1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật học)

104 25 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn Chứng Cứ Là Dữ Liệu Điện Tử Trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 26,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC GIAI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUA ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM VỀ NGUỒN CHỬNG CỨ LÀ DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH sự.... Các giải pháp hoà

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC VIẾT TÁT V DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐÀU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẨN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN CHỬNG cứ LÀ DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự 6

1.1 Lý luận chung về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện từ 6

7.7.7 Nhận thức về nguồn chứng cứ 6

1.1.2 Khái niệm nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử 9

1.1.3 Đặc điêm của nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử 14

1.1.4 Phân loại nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử 20

1.2 Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới 33

1.2.1 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 33

1.2.2 Vương quốc Anh 34

1.2.3 Liên bang Nga 35

Kết luận chương 1 38

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN CHỨNG cứ LÀ DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM VÀ THỰC TIẺN ÁP DỤNG 39

2.1 Quy định pháp luật về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam 39

2.1.1 BLTTHS năm 2015 quy định dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ chứng minh 39

2.1.2 Khái niệm về dữ liệu điện tử theo quy định BLTTHS năm 2015 40

Trang 2

2.1.3, Vê thu giữ, bảo quản phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử theo quy định của BLTTHS năm 2015 43

2.1.4 Điều kiện để dữ liệu điện tử có thê sử dụng làm chứng cứ 47 2.1.5 BLTTHS năm 2015 quy định kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quổc tế là một nguồn chứng cứ chứng minh 49

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam 50

2.2.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử 50 2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử 62 2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định Luật tô tụng hình sự vê nguỏn chứng cứ là dữ liệu điện tử 64

Kết luận chương 2 66

Chương 3 CÁC GIAI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUA ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM VỀ NGUỒN CHỬNG CỨ LÀ DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH sự 68

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện các quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử 683.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Luật tố tụng hình sự về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 73

3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện

r

tử trong Luật tô tụng hình sự Việt Nam 3.2.2 Xây dựng quy trĩnh công tác thu thập nguồn chứng cứ là dữ liệu

Trang 3

3.2.3 Giải pháp nâng cao chât lượng, hiệu quả hoạt động và tăng cường vai trò trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tổ tụng trong nhận thức và thực tiễn áp dụng các quy định về dữ liệu điện tử theo quy định của Luật tố tụng hình sự 88 3.2.4 Tăng cường phối hợp trong hoạt động áp dụng những quy định của Luật tố tụng hình sự về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong quá trĩnh giải quyết vụ án hình sự 92 3.2.5 Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và sử dụng khoa học công nghệ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có nguồn chứng cứ

là dữ liệu điện tử 93

Kết luận chương 3 94KẾT LUẬN 96

DANH MUC TÀI LIÊU THAM KHAO 98

iv

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

V

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

O Ấ 1 • /\

SÔ niêu

Bảng 2.1 Tỉ lệ các vụ án, bị cáo phạm tội trong lĩnh vực công

nghệ thông tin, mạng viễn thông 2016 - 2021 57

vi

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Nguồn chứng cứ là hình thức chứa đựng sự kiện thực tế khách quan của

vụ án Những dấu vết của tội phạm được phản ánh, lưu giữ trong thế giới khách quan được các chủ thể tố tụng hình sự thu thập trong quá trình chứng minh và chính những vật có chứa đựng dấu vết tội phạm hoặc trí nhớ của con người về tội phạm thông qua lời khai của họ là những hình thức của chứng

cứ Những hình thức lưu giữ dấu vết của tội phạm được gọi là nguồn chứng

cứ hay phương tiện chứng minh

Trong bối cảnh đất nước không ngừng phát triển, đổi thay, các quan hệ

xã hội trở nên đa dạng hơn, thì tình hình tội phạm cũng tinh vi, phức tạp hơn Trước sự đổi thay đó một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 tò ra không còn phù hợp, trong đó có các vấn đề liên quan đến chứng cứ còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung hàng loạt các quy định về chứng cứ, nhằm khắc phục những yếu điểm trong luật tố tụng hình sự hiện hành, qua đó đáp ứng được đỏi hởi ngày càng cao trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm

Tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin tuy đã được quy định trong

Bộ luật Hình sự 1999 nhưng BLTTHS năm 2003 lại không hề đề cập đến nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử, một nguồn quan trọng để xác định hành vi phạm tội

và là cơ sở để xử lý tội phạm Để khắc phục tồn tại đó BLTTHS năm 2015 đã quy định “Dữ liệu điện tử” là một nguồn chứng cứ, có giá trị như các nguồn chứng cứ khác Loại chứng cứ mới này đang ngày càng phố biến, xuất hiện trong hầu hết các loại tội phạm, thậm chí trong nhiều vụ án chì thu được dữ liệu điện tử làm chứng cứ Việc bổ sung “dữ liệu điện tử” là một nguồn chứng cứ đáp ứng yêu cầu cấp bách hiện nay và hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam cũng như có căn cứ về khoa học, công nghệ và bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quà

1

Trang 7

Luật Tô tụng hình sự Việt Nam và nhiêu nước trên thê giới đêu có quy định về chế định chứng cứ và quá trình chứng minh trong giải quyết các vụ án hình sự, trong đó có chế định nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử Tuy nhiên, đây lại là một quy định mới trong BLTTHS Việt Nam năm 2015, vấn đề nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận để áp dụng quy định này vào quá trình giải quyết các vụ án hình sự, cũng như những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn

áp dụng ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nguồn

chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” mang

tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nguồn chứng cứ trong luật tố tụng hình sự là một lĩnh vực phức tạp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, cụ thể như sách chuyên khảo: Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 của TS Trần Quang Tiệp; “Phương pháp nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành luật Tố tụng hình sự mới nhất năm 2018” của Th.s Nguyễn Ngọc Điệp (Nxb Lao Động, 2018) Đối với các bài viết đăng trên tạp chí khoa học pháp lý có thể kể đến: “về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” (Tạp chí Nghề luật, số 02/2006) của PGS.TS Trịnh Tiến Việt; “Những điểm mới về chứng minh và chứng cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” (Tạp chí KHGD CSND sổ 96/2017) của tác giả Vũ Đức Trung; “Đổi mới chế định chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” (Tạp chí CSND, 2017) của tác giả Lương Hái Yến, Nguyễn Thế Viễn; “Nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự” (Tạp chí kiểm sát Online, 2018) của tác giả Nguyễn Cao Cường

Ngoài ra còn rất nhiều các công trình, bài viết khác nghiên cứu, phân tích, đánh giá về chứng cứ, đều thế hiện các quan điếm riêng của từng tác giả trong cách nhìn nhận, phân tích, đánh giá chứng cứ, vị trí vai trò của chứng cứ trong

2

Trang 8

tô tụng hình sự Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu vê nguôn chứng cứ là dừ liệu điện tử còn ít và hạn chế Vì vậy việc lựa chọn đề tài “Nguồn chứng cứ là

thêm về cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như nhận thức của tác giả đối với nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • •3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn chứng cứ là dừ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam Phân tích, đánh giá các quy định

về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện từ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới Qua đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tổ tụng hình sự, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử Phân tích các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ là dừ liệu điện tử, có sự so sánh với luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới

- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ là dừ liệu điện tử

- Chỉ ra những khó khăn bất cập, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam và trong pháp luật tố tụng hình sư một số nước trên

3

Trang 9

thế giới Đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và hạn chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng cúa cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện từ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam ở cả ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án hình sự và tình hình thực tiễn áp dụng các quy định của Luật tố tụng hình sự

về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chửng mác xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách luật tố tụng hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn còn kết hợp với một

số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: Hệ thống; logic; phân tích; tổng hợp; so sánh; khảo sát thực tế để chọn lựa tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam, từ

đó làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn

6 Ý nghĩa của luận văn 6.1 Ý nghĩa lý luận

Làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về dữ liệu điện tử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Nghiên cứu làm rõ các quy định về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam; làm rõ các quy định mới về dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự hiện hành so với pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sờ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về

4

Trang 10

dữ liệu điện tử trong các vụ án hình sự, đảm bảo giải quyêt vụ án được nhanh chóng, chính xác, kịp thời

7 Bô cục của luận văn• •

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, lời cảm ơn và danh mục tài liệutham khảo, luận văn gôm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự

Chương 2: Quy định pháp luật vê nguôn chứng cứ là dừ liệu điện tử

trong Luật tô tụng hình sự Việt Nam và thực tiên áp dụng

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

5

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ NGUỒN CHỨNG cú LÀ DỮ LIỆU

ĐIỆN TỦ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sụ

1.1 Lý luận chung về nguồn chứng cú' là dữ liệu điện tú’

1.1.1 Nhận thức về nguồn chúng cứ

về khái niệm Luật tố tụng hình sự, “là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

và một số hoạt động thi hành án hình sự nhằm giải quyết đúng đắn vụ án, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân” [8, tr 21]

Khoa học luật tố tụng hình sự là một ngành khoa học pháp lý, bao gồm hệ thống các khái niệm, quan điểm, tư tưởng pháp lý về các quy định của luật tố tụng hình sự, về quá trình giải quyết vụ án hình sự nham phát triển và hoàn thiện luật tố tụng hình sự Lý luận về chứng cứ trong tố tụng hình sự là một

bộ phận hợp thành của khoa học luật tố tụng hình sự Trong khoa học luật tố tụng hình sự, lý luận về chứng cứ được coi là một bộ phận rất quan trọng Vì vậy, lĩnh vực này được nghiên cứu phát triển rất sớm, trong đó có nguồn chứng cứ

Quá trình phát triển của chế định pháp luật về nguồn chứng cứ và lý luận

về nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự là một bộ phận hợp thành lịch sử phát triển của Luật tố tụng hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự Lý luận

về nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự nghiên cứu quy luật của quá trình nhận thức chân lý trong tố tụng hình sự, nghiên cứu hình thức chứa đựng sự kiện thực tế khách quan của vụ án Lý luận về nguồn chứng cứ nghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra và đánh giá chứng cứ

6

Trang 12

Lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vê nhận thức thê giới là cơ sở khoa học của chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt nam.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ ra rằng phản ánh là thuộc tính của vật chất V.I Lênin viết: “Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác, đặc tính phản ánh”

Phản ánh là khả năng lưu giữ, tái hiện của hệ thống vật chất này, những đặc điềm của hệ thống vật chất khác được hình thành trong sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất Mức độ phản ánh phụ thuộc vào tính chất và trình độ của hệ thống vật chất

Vụ án hình sự là một quá trình vật chất xảy ra trong hiện thực, là hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất Vụ án hình sự xảy ra được thế giới khách quan phản ánh lại bao gồm con người (có ý thức - mức độ phản ánh cao nhất) và các vật phản ánh lại Căn cứ vào đặc điếm của đối tượng phản ánh có thể chia ra làm hai loại là phản ánh vật chất và phản ánh ý thức, tâm lý Những phản ánh đó thường được gọi là dấu vết cua tội phạm

Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm để lại các dấu vết nhất định.• • 1 • Ã. • • •Bằng cách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng, con người có thể xác định được sự thật khách quan của vụ án Hai loại phản ánh về vụ án hình sự nêu• • • • 1 • • JL • •trên khác nhau về cơ chế, quá trình hình thành, hình thức tồn tại, nguồn lưu giữ thông tin được phản ánh Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại của từng loại dấu vết mà các nhà làm luật quy định các loại nguồn chứng cứ, trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau đề đảm bảo cho việc xác định sự thật của vụ án.• • • • •

“Sự kiện thực tế khách quan là chứng cứ đế chứng minh tội phạm phải được ghi nhận và phản ánh ở những nguồn do Luật tố tụng hình sự quy định” [8, tr 222], Nguồn chứng cứ là hình thức chứa đựng sự kiện thực tế khách quan của vụ án Những dấu vết của tội phạm được phản ánh, lưu giữ trong thế giới khách quan được các chủ chủ thế tố tụng hình sự thu thập trong quá trình chứng minh và chính những vật có chứa đựng dấu vết tội phạm hoặc trí nhớ

7

Trang 13

của con người vê tội phạm thông qua lời khai của họ là những hình thức của chứng cứ Những hình thức lưu giữ dấu vết của tội phạm được gọi là nguồn chứng cứ hay phương tiện chứng minh Tuy nhiên, việc xác định cái gì là nguồn chứng cứ lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà kết quả là các qui định trong Luật tố tụng hình sự mồi quốc gia.

Nếu tính khách quan và liên quan của chứng cứ là sự vận động nội tại cùa những sự vật, hiện tượng thì tính hợp pháp của chứng cứ phản ánh sự nhận thức chủ quan đối với các qui luật khách quan của các sự vật, hiện tượng Vì vậy, qui định của Luật tố tụng hình sự về nguồn, biện pháp thu thập của chứng cứ phù hợp với điều kiện thực tế và các quy luật vận động của nó sẽ có hiệu quả chứng minh cao, thể hiện sự nhận thức phù hợp với chân lý khách quan Trên cơ sở lý luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Luật

tổ tụng hình sự nước ta quy định tài liệu được coi là chứng cứ phải được phản ánh ờ những nguồn và các biện pháp thu thập chửng cứ

Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Nguồn chúng cứ là nhũng sự vật chứa đụng chúng cứ, tức chứa đụng

các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tể khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định” [20, tr 168].

Có thể hiểu rằng, chứng cứ là thông tin, sự thật khách quan, còn nguồn chứng cứ là chứa đựng những thông tin đó Một nguồn chứng cứ có thể chứa đựng nhiều thông tin khác nhau về vụ án hình sự Ngược lại, một thông tin phản ánh về vụ án cũng có thể chứa đựng trong nhiều nguồn chứng cứ khác nhau Nguồn chứng cứ là nguồn chứa đựng các thông tin tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý chí con người và có liên quan đến vụ án Nguồn chứng cứ là cãn cứ để xác định tính hợp pháp của chứng cứ Một chứng cứ được coi là hợp pháp khi nó được chứa đựng một trong các loại nguồn chửng cử hợp pháp theo quy định của pháp luật Nguồn chứng cứ được các cơ quan và người có thấm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

8

Trang 14

1.1.2 Khái niệm nguôn chủng cứ là dữ liệu điện tử

Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử điện tử và giám định dữ liệu điện tử là những bổ sung gần đây cho các phương tiện chứng minh trong tố tụng hình

sự Không giống như những nguồn chứng cứ khác thường được đưa vào quá trình xét xử với ít hoặc không có những sự tranh luận, nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử đã gây ra cuộc thảo luận giữa các chuyên gia pháp lý Các hệ thống pháp luật khác nhau đã phản ứng theo nhiều cách khác nhau trước thách thức mới này Một số hệ thống đã đưa ra luật mới để giải quyết cụ thể nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử Các hệ thống khác cố gắng thiết lập “sự phù hợp gần nhất” với các khái niệm chứng cứ hiện có và đã áp dụng tương tự các quy tắc hiện có ở bất cứ nơi nào có thể, ví dụ: liệu nguồn chứng cứ là dừ liệu điện

tử có được chấp nhận hay không phụ thuộc vào việc nó tương tự như nguồn chứng cứ là vật chứng Hầu hết các hệ thống áp dụng sự kết hợp của cả hai cách Khi luật pháp mới được áp dụng, người ta nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa các hình thức nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử và truyền thống

Trước tiên, về dữ liệu điện tử thực tiễn hiện nay, các đối tượng đã triệt để lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ để thực hiện và che dấu tội phạm, nên để giải quyết các vụ án hình sự, việc thu thập các chứng cứ điện tử là rất quan trọng Do đó cần có nhận thức đúng đắn về dữ liệu điện tử

Năm 1948, nhà toán học Tiến sĩ Claude Shannon đã phác thảo các công thức toán học làm giảm các quá trình liên lạc thành mã nhị phân và tính toán các cách để gửi chúng qua các đường liên lạc Kể từ đó, máy tính và các thiết

bị tính toán kỹ thuật số khác đã sử dụng các phương pháp mã hóa dựa trên hệ thống đánh số nhị phân

Loại nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử được nhấc đến với những tên gọi khác nhau là “nguồn chứng cứ kỳ thuật sổ”, “nguồn chứng cứ điện tử” hoặc

“nguồn chứng cứ máy tính” Cả ba thuật ngữ đều thể hiện một số khía cạnh rằng loại nguồn chứng cứ này có một số đặc điếm riêng biệt khiến nó trờ nên khác biệt với các phương tiện chứng minh khác Sự thay đổi công nghệ nhanh

9

Trang 15

chóng trong lĩnh vực công nghệ thông tin làm cho bât kỳ định nghĩa vê tình trạng công nghệ hiện tại đều có thể trở nên lỗi thời nhanh chóng Ngược lại, các định nghĩa phù hợp với sự phát triển công nghệ trong tương lai có xu hướng quá trừu tượng đối với những phạm trù truyền thống trong các quy định về nguồn chứng cứ này Vì vậy, cần có cách tiếp cận định nghĩa về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử phù hợp với nhu cầu sử dụng cho mục đích chứng minh trong tố tụng hình sự Định nghĩa có mục đích pháp lý như vậy

có thể không phải lúc nào cũng đầy đũ và hoàn hảo với thuật ngữ trong khoa học máy tính, nhưng nếu lưu ý điều này, có thể phát triển một định nghĩa phù hợp với hầu hết các ứng dụng và mục đích

“Máy tính” cho phép tội phạm ẩn danh tương đối và xâm phạm quyền riêng tư và bí mật của các cá nhân, tồ chức theo những cách không thể thực hiện được trước khi thời đại máy tính ra đời Nguồn chứng cứ về những tội phạm này không phải là vật chất, chúng tồn tại dưới dạng các xung điện tử và

mã lập trình Nguồn chứng cứ này có thể ở dạng dữ liệu được lưu trữ kỳ thuật

số dưới dạng tệp văn băn, tệp đồ họa, âm thanh, hình ảnh, ghi hình có âm thanh, cơ sở dữ liệu, tệp tạm thời, tệp bị xóa Tất cà thông tin này đều có thể được truyền và lưu trữ dưới dạng tập hợp các tệp

Để “dữ liệu điện tử” được xem là nguồn chứng cứ là thì dữ liệu điện tử được thu thập theo trình tự, thủ tục do Luật tố tụng hình sự quy định về chứng

cứ Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có khái niệm pháp lý về “nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử” nhưng có thể hiểu nguồn chứng cứ là dữ liệu điện

tử bao gồm bất kỳ thông tin xác thực nào được lưu trữ hoặc truyền dưới dạng

kỹ thuật số mà các bên có thế sử dụng trước tòa Tức là bất kỳ thông tin nào lưu trữ hoặc truyền dưới dạng kỳ thuật số thì có thể xem là nguồn chứng cứ là

dữ liệu điện tử

Hiện nay tại Việt Nam, theo điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005, dữ liệu điện tử là “Thông tin dưới dạng ký hiệu, chừ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự” Còn “thông điệp dừ liệu” là “Thông tin được tạo

10

Trang 16

ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trừ băng phương tiện điện tử” (như chứng từ điện từ, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác ) Thông điệp dữ liệu được công nhận có giá trị như văn bàn, nếu thông tin chứa trong đó có thể truy cập, sử dụng để tham chiếu khi cần thiết và nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đăm toàn vẹn, chưa bị thay đồi Giá trị chứng cứ cùa thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi, cách thức xác định người khởi tạo Từ những quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005, có thể thấy dữ liệu điện

tử trong tố tụng hình sự có giá trị pháp lý tương đương dấu vết, vật chửng trong chứng cứ truyền thống để chứng minh tội phạm, nếu nó đáp ứng được những yêu cầu luật định về việc thu thập, bảo quản, phục hồi, chuyển hóa

Điều 99 BLTTHS năm 2015 định nghĩa dữ liệu điện tử như sau: “Dữ liệu điện

từ là ký hiệu, chừ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tủ’” Từ định nghĩa này, BLTTHS xác định nguồn (hình thức) chứa đựng dữ liệu điện tử: “Dừ liệu điện tử được thu thập từ phươg tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác”

Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định chứng cứ là “những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” Như vậy, để những dừ liệu điện tử có thể trở thành chứng cứ chứng minh trong vụ

án, đòi hỏi những nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử đó phải đâm bảo ba thuộc tính của chứng cứ Gồm: tính khách quan (có thật, tồn tại khách quan); tính liên quan (có mối quan hệ với vụ án) và tính hợp pháp (được chứa đựng ở những nguồn và thu thập theo đúng thủ tục, trình tự do BLTTHS quy định)

Theo ủy ban Bộ trưởng Hội đồng Châu Âu, Nguồn chứng cử là dữ liệu điện tử trong tố tụng dân sự và hành chính (Committee of Ministers of the Council of Europe, Electronic Evidence in Civil and Administrative

11

Trang 17

Proceedings, Council of Europe): "Electronic evidence means any evidence

derived from data contained in or produced by any device, the functioning of which depends on a software program or data stored on or transmitted over a computer system or network” Từ nhận định trên có thể hiểu “Nguồn Chứng

cứ là dữ liệu điện tử” là các loại nguồn dữ liệu có trong hoặc được tạo ra bởi bất kỳ thiết bị nào mà chức năng của nó phụ thuộc vào chương trình phần mềm hoặc từ dữ liệu được lưu trữ hoặc truyền tải qua hệ thống máy tính, mạng truyền thông hoặc mạng máy tính

Vậy từ khái niệm trên ta có thể khái quát “Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử” là tất cả những thông tin, dữ liệu được thu thập từ các thiết bị điện tử như máy tính và các thiết bị lưu trữ thông tin, dữ liệu hay các thông tin, dữ liệu điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, các phương tiện lưu trữ cũng như

từ “mạng”

Từ những quan điểm trên về nguồn chứng cứ và dữ liệu điện tử, tác giả xin đưa ra khái niệm về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong Luật tố tụng hình sự như sau:

“Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử được hiểu là hất kỳ dữ liệu nào được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được hởi phương tiện điện từ; được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác; tồn tại một cách khách quan, có liên quan đến vụ án hình sự, được các chủ thể có thấm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định dùng làm căn cứ để chứng minh tội phạm

Định nghĩa này có ba yếu tố:

Thứ nhất, “dữ liệu điện từ” bao gồm tất cả các dạng được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử mà theo nghĩa rộng nhất của nó, có thể được coi là “máy tính”

Thứ hai, đinh nghĩa bao gồm các nguồn thu thập dữ liệu điện tử khác nhau: phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền (mạng mà dữ liệu có thể được lưu trữ hoặc truyền đi) và các nguồn

12

Trang 18

điện tử khác (bao gôm các thiêt bị tương tự tạo ra một đâu ra) Bao quát nhât, định nghĩa này sẽ bao gồm bất kỳ dạng thiết bị nào, cho dù đó là máy tính, hệ thống điện thoại, hệ thống và mạng viễn thông không dây, chẳng hạn như Internet và các hệ thống máy tính nhúng chẳng hạn như điện thoại di động, thẻ thông minh và hệ thống định vị Có thể phân thành ba nhóm:

- Hệ thống máy tính mở: Hệ thống máy tính mở là những gì hầu hết mọi người nghĩ về máy tính - hệ thống bao gồm ổ cứng, bàn phím và bộ điều khiển như máy tính xách tay, máy tính để bàn và hệ thống máy chủ Những hệ thống này với lượng lưu trữ ngày càng tăng, có thể là nguồn chứng cứ là dữ liệu điện từ phong phú Một tệp đơn giản có thế chứa thông tin buộc tội và có thể có các thuộc tính liên quan, hữu ích trong một cuộc điều tra Ví dụ, các chi tiết như thời điểm tạo tệp, ai tạo tệp hoặc tệp được tạo trên máy tính nào đều

- Hệ thống máy tính nhúng (được thiết kế để thực hiện một chức năng chuyên biệt nào đó) Điện thoại di động, trợ lý kỳ thuật số cá nhân, thẻ thông minh và nhiều hệ thống khác có máy tính nhúng có thể chứa nguồn chứng cứ

là dữ liệu điện tử Ví dụ: hệ thống định vị có thể được sử dụng để xác định vị trí của một chiếc xe, các mô-đun cảm biến và chẩn đoán có nhiều dừ liệu lưu hữu ích để phân tích vụ tai nạn xe, bao gồm tốc độ xe, trạng thái phanh và ga trong năm giây cuối cùng trước khi va chạm Lò vi sóng hiện có sẵn với máy

13

Trang 19

tính nhúng có thê tải thông tin từ internet và một sô thiêt bị gia dụng cho phép người dùng lập trình chúng từ xa thông qua mạng không dây internet.

Thứ ba, định nghĩa yêu cầu chứng cứ điện tử được thu thập từ các nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử đảm bảo ba thuộc tính của chứng cứ đó là: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp

- Tính khách quan: Dữ liệu điện tử này có thật, tồn tại khách quan, có nguồn gốc rõ ràng, không bị làm cho sai lệch, biến dạng Đã được tìm thấy và đang lưu trừ trên máy tính, điện thoại di động, email, ồ USB flash, tài khoản trên mạng, trên máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ Internet (IPS), đang truyền trên mạng máy tính, mạng viễn thông

- Tính liên quan: Dữ liệu thu được có liên quan đến vụ án, được sử dụng

để xác định các tình tiết của vụ án Tính liên quan thể hiện ở nguyên lý, công nghệ hình thành dữ liệu điện tử, thông tin về không gian, thời gian hình thành

dữ liệu, đường dẫn, địa chỉ lưu trữ, nội dung thông tin, cookies truy cập

- Tính hợp pháp: Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử phải được các chủ thể

có thấm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định dùng làm căn cứ để chứng minh tội phạm Dữ liệu điện tử phải được thu thập đúng quy định cùa pháp luật, sử dụng công nghệ được pháp luật công nhận, khi thu giữ phương tiện điện tử, sao lưu dữ liệu, bảo quàn, phục hồi, phân tích, tìm kiếm

và giám định dữ liệu Từng phương tiện điện tử phải được ghi cụ thế vào biên bản, niêm phong để dữ liệu không thể bị can thiệp, tác động làm thay đồi kể

từ khi thu giữ hợp pháp Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được

1.1.3.1 Sự phụ thuộc vào phần cứng và phần mềm

Các nguồn chứng cứ truyền thống giúp con người dễ dàng tiếp cận thông tin sau khi được tạo ra Mọi sự vật, hiện tượng đều có thuộc tính phản ánh, nên hoạt động của con người, trong đó có hành vi phạm tội đều để lại dấu vết

14

Trang 20

bên ngoài thê giới khách quan Những dâu vêt của hành vi phạm tội có thê được thế hiện dưới dạng vật chất hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con người Vì vậy, thông qua việc thu thập nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử một cách có hệ thống trong quá trình tiến hành tố tụng sẽ đưa đến sự nhận thức đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại toàn bộ diễn biến khách quan của sự việc phạm tội.• • JL • •

Ngược lại, dữ liệu ở dạng điện tử phụ thuộc vào phần cứng và phần mềm

Dữ liệu yêu cầu một phần mềm thông dịch để cho phép nó được hiển thị ở định dạng mà con người có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được Người dùng không thế tạo hoặc thao tác dữ liệu điện tử mà không có phần cứng thích hợp Dữ liệu điện tử không nên được coi như một đối tượng “ở đâu đó” trên máy tính, giống như một cuốn sách trong thư viện Thay vào đó, dữ liệu điện tử được hiếu rõ hơn là một quá trình mà theo đó các phần dữ liệu khó hiểu được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử được tập hợp, xử lý và hiển thị cho người dùng dễ đọc được, nghe được hoặc nhìn được

Theo nghĩa này, dữ liệu điện tử nó không tồn tại độc lập với phần mềm và

nó được tái tạo bằng thiết bị (phần cứng) mỗi khi người dùng mở nó Nếu những dữ liệu điện tử đó được tạo ra vào những năm 1990, thì những phần mềm này hiện không còn được bán trên thị trường nữa và ngay cả khi có phần mềm như vậy, có thể không thể tải nó trên một hệ điều hành hiện đại Một vấn đề khác đối với dữ liệu cũ hơn là cần phải có một máy cụ thể với phần mềm cụ thể để đọc dữ liệu

1.1.3.2 Tốc độ công nghệ ảnh hưởng đến dữ liệu điện tử

Công nghệ thay đồi nhanh chóng về hệ điều hành, phần mềm ứng dụng và phần cứng Do đó, dừ liệu điện tử có thể trong tương lai sẽ không thể đọc, hiểu hoặc sử dụng chúng với phần mềm hoặc phần cứng mới Ví dụ: một công ty phần mềm có thể không còn sản xuất phần mềm tương thích với những dữ liệu điện tử cũ nữa Sự lỗi thời về kỳ thuật là một vấn đề lớn ảnh

15

Trang 21

hưởng đên mọi quá trình tô tụng, đặc biệt là do tôc độ thay đôi hiện nay trớ nên quá nhanh cả về phần mềm và phần cứng.

Đặc điểm về tốc độ thay đổi không ngừng của công nghệ có thể đối chiếu với nguồn chứng cứ truyền thống Nguồn chứng cứ nhận dạng của nhân chứng là một trong những dạng nguồn chứng cứ lâu đời nhất, nếu không muốn nói là lâu đời nhất, được sử dụng trong xét xử Mặc dù vậy, cách chúng

ta thu thập và giải thích nguồn chứng cứ nhân chứng trong các thủ tục tố tụng

đã thay đồi rất ít qua nhiều thế kỷ và các hệ thống pháp luật thường xuyên giữ các khái niệm lỗi thời về mặt văn hóa như lời thề Nguồn chứng cứ dấu vân tay muộn hơn, với thời gian sử dụng hơn một trăm năm (từ năm 1905 đến nay) Kể từ khi thành lập, trong khi những điều cơ bản của môn học vẫn giữ nguyên, có những thay đổi quan trọng trong cách giải thích nguồn chứng cử dấu vân tay, cũng như các quy trình thu thập, phân tích, giám định dấu vân tay Nguồn chứng cứ DNA vẫn còn muộn hơn, nhưng trong lịch sử của nó, đã

có những thay đổi đáng kể trong cách thức thu thập, phân tích và giài thích DNA Đối với nguồn chứng cứ là dừ liệu điện tử, tốc độ thay đổi là nhanh hơn Điều đó cũng có nghĩa là một chuyên gia phải có kiến thức cập nhật và được đào tạo liên tục, điều quan trọng hơn là kinh nghiệm trong lĩnh vực này Chuyên gia về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử cần biết và được đào tạo về loại thiết bị và phần mềm cụ thể mà họ được yêu cầu phân tích

Khả năng điều tra vụ án hình sự cũng bị cản trở bởi tốc độ thay đổi của công nghệ Đặc biệt, việc có được các công cụ điện tử có liên quan để phân

một thiết bị điện tử hay dữ liệu điệnnhất, các công cụ này vẫn chưa được phát minh, và thứ hai, vì những công cụ

đó có thể đắt tiền

1.1.3.3 Dữ liệu điện tử dễ bị xóa hoặc thay đổi• • • • ✓

Dữ liệu điện tử dễ bị tác động, bị xóa hoặc thay đồi trong quá trình lưu trữ, truyền tải, sao chép bởi các tác nhân như virus, dung lượng bộ nhớ, lệnh

tử có thể khó khăn vì hai lý do: thứ

16

Trang 22

của phân mêm, phương pháp truy cập, mớ, giải mã, truyên tài trên mạng, sao lưu, cố ý hoặc vô ý sửa đồi, xóa

Dựa vào đặc điểm này của dừ liệu điện tử, thì các CQTHTT cần có những biện pháp phát hiện cũng như thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử kịp thời, đầy đủ, đúng thực trạng Từ đó giúp giải quyết vụ án hình sự chính xác,

xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Đồng thời, dựa vào đặc điểm này thì các cơ quan có thấm quyền tiến hành

tố tụng cần lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thu thập, sao lưu để đảm bảo dữ liệu điện tử đó có đầy đủ điều kiện để dùng làm chứng cứ chứng minh trong vụ án hình sự

1.1.3.4 Khối lượng và nhân bản

Việc tích hợp mạng viễn thông và máy tính để tạo thành mạng máy tính (chẳng hạn như mạng Internet) cho phép dữ liệu được tạo ra và trao đổi với khối lượng lớn hơn nhiều so với mức có thể cho đến nay, và vượt qua các ranh giới vật lý và địa lý về bản chất email, tin nhắn và Internet là một công nghệ sao chép và phân tán Một khi các máy tính được nối mạng với nhau theo kiểu này, một dữ liệu điện tử có thể được truyền đi và nhiều bản sao được phân phối trên khắp thế giới rất nhanh

Việc dễ dàng truyền đi và sao chép các dữ liệu điện tử đã làm tăng khối lượng dừ liệu tiềm năng cần được xác định để có được các dữ liệu liên quan đến vụ án hình sự Do đó, để có thể tìm kiếm được dữ liệu có tính liên quan đến vụ án hình sự thì yêu cầu đặt ra đối với các điều tra viên và chuyên gia phải có trình độ, sự hiểu hiểu biết và kinh nghiệm chuyên sâu về dừ liệu điện

tử Để đối phó hiệu quả với khối lượng dữ liệu này, sẽ cần đến các công cụ máy tính cũng như phần mềm khai thác dữ liệu

Nhiều người dùng máy tính hiện thường tải lên tất cả các tệp cùa họ với mục đích sao lưu tới các nhà cung cấp dựa trên Internet (công nghệ “điện toán đám mây”), liên quan đến việc thuê ngoài dữ liệu của các máy chủ của bên

17

Trang 23

thứ ba (ví dụ Google) không thuộc sở hữu và kiêm soát của họ và máy chủ có thể được đặt trên toàn thế giới Mặt khác, việc tự động tải dữ liệu lên cũng đồng nghĩa với việc người dùng thiết bị mất quyền kiểm soát thông tin mà mình đã tạo Việc xóa hoặc loại bỏ thông tin có thể ngày càng trở nên khó khăn hơn khi nó đã được tạo trên thiết bị và thông tin được tài lên “đám mây”.

1.1.3.5 Siêu dữ liệu (metadata)

Siêu dữ liệu (metadata) là dạng dữ liệu mô tả thông tin chi tiết về dữ liệu Trong cơ sở dừ liệu, metadata là các sửa đối dạng biếu diễn khác nhau của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu Trong cơ sở dữ liệu điện tử thì metadata là các định nghĩa của bảng, cột, cơ sở dữ liệu, view và nhiều đối tượng khác Trong kho dữ liệu, metadata là dạng định nghĩa dữ liệu như: bảng, cột, một báo cáo hay những quy tắc biến đổi Metadata bao quát tất cả các phương diện của kho dừ liệu Trong quản lý tập tin, metadata chứa các thông tin thuộc tính của tập tin đó như: tên tập tin, mô tả tóm tắt, kích cỡ, ngày tạo ra

Metadata là dữ liệu để mô tả dữ liệu Khi dữ liệu được cung cấp cho người dùng cuối, thông tin metadata sẽ cung cấp những thông tin cho phép họ hiểu

rõ hơn bản chất về dữ liệu mà họ đang có Những thông tin này sẽ giúp cho người dùng có được những quyết định sử dụng đúng đắn và phù hợp về dữ liệu mà họ đang có Tuỳ thuộc vào từng mục đích sử dụng khác nhau, từng loại dữ liệu khác nhau mà cấu trúc và nội dung dữ liệu metadata có thế có những sự khác biệt Song, nhìn chung sẽ bao gồm một số loại thông tin cơ bản như sau:

- Thông tin mô tã về bàn thân dữ liệu metadata

- Thông tin về dữ liệu mà metadata mô tả

- Thông tin về cá nhân, tồ chức liên quan đến dữ liệu metadata và dữ liệu

Tất cả các dữ liệu ở định dạng điện tử sẽ chứa siêu dữ liệu ở dạng này hay dạng khác, bao gồm thông tin liên lạc qua email, bảng tính, trang web và tài liệu văn bản Trên thực tế, một dừ liệu điện tử phải có siêu dữ liệu để giúp diễn giãi mục đích của dữ liệu điện tữ Dữ liệu đó có thể bao gồm và được lấy

18

Trang 24

tự động từ phân mêm ứng dụng gôc hoặc do người tạo bản ghi ban đâu cung cấp Danh sách thông tin có sẵn bao gồm: thời điểm và cách thức một tài liệu được tạo (ngày và giờ), loại tệp, kích cỡ, vị trí mà từ đó tệp đã được mở hoặc nơi nó được lưu trữ, khi tệp được mở lần cuối (ngày và giờ), khi nó được sửa đổi lần cuối, khi tệp được lưu lần cuối, khi nó được in lần cuối, danh tính của tệp có mục đích các tác giả trước đó, vị trí cùa tệp trong mồi lần nó được lưu trữ, thông tin chi tiết về những người khác có thể có quyền truy cập vào tệp

Vì siêu dữ liệu thường được phần mềm tạo tự động và người dùng không biết,

do đó, việc thay đổi, thao tác hoặc xóa cũng khó hơn

Việc giải thích siêu dữ liệu đòi hỏi sự cần thiết phải đưa ra các giả định về môi trường mà chúng được tạo ra Nếu thời gian trên thiết bị không chính xác (ví dụ: máy tính xách tay di chuyển qua các múi giờ mà không được điều chỉnh theo múi giờ này hoặc đồng hồ chạy chậm hoặc đã được cố tình thay đổi), siêu dữ liệu được ghi sẽ là sai

1.1.3.6 Sự thể hiện trung gian (chuyến đổi) của dữ liệu điện tử

Dữ liệu điện tử phải được chuyển thành dạng mà con người có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được thông qua trung gian của một bộ công nghệ (bao gồm cả phần mềm và phần cứng) Điều này có nghĩa là sự khác biệt xảy ra trong cách hiển thị cùng một đối tượng nguồn trong các tình huống khác nhau Một ví dụ điển hình phổ biến cho tất cả người dùng Internet là một trang web

có thể trông rất khác nhau tùy thuộc vào loại màn hình và trình duyệt được sử dụng Do đó, không thể có khái niệm về một trung gian của một đối tượng dữ liệu điện tử cụ thể Điều này có thể có hậu quà pháp lý rõ ràng Một tài liệu hợp đồng điện tử được soạn thảo và được gửi qua email cho người mua và được mở trên máy của người mua bàng một chương trình phần mềm khác, dữ liệu định dạng này có thể không đọc được

Với nguồn chứng cứ truyền thống, hành động quan sát hoặc phân tích hiện trường vụ án không được phép làm thay đổi hiện trường, vật chứng cần phải được thu thập đầy đủ, kịp thời tránh mất mát, hư hỏng hay bị tiêu huỷ hoặc

19

Trang 25

đánh tráo Ngược lại, với nguôn chứng cứ là dừ liệu điện tử, hành động khởi động máy tính và mở dữ liệu sẽ làm thay đổi nó Những người sử dụng khác nhau chỉ sử dụng máy móc khác nhau một chút sẽ tạo lại các phiên bàn khác nhau cùa dữ liệu điện tứ được đề cập và không dễ dàng để quyết định cái nào trong số chúng là “xác thực”.

Để quản lý vấn đề này, có lẽ chúng ta có thề phải xác định các tiêu chuẩn, giao thức và quy trình thích hợp, cũng như phần cứng và phần mềm liên quan đến việc quản lý và sử dụng bất kỳ dừ liệu điện tử nào Do đó, cần có những quy định về việc chuyển đổi trung gian dừ liệu điện tử để đảm bão các dạng

có thế đọc được, nghe được hoặc nhìn được cùa dữ liệu điện tử thế hiện một• • 2 4^2 • • • • • • •

cách xác thực nhất

1.1.3.7 Phương tiện lưu trừ

Phương tiện mà dữ liệu điện tử được lưu trừ trên đó rất mỏng manh Phương tiện lưu trữ điện tử vốn không ổn định và trừ khi phương tiện được lưu trừ đúng cách, nó có thể xuống cấp nhanh chóng mà không có dấu hiệu hư hỏng bên ngoài Nó cũng có nguy cơ bị thiệt hại do vô ý hoặc cố ý và việc xóa do cố ý hoặc cố ý

Máy tính và hệ thống hiện nay chù yếu hoạt động trong môi trường kết nối mạng Thế giới mạng bao gồm các thiết bị (máy nghe nhạc MP3, máy tính, máy tính xách tay, điện thoại di động, trợ lý ảo cá nhân, máy tính bảng ) được liên kết bằng các ứng dụng chạy qua các mạng (Internet, mạng nội bộ, mạng không dây, mạng di động ) Bản chất của thiết lập này là hầu hết mọi thứ mà bất kỳ ai làm trên một thiết bị được kết nối với mạng đều có khả năng được phân phối và nhân bản một cách dễ dàng Ket quả là, cùng một mục dữ liệu điện tử có thể lưu trữ ở hàu hết mọi nơi Điều này ảnh hưởng đen quá trình giải quyết vụ án hình sự

1.1.4 Phân loại nguồn chúng cứ là dữliệu điện tủ'

Nhiều thiết bị khác nhau có khả năng tạo và lưu trữ dữ liệu ở dạng kỳ thuật số và những dữ liệu đó có thể dùng làm nguồn chứng cứ là dữ liệu điện

tử Mục đích của việc phân loại là giới thiệu các công nghệ, các nguyên tắc cơ

20

Trang 26

bản của chúng và các đặc điêm chung tạo ra nguôn chứng cứ là dữ liệu điện

tử Bời vì công nghệ có sự thay đối rất nhanh nên việc phân loại này sẽ giới thiệu tổng quát về các vấn đề kỳ thuật liên quan và làm nổi bật các đặc điểm

mà chuyên gia chứng điện tử và chuyên gia pháp lý cần quan tâm khi điều tra

dữ liệu điện tử và xử lý các vấn đề về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử

1.1.4.1 Phân loại dựa vào các loại nguồn dữ liệu điện tử Phương tiện điện tử

Phương tiện truyên thông điện tữ là phương tiện sử dụng đôi tượng điện tử hoặc cơ điện đế truy cập nội dung Điều này trái ngược với phương tiện tĩnh (chủ yếu là phương tiện in ấn), ngày nay thường được tạo ra bằng điện tử, nhưng không yêu cầu người dùng cuối phải truy cập thiết bị điện tử ở dạng in.Các nguôn phương tiện điện tử quen thuộc là các bản ghi video, ghi âm, thuyết trình đa phương tiện, thuyết trình slide, CD-ROM và nội dung trực tuyến Hầu hết các phương tiện truyền thông mới đều ở dạng phương tiện kỳ thuật số Tuy nhiên, phương tiện điện tử có thể ở dạng dữ liệu điện tữ tương

tự hoặc định dạng dữ liệu điện tử kỹ thuật sô

Mặc dù thuật ngữ này thường được liên kêt với nội dung được ghi trên phương tiện lưu trữ, nhưng chúng không cần phải ghi lại để phát trực tiếp và kết nối mạng trực tuyến

Bât kỳ thiêt bị nào được sử dụng trong quá trình giao tiêp điện tử (ví dụ: tivi, radio, điện thoại, máy tính để bàn, bảng điều khiển trò chơi, thiết bị cầm tay) cũng có thê được coi là phương tiện điện là

Các thành phân chính trong thiêt bị điện dữ:

Bộ xử lý, còn được gọi là bộ xử lý trung tâm (CPU - Central Processing Unit), là các mạch điện tử trong một máy tính, thực hiện các câu lệnh của chương trình máy tính bằng cách thực hiện các phép tính số học, logic, so sánh và các hoạt động nhập/xuât dữ liệu (I/O) cơ bán do mã lệnh chỉ ra Thuật ngừ này đã được sử dụng trong ngành công nghiệp máy tính kể từ đầu những

21

Trang 27

năm 1960 Theo truyên thông, thuật ngừ “CPU” chỉ một bộ xử lý, cụ thê là bộ phận xử lý và điều khiển (Control Unit) của nó, phân biệt với những yếu tố cốt lõi khác của một máy tính nằm bên ngoài như bộ nhớ và mạch điều khiển xuất/nhập dữ liệu.

Hình thức, thiết kế và thực hiện của CPU đã thay đổi theo tiến trình lịch

sử, nhưng hoạt động cơ bản của nó vẫn còn gần như không thay đổi Thành phần chủ yếu của CPU bao gồm các bộ phận số học logic (ALU) thực hiện phép tính số học và logic, các thanh ghi lưu các tham số để ALU tính toán và lưu trữ các kết quả trả về, và một bộ phận kiểm soát với nhiệm vụ nạp mã lệnh từ bộ nhớ và “thực hiện” chúng bằng cách chỉ đạo các hoạt động phối hợp cùa ALU, các thanh ghi và các thành phần khác

Hầu hết các CPU hiện đại đều là các vi xử lý và được chứa trên chip vi mạch (IC) đơn Một vi mạch có chứa một CPU cũng có thể chứa bộ nhớ, giao diện cho các thiết bị ngoại vi, và các thành phần khác của một máy tính; việc các thiết bị tích hợp như vậy được gọi theo nhiều cách khác nhau: vi điều khiển hoặc hệ thống trên một vi mạch (SoC) Một số máy tính sử dụng một CPU đa nhân là một con chip duy nhất có chứa hai hoặc nhiều CPU được gọi là “lõi” Trong bối cảnh đó, các chip đơn đôi khi được gọi là “khe cắm” - socket Mảng vi xử lý và bộ xữ lý vector có nhiều bộ xử lý hoạt động song song, không có bộ xử lý nào được coi là trung tâm

Phần mềm hệ thống

Phần mềm hệ thống là phần mềm máy tính thiết kế cho việc vận hành và điều khiến phần cứng máy tính và cung cấp một kiến trúc cho việc chạy phần mềm ứng dụng Phần mềm hệ thống có thể được chia thành hai loại, hệ điều hành và phần mềm tiện ích

Hệ điều hành (đại diện tiêu biểu là Microsoft Windows, Mac OS X và Linux), cho phép các phần của một máy tính làm việc với nhau bằng cách truyền dần dữ liệu giữa Bộ nhớ chính và ổ đĩa hoặc xuất dữ liệu ra thiết bị

22

Trang 28

xuât Nó cũng cung câp một kiên trúc cho việc chạy phân mêm hệ thông câp cao và phần mềm ứng dụng.

Phần mềm tiện ích giúp cho việc phân tích, cấu hình, đánh giá và bảo vệ máy tính, ví dụ như bảo vệ khỏi Virus

Phần mềm ứng dụng

Phần mềm ứng dụng (tiếng Anh: Application software, còn viết tắt là app)

là một loại chương trình có khả năng làm cho thiết bị điện tử thực hiện trực tiếp một công việc nào đó người dùng muốn thực hiện Điều này khác với phần mềm hệ thống tích hợp các chức năng của thiết bị, nhưng có thể không trực tiếp thực hiện một tác vụ nào có ích cho người dùng Phần mềm ứng dụng chia làm hai loại: Tiện ích và Công cụ

Sự phân biệt giữa phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng không rõ ràng Tuy nhiên, đôi khi vấn đề này cũng được tranh cãi Ví dụ trường hợp Bộ

Tư pháp Hoa Kỳ và Microsoft tranh cãi Internet Explorer có phải là một phần của Windows không

Ví dụ tiêu biếu cho phần mềm ứng dụng là chương trình xử lý văn bản, bảng tính, chương trình giải trí Các phần mềm ứng dụng thường được gom lại thành bộ phần mềm Microsoft Office và OpenOffice.org là những bộ phần mềm gồm có chương trình xữ lý văn bản, bảng tính và các phần mềm khác Các phần mềm riêng biệt trong bộ phần mềm thường có giao diện và tính năng tương tự làm người dùng dễ dàng học và sử dụng Và các phần mềm thường tương tác được với nhau để đem lại lợi ích cho người dùng Ví dụ, phần mềm bảng tính có thể nhúng một phần văn bản vào Trong một sổ hệ thống nhúng, người dùng không biết được phần mềm ứng dụng trong hệ thống, như các phần mềm điều khiển thiết bị cơ khí, y tế, DVD, VCD, máy giặt, tủ lạnh, lò vi sóng, điều hòa nhiệt độ

Bộ nhớ và lưu trữ

Bộ nhớ máy tính, thường được gọi là ổ nhớ (storage) hoặc bộ nhớ (memory), là một thiết bị công nghệ bao gồm các phần tử máy tính và lưu trữ

23

Trang 29

dừ liệu, được dùng đê duy trì dữ liệu sô Nó là một linh kiện cơ bản có chức năng cốt lõi của các máy tính.

Bộ nhớ máy tính bao gồm các bộ nhớ điện tĩnh (non-volatile memory) để lưu trữ được dừ liệu của máy tính một cách lâu dài (khi kết thúc một phiên làm việc của máy tính thì dữ liệu không bị mất đi), hoặc bộ nhớ điện động (volatile memory) để lưu dữ liệu tạm thời trong quá trình làm việc của máy tính (khi kết thúc một phiên làm việc của máy tính thì bộ nhớ này bị mất hết dữ liệu)

Các thiết bị lưu trừ dữ liệu cho bộ nhớ lâu dài bao gồm: Đĩa cứng, Đĩa mềm, Đĩa quang, Băng từ, ROM, các loại bút nhớ

Các thiết bị lưu trữ dữ liệu tạm thời trong quá trình làm việc: RAM máy tính, Cache

Hầu hết các bộ nhớ nêu trên thuộc loại bộ nhớ có thể truy cập dữ liệu ngẫu nhiên, riêng băng từ là loại bộ nhớ truy cập tuần tự

Bộ nhớ máy tính có thể chia thành hai dạng: Bộ nhớ trong (main memory)

và bộ nhớ ngoài (external storage)

Nếu không có một số lượng đáng kể bộ nhớ, một máy tính sẽ chỉ có thể thực hiện các hoạt động cố định và ngay lập tức xuất kết quả Nó sẽ phải được cấu hình lại để thay đổi hành vi của nó Điều này được chấp nhận cho các thiết bị như máy tính bò túi, bộ xử lý tín hiệu số và các thiết bị chuyên dụng khác Máy tính Von Neumann (kiến trúc máy tính được mô tả năm 1945 cùa John von Neumann) khác biệt ở chỗ có một bộ nhớ trong đó chúng lưu trữ các lệnh vận hành và dữ liệu của chúng Các máy tính von Neumann linh hoạt hơn ở chồ chúng không càn phải cấu hình lại phần cứng của chúng cho mồi chương trình mới, nhưng có thể được lập trình lại đơn giãn với lệnh trong bộ nhớ mới; chúng cũng có xu hướng đơn giản hơn đề thiết kế, trong đó một bộ

xừ lý tương đối đơn giản có thể giữ trạng thái giữa các tính toán liên tiếp để xây dựng các kết quả thủ tục phức tạp Hầu hết các máy tính hiện đại đều là máy von Neumann

24

Trang 30

Các loại dừ liệu

Các tập tin

Các phần mềm ứng dụng được sử dụng trên máy tính, máy tính xách tay, máy tính bảng và điện thoại di động, bao gồm các chương trình cho phép người dùng gửi tin nhắn, bảng tính, truy cập cơ sở dữ liệu, tài liệu văn bản, chụp ảnh kỹ thuật số, tạo đa phương tiện Các tệp sẽ lưu trữ tin nhắn, băng tính, cơ sở dữ liệu, văn bản, ảnh, đa phương tiện , bản thân chúng có thể là nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tứ Rất nhiều dữ liệu có thể được truy xuất, tùy thuộc vào phương pháp lưu trữ, phương tiện mà nó được lưu trữ và cách thiết bị quản lý việc lưu trữ dữ liệu

25

Trang 31

có thê giúp xác định, chăng hạn như cách người dùng máy tính trái phép có được quyền truy cập vào hệ thống với mục đích lấy cắp thông tin từ máy tính

Ví dụ hệ điều hành Windows cũng có nhật ký hệ thống Đây là một kho dữ liệu chứa rất nhiều thông tin, bao gồm một cơ sở dữ liệu toàn diện chửa thông tin về mọi chương trình tương thích với Windows đã được cài đặt trên máy tính Nó cũng bao gồm thông tin về người dùng của máy tính, hoạt động do người dùng thực hiện, thông tin về các thành phần phần cứng và thông tin về mạng (nếu nó được kết nối với mạng) Các giá trị được lưu trữ trong sổ đăng

ký ở định dạng thập lục phân, nhưng có thể được chuyển đổi thành ASCII

Tệp tạm thời và tệp bộ nhớ cache

Khi một máy tính kết nối với Internet, một loạt thông tin về các hoạt động của nó sẽ được ghi lại và lưu giữ cục bộ, bao gồm các trang web đã được truy cập, nội dung đã được xem và bất kỳ nhóm tin nào đã được truy cập Với mục đích cho phép trình duyệt cải thiện trải nghiệm người dùng và tăng tốc độ duyệt web, các bản sao tạm thời của các trang web đã được truy cập được lưu trừ trong các thư mục bộ nhớ cache Các thư mục này chứa các đoạn của trang web, bao gồm cả hình ảnh và văn bản Một số phiên bản phần mềm sẽ giữ lại nhiều hơn một thông tin vị trí tệp cục bộ về các trang web đã truy cập

26

Trang 32

phục hoặc mở khóa, có thê phát hiện nguôn chứng cứ vê hành vi sai trái trên thiết bị điện tử.

Mạng

Mạng máy tính là mạng viễn thông kỳ thuật số cho phép các nút mạng chia sẻ tài nguyên Trong các mạng máy tính, các thiết bị máy tính trao đổi dừ liệu với nhau bằng các kết nổi (liên kết dữ liệu) giữa các nút Các liên kết dừ liệu này được thiết lập qua cáp mạng như dây hoặc cáp quang hoặc phương tiện không dây như Wi-Fi

Các thiết bị máy tính mạng làm nhiệm vụ khởi động, định tuyến và chấm dứt dữ liệu được gọi là các nút mạng Các nút thường được xác định bời địa chỉ mạng và có thể bao gồm máy chủ mạng như máy tính cá nhân, điện thoại và máy chủ, cũng như phần cứng mạng như bộ định tuyến và chuyển mạch Hai thiết bị như vậy có thể được cho là được kết nối với nhau khi một• • • ụ • • •thiết bị có thể trao đối thông tin với thiết bị kia, cho dù chúng có kết nối trực tiếp với nhau hay không Trong hầu hết các trường hợp, các giao thức truyền thông dành riêng cho ứng dụng được xếp lớp so với các giao thức truyền thông chung khác Bộ sưu tập công nghệ thông tin ghê gớm này đòi hởi phải

có những người quản lý mạng lành nghề để giữ cho tất cả hệ thống mạng hoạt động tốt

Mạng máy tính hỗ trợ một số lượng lớn các ứng dụng và dịch vụ như truy cập vào World Wide Web, video kỹ thuật số, âm thanh kỳ thuật số, sử dụng chung các máy chủ lưu trừ và ứng dụng, máy in và máy fax, và sử dụng email và ứng dụng nhắn tin tức thời cũng như nhiều ứng dụng khác Mạng máy tính khác nhau về cách thức truyền tin được sử dụng để mang tín hiệu, giao thức truyền thông để tổ chức lưu lượng mạng, kích thước của mạng, cấu trúc liên kết, cơ chế điều khiển lưu lượng và ý định tổ chức mạng Mạng máy tính nổi tiếng nhất là Internet

Các công nghệ mạng phổ biến hiện nay:

27

Trang 33

Mạng cục bộ

Mạng cục bộ (Local Area Network, viết tắt LAN) là một hệ thống mạng dùng để kết nối các máy tính trong một phạm vi nhỏ (nhà ở, phòng làm việc, trường học ) Các máy tính trong mạng LAN có thể chia sẻ tài nguyên với nhau,

mà điển hình là chia sẻ tập tin, máy in, máy quét và một số thiết bị khác

Một mạng LAN tối thiểu cần có máy chủ (server), các thiết bị ghép nối (Repeater, Hub, Switch, Bridge), máy tính con (client), card mạng (Network Interface Card - NIC) và dây cáp (cable) để kết nối các máy tính lại với nhau Trong thời đại của hệ điều hành MS-DOS, máy chủ mạng LAN thường sử dụng phần mềm Novell NetWare, tuy nhiên điều này đã trở nên lồi thời hơn sau khi Windows NT và Windows for Workgroups xuất hiện Ngày nay hầu hết máy chủ sử dụng hệ điều hành Windows, và tốc độ mạng LAN có thể lên đến 10 Mbps, 100 Mbps hay thậm chí là 1 Gbps

Một hình thức khác của LAN là WAN (Wide Area Network), có nghĩa là mạng diện rộng, dùng để nối các LAN lại với nhau (thông qua router)

Một hình thức khác nữa của mạng LAN, mới xuất hiện trong những năm gần đây là WLAN (Wireless LAN) - mạng LAN không dây

Internet

Internet hay Mạng Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dừ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn cua các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu, được liên kết bởi một loạt các công nghệ mạng điện tử, không dây và mạng quang Internet mang theo một loạt các tài nguyên và dịch vụ thông tin, chẳng hạn như các tài liệu và ứng dụng siêu văn bản được liên kết với nhau của World Wide Web (WWW), thư điện tử, điện thoai và chia sẻ file

28

Trang 34

cơ sở lưu trữ của các nhà mạng.

Những ví dụ điển hình về mạng không dây là: mạng wifi, mạng 3G, mạng điện thoại di động, mạng bluetooth, mạng nội bộ không dây (WLAN), mạng cảm biến không dây, mạng truyền thông vệ tinh và mạng sóng mặt đất

Một số loại ứng dụng mạng:

Việc truy cập trực tuyến có thể tạo ra nhiều nguồn chứng cứ là dữ liệu điện

tử điện tử, bao gồm việc sử dụng email, kết nối Internet và xem các trang web

và chuyển tệp giữa các máy tính Các nguồn chứng cứ là dừ liệu điện tử khác có thế được lấy từ nhật ký máy chủ, nội dung của các thiết bị được kết nối với mạng và hồ sơ về hoạt động lưu lượng truy cập Trong nhiều trường hợp, có thế nguồn chứng cứ duy nhất sẽ là nguồn chứng cứ trên mạng, bởi vì thủ phạm gây án có thể tiêu hủy nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử bằng cách vứt bỏ ổ cứng và bất kỳ phần cứng nào khác

ỉ 1.4.2 Phân loại theo yêu cầu về pháp lý

Điều cần thiết để xác định tiêu chí cho phân loại dừ liệu điện tử, thay vì tính đến các tiêu chí được đề cập ở trên toàn diện về mặt kỹ thuật và liệt kê chi tiết các loại nguồn chứng cứ là dừ liệu điện tù’ thì ở cách tiếp cận này tập trung vào các khía cạnh pháp lý, cụ thể là về các quyền cơ bản của chủ thể dừ liệu

Nhìn vào các quy định liên quan đến nguồn chứng cứ trong luật tố tụng hình sự, việc tập trung vào các khía cạnh pháp lý là rất phổ biến Trong

29

Trang 35

trường hợp này là nguôn chứng cứ là dữ liệu điện tử, bước đâu tiên cân xác định các quyền cơ bản bị ảnh hưởng cụ thế, sau đó trích xuất nội dung chính cùa chúng và thứ ba là lọc ra khía cạnh cho phép phân biệt giữa các can thiệp nhỏ và can thiệp nghiêm trọng hơn với nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử.

- Các quyền cơ bản có liên quan

Có một cách hiểu chung rằng các quyền cơ bản cụ thể liên quan đến dữ liệu điện tử bao gồm quyền được tôn trọng đời sống riêng tư, quyền tự quyết định và quyền giữ bí mật thư tín Mặc dù cách giải thích cụ thề có thể hơi khác nhau (đặc biệt là khi chúng đề cập đến các khuôn khồ pháp lý rất giống nhau, nhưng không giống hệt nhau), vẫn có một thỏa thuận tổng thể rằng các nguyên tắc trong số các quyền cơ bàn nêu trên là các quyền có liên quan

- Nội dung chính của các quyền cơ bản có liên quan

Cụ thế, nội dung chính của các quyền cơ bản liên quan đến dữ liệu điện

tử là khả năng của chủ thế dữ liệu đó tự do và độc lập quyết định điều gì xảy

ra với dữ liệu của mình - ai nên có quyền truy cập vào chúng, ai được chia sẻ chúng Dữ liệu điện tử có thể, ví dụ: hoàn toàn không được chia sẻ, chỉ được chia sẻ với hầu hết những người đáng tin cậy hoặc được chia sẻ công khai với một số lượng người không kiếm soát được Do đó, vấn đề cốt lõi của các quyền cơ bản liên quan đến dữ liệu liên quan đến tính báo mật của dữ liệu

- Tiêu chí chính để phân biệt mức độ can thiệpMức độ can thiệp đối với tính bào mật của dữ liệu điện tử phụ thuộc vào• • JL • • • JL • •mức độ tôn trọng ý chí tự do của chủ thể dữ liệu: càng được tôn trọng thì càng

ít bị can thiệp, cần phải nhấn mạnh rằng, do xuất phát từ các quyền cơ bản của cá nhân, nên tính nhạy cảm của dữ liệu điện tử chỉ phụ thuộc vào chủ thể

dữ liệu

- Những phát hiện này cho phép đưa ra các kết luận sau:

Thứ nhất, một dữ liệu điện tử có được thu thập hay không không phụ thuộc vào trạng thái chủ thế của dữ liệu điện tử trong cuộc điều tra: nghi phạm, nạn nhân và nhân chứng cũng vậy Do đó, vai trò của chủ thể dữ liệu

30

Trang 36

điện tử trong cuộc điêu tra là không thích hợp đôi với việc phân loại dữ liệu điện tử; nó chỉ yêu cầu xem xét khi kiểm tra tính tương xứng của một biện pháp điều tra cụ thể.

Thứ hai, mức độ bảo mật có thế được mong đợi một cách hợp lý tùy thuộc vào hoàn cảnh của trường hợp cụ thể Có hai khía cạnh quan trọng để xác định nó: hành vi của chủ thế dữ liệu (nghĩa là ở mức độ nào chủ thể của

dữ liệu điện tử chia sẻ dữ liệu tương ứng) và mối quan hệ tin tưởng cùa chủ thề với người nhận dữ liệu Mối quan hệ tin tưởng này có thể dựa trên cá cơ

sở thực tế và / hoặc cơ sở pháp lý, ví dụ: về mối quan hệ cá nhân giữa bạn bè thân thiết hoặc về thỏa thuận hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ Ngược lại, nội dung của thông tin không đóng vai trò then chốt đối với việc đánh giá tính bảo mật của dữ liệu điện tử

Áp dụng tiêu chí bảo mật

Phát hiện rằng việc phân loại dữ liệu điện tử chỉ dựa trên tiêu chí của chủ thể dữ liệu điện tử về tính bảo mật cho phép phân loại các mức độ chi tiết khác nhau Đế tìm ra sự cân bằng giữa phạm vi rộng của độ bảo mật của dữ liệu điện tử tiềm năng và số lượng danh mục dữ liệu diện tử, một phân loại với năm danh mục, đó là, theo thứ tự giảm độ bảo mật: (1) dữ liệu điện tử có

ý nghĩa cốt lõi đối với đời sống riêng tư, (2) dữ liệu điện tử bí mật, (3) dữ liệu điện tử bí mật được chia sẻ, (4) dữ liệu điện từ có khả năng truy cập giới hạn

và (5) dữ liệu điện tử có khả năng truy cập không giới hạn

- Dữ liệu điện tử có ý nghĩa cốt lõi đối với cuộc sống riêng tưLoại đầu tiên - dừ liệu điện tử có ý nghĩa cốt lõi đối với đời sống riêng

tư - đề cập đến dữ liệu điện từ riêng tư nhất, bất khả xâm phạm; trong đó về tính bảo mật mở rộng đến mức độ ràng dữ liệu điện tử sẽ không được sử dụng làm nguồn chứng cứ trong một cuộc điều tra tội phạm

- Dữ liệu điện từ bí mậtDanh mục dữ liệu điện tử bí mật đề cập đến thông tin điện tử bổ sung

mà chủ thể dữ liệu điện tử chưa chia sẻ với bất kỳ ai khác hoặc cách khác là

31

Trang 37

dừ liệu điện tử đã được chuyên cho một bên thứ ba đáng tin cậy, thường không phải tự nhiên mà bên thứ ba này lưu trữ dừ liệu điện tử mà không có kiến thức về nội dung thực tế của nó, ví dụ: nơi một nhà cung cấp cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây tự động mà không cần bất kỳ dịch vụ bổ sung nào Trong cả hai trường hợp, tính bảo mật là rất cao.

- Dữ liệu điện tử bí mật được chia sẻ• • • •

Dữ liệu điện tử bí mật được chia sẻ đã được chia sẻ với những người đáng tin cậy cụ thể theo kỳ vọng của chủ thế dữ liệu điện tử rằng thông tin sẽ không được chia sẻ thêm nữa, ví dụ: với vợ / chồng, một người bạn rất thân, một luật sư hoặc một bác sĩ Tuy nhiên, so với dữ liệu bí mật, nguy cơ thông tin bị rò ri sẽ tăng lên

- Dữ liệu điện tử về khả năng truy cập giới hạn

Dữ liệu điện tử về khả năng truy cập giới hạn là dữ liệu điện tử đã được chia sẻ với một hoặc một số giới hạn cá nhân không được tin cậy cụ thể Danh mục này tính đến việc chia sẽ dữ liệu điện từ có kiểm soát vẫn cho thấy ý chí• J • • • w Wnhất định để duy trì ít nhất một số tính bảo mật, đồng thời thừa nhận rằng dữ liệu điện tử sẽ không bị chia sẻ thêm là khá hạn chế Nó bao gồm tất cả siêu

dữ liệu liên lạc theo nghĩa của cách phân loại truyền thống, vì việc sử dụng các phương tiện điện tử để liên lạc chắc chắn phụ thuộc vào thông tin như dữ liệu liên hệ của người nhận hoặc thiết bị vô tuyến được sử dụng Dữ liệu điện

tử này có sẵn cho nhà cung cấp dịch vụ liên quan, những người thường không thể khẳng định mức độ tin cậy cá nhân cụ thể

- Dữ liệu điện tử về khả năng truy cập không giới hạnĐối với dữ liệu điện tử được chia sẻ công khai - hay dữ liệu điện tử có khá năng truy cập không giới hạn (ví dụ: trên nền tảng truyền thông, mạng xã hội), tính bảo mật của dữ liệu điện tử ở mửc rất thấp Điều tương tự cũng áp dụng đối với dừ liệu điện tử được chia sẻ một cách tự nguyện với các cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng với hiểu biết rằng thông tin đó có thể dùng làm nguồn chứng cứ trong một cuộc điều tra tội phạm Hơn nữa, nó bao gồm

32

Trang 38

dừ liệu điện tử được bên thứ ba tiêt lộ một cách tự nguyện và hợp pháp cho cơ quan có thấm quyền tiến hành tố tụng, ít nhất là nếu bên thứ ba đã lấy được

dữ liệu theo cách hợp pháp

1.2 Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tủ’ trong Luật tố tụng hình sự một

số quốc gia trên thế giói

1.2.1 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Mô hình tố tụng được sử dụng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự là mô hình tranh tụng Luật sư và Công tố viên có quyền bình đẳng trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ Pháp luật quy định nguyên tắc loại trừ chứng cứ đối với những chứng cứ được thu thập bất hợp pháp, theo đó, khi một thẩm phán cho rằng chứng cứ thu thập được vi phạm các quyền hiến định của bị cáo thì không thể sử dụng chứng cứ đó trong quá trình xét xử

Tố tụng hình sự Hoa Kỳ chù yếu sử dụng án lệ, tuy nhiên tất cả thủ tục tố tụng đều phải tuân thủ nguyên tắc về tố tụng hình sự của liên bang, của các bang, các nguyên tắc và quy định của các cơ quan Bộ Tư pháp và trên cơ sở quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ, Luật nhân quyền, Hiến pháp các tiểu bang, tổng luật Hoa Kỳ, các đạo luật của các bang, các quyết định của các Tòa án

Được thông qua lần đầu tiên vào năm 1975, Quy tắc về chứng cứ liên bang (Federal Rules of Evidence - FRE) hệ thống hóa luật chứng cứ áp dụng tại các tòa án liên bang của Hoa Kỳ Ngoài ra, nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ đã

áp dụng Quy tấc về chứng cứ của Liên bang, có hoặc không có các biến thể địa phương, hoặc đã sửa đổi các quy tắc hoặc quy tắc chứng cứ của riêng họ

để ít nhất tuân theo một phần các quy tắc của liên bang Theo đó, quy định về nguồn chứng cứ dữ liệu điện tử được quy định tại Quy tắc 1001 về “văn bản, ghi âm và ảnh”: “văn bản” bao gồm các chữ cái, từ, số hoặc các chữ cái tương đương được viết ra dưới bất kỳ hình thức nào; “ghi âm” bao gồm các chữ cái, từ, số, hoặc các ký tự tương đương được ghi lại theo bất kỳ cách nào;

“ảnh” có nghĩa là ảnh chụp hoặc ảnh tương đương được lưu trữ dưới bất kỳ hình thức nào Các loại nguồn này có thể là bản gốc hoặc bản sao: “Đối với

33

Trang 39

thông tin được lưu trữ điện từ, bản gôc có nghĩa là bât kỳ bản in nào - hoặc đầu ra khác có thể đọc được bằng mắt - nếu nó phản ánh chính xác thông tin Bản gốc của một bức ảnh bao gồm âm bản hoặc bản in từ nó” (điểm d Quy tấc 1001) “Bản sao có nghĩa là bản sao được tạo ra bằng quy trình hoặc kỹ thuật co khí, nhiếp ảnh, hóa học, điện tử hoặc tương đương khác sao chép chính xác bản gốc” (điểm e Quy tắc 1001).

Theo Quy tắc về chứng cứ Liên bang, các loại nguồn chứng cứ “văn bản, ghi âm và ánh” ở bàn gốc phái đảm bảo “Bán gốc văn bản, ghi âm và ánh cần được yêu cầu để chứng minh nội dung của nó trừ khi các quy tắc này hoặc quy chế liên bang quy định khác” (Quy tắc 1002); ở bản sao cần phải đảm bảo “Bản sao có thể được chấp nhận ở cùng mức độ với bản gốc trừ khi người ta đặt ra câu hỏi xác thực về tính xác thực của bản gốc hoặc hoàn cảnh khiến việc thừa nhận bản sao là không công bằng” (Quy tắc 1003)

1.2.2 Vương quốc Anh

Quy định về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong tố tụng hình sự Vương quốc Anh được quy định tại điều 133 Đạo luật tư pháp hình sự 2003 (Criminal Justie Act 2003) như sau:

“133 Proof of statements in documents Where a statement in a document is admissible as evidence in criminal proceedings, the statement may he proved by producing either-

(a) the document, or (b) (whether or not the document exists) a copy of the document or of the material part of it, authenticated in whatever way the court may approve.” [Criminal Justice Act 2003]

Theo đó, “Nguồn chứng cứ về các tuyên bố trong tài liệu: Khi một tuyên

bố trong tài liệu được chấp nhận là nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, tuyên bố đó có thể được chứng minh bằng cách đưa ra một trong hai: a) tài liệu, hoặc b) (cho dù tài liệu có tồn tại hay không) một bán sao của tài liệu

34

Trang 40

hoặc phân vật chât cúa nó, được chứng thực theo bât kỳ cách nào mà tòa án

có thể chấp thuận”

Nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự sẽ bao gồm tài liệu điện tử: nguồn chứng cứ có thể được thu thập từ tài liệu điện tử gốc hoặc bản sao của tài liệu điện tử đó được chứng thực bằng bất kỳ cách nào (miễn là bản sao kỳ thuật số

đã được sao chép theo cách ghi lại toàn bộ tệp, bao gồm tất cả các thuộc tính của nó, chẳng hạn như siêu dữ liệu, mà không làm thay đổi dữ liệu gốc)

Quy tắc này về chứng cứ được đưa ra nhằm đàm bảo sự công bằng trong

tố tụng hình sự bằng việc xác định nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử, cấm sử dụng những nguồn chứng cứ không đáng tin cậy, sai lệch Nguyên tắc kiếm tra chéo, đối chất để xác định tính chính xác, tính có căn cứ của chứng cứ được đặc biệt coi trọng Việc đánh giá chứng cứ để đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên những tiêu chí hợp lệ của chứng cứ do pháp luật quy định, ở đây là Điều 133 Đạo luật Tư pháp hình sự 2003

Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử được quy định tại Điều 84 BLTTHS Liên Bang Nga, thuộc “những tài liệu khác” của nguồn chứng cứ, cụ thể:

“Điều 84 Những tài liệu khác

1 Những tài liệu khác được coi là chứng cứ, nếu những thông tin trong đó có ỷ nghĩa trong việc xác định những tĩnh tiết quy định tại Điều

73 Bộ luật này.

2 Những tài liệu có thể chứa đựng những thông tin thể hiện dưới dạng văn bản hoặc dưới dạng khác Trong đó có thê cỏ các tài liệu bằng ảnh, phim, băng đĩa audio và video và những vật khác có chứa đựng thông tin mà có thể nhận được, sử dụng được hoặc đệ trình được theo thủ tục quy định tại Điều 86 Bộ luật này • J */ • • • •

3 Những tài liệu này được đưa vào hồ sơ vụ án vù bảo quản trong thời hạn bảo quản theo yêu cầu của người quản lý họp pháp, thì những tài

35

Ngày đăng: 12/07/2022, 09:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Tỉ lệ các vụ án, bị cáo phạm tội trong lĩnh vực công - Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.1 Tỉ lệ các vụ án, bị cáo phạm tội trong lĩnh vực công (Trang 5)
Hình các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có  diễn biến theo chiều hướng giảm dần theo từng năm về cả số vụ và số bị cáo. - Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật học)
Hình c ác tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có diễn biến theo chiều hướng giảm dần theo từng năm về cả số vụ và số bị cáo (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w