ của Viện kiềm sát, xác định công tác kiểm sát thực chất là công tác chính trị, chống tư tưởng pháp lý đơn thuần Mục tiêu chính trị của công tác kiểm sát là vận dụng đồng bộ các phương thức kiểm sát phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong từng thời gian Phương châm công tác kiểm sát kết hợp giữa chống và xây, lấy xây làm mục đích, kết hợp giữa chông và phòng, coi phòng ngừa là chủ yếu Phương pháp công tác kiểm sát đi đúng đường lối quần chúng, đưa pháp luật vào quần chúng, kết hợp đấu tranh của quần chúng với hiệu lực của pháp luật

Đó chính là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động, nguồn sức mạnh của Viện kiểm sát nhân dân kể từ khi thành lập đến nay

Từ thực tiễn hoạt động, tổ chức, bộ máy của Viện kiểm sát đã từng bước được kiện toàn nhưng tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan điều tra các cấp còn nhiều bất cập Cơ quan điều tra đã được tổ chức thành nhiều bộ phận điều tra chuyên sâu đối với tùng loại tội phạm (hình sự, kinh tế, ma túy, môi

15

Trang 22

trường, an ninh chinh trị) và hoạt động theo cơ chê sát nhập hoạt động trinh sát với hoạt động tố tụng làm một Từ đó, việc thực hiện chức năng công tố và kiểm sát điều tra của viện kiểm sát gặp nhiều khó khăn do phải theo dõi nhiều đầu mối điều tra, còn hoạt động trinh sát thì viện kiểm sát không kiểm sát được Nếu chỉ đặt vấn đề hệ thống tổ chức cùa viện kiểm sát phù hợp với hệ thống tổ chức của tòa án thì chưa đủ, vì viện kiểm sát sẽ gặp khó khăn khi thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra và tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp theo yêu càu cải cách tư pháp [25],

Mở rộng ra, trên thế giới, các nước theo các hệ thống pháp luật khác nhau nên vị trí, vai trò và chức năng của VKS/Viện công tố trong bộ máy nhà nước cũng khác nhau Đối với các nước theo hệ thống Anh - Mỹ (hệ thống common law), hệ thống cơ quan công tố được tinh giản và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực hình sự Đồng thời, các công tố viên được tuyển chọn theo từng vụ việc cụ thể Quan điểm cũa các nước theo hệ thống common law là Nhà nước và pháp luật ít can thiệp thì xã hội càng vận hành có hiệu quả Ớ một số nước như Đan Mạch, Thủy Điển thì Viện công tố không có vai trò gì trong vụ án dân sự; đồng thời quá trình tổ tụng, các công tố viên không tham gia trong quá trình lập hồ sơ, xét xử, không có quyền kháng nghị

Trái lại, với các nước theo hệ thống luật lục địa (civil law) thi hệ thống

cơ quan công tố rất mạnh, có vai trò lớn trong lĩnh vực kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thẩm quyền kháng nghị trong các thủ tục tố tụng Do đó, nhiệm

vụ, quyền hạn của VKS/Viện công tố bao quát hơn Ớ Pháp, trong lĩnh vực tổ tụng dân sự, Viện công tố có hai vai trò chủ yếu: 1) thực hiện quyền khởi kiện như một bên đương sự; 2) thực hiện quyền yêu cầu áp dụng pháp luật, với tư cách như một cơ quan tiến hành tố tụng [44]

Ngoài ra, có thể phân chia như sau: (1) Ờ những nước có truyền thống

án lệ như Mỹ, Anh, việc tổ chức hệ thống Tòa án căn cứ vào thẩm quyền xét

16

Trang 23

xử Theo đó, Tòa án được chia câp đê làm các nhiệm vụ: xét xử sơ thâm, xét

xử phúc thẩm và Tòa án ở cấp trung ương Tuy nhiên, ở các nước này cơ quan công tố chỉ được tổ chức ở 2 cấp là Cơ quan công tố trung ương và Cơ quan công tố cấp quận mà không tồ chức các cơ quan công tố ngang cấp với Tòa án cấp phúc thấm (Tòa cấp cao ờ nước ta hiện nay) Đối với các vụ án đã được Tòa án cấp quận xét xử sơ thấm, nếu bị kháng án và được đưa ra xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm, thì các công tố viên quận (cấp sơ thẩm) phải tiếp tục tham gia phiên tòa phúc thẩm đế bảo vệ quyết định truy tố (2) Các nước có truyền thống pháp luật châu Âu lục địa như Pháp, Đức và những nước ở châu

Á chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật châu Âu lục địa như Nhật Bản, Hàn Quốc, cơ quan Tòa án và VKS/Viện công tố được tổ chức theo thẩm quyền xét xử [45]

K.ết quả nghiên cứu mô hình tổ chức của các VKS/Viện công tố ở các nước khá đa dạng, nhiều nét giao thoa nhau và có thể phân chia thành một mô hình mà có nhiều nét tương đồng với tố chức, hoạt động của Tòa án, Viện kiếm sát như ở nước ta trước đây đó là (3) hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát được tổ chức tương ứng với hệ thống cơ quan hành chính chứ không theo thẩm quyền xét xử ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc

và Liên bang Nga Ở Trung Quốc có 04 cấp tòa án, VKS với Tòa án cấp thứ 2

có tên gọi là “Tòa án cấp cao”, tòa án này được tổ chức tương ứng với cơ quan hành chính cấp tỉnh, thành phố và khu tự trị trực thuộc trung ương, có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm những vụ án do Tòa án trung cấp xét xử sơ thẩm

và nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự quan trọng xảy ra trên địa bàn tỉnh, thành phố và khu tự trị trực thuộc trung ương

Mặc dù việc nhận thức đúng và đầy đủ vị trí của viện kiểm sát nhân dân phụ thuộc vào nhiều yếu tổ nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của nhân dân, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu:

17

Trang 24

“Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tôn ” và trên nên tảng

giao thoa, học hởi mô hình các Viện công tố/Viện kiểm sát trên thế giới, Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam đã tuân thủ đầy đũ các nguyên tắc, thể hiện vai trò là công cụ đấu tranh sắc bén của Đảng trong bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền tự do, dân chù và những lợi ích chính đáng của nhân dân; góp phần xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và

vì nhân dân

1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn cua Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện • • 7 > «/ • • • •

chức năng được giao

1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khỉ thực hành quyền công tố

Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tổ và kiểm sát hoạt động tư pháp nhàm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phưcmg thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định cùa pháp luật

Viện kiềm sát nhân dân thực hành quyền công tố là việc Viện kiềm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Theo pháp luật hiện hành, ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố Thực hành quyền công tố là hoat động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự đế thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,

18

Trang 25

kiên nghị khởi tô và trong suôt quá trình khởi tô, điêu tra, truy tô, xét xử vụ án hình sự.

Hoạt động công tố được thực hiện nhàm đảm báo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không để người nào

bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật

Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiềm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Yêu càu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật

tổ tụng hình sự quy định;

b) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

c) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

d) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm

rõ tội phạm, người phạm tội;

e) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

19

Trang 26

tiên hành một sô hoạt động điêu tra đê làm rõ căn cứ quyêt định việc buộc tội đối với người phạm tội;

g) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;

h) Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;

i) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;

k) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bở lọt tội phạm, người phạm tội;

l) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự [181

1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát hoạt động tư pháp

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đế kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật; việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp

20

Trang 27

pháp khác của người bị băt, tạm giữ, tạm giam, người châp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Khi thực hiện chức năng kiếm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Yêu càu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quà cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp

hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiềm sát tính hợp pháp của các hành

vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;

b) Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu đế làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;

c) Xử lý vi phạm; yêu càu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa

vi phạm pháp luật và tội phạm;

d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp;

đ) Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;

e) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật

Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất

21

Trang 28

cả các chù thê tiên hành các hoạt động tư pháp, trong đó chù thê quan trọng nhất là Tòa án nhân dân Khi VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động của TAND đó không phải là một hoạt động kiểm tra, thanh tra hành chính của cấp trên đối với cấp dưới VKSND cũng không có quyền trực tiếp sửa đối, hủy bỏ những bản án, quyết định trái pháp luật của TAND Do đó, để sửa đổi hoặc hủy bỏ các quyết định của TAND mà VKSND cho rằng chưa đúng quy định của pháp luật thì phải thông qua một cơ chế gián tiếp bằng cách kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu chủ thể có thẩm quyền xem xét lại những quyết định đó [18]

1.2.3 Quyền kháng nghị và quyền kiến nghị

Khách quan về mối quan hệ giữa VKSND và TAND là hai cơ quan có

vị trí độc lập và thực hiện hai dạng quyền lực nhà nước khác nhau TAND thực hiện quyền xét xử còn VKSND thực hiện quyền kiềm sát đối với hoạt đông xét xử của TAND và hoạt động của những người tham gia tổ tụng Khi thực hiện quyền của mình TAND và VKSND đều nhân danh quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực được Nhà nước giao cho nên hai cơ quan không có quyền trực tiếp hủy bỏ hoặc sửa đổi những vi phạm của nhau Đe thực hiện tốt quyền năng thì phải có một cơ chế để VKSND thực hiện quyền kiểm sát bằng cách VKSND yêu cầu Tòa án cấp trên của Tòa án đã ra bản án, quyết định có vi phạm xem xét lại bản án, quyết định đó Như vậy, ban hành quyết định kháng nghị là một trong những hình thức để thực hiện quyền yêu cầu như đã phân tích ớ trên của VKSND [23]

Trang 29

kháng nghị, đảm bảo cho vụ việc được xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh

và kịp thời Quyền kháng nghị của VK.SND có đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, quyền kháng nghị vừa là quyền hạn, vừa là nhiệm vụ của VKSND nhằm đảm bảo cho vụ việc được xét xử kịp thời, đủng pháp luật;

Thứ hai, đối tượng của quyền kháng nghị là bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND mà VKSND cho rằng có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của pháp luật;

Thứ ba, hình thức kháng nghị bao giờ cũng được thể hiện bằng văn bản pháp lý là “Quyết định khảng nghị” của người có thẩm quyền kháng nghị Hoạt động kháng nghị của VKSND chỉ được tiến hành bằng các chủ thể có thẩm quyền theo luật định VKSND thực hiện quyền kháng nghị chính là thực hiện chức năng kiểm sát việc tuần theo pháp luật đối với hoạt động tố tụng của TAND Quyết định kháng nghị của VKSND có tính quyền lực nhà nước, trong đó chì rõ vi phạm trong bân án, quyết định của TAND bị kháng nghị để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nhằm khắc phục vi phạm, bảo đám cho vụ việc dân sự được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thứ tư, nội dung Quyết định kháng nghị thế hiện rõ quan điếm của Viện VKSND đối với bản án, quyết định của TAND là có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới dần đến làm thay đổi nội dung băn án, quyết định nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền đưa vụ việc ra xem xét lại theo trình tự luật định

Hoạt động kháng nghị của VKSND được thực hiện theo thẩm quyền trong từng giai đoạn tố tụng, bao gồm: kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Trong hoạt động tố tụng dân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của

23

Trang 30

Tòa án câp sơ thâm đê yêu câu Tòa án câp phúc thâm giải quyêt lại theo thù tục phúc thẩm [13, Điều 278]

về quyền kiến nghị:

Theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 “Trường họp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và

xừ lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khấc phục và

áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Cơ quan,

tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”

Tại điểm c, khoản 3, Luật Tồ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: Khi thực hiện chức năng kiếm sát hoạt động tư pháp, VKSND có

nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: c, Kiến nghị cơ quan, tô chức, cả nhân có thâm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tô chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm.

Như vậy, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định cụ thể khi nào thì VKSND ban hành kiến nghị, đó là khi phát hiện hành vi, quyết định của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục

vi phạm và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; còn khi phát hiện sơ

hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì VK.SND kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật

và tội phạm

24

Trang 31

Đông thời, theo quy định chức năng, nhiệm vụ của VKSND tại từng khâu công tác, quyền kiến nghị được quy định cụ thể Ví dụ: Điều 15 quy định về kiến nghị trong kiểm sát điều tra vụ án hình sự; Điều 17 quy định về kiến nghị trong kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố; Điều 19 quy định về kiến nghị trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự; Điều 22 và Điều

25 quy định về kiến nghị trong kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự; Điều 27 quy định về kiến nghị trong kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự ; Điều 28 quy định về kiến nghị trong kiểm sát thi hành án dân sự; Điều 30 quy định về kiến nghị trong kiềm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

Ngoài ra, để cụ thể hóa chế định kiến nghị theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì các đạo luật về tư pháp cũng được ban hành,

ví dụ: tại các Điều 6, 160, 166, 237, 267 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 25 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 141 Luật thi hành án hình sự năm 2010; Điều 25 Luật thi hành án dân sự năm 2014; Điều 6, 42, 43 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, theo quy định cùa BLTTDS năm 2015, VKSND có quyền kiến nghị đối với các quyết định, hành vi trong hoạt động

tố tụng dân sự đối với các trường hợp như: Kiến nghị đối với quyết định chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác (Điều 41), quyết định nhập hoặc tách

vụ án (khoản 3, Điều 42 BLTTDS), quyết định áp dụng, thay đồi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 2 Điều 139), việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu (Điều 194 và Điều 364), quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Điều 220 và Điều 319 BLTTDS), quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Điều 233), quyết định sửa chữa, bổ sung bản án (Điều 268), quyết định đưa vụ án

ra xét xử phúc thẩm (Điều 290), quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm (Điều

25

Trang 32

296); Kiên nghị với cơ quan, tô chức, cá nhân có trách nhiệm khi kiêm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng dân sự; Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

Tóm lại, căn cứ để VKS thực hiện quyền kiến nghị và kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật đó là: VKS kiến nghị đối với trường hợp bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm ít nghiêm trọng

và thực hiện quyền kháng nghị trong trường hợp bản án, quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân

1.3 Vị trí, CO’ cấu của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hệ thống

ngành tư pháp

1.3.1 Vị tri và cơ cẩu của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

Tại khoản 2 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định “VKSND gồm VKSND toi cao và các Viện kiếm sát khác do luật định ” Trên cơ sở quy định

của Hiến pháp năm 2013, Điều 40 Luật Tồ chức VKSND năm 2014 quy định

hệ thống VKSND gồm “1 VKSND tối cao; 2 VKSND cấp cao; 3 VKSND tinh, thành phố trực thuộc trung ương; 4 VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; 5 Viện Kiểm sát quân sự các cấp” Như vậy, VKSND cấp cao là cấp kiểm sát thứ hai trong hệ thống bốn cấp kiểm sát, riêng hệ thống Viện Kiểm sát quân sự các cấp được tổ chức riêng [29]

Tại khoản 2 Điều 41 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định:

“ VKSND cap cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đổi với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao Hai

nhiệm vụ, quyền hạn này xuất phát từ nhiệm vụ đặc trưng, xuyên suốt của ngành kiểm sát nhân dân nói chung, đối với từng cấp kiểm sát nói riêng

Trên cơ sở đó, Quy chế tổ chức và hoạt động của VKSND cấp cao quy

26

Trang 33

định, VKSND câp cao:

Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ

án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tối cao, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có kháng cáo, kháng nghị, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án cấp tỉnh, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị [32]

Tại khoản 3, Điều 2 Nghị quyết 82/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của

Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định Viện trưởng VKSND cap cao khảng nghị theo thủ tục phúc thâm đối vói bản án, quyết định sơ thâm chưa cỏ hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; kháng nghị theo thủ tục giám đắc thâm, tái thấm đoi với bản

án, quyết định đã cỏ hiệu lực pháp luật của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, TAND tỉnh, thành pho trực thuộc trung ương trong phạm vi lãnh thổ thuộc thấm quyền.

Cụ thể hơn, thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 (Điều 373 và Điều 400); Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015 (Điều 331 và Điều 354), Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 (Điều 260 và Điều 283) Đây là thẩm quyền mới của VKSND cấp cao thay thế thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cấp tỉnh trước đây đối với bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện

VKSND cấp cao là một cấp kiểm sát trong hệ thống VK.SND, VKSND cấp cao chịu sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện cùa Viện trường VKSND tối cao thông qua các đon vị trực thuộc VKSND tối cao trên mọi phương diện

27

Trang 34

công tác Mọi hoạt động của Viện câp cao đêu phải tuân thủ các Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao và hướng dẫn cùa các vụ nghiệp vụ về thẩm quyền tố tụng được quy định trong các luật tố tụng hình sự, dân sự, hành chính, VKSND tối cao cũng là cấp trên của VKSND cấp cao Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị GĐT, TT bản án, quyết định phúc thẩm, GĐT, TT của Tòa án cấp cao; có quyền chi đạo, hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động THQCT và K.SXX của VK.SND cấp cao; có quyền rút, hủy bỏ, đình chỉ các quyết định của VKSND cấp cao; có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về quyết định, hành vi tố tụng của VKSND cấp cao

Trong mối quan hệ với VKSND cấp tình, cấp huyện, vị trí của VKSND cấp cao là cấp trên của VKSND cấp tỉnh, cấp huyện về công tác THQCT và KSXX và chỉ là cấp trên duy nhất trong lĩnh vực này VK.SND cấp cao có quyền chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động THQCT và KSXX của VK.SND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện VKSND cấp cao không có quyền chi đạo đối với VK.SND cấp dưới đối với các công tác khác Viện trưởng VK.SND cấp cao có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định

sơ thấm của Tòa án cấp tỉnh trong khu vực; kháng nghị đổi với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện trong khu vực theo thủ tục GĐT, TT; có quyền rút một phần hoặc toàn bộ, hoặc thay đổi kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh

Với TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND địa phương trong khu vực: Các quan hệ được phát sinh khi VKSND cấp cao thực hiện các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ như rút hồ sơ, giao nhận hồ sơ để giải quyết đơn; giải quyết án phúc thẩm, GĐT, TT; phối họp trong việc gửi bản án, quyết định sơ thẩm, hồ sơ, tài liệu chứng cứ của vụ án theo yêu cầu của VK.SND cấp cao đề xem xét thực hiện quyền kháng nghị phúc thấm; phổi hợp trong việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của VKS Các quan hệ phổi hợp được quy định khá đầy đủ trong các Thông tư liên tịch giữa VKSND tối cao, TAND tối cao và

28

Trang 35

các văn bản pháp luật khác Ngoài ra trên cơ sở quy định của pháp luật, một

số VKSND cấp cao và TAND cấp cao trong khu vực còn ký kết các quy chế phối hợp đế các đơn vị thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình

Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ, các VKSND cấp cao còn phối hợp, xem xét báo cáo đề nghị kháng nghị GĐT, TT của các cơ quan khác; đề nghị các cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu để kháng nghị GĐT, TT; khi chuyển tin báo tố giác tội phạm, chuyển đơn thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra; phối hợp trong việc bổ sung tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, GĐT, TT

về số lượng, hiện tại thành lập 3 VKSND cấp cao, đặt tại ba khu vực:

Hà Nội, Đà Nằng và Thành phố Hồ Chí Minh [33]

Tại Quyết định số 348/QĐ-VKSTC-V9 ngày 08/6/2015 của VK.SND tối cao quy định VKSND cấp cao tại Hà Nội THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao tại Hà Nội VK.SND cấp cao tại Hà Nội có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, VK.SND cấp cao tại Hà Nội có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội, gọi tắt là Viện cấp cao 1, ký hiệu VC1

Tại Quyết định số 349 /QĐ-VKSTC-V9 ngày 08/6/2015 của VKSND tối cao quy định VKSND cấp cao tại Đà Nằng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao tại Đà Nằng VKSND cấp cao tại Đà Nằng có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 12 tình, thành phố trực thuộc trung ương, VKSND cấp cao tại

Đà Nằng có trụ sở đặt tại thành phố Đà Nằng, gọi tắt là Viện cấp cao 2, ký hiệu VC2

Tại Quyết định số 350 /QĐ-VKSTC-V9 ngày 08/6/2015 của VKSND tối cao quy định VKSND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh THQCT, kiểm

29

Trang 36

sát hoạt động tư pháp đôi với các vụ án, vụ việc thuộc thâm quyên giải quyêt của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh VKSND cấp cao tại thành phố HỒ Chí Minh có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thồ đối với 23 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, VKSND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có trụ

sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là Viện cấp cao 3, ký hiệu VC3

Như vậy, kể từ ngày 01/6/2015, ngành Kiểm sát có thêm một cấp mới

là VKSND cấp cao, phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Đây là yêu cầu khách quan, là sự chuyến hóa Nghị quyết của Đảng về chù trương cải cách tư pháp vào pháp luật và thực tiễn cuộc sống [31]

Ngoài ra, tại Điều 8 Luật Tổ chức VKSND quy định Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, VKSND có trách nhiệm phoi hợp với cơ quan Công án, Tòa án, Thi hành án, Thanh tra, Kiêm toán, các cơ quan nhà nước khác, ủy ban mặt trận tô quốc Việt Nam và các tô chức thành viên của Mặt trận đê phòng, chổng tội phạm có hiệu quả, xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; phổ biến, giảo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu tội phạm

và vi phạm pháp luật.

1.3.2 Ỷ nghĩa và đánh giả hiệu quả khi thành lập Viện kiếm sát dãn cấp cao

Trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống cơ quan tư pháp có tính độc lập đặc thù, được tổ chức và hoạt động theo một số nguyên tắc đặc trưng cơ bản như nguyên tắc “Tòa án

thực hiện hai cấp xét xử; tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

“không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương” Riêng

VKSND ba cấp trước đây đã tổ chức theo mô hình hoàn toàn gắn với cơ quan hành chính, bị chi phối bởi cơ quan hành chính và các cơ quan nhà nước khác

30

Trang 37

ở địa phương, ảnh hưởng đên tính độc lập trong hoạt động tô tụng tư pháp Ngoài ra, nền tư pháp còn phải xây dựng gần dân hơn, nhất là trong giải quyết khiếu kiện, kháng cáo, đề nghị, đơn thư cùa công dân, cơ quan, tổ chức, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện với hệ thống tư pháp Vì thế mà từ Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49) đã định hướng chiến lược rất quan trọng là “tô chức hệ thong Tòa

án theo thâm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chỉnh ” và đưa ra

mô hình “Tòa Thượng thâm được tô chức theo khu vực” (Tòa án nhân dân cấp cao hiện nay) Nghị quyết 49 cũng đã định hướng tổ chức và hoạt động cùa ngành Kiểm sát đó là “VKSND được tô chức phù hợp với hệ thống tô

chức của Tòa án

Tai Kêt luận sô 79-KL/TW ngày 28/7/2010 vê “Đê án đôi mới tô chức

và hoạt động của Tòa án, Viện kiêm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”,

Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49 - NQ/TW đã khẳng định việc thành lập hệ thống Tòa án nhân dân bốn cấp và hệ thống VKSND cũng được thành lập tương ứng với hệ thống Tòa án [43]

Tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao có vai trò làm hạt nhân thu gọn đầu mối, bảo đảm tính tập trung thống nhất về người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và người tham gia các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm, nhằm khắc phục tình trạng có quá nhiều đơn vị thực hiện chức năng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; tạo điều kiện để VKSND cấp tỉnh tập trung làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, không tham gia nhiều giai đoạn xét

xử vừa sơ thẩm, phúc thẩm lại vừa giám đốc thẩm, tái thẩm như trước đây

31

Trang 38

Như vậy, mô hình VKSND câp cao không hoàn toàn mới mà có tính kê thừa mô hình Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các loại án phúc thấm Mô hình này vừa phát huy lợi thế trong việc tiếp nhận giải quyết khiếu kiện, đơn thư của người dân đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án ở địa phương theo địa hạt tư pháp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện với công lý, với hệ thống tư pháp, đưa nền tư pháp nước ta đến gần dân hơn khi VKSND cấp cao được tăng cường mới chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng tại giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, đồng thời cũng góp phần giảm tải khối lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo tập trung về các cơ quan trung ương như trước đây Thêm nữa, VKSND cấp cao là cấp kiểm sát độc lập còn tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát trong việc chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, tăng cường các thẩm quyền công tác và tự chịu trách nhiệm đối với Viện trưởng VKSND tối cao; khắc phục được những hạn chế

mà Viện phúc thẩm (đơn vị tiền thân của VKSND cấp cao) khi trực thuộc VKSND tối cao về mọi mặt [42]

Mô hình VKSND cấp cao không thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết án ở giai đoạn sơ thẩm và chức năng kiềm sát công tác thi hành án dân sự, hình sự như các cấp kiểm sát khác mà chỉ tập trung vào công tác nghiệp vụ chuyên sâu là thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết án ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Ngoài ra, VK.SND cấp cao được tổ chức hoàn toàn độc lập với cấp hành chính, không chịu sự ràng buộc, chi phối, áp lực nào về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế bởi bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung thống nhất toàn diện của VKSND tối cao Cách thức tổ chức này thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND “không lệ thuộc

vào cơ quan nhà nước nào ở địa phương”, không “song trùng trực thuộc”

Mô hình này tạo cho VKSND cấp cao có điều kiện hoạt động độc lập, khách

32

Trang 39

quan, chỉ tuân theo pháp luật và chịu sụ lãnh đạo tập trung thông nhât của VKSND tối cao Do đó, có thể coi VKSND cấp cao là 1Ĩ1Ô hình có tính “í/ọ/

phả ” của cải cách tư pháp.

1.4 Tổng quan về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong tố tụng dân sự

Từ chức năng nhiệm vụ chung của ngành, nhiệm vụ, quyền hạn của

VKSND cấp cao được xác định là “VKSND cấp cao THQCT, kiêm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thâm quyền của TAND cấp cao” (khoản 2 Điều 41 Luật Tổ chức VKSND) Tại khoản 2 Điều 2 Nghị

quyết 82/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội thi hành Luật Tổ chức VKSND, cũng như các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, VKSND cấp cao có các nhiệm vụ cụ thể như sau:

1.4.1 KSXXphúc thẩm:

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lại những bản án, quyết định sơ thẩm dân sự và các việc khác chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị Theo thẩm quyền thì Tòa án cấp cao có nhiệm vụ xem xét lại các bản án, quyết định sơ thấm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tinh khi bị kháng cáo hoặc bị VKS cấp tỉnh, VK.SND cấp cao kháng nghị phúc thẩm

Công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm là nhiệm vụ được các Viện phúc thẩm thuộc VKSND tối cao trước đây thực hiện và được chuyển giao cho các VK.SND cấp cao sau khi được thành lập theo Luật tổ chức VKSND năm 2014

BLTTDS quy định cụ thể chủ thể, nhiệm vụ, thẩm quyền cũng như phạm vi, trình tự, thủ tục của hoạt động xét xử phúc thẩm Theo đó, kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm, VK.SND cấp cao có nhiệm vụ:

- Kháng nghị phúc thấm đối với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực của TAND cấp tỉnh trong khu vực đã xét xử sơ thẩm

33

Trang 40

- Thực hiện các hoạt động kiêm sát trước khi đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm như: nghiên cứu hồ sơ vụ án, lập hồ sơ vụ án; Kiểm sát việc thụ lý vụ án của TAND cấp cao (xem xét tính hợp pháp của kháng nghị như thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị ); Kiểm sát tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng trong quá trình chuẩn bị xét xử

vụ án ở giai đoạn phúc thẩm (việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi

mở phiên tòa của VKS, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn );

- KSXX tại phiên tòa phúc thẩm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, của thư ký phiên tòa, của nhũng người tham gia tố tụng, đàm bảo trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tuân thủ pháp luật; trình bày kháng nghị, hởi, tranh luận, phát biểu ý kiến, trinh bày quan điềm của VKS tại phiên tòa phúc thẩm

- Thực hiện các hoạt động sau phiên tòa: Kiểm tra biên bản phiên tòa, bản án, thực hiện quyền kiến nghị, đề nghị kháng nghị GĐT, TT đối với các

vi phạm của bản án, quyết định phúc thẩm;

- Thông qua KSXX phúc thẩm kịp thời phát hiện các vi phạm thiếu sót của cơ quan tố tụng cùng cấp, cấp dưới và các cơ quan hữu quan để kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, thông báo rút kinh nghiệm và các việc khác theo quy định của pháp luật

1.4.2 KSXX theo thủ tục GĐT, TT

Tính chất của GĐT là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị GĐT vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án Tính chất của TT là xét lại bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi Tòa án

34

Ngày đăng: 12/07/2022, 09:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Dương Thanh Biểu (2008), Tranh luận tại phiên tòa phủc thẩm, NXB Tư pháp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa phủc thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: NXB Tư pháp Hà Nội
Năm: 2008
4. Bộ Chính trị (2000), Quy định 76/QD-TW ngày 15/6/2000 của Bộ Chính trị về “Đảng viên đang công tác giữ mối liên hệ và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đảng viên đang công tác giữ mối liên hệ và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2000
25. Lê Hữu Thể (2005), “Những vấn đề lý luận và thực tiền cấp hách của việc đôi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề lý luận và thực tiền cấp hách của việc đôi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ”
Tác giả: Lê Hữu Thể
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
29. ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), Nghị Quyết số 953/NQ- UBTVQH13 ngày 28/5/2015 về “Thành lập VKSND cấp cao” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thành lập VKSND cấp cao
Tác giả: ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 2015
1. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Quy định số 45-QD/TW ngày 01/11/2011 của Ban chấp hành Trung ương về Quy định thi hành Điều lệ Đảng Khác
2. Ban Chấp hành Trung ương (2012), Hướng dẫn số 15/ HD- BTCTW ngày 05/11/2012 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI) Khác
5. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thòi gian tới Khác
6. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020“ Khác
7. Bộ Chính trị (2010), Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TWngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020“ Khác
8. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 92/KL-TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
24. TAND tối cao (2014), Thành lập tòa án sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm, tòa thượng thẩm, đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tối cao, Đồ án của TANDTC Khác
26. Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-TANDTC-VKSND tối cao ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Khác
27. Thông tư liên tịch số 02, 03/2016/TTLT-TANDTC-VK.SND tối cao ngày 31/8/2016 quy định việc phối hợp giữa VK.SND và TAND trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính Khác
28. Thông tư liên tịch số 02, 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSND tối cao ngày 15/10/2013 hướng dần thi hành một số quy định về thủ tục GĐT, TT và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao của Luật tố tụng hành chính và Bộ luật tố tụng dân sự Khác
30. VKSND tối cao (2005), Đồng chí Hoàng Quốc Việt với ngành kiểm sát nhân dân Khác
32. VKSND tối cao (2015), Quy chế tồ chức hoạt động của VKSND cấp cao ban hành kèm theo Quyết định số 26/QĐ-VKSTC-VC ngày 20/11/2015 Khác
33. VKSND tôi cao (2015), Quyêt định sô 11/QĐ-VKSTC-V15 ngày 20/7/2015 của VKSND tối cao xác định bộ máy làm việc của VKSND cấp cao Khác
34. VKSND tối cao (2017), Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành kiểm sát ban hành kèm theo Quyết định số 279/VKSTC ngày 01/8/2017 của VKSND tối cao Khác
35. VKSND tối cao (2015), Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-VKSTC ngày 13/7/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao Khác
36. VKSND tối cao (2016), Quy chế công tác kiểm tra trong ngành kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 160/QĐ-VKSTC-T1 ngày 30/3/2016 của VK.SND tối cao Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w