1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần theo pháp luật việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

88 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Đơn Lớp Trong Quản Trị Công Ty Cổ Phần Theo Pháp Luật Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sỹ luật
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 22,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2020 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 về mô hìn

Trang 1

HÌNH ĐƠN LỚP TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CÔ PHÀN 8 1.1 Khái quát về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần 8 1.1.1 Khái niệm quản trị công ty cố phần 8

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của mô hình đơn lớp trong quản trị công

ty cổ phần 111.1.3 Cấu trúc của mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần 141.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình đơn lớp trong quản

trị công ty cổ phần 16

1.2 Lý luận pháp luật về mô hình đơn lớp trong quăn trị công

ty cổ phần 181.2.1 Khái niệm pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty

cồ phần 181.2.2 Nguồn văn bản pháp luật quy định về mô hình đơn lớp trong

quản trị công ty cổ phần 191.2.3 Nội dung pháp luật về mô hình đơn lớp trong quân trị công ty

cổ phần 231.2.4 Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về mô

hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần 24TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH ĐƠN LỚP

TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CÔ PHẦN Ở VIỆT NAM 33

2.1 Thực trạng quy định về mô hình đơn lóp trong quăn trị công

ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện hành 33

Trang 2

2.1.1 Đại hội đồng cổ đông 33

2.1.2 Hội đồng quản trị 46

2.1.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 56

2.2 Một số nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cổ phần 57

2.2.1 ưu điểm 57

2.2.2 Bất cập, hạn chế 60

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THựC HIỆN MÔ HÌNH ĐƠN LỚP TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CÔ PHẦN Ở VIỆT NAM 71

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qua thực hiện pháp luật về mô hình đơn lóp trong quăn trị công ty cổ phần ở Việt Nam 71

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam 74

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam 74

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần ở Việt Nam 80

TIÊU KẾT CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 3

MỞ ĐẦU

I Tính câp thiêt cua việc nghiên cứu đê tài m _ 1 _ Ạ J !• A J _ • A _ _1_«A_ _ r -» Ạ À \ •

Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại sau các loại hình công ty đối nhân, nhưng lại là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn Sự hình thành và phát triển của công ty cồ phần gắn liền với

sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích, thì “công ty cổ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người

để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” [4, tr 18] Vì vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu và rộng như hiện nay, với triết lý “muốn đi nhanh hãy đi một mình, muốn đi xa hãy đi cùng nhau” và “hợp tác chính là nguồn gổc của sự phồn thịnh” mô hình công ty cổ phần là một trong những mô hình được nhiều nhà đầu tư lựa chọn để thành lập Tuy nhiên, khác với mô hình quản trị tương đối đơn giản của các công ty đổi nhân, mô hình quản trị của các công ty cố phần lại có nhiều điểm phức tạp, dễ gây tranh chấp nội bộ hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn của người quản lý đế trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của cố đông cũng như công ty cho nên, đòi hỏi phải có một quy chế pháp lý rõ ràng, chặt chẽ nhằm minh bạch hóa mô hình tố chức của công ty, từ đó, góp phần bảo vệ quyền lợi của các cỗ đông và hạn chế tranh chấp phát sinh

Ở Việt Nam, kể từ khi chính thức được luật hóa tại Luật Doanh nghiệp năm 1990, tiếp theo đó là Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chúng khoán năm 2006, Luật Chứng khoán năm 2010 sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán năm 2006 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, vấn đề này đã được quan tâm nghiên cứu đế hoàn thiện hơn quy chế pháp lý

về mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần cho phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn Đặc biệt là kể từ Luật Doanh nghiệp năm 2014 được ban hành, mô

Trang 4

hình tô chức, quản lý công ty cô phân tại Việt Nam đã có sự thay đôi rât lớn, tiệm cận hơn tới những mô hình tổ chức, quản lý công ty cổ phần của đa số quốc gia trên thế giới, trên cơ sở điều chỉnh phù hợp với tình hình của nền kinh tế trong nước Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện nay đều quy định cho phép chủ sở hữu được lựa chọn một trong hai mô hình là mô hình hội đồng hai lóp (two - tier board model) hoặc mô hình hội đồng đơn lớp (one - tier board model) để tổ chức và quản lý công ty (sau đây xin gọi là mô hình đơn lóp) Việc tố chức theo mô hình nào tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng công ty cổ phần Trong đó,

mô hình hội đồng hai cấp là mô hình đã được Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 kế thừa từ các văn bản pháp luật doanh nghiệp trước, còn mô hình hội đồng đơn lóp là mô hình mới được quy định bổ sung

Với mong muốn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2020 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) về mô hình hội đồng đơn lóp trong quản trị công ty cổ phần, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần theo pháp luật Việt Nam ” để nghiên cứu và

làm Luận văn Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Cùng với sự phát triển và gia tăng nhanh chóng của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, quản trị công ty cũng được các nhà đầu tư quan tâm chú trọng nhiều hơn Bởi vậy, các công trình liên quan đến mô hình quản trị công ty cố phần nói chung và mô hình đơn lớp trong tổ chức, quản lý công

ty cổ phần nói riêng cũng được thực hiện ở nhiều góc độ khác nhau

Dưới góc độ kinh tế, có thể kể tới một số công trình nổi bật như:

“Hưởng dẫn về những thông lệ tốt nhất trong quản trị công ty cho Việt Nam”

do ủy ban Chứng khoán Nhà nước soạn thảo và phát hành năm 2002; “So

2

Trang 5

sánh thực trạng quản trị công ty tại Việt Nam với các nguyên tăc quản trị công ty của tô chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD " do Học viện Tài

chính và Công ty Tư vấn quàn lý MCG nghiên cứu năm 2004; “Thực trạng về

quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam' do MPDF và IFC nghiên cứu năm 2004;

“Báo cảo đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam" do Ngân hàng

Thế giới thực hiện tháng 6/2006; “Cẩm nang quản trị công ty” do Tổ chức Tài chính quốc tế IFC và ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam công bố năm 2010 Nội dung các công trình này chủ yếu xoay quanh vấn đề đánh giá thực trạng và hướng dẫn quản trị cho doanh nghiệp và rất ít đề cập tới góc

độ pháp luật về quàn trị công ty cổ phần

Dưới góc độ pháp lý, có thể thấy, đề tài mô hình quản trị công ty cổ phần đã thu hút tương đối nhiều tác giả tập trung nghiên cứu, trong đó, có thể

kể tới các các bài nghiên cứu sau: “Đảnh giá khung pháp lỷ về quản trị công

ty và các kiến nghị hoàn thiện" của tác giả Lê Vũ Nam trên Tạp chí nghiên

cứu lập pháp, số 14 năm 2012; “Lý luận và mô hình quản trị công ty ở nước

ngoài và vấn đề tiếp nhận vào Việt Nam ” của tác giả Bùi Xuân Hải, đăng trên

tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2012; “Pháp luật về vị trí, vai trò và

cơ cấu tỏ chức cùa Hội đồng quản trị trong công ty cô phần" của tác giả Cao

Thanh Huyền trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11 năm 2018; “Hoàn

thiện pháp luật về hội đồng quản trị trong công ty cổ phần Việt Nam" của tác

giả Phạm Quý Đạt đăng trên tạp chí Nghề luật, số 5 năm 2020

Một số công trình luận văn thạc sĩ luật học như: Phan Thị Bảo Yến • 4^2 • • • • •

(2014), Mô hĩnh quản trị công tỵ cồ phần tại Việt Nam hiện nay, Luận văn

Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Vân (2018), Pháp luật về tô chức và hoạt động của hội đồng quản trị trong công

ty cổ phần, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn

Hương Quỳnh (2019), Thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty có

3

Trang 6

phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 — thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội,

Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

Các công trình kể trên đã đề cập và phân tích tới khía một hoặc vài cạnh nhỏ của đề tài quản trị công ty cổ phần và cũng có công trình đã phân tích nội dung quy định cùa Luật Doanh nghiệp năm 2005 về mô hình quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam Tuy nhiên, kể từ thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2020 được ban hành cho tới nay, vần chưa có công trình luận văn nào nghiên cứu về đề tài mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần được công bố Vấn đề này hiện tại mới chỉ dừng lại ở các bản tin pháp luật đăng trên các trang web dưới góc độ trình bày điềm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và vẫn chưa có công trình nào nêu ra cái nhìn toàn diện về vấn đề

mô hình quản trị công ty cổ phần

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • •

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

và thực tiễn pháp luật về quản trị công ty cổ phần và mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần, từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn xác định các nhiệm

vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Khái quát phân tích các vấn đề lý luận pháp luật về mô hình đơn lớp trong tổ chức, quản lý của công ty cổ phần, thực hiện so sánh pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này;

- Khái quát, phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành và các văn bản pháp lý liên quan, từ đó, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quy định về mô hình quản trị công ty cổ phần;

- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao

4

Trang 7

hiệu quả thực hiện pháp luật vê mô hình đơn lớp trong tô chức quản lý công

ty cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cún

4.1 Đoi tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về quản trị công ty và mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cố phần; hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 (trên cơ sở so sánh với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và pháp luật một số quốc gia trên thế giới)

Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần và việc áp dụng mô hình này tại tại các công ty cố phần trên lãnh thổ Việt Nam

4.3 Câu hỏi nghiên cứu

(i) Quản trị công ty cồ phần là gì? Mô hình đơn lớp trong quản trị công

ty cổ phần là gì? Mô hình này có đặc điếm gì khác biệt so với các mô hình quản trị công ty cổ phần khác?

(ii) Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật liên quan quy định về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần như thế nào? Các quy định về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 có điểm gì tiến bộ và hạn chế hơn so với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các vãn bản pháp lý trước đó?

(iii) Để có thể nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cổ phần cần đề xuất nhũng phương hướng và giải pháp gì?

5 Phương pháp nghiên cứu

5

Trang 8

Phương pháp chính được sử dụng xuyên suôt nội dung toàn bộ luận văn

là phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh Bên cạnh đó, để làm rõ các câu hỏi nghiên cứu, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác hoặc kết hợp các phương pháp nghiên cứu với nhau, cụ thể:

- Phương pháp logic đế làm rõ các khái niệm, nguyên tắc về quản trị công ty tại Chương 1 và đề xuất các phương hướng, kiến nghị nhàm nâng cao hiệu quả công tác triển khai thực hiện pháp luật tại Chương 3

- Phương pháp phân tích, tống hợp, so sánh đế làm rõ nội dung các mô hình đơn lớp trong quàn trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện hành tại Chương 2

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn• • •

- Tính mới của luận văn: Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật

doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là quy định của Luật Doanh nghiệp năm

2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty

cổ phần Đây là một vấn đề còn rất mới, chưa được nhiều người nghiên cứu

- Ỷ nghĩa về mặt khoa học: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu

tham khảo trong quá trình nghiên cứu của các tác giả liên quan tới đề tài mô hình quản trị công ty cổ phần Bên cạnh đó, luận văn cũng có thể đóng góp một phần vào công tác nghiên cứu, hoàn thiện chế định mô hình tổ chức, quản

lý công ty cổ phần tại Việt Nam trong tương lai

- Ỷ nghĩa về mặt thực tiền: Đối với các nhà đầu tư, Luận văn có thể là

tài liệu đề các nhà đầu tư, đặc biệt là những người có mong muốn thành lập công ty cồ phần sử dụng để nghiên cứu, tham khảo trước khi quyết định đầu

tư hoặc tham gia vào việc tổ chức, điều hành công ty cổ phần

Đối với các chủ thể áp dụng pháp luật, Luận văn nêu ra những phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam Vì vậy, Luận văn

6

Trang 9

sẽ có giá trị tham khảo cho các cơ quan nhà nước, các chủ thê được nhà nước trao quyền để tổ chức triển khai, hướng dần thực hiện các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, trong đó có các quy định về mô hình quản trị công ty cổ phần.

7 Kêt câu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

r r

của luận văn được kêt câu 3 chương:

quản trị công ty cổ phần

công ty cổ phần ở Việt Nam

hiệu quả thực hiện mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cố phần ở Việt Nam

7

Trang 10

Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH ĐƠN LỚP

TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỎ PHẦN

1.1 Khái quát về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần

1.1.1 Khái niệm quản trị công ty co phần

Khái niệm quản trị công ty được vay mượn từ chữ “corporate governance”, một trào lưu nghiên cứu mới xuất hiện trong kinh tế học và luật học Quản trị công ty được định nghĩa như một hệ thống mà thông qua đó, công ty được định hướng, điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đàu tư, cùa người lao động trong công ty và những người điều hành công ty Governance có gốc tiếng Hy Lạp nghĩa là lèo lái Người ta hình dung corporate - công ty như một con tàu cần phải được lèo lái đến bến bờ thành công với thuyền trưởng và đoàn thủy thủ là những người điều hành và người lao động trong công ty Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông ) nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Giám đốc điều hành và sự đóng góp của người lao động trong công ty mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi Rõ ràng cần phải có một cơ chế điều hành và kiểm soát công ty để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát Hội đồng quản trị, kiểm soát việc điều hành công ty để mang lại hiệu quả cao nhất Neu so sánh công ty như một chiếc bánh thì quản trị công ty chính là cách thức để chiếc bánh đó trong tầm kiểm soát và ngày càng phát triển to hơn, chất lượng hơn Tiêu chuẩn để đánh giá hệ thống quản trị công ty chính là việc tạo ra chiếc bánh to nhất có thể để sau đó phân bổ cho những người đầu tư nguyên liệu làm bánh và những người trực tiếp làm bánh [26, tr 51

Quản trị công ty đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các

8

Trang 11

nhóm lợi ích trong một công ty bao gôm cô đông, Hội đông quản trị, Giám đốc điều hành và các bên có lợi ích liên quan như người lao động, nhà cung cấp (đặc biệt là nhà cung cấp tài chính) Mục đích chính của quản trị công ty cần được xác định là để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và đề đảm bảo mối liên hệ giữa các nhóm lợi ích trong công ty Khi quản trị công ty tốt, giá trị của công ty sẽ tăng và như vậy sẽ có lợi trước hết cho nhà đầu tư, cố đông Các quy định của quản trị công ty chủ yếu liên quan đến Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành chứ không liên quan đến việc điều hành công việc hằng ngày của công ty Quản trị công ty tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động của Giám đốc điều hành thề hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông và những người có lợi ích liên quan.

Cần phân biệt rõ khái niệm quản trị công ty và quản trị kinh doanh Quản trị kinh doanh là điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp do Giám đốc điều hành và Ban giám đốc thực hiện Quản trị công ty là một quá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện đề bảo đảm cho việc thực thi quản trị kinh doanh phù hợp với lợi ích của các cố đông Quản trị công ty ở nghĩa rộng còn hướng đến đảm bảo quyền lợi của những người liên quan (stakeholders) không chỉ là cổ đông mà còn bao gồm cả các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước

Quản trị công ty được đặt trên cơ sở tách bạch giữa quản lý và sở hữu công ty Công ty là cùa chủ sở hữu (nhà đầu tư, cố đông ) nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Giám đốc điều hành và sự đóng góp của người lao động mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi

Quản trị công ty tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh mối quan

hệ ủy quyền (principle-agent) trong công ty, ngăn ngừa, hạn chế những người

9

Trang 12

quản lý lạm dụng quyên và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản, cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát.

Tóm lại, quản trị công ty là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bộ phận có liên quan/cấu thành của công ty, nhằm vào sự phát triển dài hạn và bền vừng của công ty

Khái niệm “công ty cổ phần”: Công ty cổ phần là một trong năm loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 của Việt Nam Theo đó, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, do từ 03 cổ đông trở lên đăng ký thành lập, có tư cách pháp nhân và được quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn Doanh nghiệp này có địa vị độc lập với các tổ chức,

cá nhân khác trong việc tham gia vào quá trình kinh doanh, cạnh tranh và hoạt động trên thị trường Ớ một góc độ khác, khái niệm công ty cổ phần được xem là đồng nghĩa với công ty đại chúng, bởi cấu trúc, tính chất và mục tiêu của nó (Điều 25 Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010) Quy định trong một số văn bản luật ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam ghi rõ công ty cổ phần cần có tối thiểu 03 cổ đông, bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị công ty cố phần Có quan điểm cho rằng:

Xét ở góc độ toàn diện, quá trình quản lý, điều hành công ty cố phần bao gồm tất cả những ânh hưởng liên quan đến quá trình ra quyết định của công ty Đó không chỉ bao gồm quyền kiểm soát cùa các cổ đông mà còn là những hợp đồng và quyền nộp đơn xin mở thủ tục phá sản của các chủ nợ, những cam kết với người lao động,

10

Trang 13

các khách hàng và nhà cung ứng, các quy định của cơ quan nhà nước ban hành, những đạo luật do cơ quan nhà nước thông qua Ngoài ra, các quyết định của công ty còn chịu ánh hưởng lớn từ sự cạnh tranh ngoài thị trường nơi nó hoạt đông [3, tr 9].

Đây có thể xem là một định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty cổ phần bao trùm hầu hết các mối quan hệ công ty Có định nghĩa hẹp hon cho rằng:

Quản trị công ty cổ phần được hiểu là các mối quan hệ giữa ban giám đốc, các cổ đông và những chủ thế khác có liên quan của công ty Mối quan hệ này hình thành niên cấu trúc (qua nhiều quy tắc và động cơ) để đạt được các mục tiêu mà công ty đặt ra, cách thức để đạt được những mục tiêu đó và xác định cơ chế giám sát việc thực hiện [3 tr 9],

Hoặc quản trị công ty cổ phần là việc tố chức bộ máy điều hành nội bộ công ty theo mô hình quản trị đơn lớp (one-tier) hoặc song lớp (two tier) Tuy niên, quan niệm này chỉ thích hợp với những nghiên cứu chuyên sâu về quản trị công ty cố phần, khi đã có kiến thức nhất định về các mô hình quản trị công ty

Thông qua các phân tích kể trên, theo quan điếm của tác giả quản trị công ty cổ phần được hiểu là một cơ chế nhàm điều hành và kiểm soát công ty theo đuổi những mục tiêu nhất định mà trong đó phân định rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của các thiết chế như đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc điều hành, ban kiểm soát và các bên có quyền

và lợi ích liên quan

1.1.2 Khái niệm và đặc điếm của mô hình đơn lớp trong quản trị công ty co phần

1.1.2.1 Khái niệm mô hình đơn lóp trong quán trị công ty cổ phần

Trên thế giới hiện nay chưa có khái niệm học thuật chính thức về “mô

11

Trang 14

hình quản trị công ty” là gì? Tuy nhiên, thực tiên sử dụng cụm từ này cho thấy, mô hình quản trị công ty được hiểu là hình mẫu thực hiện quản trị công

ty trong một tổ chức kinh tế nhất định, trong đó bao gồm cấu trúc các mối quan hệ trong công ty và nguyên tắc hoạt động của cấu trúc đó Mô hình quản trị công ty thế hiện rõ sự phân chia và kiểm soát quyền lực trong một công ty, qua đỏ, đánh giá được mức độ đảm bảo lợi ích của công ty, của cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác [29, tr 14],

Cấu trúc các mối quan hệ trong công ty thường đề cập đến bao gồm bộ máy điều hành, kiểm soát công ty; cơ chế hình thành các vị trí trong bộ máy điều hành; cơ chế hoạt động cũng như giám sát lẫn nhau giữa các vị trí; cơ chế đảm bảo các quyền lợi của công ty, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan Các cơ chế này thường được xây dựng dưới dạng các quy định về thủ tục, điều kiện liên quan đến quản lý các hoạt động năng lực hoặc các chế độ báo cáo khác nhau

Trên thế giới hiện có hai mô hình quản trị công ty cổ phần, đó là mô hình cấu trúc hội đồng hay cap (dual board hay twotier board model) và hội đồng một cấp (unitary board hay one-tier board model) Việc tổ chức theo mô hình nào tùy thuộc vào điều kiện thực tế, truyền thống và cơ chế pháp lý của từng quốc gia

Mô hình hội đồng hai cấp gồm có cấu trúc bộ máy quản trị - điều hành đặc biệt: bậc trên là Ban giám sát (supervisory board) và bậc dưới là Ban quàn lý (management board), trong đó các cổ đông và người lao động sẽ bầu chọn thành viên của Ban giám sát Ngược lại, cấu trúc quản trị nội bộ theo

mô hình hội đồng đơn lớp (unitary board hay one-tier board model) gồm có Đại hội đồng cố đông và chỉ một HĐQT với sự tham gia của các thành viên HĐQT điều hành hoặc không điều hành, thực hiện chức năng quản trị các hoạt động của công ty

12

Trang 15

Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 của Việt Nam cũng thừa nhận và cho phép công ty cổ phần được quyền lựa chọn tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình là: mô hình Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc, Ban kiểm soát (nếu có từ 11 cổ đông trở lên) và mô hình Đại hội đổng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc (Điều 137) Hai mô hình này tương ứng với mô hình hai lớp và mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần theo thông lệ quốc tế.

Từ đó có thể hiểu, khái niệm mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần là hình mẫu thực hiện quản trị công ty cổ phần theo cấu trúc bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc mà không

có sự tham gia của Ban kiểm soát Cơ chế giám sát hoạt động của Hội đồng quàn trị, Ban điều hành sẽ do thành viên độc lập Hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quàn trị đảm nhiệm.• • • • • JL • •

1.1.2.2 Đặc điềm của mỏ hình đơn lớp trong quản trị công ty cô phần

Theo quy định cùa Luật Doanh nghiệp, với tư cách là một trong hai mô hình quản trị công ty cổ phần, mô hình đơn lớp mang các đặc điểm chung của

mô hình quản trị công ty cồ phần đó là:

Một là, Đại hội đồng cổ đông gồm tất câ cổ đông có quyền biểu quyết,

là cơ quan quyết định cao nhất cùa công ty cổ phần

Hai là, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyềnnhân danh công ty đê quyêt định, thực hiện các quyên và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

Ba là, Giám đốc/Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty; chịu sự giám sát của HĐQT; chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Giám đốc/Tổng giám đổc có thể là thành viên HĐQT

Ngoài ra, mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cồ phần còn có một

13

Trang 16

điêm đặc thù - điêm khác biệt lớn nhât so với mô hình hai lớp trong quản trị công ty cổ phần đó là: không có Ban kiểm soát Chức năng, vai trò của thiết chế giống như Ban kiểm soát ở mô hình hai lớp trong mô hình này đó là thành viên độc lập Hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị.

1.1.3 Cẩu trúc của mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần

Các công ty cổ phần trên thể giới hiện nay đang được tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình cơ bản là mô hình hội đồng kép (hội đồng hay cấp) và mô hình hội đồng đơn (hội đồng một cấp)

Thứ nhất, mô hình hội đồng hai cấp (Two-Tier Board Model):

Mô hình này có nguồn gốc từ Cộng hòa liên bang Đức với cấu trúc nội

bộ bao gồm Đại hội đồng cồ đông, Hội đồng quản lý, giám sát và Ban quản trị điều hành, cấu trúc hội đồng hai cấp theo pháp luật Cộng hòa liên bang Đức

có hai đặc điểm quan trọng:

Một là, cấu trúc bộ máy quản trị - điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc (Two-tier board model) trong đó Hội đồng bậc trên là Hội đồng quản lý (Supervisory board) và Hội đồng bên dưới là Ban quản trị điều hành (Management board)

Hai là, cấu trúc này có sự tham gia với một tỉ lệ nhất định của đại diện người lao động vào Hội đồng bậc trên Supervisory Board Theo pháp luật công ty và Bộ quy tắc quản trị công ty của Cộng hòa Liên bang Đức, các cổ đông và người lao động sẽ bầu chọn thành viên của Hội đồng quản lý và giám sát Tỉ lệ số thành viên của hội đồng quản lý, giám sát do người lao động và

cố đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty; đại diện cho người lao động và cổ đông bầu chọn đều có quyền và nghĩa vụ như nhau Đối với các công ty cổ phần sử dụng trên 500 lao động thì 1/3 số thành viên của Hội đồng quản lý giám sát sẽ do người lao động bầu chọn; nếu công ty sử

14

Trang 17

dụng trên 2000 lao động thì Vi thành viên của Hội đông quản lý giám sát phải

là đại diện do người lao động bầu chọn Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng quàn lý giám sát phải là người do cổ đông lựa chọn và vị trí này có là phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chổng bằng nhau Hội đồng quản lý giám sát

có quyền bố nhiệm, cách chức các thành viên cùa Ban quản trị điều hành và trực tiếp tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của Ban quản trị điều hành Ban quản trị điều hành là cơ quan thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty

Thứ hai, mô hình Hội đồng một cap (One-tier Board Model):

Mô hình quản trị công ty này xuất hiện trên nền tảng thị trường vốn phát triển năng động, sở hữu công ty được chia tách nhỏ lẻ cho nhiều cổ đông khác nhau Các công ty thành lập ở những quốc gia theo truyền thống thông luật như Mỳ, úc, New Zealand, Anh thường có cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng đơn lớp Tuy nhiên, một số nước theo dòng Civil Law cũng chấp nhận mô hình quản trị này Hiện nay, mô hình quăn trị này đang thịnh hành ở các nước đang chuyển đổi và các nước đang phát triển

Cấu trúc quản trị nội bộ theo kiếu Hội đồng đơn lớp gồm có: Đại hội đồng cổ đông (Shareholder’s meeting) và Hội đồng giám đốc (Board of Directors) Vì chỉ có một hội đồng thực hiện chức năng quản trị - điều hành công ty nên người ta thường gọi đây là cấu trúc hội đồng một cấp (hay hội đồng đơn lớp) [29, tr 14], Các thành viên của Hội đồng giám đốc do các cổ đông lựa chọn và có the lên tới hai mươi thành viên Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, Hội đồng giám đốc cũng có thể chỉ định bổ sung thành viên của chính mình

về chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong cấu trúc quản trị: theo

mô hình này, pháp luật các nước thường quy định mọi quyền lực và các vấn

15

Trang 18

đề của công ty được trao cho Hội đồng giám đốc trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc Điều lệ công ty quy định phải thuộc về Đại hội đồng cổ đông Hội đồng giám đốc chỉ định các thành viên của mình hoặc chỉ định người khác điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty mà người đứng đầu là giám đốc điều hành Quyền lực của các Giám đốc điều hành sẽ do Hội đồng giám đốc quyết định Vì thế, các Giám đốc điều hành ở các công ty khác nhau

sẽ có vị trí, phạm vi quyền lực trong công ty không giống nhau

Mô hình quản trị công ty cổ phần theo kiểu Hội đồng đơn lớp không có một cơ quan chuyên trách, độc lập với Hội đồng giám đốc để giám sát những người quản lý Vì vậy, để hạn chế tình trạng lạm quyền của Hội đồng giám đốc trong công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết đã đặt ra nhu cầu tìm kiếm

và chỉ định những người độc lập về lợi ích và có thể đưa ra các ý kiến khách quan, độc lập trong công tác quản trị công ty đế bầu vào Hội đồng giám đốc các thành viên này được gọi là các thành viên độc lập không điều hành (Independent non-executive Directors) của Hội đồng giám đốc

quăn trị công ty cổ phần

Neu như mô hình quản trị hai lớp gắn liền với sự hình thành và phát triển của các công ty cổ phần tại các nước theo hệ thống Luật Châu Âu lục địa thì mô hình quản trị đơn lớp lại gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần tại các nước theo hệ thống thông luật mà điển hình là Anh và Mỹ Theo đó, mô hình này ra đời từ nhũng năm đầu thế kỷ XIX khi

mà các Hội đồng quản trị các công ty cổ phàn có sự biến chuyển nhanh chóng trong nội bộ mà theo Berle&Means mô tả trong nghiên cứu của họ là “sự tách biệt giữa quyền kiểm soát và quyền điều hành” Do quyền sờ hữu vốn bị phân tán nên đã nảy sinh nhu càu giám sát của cổ đông đối với việc quản lý công

ty Vì vậy, vai trò của các thành viên Hội đồng quản trị cũng có sự thay đổi

16

Trang 19

Cụ thê, Hội đông quản trị được xem như là một cơ quan độc lập chứ không phải là cơ quan đại diện của các cồ đông, nhưng sự độc lập này lại hướng tới

sự hỗ trợ các cổ đông Sự thay đổi này xuất phát từ yếu tố văn và hóa sự phụ thuộc vào con đường phát triền của các công ty cổ phần tại Anh - Mỹ

Quy tắc cho rằng, quyền lực tối cao trong việc quản lý công ty nằm trong một hội đồng được bầu chọn luôn tồn tại trong các quy chế công ty của

Mỹ Chính từ yêu cầu tài trợ cho các công ty xây dựng đường sắt mà thị trường chứng khoán ờ New York đã phát triển Năm 1811, Bang New York

đã ban hành Luật về chế độ trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất Nhờ có Luật này, tiền ùn ùn đổ về New York và chế độ trách nhiệm hữu hạn trở thành phổ biến, bởi vì, bang nào không có những quy định này thì không thu hút được vốn Vì vậy, các doanh nghiệp lớn hàng đầu của Mỹ đều thuộc loại hình công ty cổ phần

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng (hội đồng đơn) có trong luật công ty của hầu hết các bang của Mỹ cấu trúc hội đồng đơn, về cơ bản được xây dựng theo mô hình luật công ty theo kiểu Anglo- American mà luật công ty Mỹ là điển hình Neu như hơn một thế kỷ trước, trong hệ thống thông luật, người Anh thường tự hào rằng chính họ là những người cung cấp chủ yếu các học thuyết và quy tắc quản lý về công ty kinh doanh thì nửa thế kỷ trở lại đây, vai trò này đã bị mất vào tay người Mỹ Mô hình quản trị công ty Mỹ đã lặng lẽ xâm lăng các xứ sở của cả dòng họ Common Law và Civil Law, ở ngay cả châu Âu lục địa như Tây Ban Nha, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ý, Ai xơ len

Trong khi Mỹ có Luật Chứng khoán Liên bang thì hệ thống luật công ty của họ lại là của các tiểu bang Vì thế, các bang ờ Mỹ đều phải tham gia cuộc đua để có một luật công ty hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Trong cuộc đua này, những tiểu bang dẫn đầu phải kể đến là Delaware, New York và

17

Trang 20

California Đây cũng là một trong các lý do khiên cho giới luật học Mỳ và luật công ty Mỹ phát triển hết sức mạnh mẽ Luật công ty Mỹ đặc biệt là luật

về công ty của bang Delaware nơi mà quá nửa trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ chọn để đăng ký kinh doanh, nổi tiếng về cấu trúc hội đồng đơn với điếm nhấn là việc tập trung quyền lực cho người quản lý công ty

Tại Việt Nam, sự thay đối của tình hình kinh tế trong và ngoài nước đã buộc pháp luật phải có những điều chỉnh thích hợp đề phù hợp với tình hình mới Thêm vào đó, cấu trúc quản trị hai lớp theo pháp luật Châu Âu lục địa trong các công ty cổ phần tại một số công ty đã bộc lộ những mặt hạn chế - vai trò của Ban kiểm soát đôi khi còn mờ nhạt Theo đỏ, Ban kiểm soát tại• X •một số công ty cổ phần chưa phát huy được vị trí, vai trò cũng như chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ giám sát của mình khi họ vừa là người đánh trống vừa là người thổi còi Điều này đòi hỏi phải có một mô hình khác phù hợp hơn để khắc phục được nhược điểm trên Vì vậy, kể từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 được ban hành và có hiệu lực thi hành, mô hình đơn lófp trong quản trị công ty cố phần đã chính thức được thừa nhận tại Việt Nam Hiện nay, mô hình này vẫn tiếp tục được Luật Doanh nghiệp năm 2020 kế thừa và phát triển

1.2 Lý luận pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty

và kế thừa tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 Xét về mặt thuật ngữ pháp lý, có thể hiểu pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần là hệ

18

Trang 21

thông các quy phạm pháp luật điêu chỉnh các môi quan hệ quản lý, điêu hành giữa các bộ phận cấu thành cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần theo

mô hình không có Ban kiểm soát tại điểm b khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020 Hệ thống các quy định pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh: Theo như tên gọi của nó, pháp luật

về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cồ phần điều chỉnh mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành cơ cấu quản lý công ty cổ phàn đó là Đại hội đồng

cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc Trong đó, điểm nổi bật của pháp luật về mô hình này là tiêu chuẩn, vị trí, vai trò của các thành viên độc lập Hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị

Thứ hai, về phạm vi điều chỉnh: Các quy định của pháp luật về mô hình

đơn lớp trong quăn trị công ty cổ phần hướng tới nhóm các công ty cổ phần lựa chọn tổ chức theo mô hình không có Ban kiểm soát tại điểm b, khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm cả các công ty cổ phần có vốn đàu tư trong nước và công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

1.2.2 Nguồn văn bản pháp luật quy định về mô hình đữn lóp trong quản trị công ty cổ phần

Vì là mô hình tương đối mới ở Việt Nam, hệ thống các quy định về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần chủ yếu được đề cập trong các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bàn hướng dẫn thi hành

Công ty cổ phần được ghi nhận lần đầu tiên tại Việt Nam bởi Luật Công ty năm 1990 Tuy nhiên, thời kỳ này các quy định còn đơn gián bởi đây

là đạo luật đầu tiên quy định về các mô hình tổ chức kinh doanh kể từ khi Việt Nam đổi mới Do yêu cầu của nền kinh tế thị trường, để phù hợp với tình hình mới, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 thay thế Luật

19

Trang 22

Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Sau đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999 được thay thể bởi Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2005 bị thay thế bởi Luật Doanh nghiệp năm 2014 Luật Doanh nghiệp đều thừa nhận mô hình công ty cổ phần là một trong năm loại hình doanh nghiệp ớ Việt Nam Theo đó, các quy định về mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần cũng có sự thay đồi Kể từ Luật Doanh nghiệp năm 2014 tới nay, pháp luật doanh nghiệp đã bổ sung thêm mô hình đon lớp vào quy định cơ cấu tổ chức quản lý công ty cố phần Do vậy, các nhà đầu tư

có quyền lựa chọn một trong hai mô hình hai lớp hoặc đơn lớp để tổ chức, quăn lý công ty của mình Quy định này của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã tạo sự thống nhất giữa pháp luật doanh nghiệp với pháp luật chứng khoán, cụ thể:

Theo quy định của Luật Chứng khoán năm 2006, Quy chế quàn trị công

ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định sổ 12/2007/QĐ- BTC ngày 13/3/2007 của Bộ Tài chính đã có những quy định về việc tổ chức công ty cố phần theo mô hình đơn lớp với sự xuất hiện của thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại khoản 1 Điều 11 của Quy chế này quy định về thành phần Hội đồng quản trị, trong đó:

Số lượng thành viên Hội đồng quàn trị ít nhất là năm (05) người

và nhiều nhất là mười một (11) người, trong đó khoảng một phần

ba tống số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập không điều hành

Tiếp đó, điểm d khoản 1 Điều 2 Quy chế cũng giải thích:

Thành viên Hội đồng quản trị độc lập là thành viên Hội đồng quàn trị không phải là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác được Hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc cổ đông lớn cùa công ty

20

Trang 23

Ngoài việc giải thích vê thành viên độc lập và quy định vê sô lượng thành viên độc lập trong cơ cấu, thành phần của Hội đồng quản trị của các Công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán thì không có bất cứ quy định nào về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ cũng như các tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập Hội đồng quản trị.

Các quy định này tiếp tục được bổ sung và phát triển tại Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung năm 2010, Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của

Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng Thông tư này đã có những quy định cụ thể và chi tiết hơn về cơ cấu tổ chức của Hội đồng quản trị trong mô hình đơn lớp Theo đó, Điều 30 Thông tư quy định cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị của công ty đại chúng quy mô lớn

và công ty niêm yết như sau: “Cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị cần đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập, trong đó tối thiểu một phần ba tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập” Ngoài ra, Điều 32 Thông tư cũng quy định về các tiểu ban của Hội đồng quản trị, trong đó có tiểu ban nhân sự và tiếu ban lương thưởng phải có ít nhất một thành viên độc lập Hội đồng quản trị làm trưởng ban Riêng đối với các công ty cổ phần là tổ chức tín dụng thì

cơ cấu tổ chức của công ty phải tuân theo quy định của Luật các Tồ chức tín dụng năm 2010 ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2010 Trong đó có các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị

Đe tạo sự thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã chính thức thừa nhận mô hình đơn lóp là một trong hai mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần để các nhà đầu

tư lựa chọn Trên cơ sở các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về mô hình này, ngày 6/6/2017 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2017/NĐ-CP

21

Trang 24

hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng (thay thế Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012) quy định về quản trị công ty đại chúng, theo đó, chỉ cho phép công ty đại chúng chưa niêm yết được lựa chọn một trong hai mô hình quản trị theo quy định của Luật Doanh nghiệp và trong trường hợp lựa chọn mô hình đơn lớp thì phải đảm bảo tối thiếu 1/5 số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập, nếu tồng số thành viên Hội đồng quản trị có ít hơn 05 người thì phải có tối thiểu 01 người là thành viên độc lập Còn đối với công ty niêm yết thì không có quyền lựa chọn mà bắt buộc cơ cấu thành viên Hội đồng quàn trị phải đảm bảo tối thiểu 1/3 tống

số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập (Điều 13)

Sau một thời gian triển khai hoạt động, Luật Chứng khoán năm 2010 và Doanh nghiệp năm 2014 đã bộc lộ nhiều điểm cần được sứa đổi, bổ sung Vì vậy, Quốc hội khóa 14 đã xây dựng và thông qua Luật Chứng khoán năm

2019 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2014 Theo đó, Luật Doanh nghiệp vẫn tiếp tục cho phép công ty cổ phần được lựa chọn một trong hai mô hình đơn lớp hoặc song lớp để tố chức, quản lý công

ty cồ phần nói chung (Điều 137) Riêng đối với các công ty đại chúng, việc quản trị công ty sẽ tuân theo quy định tại Chương VIII, Nghị định định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 hướng dẫn thi thành Luật Chứng khoán năm 2019 đó là: số lượng thành viên Hội đồng quản trị của công ty đại chúng

ít nhất là 03 người và nhiều nhất là 11 người Cơ cấu Hội đồng quản trị của công ty đại chúng phải đảm bảo tối thiểu một phần ba (1/3) tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên không điều hành

Trường hợp công ty đại chúng chưa niêm yết hoạt động theo mô hình quy định tại điếm b khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp, cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị của công ty phải đảm bảo ít nhất một phần năm (1/5) tống

số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập

22

Trang 25

Trường họp sô thành viên Hội đông quản trị của công ty đại chúng chưa niêm yết hoạt động theo mô hình nêu trên có ít hơn 05 người, công ty phải đảm bảo có 01 thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập số lượng thành viên Hội đồng quản trị độc lập của công ty niêm yết phải đảm bảo quy định bao gồm: (i) Có tối thiếu 01 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 03 đến 05 thành viên; (ii) Có tối thiểu 02 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 06 đến 08 thành viên; (iii) Có tối thiểu 03 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 09 đến 11 thành viên (Điều 276).

1.2.3 Nội đung pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty

cổ phần

Thứ nhất, về việc lựa chọn mô hình tổ chức, quản lý công ty cổ phần: Nhàm tạo cơ hội cho các công ty cổ phần được tự do lựa chọn định hướng phát triển, pháp luật đã cho phép chủ sở hữu công ty cổ phần được quyền lựa chọn mô hình tố chức, quản lý theo một trong hai mô hình có Ban kiểm soát (mô hình hai lớp) hoặc không có Ban kiểm soát (mô hình đơn lớp) Cụ thể khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:

Trừ trường họp pháp luật về chứng khoán có quy định khác, công

ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức, quăn lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

a Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường họp công ty cổ phần có dưới 11

cổ đông và các cổ đong là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần cùa công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

b Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản

23

Trang 26

trị phải là thành viên độc lập và có Uy ban kiêm toán trực thuộc Hội đồng quản trị Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của

ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành

Thứ hai, về các bộ phận cấu thành mô hình đơn lóp trong quản trị công

ty cổ phần: Điểm giống của mô hình đơn lóp so với mô hình hai lớp trong quản trị công ty cổ phần là đều có các thiết chế Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc Tuy nhiên, điếm khác biệt lớn nhất trong pháp luật về hai mô hình quản trị công ty cổ phần là ở cơ cấu tổ chức của Hội đồng quản trị và sự có mặt của Ban kiểm soát Theo đó, mô hình hai lóp sẽ có sự tham gia của Ban kiểm soát để thực hiện chức năng giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị; còn trong mô hình đơn lóp pháp luật không xây dựng mô hình Ban kiểm soát mà thay vào đó là sự tham gia của tối thiếu 20% thành viên độc lập Hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị để thực hiện chức năng giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị Theo đó, các quy định của pháp luật về tổ chức quàn lý công ty cổ phần theo mô hình đơn lóp sẽ bao gồm các quy định về cơ cấu tổ chức, vị trí, vai trò và mối quan hệ của các bộ phận gồm: Đại hội đồng cổ đông, Giám đốc/Tổng giám đốc, thành viên độc lập Hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị

1.2.4 Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cổ phần

1.2.4.1 Pháp luật của Mỹ

Theo luật công ty ở các bang của Mỹ, cấu trúc quản trị nội bộ của một công ty cổ phần gồm có; Đại hội đồng cổ đông (shareholders’ meeting) và Hội đồng giám đốc (board of directors) hay còn gọi là Ban giám đốc hoặc Hội đồng quản trị Bộ phận quản trị - điều hành của công ty cổ phần chỉ do một cơ

24

Trang 27

quan đảm nhiệm là Hội đông giám đôc - câu trúc hội đông đơn (unitary board model) Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn các thành viên của Hội đồng giám đốc (thường có từ ba đến hai chục thành viên), được gọi là các Directors Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay của Hội đồng giám đốc, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công

ty quy định phải thuộc về Đại hội đồng cố đông Luật công ty của các bang ở

Mỹ thường có một quy định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của hội đồng giám đốc (các giám đốc) [26, tr 40],

Sự phân chia quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các

cơ quan của bộ máy quản trị công ty cổ phần vẫn thường thấy trong luật công

ty của Việt Nam Cũng vì thế Hội đồng giám đốc của các công ty theo mô hình công ty cổ phần của Mỹ có rất nhiều quyền lực, nhiều hơn rất nhiều so với những đồng nghiệp của họ trong Hội đồng quản trị cồng ty cổ phần của Việt Nam Thậm chí, ở một số bang của Mỹ, Hội đồng giám đốc có một số quyền có

lẽ sẽ làm ngạc nhiên các cố đông Việt Nam và nhiều nước khác, đó là việc Hội đồng giám đốc (những người làm thuê) được quyền quyết định việc chia cổ tức cho các cổ đông (những ông chủ, bà chủ) (Điều 8.01 của Luật mẫu Công ty kinh doanh Mỳ (the model business Corporation Act); Điều 141 (a) cùa Đạo luật chung về Công ty bang Daleware (Daleware General Corporation Law)

Trong các công ty cổ phần ở Mỹ, Hội đồng giám đốc bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hang ngày của công ty Người đứng đầu của bộ phận điều hành là tổng giám đốc (Chief executive officier hay managing director) Pháp luật công ty của các bang ở Mỳ không có nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc (statutory power) như trong pháp luật công ty Việt Nam Quyền lực của Tổng giám đốc sẽ do Hội đồng giám đốc quyết định

25

Trang 28

trên cơ sỡ ủy nhiệm, vì thê không phải các Tông giám đôc đêu có quyên lực như nhau Khác với mô hình Tổng giám đốc theo luật công ty của các bang ở

Mỹ, trong mô hình quản trị công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam thì Tổng giám đốc công ty cổ phần xuất hiện như một cơ quan trong bộ máy quản trị, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ đông hay Hội đồng quản trị chỉ có thể trao thêm chứ không được lấy bớt đi Tuy nhiên, trên thực tế Tống giám đốc trong mô hình quản trị của Mỹ được coi là mô hình Tổng giám đốc mạnh, nhất là khi chủ tịch Hội đồng giám đốc kiêm nhiệm luôn chức vụ Tổng giám đốc, hoặc Hội đồng giám đốc ủy quyền mạnh cho Tổng giám đốc về điều này, pháp luật Mỹ cũng có sự khác biệt so với pháp luật Anh Neu như Chủ tịch Hội đồng quản trị các công ty lớn ở Anh ít kiêm nhiệm chức Tổng giám đốc thì đồng nghiệp Mỹ của họ lại hay kiêm nhiệm hai chức danh này Nhưng sau các vụ phá sản của một vài công ty lớn xảy ra đầu thế kỷ XXI ở Mỹ như Enron, WorldCom, Tyco việc phân tách hay chức danh này trong các công ty cổ phần lớn ở Mỹ đã là một xu thế rõ rệt

Ngoài ra, mô hình quản trị công ty cổ phần theo cấu trúc hội đồng đơn kiếu Anh-Mỹ không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý - điều hành công ty như Ban kiếm soát trong Luật Doanh nghiệp Việt Nam và Luật Công ty Trung Quốc hay như Hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức Tuy nhiên, trong các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên của Hội đồng giám đốc là thành viên độc lập không điều hành (independent non-executive directors) đang thắng thế Xu hướng này cũng được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu như Ngân hàng thế giới và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế, các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như ủy ban chứng khoán của Mỹ Các thành viên độc lập không điều hành của Hội đồng giám đốc sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh giá một cách độc lập về các quyết

26

Trang 29

sách quản trị cùa Hội đông giám đôc và giám sát hoạt động của bộ phận điêu hành Tuy nhiên, sự giám sát của một nhóm thành viên Hội đồng giám đốc đối với các thành viên khác được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả Bởi vậy, sự giám sát này có thể thiếu tính độc lập và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản trị của công ty

cổ phần trong cấu trúc quản trị hội đồng hai tầng, cũng như trong Luật Doanh nghiệp của Việt Nam và Luật Công ty của Trung Quốc

Hội đồng quản trị thực hiện công việc kiểm soát quan trọng nhất để đảm bảo các quyết định quản trị của các công ty niêm yết đều xuất phát từ lợi ích của các cổ đông Giám đốc điều hành của hầu hết các công ty Mỹ đều là nhà quản lý chuyên nghiệp và thường không phải là người sáng lập hoặc cổ đông chính Hội đồng quản trị giám sát hành động của giám đốc điều hành để bảo vệ lợi ích tài chính của các cổ đông

Có thể nói, hội đồng quản trị tại Mỹ thực hiện đồng thời hai vai trò là

cố vấn và đảm bảo sự tuân thủ Hội đồng quản trị thường bao gồm các giám đốc điều hành và các giám đốc không điều hành Theo đó, phần lớn các giám đốc tại công ty Mỹ là giám đốc không điều hành Họ thường là người đứng đầu của các công ty không liên kết, các tổ chức phi lợi nhuận hoặc giáo sư các trường đại học Các giám đốc không điều hành thường được lựa chọn dựa trên năng lực chuyên môn của họ trong những vấn đề có tầm quan trọng chiến lược của công ty hoặc là người có kiến thức chuyên sâu về ngành tài chính, kế toán Để đảm bảo tính độc lập trong các quyết định của Hội đồng quăn trị, ủy ban chứng khoán New York yêu cầu trong các cuộc họp của các giám đốc không điều hành phải không có sự hiện diện của các giám đốc điều hành Hơn nữa, số lượng giám đốc không điều hành phải chiếm đa số trong Hội đồng quản trị

Trong một số công ty Mỹ, nếu người sáng lập hoặc thành viên gia đình

27

Trang 30

sáng lập năm giữ một lượng cô phiêu lớn họ cũng thường năm giữ vị trí quan trọng trong Hội đồng quản trị Đôi khi các cố đông sáng lập cũng tạo ra ành hưởng đáng kể đối với công ty bàng cách sở hữu một số lượng lớn các cổ phiếu ưu đãi biểu quyết Trong nhiều trường họp, các cổ đông lớn nhưng không phải là thành viên sáng lập của công ty cũng có thế là thành viên ban giám đốc của công ty Một số trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp một số ít quỹ đầu tư như quỳ hưu trí hoặc quỹ đầu tư của công đoàn lao động thường không có đại diện trong Hội đồng quản trị dù các quỹ này có thể sở hữu từ 3 - 10% cổ phần của các công ty [1, tr 6], Các cổ đông này duy trì ảnh hưởng của mình thông qua quá trình bỏ phiếu hoặc ủy quyền bỏ phiếu chứ không phải thông qua việc cử đại diện trực tiếp tham gia vào Hội đồng quản trị.

1.2.4.2 Pháp luật của Anh

Mô hình quản trị công ty cố phần ở Anh là mô hình quản trị đơn lớp, được hiểu là các ủy ban, thành viên điều hành và không điều hành trong HĐQT sẽ thực hiện quyền giám sát thông qua việc tranh luận, bỏ phiếu biếu quyết và đưa ra một ý kiến chung thống nhất Trong mô hình quản trị này không tồn tại Ban kiểm soát và các thành viên độc lập không điều hành cũng không đóng vai trò như một cơ quan giám sát riêng biệt

Nguyên tắc quản trị công ty cổ phần ở Anh là phân chia quyền hạn rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Quyền quản lý doanh nghiệp thuộc

về Hội đồng quản trị, cơ quan này có toàn quyền đưa ra mọi quyết định liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp miễn là không thuộc vào các trường hợp cần sự xét duyệt của cổ đông theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và điều lệ công ty

Các cố đông thực hiện quyền của mình thông qua các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc các cuộc họp cổ đông bất thường Họ có quyền phế truất những thành viên HĐQT mà họ cho rằng năng lực điều hành kém hiệu quả

28

Trang 31

thông qua những nghị quyêt chung Tuy nhiên họ lại không có quyên can thiệp vào hoạt động quản lý điều hành của Hội đồng quản trị Mô hình quản trị công

ty ở Anh là một đại diện tiêu biểu cho trường phái quản trị doanh nghiệp lấy việc gia tăng lợi ích cho cổ đông làm mục tiêu phát triển chính Theo quy định của pháp luật Anh, vai trò quản lý của các cổ đông trong công ty được xác định bởi: Điều lệ công ty; Luật Công ty năm 2006 và Luật Phá sản năm 1986; Án lệ xác định quyền quản lý của cổ đông trong một số trường hợp

Theo quy định của Luật Công ty năm 2006, các cố đông có những nhóm quyền chính gồm: thay đổi điều lệ công ty; thay đổi loại hình của doanh nghiệp từ công ty tư nhân thành công ty công hoặc ngược lại; truất quyền điều hành của hội đồng quản trị bằng cách thông qua một nghị quyết theo đa số thông thường; phê chuẩn hợp đồng thuê giám đốc điều hành nếu hợp đồng có thời hạn trên 2 năm; phê chuấn các giao dịch hoặc các khoản vay có giá trị lớn của công ty; phê chuẩn các khoản đóng góp từ thiện hoặc đóng góp mang tính chính trị lớn hon 5000 Bảng Anh; phê chuẩn quyết định phân bổ cổ phiếu; quyết định không áp dụng quyền mua trước; giảm vốn điều lệ công ty; phê chuẩn quyết định mua lại cổ phần, phần vốn góp của công ty Mặc dù các

cổ đông có quyền truất quyền điều hành cùa Hội đồng quản trị theo luật định, tuy nhiên họ không có quyền bổ nhiệm Hội đồng quản trị Thẩm quyền, quy trình bồ nhiệm các chức dang sẽ được quy định trong điều lệ công ty Bên cạnh đó, Luật phá sản doanh nghiệp 1986 của Anh cũng trao cho các cổ đông công ty quyền tự nguyện giải thề doanh nghiệp bằng cách thông qua một nghị quyết đặc biệt (chỉ được thông qua khi có 75% số phiếu biểu quyết tán thành)

về cách thức để cổ đông thực hiện quyền lực của mình: các cổ đông công ty thực hiện các quyền của mình bằng cách thông qua các nghị quyết trong các buổi họp cổ đông Có hai loại nghị quyết có thể được thông qua bởi các cổ đông đó là nghị quyết thông thường và nghị quyết đặc biệt Nghị quyết

29

Trang 32

thông thường có thê được thông qua theo nguyên tăc đa sô thông thường, nghĩa

là có hơn 50% cổ đông bở phiếu tán thành Trong khi đó, nghị quyết đặc biệt cần phải được sự đồng ý của tối thiểu 75% số phiếu bầu Luật Công ty 2006 của Anh quy định khá chi tiết và đầy đủ về những trường hợp nào cần đến nghị quyết đặc biệt Việc biểu quyết thông qua các vấn đề trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được thực hiện bằng một trong 3 cách là biểu quyết bằng giơ tay, biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu hoặc biểu quyết bằng văn bản

về vai trò của Hội đồng quản trị công ty: cũng giống như Mỹ, mô hình quản trị công ty ở Anh là mô hình quản trị đơn lóp Các thành viên không điều hành thuộc Hội đồng quản trị không mang vai trò như một cơ quan giám sát riêng biệt giống như mô hình quản trị công ty hai lớp Thành viên điều hành, không điều hành và chủ tịch Hội đồng quản trị ở Anh đều là thành viên trong một hội đồng, cùng nhau thống nhất để đưa ra nghị quyết chung cho chiến lược phát triển công ty Nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì Hội đồng quản trị sẽ chọn một thành viên uy tín cao trong số các thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành giũ' chức danh thành viên độc lập cao cấp Thành viên này hoạt động như một đầu mối liên hệ giữa Hội đồng quản trị và các cổ đông lớn để các cổ đông này có thể đưa ra ý kiến, thảo luận với chủ tịch, giám đốc điều hành, giám đốc tài chính hoặc những người giữ chức danh khác mà họ lo ngại về hiệu suất làm việc

Luật Quản trị doanh nghiệp Anh 2010 quy định Hội đồng quản trị công

ty có những vai trò bao gồm: đưa ra chiến lược, lãnh đạo, điều hành hoạt động công ty; đảm bào nguồn nhân lực và tài chính có sẵn để đạt được các mục tiêu

đề ra; giám sát hiệu quả quản lý của các phòng ban công ty; thiết lập các giá trị và tiêu chuẩn của công ty; đảm bảo hiểu và đáp ứng được các nghĩa vụ đối với các cổ đông và bên liên quan khác Chủ tịch Hội đồng quản trị có nhiệm

vụ thiết lập, thiết kế các chương trình, lịch họp Hội đồng quản trị và đảm bảo

30

Trang 33

Hội đông quản trị hoạt động một cách hiệu quả Họ cũng có trách nhiệm cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác cho các thành viên trong Hội đồng quản trị, đặc biệt là các thành viên không điều hành Luật Quản trị doanh nghiệp Anh năm 2010 quy định: “Hội đồng quản trị và các ủy ban của nó bao gồm các giám đốc với sự cân bằng về kỹ năng, kinh nghiệm, sự độc lập và hiểu biết về công ty” - Nguyên tắc chính B.l (UK corporate Governance Code 2010).

Các điều khoản dẫn chiếu về quy định nói trên cũng chỉ rõ Hội đồng quản trị phải có “sự hiện diện mạnh mẽ” của cả giám đốc điều hành và giám đốc không điều hành đế không một cá nhân hoặc một nhóm nhở nào đó có thể thao túng nghị quyết chung của Hội đồng quản trị Theo đó, ít nhất một nửa Hội đồng quản trị không kể chủ tịch Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập không điều hành Chức danh Giám đốc điều hành và chù tịch Hội đồng quăn trị phải độc lập với nhau và Hội đồng quản trị phải có ủy ban kiểm toán độc lập bao gồm các thành viên không điều hành Ví dụ: Hội đồng quản trị của một công ty có 9 người sẽ cần phải có tối thiểu là 4 thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành đế cân bằng với 4 thành viên Hội đồng quản trị điều hành; và chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ là thành viên thứ 9 Các công ty với quy mô nhò hơn, hay còn gọi là các công ty không nằm trong nhóm FTSE 350 thì chì cần có tối thiểu 2 thành viên Hội đồng quản trị không điều hành là đủ

Thành viên điều hành trong Hội đồng quàn trị ở Anh có các vai trò: phản biện mang tính xây dựng các đề xuất về chiến lược phát triển công ty; giám sát hoạt động của ban giám đốc trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra; giám sát tính toàn vẹn về thông tin tài chính; xác định mức thù lao phù hợp cho các thành viên điều hành; bố nhiệm và loại bỏ các thành viên điều hành

và lập kế hoạch cho lớp kế nhiệm Tuy nhiên các quy định nói trên chỉ dừng lại ở mức hướng dần, các công ty cổ phần có quyền tự do quy định trong điều

lệ một tỉ lệ cân bằng giữa thành viên điều hành và không điều hành khác tì lệ trên nếu chứng minh được tỉ lệ đó là thích hợp với công ty mình

31

Trang 34

TIÊU KÊT CHƯƠNG 1

Công ty cô phân là một mô hình kinh doanh có khả năng huy động vôn rất lớn để phục vụ hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư Mô hình này đã

và đang ngày càng khắng định được vị thế trong nền kinh tế, đặc biệt là sự lớn mạnh của thị trường chứng khoán Song song với quá trình phát triển của mô hình này, pháp luật về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty cổ phần nói riêng cũng cần phải hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Để làm rõ nội dung cùa đề tài, Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về quản trị công ty cổ phần và pháp luật về quản trị công ty cổ phần theo

mô hình đơn lớp Theo đó, nội dung chương này đi sâu phân tích hai vấn đề trọng tâm là khái quát về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần và lý luận pháp luật về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cố phần Các nội dung này sẽ là cơ sở lý luận pháp lý nền tảng để làm rõ các nội dung ở Chương 2 - Thực trạng pháp luật về mô hình đơn lóp trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam

32

Trang 35

Chương 2 THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH ĐƠN LỚP TRONG QUẢN

TRỊ CÔNG TY CÓ PHÀN Ở VIỆT NAM• •

2.1 Thực trạng quy định về mô hình đơn lớp trong quản trị công

ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện hành

2.1.1 Đại hội đồng cổ đông

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định công ty cổ phần có thể tố chức, quản lý theo một trong hai mô hình tại Điều 137 Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, quy định về Đại hội đồng cổ đông giữa hai mô hình này là giống nhau

Vì vậy, để làm rõ đề tài, trong phạm vi nội dung mục này tác giả sẽ chỉ phân tích các nội dung pháp lý của Đại hội đồng cổ đông liên quan đến cơ cấu, tổ chức công ty cổ phần theo mô hình không có Ban kiểm soát Theo đó, Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất cùa công ty cổ phần (Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020)

2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cô đông

Quy chế pháp lý về Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Nghị định số 155/2020/NĐ-CP và trong Điều lệ, Quy chế quản trị nội bộ của từng công ty cổ phần Cũng giống như Luật Doanh nghiệp năm

2014, Điều 138 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định một số thẩm quyền cơ bản mang tính nguyên tắc của Đại hội đồng cổ đông Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp cũng trao quyền tự chủ cho các công ty cổ phần trong việc quy định bổ sung những quyền, nghĩa vụ khác của Đại hội đồng cổ đông vào Điều

lệ, Quy chế cùa công ty để phù hợp với đặc điểm của từng công ty Khái quát lại có thể chia thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần thành các nhóm: các quyền liên quan đến vấn đề đến quản trị công ty, quyền

33

Trang 36

liên quan đên hoạt động của công ty, quyên liên quan đên vân đê vê vôn và tài chính của công ty, và các quyền liên quan đến số phận pháp lý của công ty.

* Nhóm các quyền của Đại hội đồng cổ đông liên quan đến các vấn đề quản trị công ty Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông đối với các vấn đề liên quan đến quản trị công ty bao gồm các quyền:

- Bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm và thay thế thành viên Hội đồng quản trị Khi số thành viên Hội đồng quản trị còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật thì Hội đồng quản trị phải triệu tập họp bất thường để quyết định việc bầu bổ sung, thay thế các vị trí còn khuyết

- Xem xét và xử lý các vi phạm của thành viên Hội đồng quản trị gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty Bất cứ thành viên Hội đồng quàn trị nào khi có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật hoặc quy chế quản trị nội bộ của công ty, gây thiệt hại cả về vật chất và phi vật chất cho công ty cố phần đều được đưa ra xem xét, lấy ý kiến tại Đại hội đồng cổ đông về mức độ

vi phạm, những thiệt hại gây ra và chế tài xử lý những vi phạm đó

- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty Công ty cổ phần nói riêng và các loại hình doanh nghiệp nói chung ngoài việc tuân thủ, chấp hành theo các quy định của pháp luật thì Điều lệ công ty cũng là một trong những văn bản quan trọng nhất được sử dụng làm căn cứ áp dụng trong quá trình tồn tại, phát triến và hoạt động của công ty Nói cách khác, Điều lệ công ty có thể được xem như là “bộ luật riêng” của công ty Với một văn bản có giá trị pháp

lý quan trọng như vậy, việc trao thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ cho Đại hội đồng cổ đông là điều hoàn toàn hợp lý Theo đó, Đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền quyết định sửa đổi, bổ sung mọi vấn đề được quy định trong Điều

lệ công ty Ngoài ra, theo thông lệ quản trị công ty, Đại hội đồng cổ đông có thể có thêm thẩm quyền:

34

Trang 37

- Quyêt định việc Giám đôc/Tông giám đôc đông thời làm Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty.

- Quyết định cơ cấu quán trị công ty, trong đó có các nội dung bao gồm: số lượng thành viên Hội đồng quản trị; số lượng thành viên Hội đồng quản trị không điều hành, thành viên độc lập Hội đồng quản trị; số lượng và thành phần các ban thuộc Hội đồng quản trị Mặc dù pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về thẩm quyền này của Đại hội đồng cổ đông nhưng theo suy luận hợp lý thì những vấn đề này không thể trao thẩm quyền cho chủ thể nào ngoài Đại hội đồng cổ đông

- Phê chuẩn việc Hội đồng quản trị bổ nhiệm Giám đốc/Tổng giám đốc điều hành Thực tiễn quản trị công ty cho thấy tại một số công ty, Đại hội đồng cổ đông được trao thẩm quyền phê chuẩn việc bổ nhiệm Ban giám đổc theo đề cử cũa Hội đồng quản trị

* Nhóm các quyền của Đại hội đồng cổ đông trong hoạt động của công

ty Đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền quyết định những vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty như sau:

- Thông qua định hướng phát triến công ty, bao gồm cả định hướng ngắn hạn và dài hạn; thông qua kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty Đây là vấn đề mang tính chất sống còn đối với một doanh nghiệp nên đương nhiên chỉ có Đại hội đồng cổ đông mới có thẩm quyền quyết định vấn đề này Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định định hướng phát triển công ty, tuy nhiên lại chưa có một văn bản quy định cụ thể vấn đề nào được coi là “định hướng phát triển công ty” Định hướng phát triển công ty có thể được hiểu là chiến lược phát triển công ty hoặc đơn giàn chỉ là định hướng thay đổi, thu hẹp, mờ rộng, thay đổi ngành nghề kinh doanh [2, tr 28] Điểm a, khoản 3 Điều 139 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định Đại hội đồng cổ đông thường niên thảo luận và có thẩm

35

Trang 38

quyên thông qua “Ẩ.'é hoạch kinh doanh hăng năm của công tỵ” Mặt khác, điểm a khoản 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp năm 2020 lại quy định Hội đồng quản trị có quyền “quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế

hoạch kinh doanh hằng năm của công ty” Như vậy giữa hai quy định này đã

có sự chồng chéo trong cùng một vấn đề ở cùng một văn bản Điều này dẫn tới khi áp dụng pháp luật dễ xảy ra tranh chấp về thẩm quyền giữa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị khi quyết định các vấn đề mang tính định hướng phát triển của công ty Theo quan điểm của tác giả, với những vấn đề quan trọng như trên thì thẩm quyền quyết định cuối cùng vẫn nên thuộc về Đại hội đồng cổ đông

- Quyết định việc thay đổi ngành, nghề và lĩnh vực kinh doanh của công ty

- Quyết định việc thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý công ty Trên cơ sở thực tiễn hoạt động của công ty cố phần, cũng như tùy theo sở thích, ý chí chủ quan mà công ty có quyền tự quyết định lựa chọn mô hình tổ chức quản lý cho phù hợp Thẩm quyền quyết định việc thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý công ty thuộc về Đại hội đồng cổ đông Luật Doanh nghiệp năm 2020 cho phép công ty cổ phần được lựa chọn tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình Tuy nhiên, đối với lĩnh vực ngân hàng, Luật các Tổ chức tín dụng năm

2017 lại chỉ cho phép các ngân hàng thương mại cổ phần được tồ chức dưới

mô hình bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc và Ban kiểm soát (Điều 32) Như vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam chỉ được tồ chức theo một mô hình duy nhất mà không có quyền được thay đổi Điều này đi ngược lại với thông lệ quốc tế cho phép ngân hàng thương mại cố phần được tự do lựa chọn mô hình tổ chức quản lý Trong khi đó Luật Chứng khoán năm 2019 và Nghị định số 155/2020/NĐ-CP lại quy định cho phép các công ty đại chúng được tổ chức theo mô hình đơn

36

Trang 39

lớp thì vô hình chung giữa Luật Các tô chức tín dụng và Luật Chứng khoán lại

có sự mâu thuẫn về vấn đề này Mặc dù Nghị định số 155/2020/NĐ-CP đã có quy định ưu tiên lựa chọn Luật các Tổ chức tín dụng để giãi quyết cho mâu thuẫn này, nhưng theo quan điểm của tác giả để tạo sự đồng nhất cũng như tháo

gỡ các vướng mắc trong quá trình niêm yết tại các sàn giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán thì Luật các Tổ chức tín dụng nên có định hướng thay đổi để đồng nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán

- Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sàn được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty được kiểm toán Tỷ lệ cụ the sẽ được quy định trong Điều lệ công ty hoặc Điều lệ công ty quy định một tỉ lệ hoặc một giá trị khác Những giao dịch có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản của công ty trở lên đều là những giao dịch có giá trị lớn, có khả năng ảnh hưởng đến cơ cấu cũng như năng lực tài chính của công ty Do vậy, vấn đề này thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đồng

cổ đông (cơ quan quyền lực cao nhất của công ty) là rất phù hợp

- Thông qua hợp đồng, giao dịch giữa công ty với những đối tượng: cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phố thông của công ty và những người có liên quan của họ; thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc và người có liên quan của những đối tượng này, doanh nghiệp mà thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc hoặc người quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty sở hữu phần vốn góp hoặc cồ phần; doanh nghiệp mà người liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc hoặc người quản lý khác theo quy định tại Điều công ty cùng sở hữu riêng phần vốn góp hoặc cổ phần trên 10% vốn điều lệ Thẩm quyền này có thể thuộc về Hội đồng quản trị nếu như Điều lệ công ty và quy chế nội bộ về quản trị công ty quy định

- Chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty con của công ty cổ phần,

37

Trang 40

công ty do công ty cô phân năm quyên kiêm soát trên 50% vôn điêu lệ trở lên với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc và người quản lý khác theo Điều lệ của công ty theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định sổ 71/2017/NĐ-CP Thẩm quyền này có thể thuộc về Hội đồng quản trị nếu như Điều lệ công ty và Quy chế nội bộ về quản trị công ty quy định.

* Nhóm các quyền của Đại hội đồng cổ đông về vốn và tài chính của công ty Pháp luật hiện hành quy định thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông trong các vấn đề liên quan đến vốn và tài chính của công ty như sau:

- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm cùa công ty Báo cáo tài chính hằng năm của công ty được coi là một trong những cơ sở quan trọng nhất để Đại hội đồng cổ đông đưa ra quyết định đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty Bởi lẽ, báo cáo tài chính là văn bản phản ánh đầy đủ nhất kết quả kinh doanh, cơ cấu tài chính cũng như tình trạng vốn của công ty Theo khoản 1 Điều 175 Luật Doanh nghiệp năm 2020, báo cáo tài chính hằng năm của công ty do Hội đồng quản trị lập và và trình lên Đại hội đồng cổ đông

- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán và việc chuyển nhượng cổ phần của thành viên sáng lập và quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần Theo đó, Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định các loại cồ phần mà công ty được quyền chào bán (như cổ phần phổ thông, các loại cổ phần ưu đãi) Đại hội đồng cổ đông cũng

có quyền quyết định tổng số cổ phần các loại mà công ty sẽ chào bán để huy động vốn Ngoài ra, trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác; nếu muốn chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người khác không phải là cổ đông sáng lập thì phải có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông

38

Ngày đăng: 12/07/2022, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật thương mại, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tài liệu Hội thảo mô hình quản trị công ty cô phần theo quy định pháp luật một sổ nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo mô hình quản trị công ty cô phần theo quy định pháp luật một sổ nước và kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2018
27. Nguyễn Thị Hồng Vân (2018), Pháp luật về tô chức và hoạt động của hội đồng quản trị trong công ty cô phần, Luận văn thạc sĩ luật học,Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về tô chức và hoạt động của hội đồng quản trị trong công ty cô phần
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Năm: 2018
28. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2014), Quản trị công ty cô phần ở Việt Nam, quy định của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị công ty cô phần ở Việt Nam, quy định của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
Tác giả: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2014
29. Phan Thị Bảo Yến (2014), Mô hình quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phan Thị Bảo Yến
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm