Từ các phân tích trên, có thế định nghĩa chứng cứ trong TTDS như sau: “Chứng cứ là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật được đương sự, cá nhân, cơ quan, tô chức khác hoặc Tòa án t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỀN THỊ BÍCH THỦY
CÚ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT vụ VIỆC DÂN sụ
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành •Z O : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự• • • O •
Mã số: 8380101.04
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
(ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG)
Hà Nội - 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỳ này là do chính tôi thực hiện
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu được tôi sử dụng
để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bảo chính xác, trung thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
-giảng viên tổ bộ môn Luật tố tụng dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng và tận tình chì dạy trong quá trình tôi thực hiện
luận văn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô, anh chị, bạn bè đồng nghiệp
và gia đình đã luôn giúp đỡ và động viên để tôi có đầy đủ điều kiện và động lực để
hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2020
Tác gia
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT
BLDS 2005 : Bô• •luât Dân sư• năm 2005
BLDS 2015 : Bô• • luât Dân sư• năm 2015
BLTTDS 2011 : Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ
sung năm 2011)
VADS : Vu• •án dân sư
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHỨNG CỨ, ĐÁNH GIÁ CHÚNG cứ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
VỤ VIỆC DÂN Sự TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 7
1.1 KHÁI NIỆM KỲ NĂNG THU THẬP CHỨNG cứ, ĐÁNH GIÁ CHỦNG
NHÂN DÂN ? 7
1.1.1 Khái niệm kỳ năng thu thập chứng cứ của Tòa án Nhân dân 7
1.1.2 Khái niệm kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án Nhân dân 10
1.2 YÊU CẦU CỦA KỸ NĂNG THU THẬP CHỨNG cứ, ĐÁNH GIÁ
TÒA ÁN NHÂN DÂN 12
1.3 KỸ NĂNG CHUNG VỀ THU THẬP CHÚNG CỨ, ĐÁNH GIÁ CHỦNG
NHÂN DÂN ? 14
1.3.1 Kỹ năng vê thu thập chứng cứ của Tòa án Nhân dân 14
1.3.2 Kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án Nhân dân 29
1.4 KỸ NĂNG THU THẬP CHÚNG CỨ, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG
1.4.1 Kỹ năng thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyêt
các quan hệ dân sự 35
1.4.2 Kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết các quan
hệ hôn nhân và gia đình 38
1.4.3 Kỳ năng thu thập, đánh giá chứng cứ trong quá trình giãi quyết các quan
hệ kinh doanh, thương mại 39
1.4.4 Kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ trong quá trình giãi quyết các quan
hệ lao động 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2: THựC TIỄN THựC HIỆN KỸ NĂNG THU THẬP CHỨNG
CỨ, ĐÁNH GIÁ CHỨNG cứ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT vụ VIỆC DÂN Sự TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VA MQT
SỐ KIẾN NGHỊ 42
2.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN KỲ NĂNG THU THẬP CHỬNG CỨ, ĐÁNHGIÁ CHÚNG CỦ’ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VVDS TẠI TANDTHÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 422.1.1 Thành tựu đạt được
Trang 62.1.2 Những hạn chế, bất cập 46
/XXX K /X X /X 2.2 MỘT SÔ KIÊN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VẼ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỬNG cử VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA KỸ NĂNG THU THẬP VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG cứ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 64
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu thập và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án 64
2.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng 68
KẾT LUẬN CHUÔNG 2 72
KẾT LUẬN CHUNG 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Đe phù hợp và cụ thể hóa Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
2014, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) số 92/2015/QH13 được thông qua tại
kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII bao gồm 42 Chương, 517 Điều có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 01/7/2016 với nhiều chế định sửa đổi, bổ sung mới so vớiquy định của BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011), là cơ sở pháp lý để Tòa án
áp dụng khi giải quyết các tranh chấp phát sinh theo các giai đoạn tố tụng Một
trong những sửa đổi, bổ sung mới tại bộ luật này liên quan đến hoạt động thu
thập chứng cứ (TTCC) của Tòa án BLTTDS 2015 đã khắc phục được một số
tồn tại, hạn chế của BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) về TTCC của Tòa
án, phù hợp hơn với thực tế áp dụng, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân Tuy nhiên, một số quy định của bộ luật này về TTCC của Tòa án vẫn còn thiếu thống nhất, chưa cụ thể rõ ràng dẫn tới những khó khăn, vướng mắc nhất định trong thực tiễn áp dụng
Trong tố tụng dân sự, hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ có vai tròquan trọng, đây là một trong những hoạt động trọng tâm cùa tố tụng dân sự Bởi
lẽ, tất cã các hoạt động tố tụng dân sự xét cho cùng đều phải đi đến kết luận về giá trị chứng minh của chứng cứ, trên cở sở đó mới có thể kết luận về vụ việc
dân sự Việc nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự của tòa án và những người tiến hành tố tụng dân sự nói
chung trong điều kiện hiệu nay có ý nghĩa thiết thực Hiêu quả của các hoạt động này góp phần tăng cường pháp chế, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ
việc dân sự
Thành phố Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cà
nước Trong xu thế hội nhập, phát triển, các quan hệ dân sự ngày càng diễn ra đadạng và phức tạp dẫn đến số lượng vụ việc dân sự với tính chất phức tạp ngày
càng gia tăng Trước thách thức đó, chất lượng giải quyết các vụ việc dân sự phụ
thuộc phần lớn vào hoạt động thu thập và đánh giá chửng cứ cúa Tòa án Việc
1
Trang 8thu thập và đánh giá chứng cứ có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc phân lớn
vào năng lực thu thập, đánh giá chứng cứ của Tòa án Nhằm nâng cao kỳ năngthu thập và đánh giá chứ cứ của Tòa án nói riêng và nâng cao chất lượng giải
quyết các vụ việc dân sự tại Thành phố Hải Phòng nói chung, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “Kỹ năng thu thập chứng cứ, đảnh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết VVDS tại TAND thành phố Hải Phòng’ ’ để nghiên cứu trong công
trình luận văn• •thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đê tài
Hiện nay, rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kỳ năng thu thập
và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự mà chủ yếu tập trung nghiên cứu
cung cấp và đánh giá chứng cứ dưới giác độ hoạt động tố tụng dân sự Có thể kể đến một số các công trình như sau:
- về giáo trình, sách chuyên khảo: Liên quan đến đề tài nghiên cứu có
cuốn giáo trình “Kỹ năng của thẩm phán, kiêm sát viên, luật sư trong giải quyết
vụ, việc dân sự” tập 1 và 2 của NXB Tư pháp và cuốn “ Phươngpháp, kỹ năng nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự và 26 án lệ của Hội đồng Thấm phán Đây là hai công trình có liên hệ chặt chẽ đến đề tài của tác giả Tuy nhiên, các cuốn sách này chỉ nghiên cứu sơ lược về một vài kĩ năng như kĩnăng đánh giá và nghiên cứu chứng cứ chứ không nghiên cứu chuyên sâu về hai đối tượng trong đề tài này Ngoài ra, các công trình này cũng không đi sâu xây
dựng hệ thống lý luận và chỉ ra các bất cập trong áp dụng pháp luật khi thực
hiện hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ
- về các đề tài khoa học: đề tài “Thu thập và đánh giá chứng cứ trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự thực trạng và giải pháp” , đề tài cấp cơ sở của Viện
khoa học xét xử của Tòa án nhân dân Tối cao, năm 2002; “Một số vẩn đề lý luận
về chứng minh trong tố tụng dân sự” , đề tài cấp cơ sở của Trường Đại học Luật
Hà Nội, năm 2012
- về luận văn, luận án: luận án tiến sỳ của Nguyễn Minh Hằng “Chế định
chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà
2
Trang 9Nội, năm 2007; luận văn thạc sỳ của Nguyễn Thị Liên “ Hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện thành pho Hải Phòng ” bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014;
luận văn thạc sỹ của Nguyễn Kim Lượng “ Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tổ tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm” bảo vệ tại Khoa Luật
trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015; luận văn thạc sỹ của NguyễnXuân Hà “Thu thập chứng cứ và thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La” bảo
vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2018; luận văn thạc sỳ của Nguyền ThịHằng “ Thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự từ thực tiễn tại các Tòa án trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2018
- về các bài báo khoa học: : “Vai trò của Thâm phán trong thu thập
chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự ” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh
(Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp); bài viết “ Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh (Tạp chí Luật học - số đặc san góp
ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, tháng 4/2004); bài viết “Bàn về điều 92 Bộ luật
tố tụng dân sự về định giá tài sản” của tác giả Phan Thanh Tùng (Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 20/2012)
Từ những sưu tầm trên có thể thấy, rất ít các công trình nghiên cứu tập
trung vào kĩ năng thu thập và đánh giá chứng chứ mà chủ yếu tập trung vào hoạt
động thu thập và đánh giá chứng Không có công trình nào nghiên cứu chuyên
biệt về cả lý luận và thực tiễn liên quan đến kĩ năng thu thập và nghiên cứu chứng cứ Vì vậy, đề tài này mặc dù có sự kế thừa nhưng không trùng lặp vớicác công trình đã công bố trước đây
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đổi tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về kỹ năng thu thập và kỳ năng đánh giá chứng cứ cũa Tòa án trong TTDS; kỳ năng thu thập và nghiên
cứu chứng cứ trong các vụ việc dân dân nói chung và các vụ việc dân sự đặc
thù; thực tiễn thực hiện kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ tại các Tòa án
3
Trang 10Nhân dân Thành phô Hải vòng; các kiên nghị nhăm nâng cap kĩ năng thu thập
và đánh giá chứng cứ
Trong luận văn này, những nội dung cơ bản được nghiên cứu như sau:
- Luận văn tập trung nghiên cứu về kỹ năng thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự
- Luận vãn chỉ tập trung nghiên cứu kỳ năng thu thập và đánh của Tòa án,
không nghiên cứu hoạt động hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ của các
chủ thể khác như đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, Viện kiếm sát hay Thẩm tra viên
- Luận vãn chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn thực hiện kỹ năng thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết VVDS tại TAND thànhphố Hải Phòng, không nghiên cứu trên địa bàn khác
4 Mục• đích và nhiệm vụ • • nghiên cứu đề tài
Mục đích cùa việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về kỳ
năng thu thập và đánh giá của Tòa án như khái niệm, yêu cầu của kĩ năng; phân
tích được kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ cần có khi tiến hành giải quyếtcác vụ việc dân sự; phân tích được những kết quả đạt được, khó khăn, bất cập
trong thực tiễn thực hiện kĩ năng thu thập và đánh giá chứng cứ của Tòa án tại
các Tòa án Nhân dân thành phố Hài phòng từ đó đưa ra các kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả của kỳ năng thu thập, đánh giá chứng cứ
Nhiệm vụ cần làm để đạt được mục đích trên gồm:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kỹ năng thu thập,
nghiên cứu của Tòa án trong TTDS như khái niệm; yêu cầu của kỹ năng thu
thập, đánh giá chứng cứ
- Phân tích các kĩ năng mà Thẩm phán càn có khi thực hiện thu thập, đánh
giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
- Đánh giá thực tiễn thực hiện kỳ năng thu thập và đánh giá chứng cứ cũa
Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng
4
Trang 11- Đê xuât một sô giải pháp nhăm nâng cao hiệu quả kĩ năng thu thập và đánh giá chứng cử hướng đến bảo đảm giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn,
khách quan, đúng pháp luật
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở phươngpháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chú nghĩa Mác - Lênin
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp diễn dịch, quy nạp, phân tích được sử dụng trong toàn bộ luận văn nhằm xây dựng các khái niệm, làm rõcác kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ mà Thẩm phán cần có khi giải quyết vụ
việc dân sự; làm rõ những kết quả đạt được và những bất cập trong thực tiễn
thực hiện kỳ năng cung cấp và đánh giá chứng cứ trên địa bàn Thành phố Hải
Phòng Phương pháp thống kê được sử dụng để thấy được kết quả thực hiện kỹ
năng thu thập và đánh giá chứng cứ của các Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng và những khó khăn vướng mắc còn tồn tại trong thực hiện kỹ năng thuthập và đánh giá chứng cứ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ciía luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên làm rõ khái niệm kỹ năng thuthập chứng cứ, kỳ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
- Luận văn là công trình nghiên cún đầu tiên nghiên cứu chỉ rõ những kết quả đạt được, những bất cập hạn chế trong việc thực hiện kĩ năng thu thập và
đánh giá chứng cứ của Tòa án tại các Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng.Đồng thời luận văn cũng làm rõ nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chếtrong thực hiện kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ
- Luận văn là công trinh nghiên cứu đầu tiên có định hướng kiến nghị đểnâng cao kĩ năng thu thập và đánh giá chứng cứ nhằm nâng cao chất lượng giải
quyết các vụ việc dân sự tại TAND thành phố Hải Phòng
7 Kêt câu cùa luận vãn
Luận văn gồm có 2 chương và 6 mục:
5
Trang 12Chương 1: Những vân đê chung vê kỹ năng thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án nhân dân
Chương 2: Thực tiễn thực hiện kỳ năng thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án nhân dân thành phố hải phòng và một số kiến nghị
6
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VÈ KỸ NĂNG THU THẬP CHỨNG CỨ, ĐÁNH GIÁ CHỬNG cứ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI
QUYẾT VỤ VIỆC DÂN sụ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1.1 Khái niệm kỹ năng thu thập chúng cứ của Tòa án Nhân dân
Để xây dựng khái niệm “kỳ năng thu thập chứng cứ của TAND” cần làm
rõ các khái niệm: “chứng cứ”; “thu thập chứng cứ” và “kỹ năng thu thập chứng cứ”
Thứ nhất) về khái niệm “chứng cứ ”.
Với vai trò là nền tảng cơ bản để giải quyết các VVDS, là yếu tố cốt lõicủa quá trình chứng minh, khái niệm chứng cứ luôn giữ một vị trí quan trọng trong quy định của pháp luật TTDS của từng quốc gia BLTTDS Nhật Bản quy
định “ Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhân và là một tư liệu, CO ’ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không'4 Khái niệm chứng cứ cũng được quy định tại Điều 55BLTTDS Liên bang Nga, đó là “Chứng cứ trong VVDS là những gì được thu
thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà Tòa ản căn cứ vào đó đế
xác định có hay không có các tĩnh tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hay sự phản
đổi yêu cầu của các bên cũng như các tình tiết khác có ý nghĩa đế giải quyết đủng đắn vụ việc"1 2 Tại Điều 401 Luật Chứng cứ liên bang Mỹ quy định:
“Chứng cứ là những gì hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào
mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hướng tới việc xác định một hành động hơn hoặc kém hơn" 3
1 Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu và đào tạo (1998), Luật TTDS Nhật Bản, tr 453 - 454.
2 Bộ luật TTDS Liên bang Nga 2002 (2005), Nxb Tư pháp, tr 79 - 80.
3 Christopher B Mueller, Laird c Kirkpatrick (1997), Federal rules Ò jevidence - With advisory Committee
Notes and legislative History (as amended through December 1, 1996),tr 7.
7
Trang 14Như vậy, có thê thây khái niệm chứng cứ trong hệ thông pháp luật TTDScủa Nhật Bản và Mỹ có điểm tương đồng, đó là chứng cứ là cơ sở, căn cứ để
Tòa án giải quyết vụ việc và khái niệm chứng cứ đã thể hiện tương đối đầy đủ
các thuộc tính cùa chứng cứ Khái niệm chứng cứ trong BLTTDS Liên bang
Nga có sự gần gũi và tương đồng với khái niệm chứng cứ trong Giáo trình LuậtTTDS Việt Nam Theo TS Nguyễn Công Bình: “Chứng cứ là cái có thật theo
một trình tự do luật định được Tòa án dùng làm căn cứ đê giải quyết WDS.
Quan điểm này cũng có nét tương đồng với khái niệm chứng cứ được ghi nhận trong từ điển giải thích thuật ngữ luật học đỏ là “Chứng cứ là những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật làm chứng, tài liệu tỏ rõ điều đó có thật nhấc4 5
4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 169.
5 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngừ luật học, tr 186.
6 Nguyễn Như Ỳ (1988), Đại Từ điển Tiếng Viẹt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr 1593.
7 Nguyền Như Ý (1988), Đại Từ điển Tiếng V/ẹí,Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr 186.
Theo quan điểm trên, có thể thấy rằng chứng cứ - “cái có thật” là những
tình tiết, sự kiện có thể được ghi lại trong trí nhớ của con người hoặc để lại dấu vết trên các tài liệu, đồ vật Các tình tiết, sự kiện này được thể hiện trong lời
trình bày của đương sự, người làm chứng là những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến sự kiện và xem xét các tài liệu, đồ vật có chứa đựng các tin tức, dấu vết liên quan đến sự kiện
Từ các phân tích trên, có thế định nghĩa chứng cứ trong TTDS như sau:
“Chứng cứ là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật được đương sự, cá nhân,
cơ quan, tô chức khác hoặc Tòa án thu thập theo một trình tự do pháp luật quy
định dùng làm căn cứ đê giải quyết vụ việc dân sự được công hằng, khách quan, đủng pháp luật".
Thứ hai, về khái niệm “ thu thập chứng cứ”.
Theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì: “Thu thập” được hiểu là:
“nhặt nhạnh, thu góp lại”6; “chứng cứ” được hiểu là: “những cái cụ thế như lờinói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó là có thật”7 Như vậy, dưới góc
độ ngôn ngữ học thuần túy, thu thập chứng cứ là: “thu góp những vật chứng, tài
liệu, những cái cụ thề như lời nói, việc làm nhằm làm sáng tỏ vụ việc đó là cóthật”
8
Trang 15Hiện nay, trong khoa học pháp lý, có nhiêu quan điêm vê khái niệm thu thập chứng cứ Theo giáo trình Luật Tố tụng Dân sự của trường Đại học Luật
Hà Nội: “ Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa
vào hồ sơ vụ việc dân sự đê nghiên cứu, đánh giá và sử dụng đê giải quyết vụ việc dân sự”8 9 10 Với khái niệm này, thu thập chứng cứ được tiếp cận từ bàn chất
và mục đích Theo lý giải này, khái niệm đang hướng đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Tuy nhiên, khái niệm không nêu rõ chủ thể nào có quyền
thu thập chứng cứ Theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Đại họcLuật Hà Nội, khái niệm thu thập được hiểu là “ hoạt động tố tụng do Tòa án tiến
hành nhằm tìm phát hiện, thu giữ, ghì nhận thêm những bằng chứng cần thiết
khác làm căn cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự” Khái niệm này đã làm rõchủ thể và phạm vi thu thập chứng cứ của Tòa án Tuy nhiên, trong diễn giải khái niệm trên xuất hiện thuật ngữ “bằng chứng” dẫn đến việc việc khó phân
biệt giữ thuật ngữ “chứng cứ” và “bằng chứng Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án,không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể khác như đương
sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự
8 Trường Dại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Tỏ tụng Dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Đe tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Một số vấn đề lý luận về chứng
cứ và chứng minh trong tô tụng dân sự, Hà Nội, tr.98.
10 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, tr.934.
Từ phân tích trên, có thể hiểu: Thu thập chứng cứ của Tòa án là việc Tòa
án phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự đế
nghiên cứu, đảnh giá và sử dụng đê giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật tổ tụng dân sự.
Thứ ba, về khái niệm “kỹ nàng thu thập chứng cứ ”
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “ Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế ” x{}. Ngoài ra, theo tác giả Vũ Dũng, kỹ năng
“là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được
chủ thê lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng ” Còn theo Thái Duy
9
Trang 16Tuyên, kỳ năng “là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động ” Mặc dù có
những nhận định khác nhau về mặt thuật ngữ, nhưng chung nhất, kỳ năng được hiểu là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cáchlựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được
mục đích đề ra Tùy vào từng lĩnh vực mà chủ thể có thẩm quyền từ khả năngcủa mình sẽ áp dụng những tri thức cũng như phương pháp khác nhau để có thể
đạt• được • •mục đích của hoạt động cụ• • • thể
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: “ Kỹ năng thu thập
chứng cứ của Tòa án là khả năng, năng lực vận dụng hiểu biết, kiến thức pháp
luật, kình nghiêm của thẩm phán hoặc hội đồng xét xử để tiến hành các biện
pháp pháp lý dựa theo quy định của pháp luật, qua đó tập họp các chứng cứ
liên quan đến vụ việc dân sự đã được Tòa án thụ lỷ đê xây dựng, hoàn thiện hồ
sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đảnh giả chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các đương
sự”
1.1.2 Khái niệm kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án Nhân dân
Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật là tiền đề để
đánh giá chứng cứ đúng đắn, khách quan và toàn diện Vì vậy, đánh giá chúng
cứ có vai trò rất quan trọng quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc
Để xây dựng khái niệm kỳ năng đánh giá chứng cứ cần làm rõ các khái
niệm: “đánh giá chứng cứ ” và “kỹ năng đảnh giá chứng cứ”.
Xét về logic, đánh giá chứng cứ là một dạng “thao tác tư duy” của nhữngngười tiến hành tố tụng dân sự có thẩm quyền nhằm làm rõ giá trị chứng minhcủa chứng cứ1112 Hiểu chung nhất, đánh giá chứng cứ là nhận định giá trị chứng minh của chứng cứ thông qua quá trình nghiên cứu, xem xét, đối chiếu, so sánhgiữa các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, xác định các chứng cứ có chứa đựng tình tiết khách quan, phản ánh đúng bản chất của sự việc Đánh giá
11 https://khoaluantotnghiep.com/khai-niem-ky-nang-la-gi/, ngày cập nhập: 15/08/217, ngày truy cập: ĩ 9/110/2020.
12 Nguyễn Ngọc Điệp (2019), “Phương pháp, kỹ năng nghiên cứu và đánh giá chứng cử trong TTDS và 26 án lệ của Hội đồng Thấm phán ”, NXB Hồng Đức, tr.34.
10
Trang 17chứng cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan
của vụ việc bởi nếu đánh giá chứng cứ không đầy đủ, chính xác thì không thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc
Xét về thuật ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt, đánh giá ‘7ừ nhận định về giá trị ” lĩ Hay theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, đánh giá chứng cứ “ là hoạt động chứng minh nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ, là hoạt động của tất cả những người tham gia vào quá trình tổ tụng, nhưng chủ yểu vần
là Tòa án Khái niệm này chỉ rõ, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự cóthế do chủ thể có nghĩa vụ chứng minh hoặc Tòa án thực hiện theo quy định củapháp luật Tuy nhiên, nhìn nhận một cách toàn diện, Tòa án là chủ thể có đầy đủ
khả năng và thẩm quyền nhất Trong công trình này, tác giă chỉ nghiên cứu hoạt động đánh giá chứng cứ của Tòa án
Từ các phân tích trên có thề định nghĩa: Đánh giá chứng cứ là hoạt động của người tiến hành to tụng dân sự trên cơ sỏ' những tài liệu, chứng cứ có được
và quy định của pháp luật đê xác định giá trị chứng minh của chứng cứ, được
thực hiện trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nhằm làm sáng tỏ sự
thật khách quan của vụ việc dân sự đê bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ việc dân sự.
Đánh giá chứng cứ là bước tiến hành tố tụng cuối cùng trong chứng minh
và chì có thế thực hiện được trên cơ sở những chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án
Khi đánh giá chứng cứ, buộc các chủ thể phải dựa trên các quy định của phápluật thì kết quả đánh giá chứng cứ mới đảm bảo tính hợp pháp và chính xác Do
đó, yêu cầu chủ thể có thẩm quyền cần có kỳ năng là hết sức cần thiết Trong
TTDS, kỳ năng đánh giá chứng cứ cùa Thấm phán hay thành viên Hội đồng xét
xừ là rất quan trọng bởi chỉ khi đánh giá chứng cứ chính xác, toàn diện, khách
quan, đúng với quy định của pháp luật thì kết luận về vụ việc mới chính xác
Trong quá trình đánh giá chứng cứ, chủ thể có thấm quyền sẽ vận dụng kiến
thức, hiểu biết cũng như trình độ chuyên môn cùa mình để đánh giá và tổng hợp
13 Từ điền Tiếng Việt (2009), NXB Đà Năng, tr.381
14 Trường Đại học I.Liật Hà Nội (1999), “Tư điển giãi thích thuật ngữ Luật học ”, NXB CAND, tr 188
11
Trang 18môi liên hệ giữa các chứng cứ với nhau đê tìm được sự thật khách quan của vụ
việc Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu về kỹ năng đánh giá là điều rất cần
thiết
Dựa vào những phân tích về khái niệm “kỳ năng” được trình bày ở mục
1.1.1 và khái niệm “đánh giá chứng cứ” có thể xây dựng khái niệm kỳ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án như sau: Kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án
là năng lực, khả năng vận dụng hiểu biết, kiến thức pháp luật, kinh nghiệm của Thâm phán hoặc hội đồng xét xử trên đê nhận định giá trị chứng minh của
chứng cứ sau khi đã nghiên cứu, xem xét, đối chiếu, so sánh giữa các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc
dân sự, báo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các đương sự.
GIÁ CHÚNG CÚ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYÉT vụ VIỆC DÂN
Đối tượng chứng minh trong vụ án dân sự rất phức tạp, đặc biệt đổi với vụ
án có nhiều đương sự, có nhiều loại yêu cầu, nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp
Sau khi đương sự cung cấp chứng cứ, nếu xét thấy chứng cứ chưa đủ để giải
quyết vụ án thì Thấm phán có quyền tiến hành các biện pháp thu thập chửng cứ trong khuôn khổ mà pháp luật quy định Khi chứng cứ của vụ việc dân sự đã đầy
đủ, để việc khai thác thông tin của chứng cứ được toàn diện, khách quan thì Thẩm
phán sẽ thực hiện hoạt động đánh giá chứng cứ Việc thu thập và đánh giá chứng
cứ là các hoạt động quan trọng của quá trình chúng minh Muốn hoạt động thu
thập và đánh giá chứng cứ được hiệu quả, khách quan, toàn diện và chính xác thì
Thẩm phán phải có kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ Kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ đòi hòi phải đáp ứng một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ của Tòa án phải khách quan
Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chồ chứng cứ phải có thật, tồntại ngoài ý muốn của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Trong
12
Trang 19quá trình tô, người tiên hành tô tụng (Tòa án) không thê tạo ra chứng theo ý chíchủ quan Tòa án phải tôn trọng sự thật khách quan, không thể tạo ra tài liệu
không phản ánh đúng tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Tòa án chỉ được sửdụng những chứng cứ với đầy đủ các thuộc tính bắt buộc là khách quan, liên
quan và hợp pháp Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy
đủ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới sử dụng được Tuyệt đối không sử dụng chứng cứ chưa qua nghiêncứu, kiểm tra, xác minh làm căn cứ, cơ sở để đưa ra những quyết định pháp lý,
hoặc sử dụng vào việc kiếm tra, đánh giá các chứng cứ khác Khi sử dụng chứng
cứ không được định kiến, chủ quan, thiên lệch, coi trọng chứng cứ này mà bỏ qua chứng cứ kia, chỉ coi trọng sử dụng chứng cứ gốc, chứng cứ trực tiếp mà bỏ qua, coi nhẹ chứng cứ sao chép, chứng cứ thuật lại, chửng cứ gián tiếp
Thứ hai, hoạt động thu thập, đánh giá chúng cú' phải chính xác, toàn diện và đầy đủ
Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả của giãi quyết vụ việc dân sự là
quá trình thu thập chứng cứ về nguyên tắc, chỉ có các chủ thế có quyền theo
luật định mới có quyền thu thập chứng cứ, việc thu thập chứng cứ phải được tiến
hành thu thập một cách toàn diện trong mối quan hệ với các chứng cứ khác Bên cạnh đó, đánh giá chứng cứ là nhận định giá trị chứng minh của chúng cứ, trên
cơ sở đó, Tòa án sử dụng chứng cứ đế giải quyết vụ việc dân sự Theo đó, việc
đánh giá chửng cứ phải được tiến hành một cách toàn diện đối với tất cả các loại chứng cứ Trong một vụ việc dân sự, chứng cứ được cung cấp, thu thập bởiđương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp và cả Tòa án
nên chứng cứ sẽ gồm nhiều loại và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Đe
đảm bảo tính toàn diện, Tòa án phải xem xét tất cả các khía cạnh của tất cả
chứng cứ Không chỉ vậy, Tòa án còn phải tiến hành so sánh, đối chiếu để tìm ra
mối liên hệ giữa các chứng cứ với nhau; đặt chứng cứ này trong sự liên hệ với
chứng cứ khác Chỉ khi đó mới có thế đánh giá trung thực, xác định được giá trị
của chứng cứ Ngoài ra, việc đánh giá chứng cứ phải được tiến hành vói tất cảcác chứng cứ và có sự tổng hợp đề làm rõ nội dung vụ việc Đồng thời, thông
13
Trang 20quá đó đê khăng định tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp và giá trị
của từng chứng cứ Ngược lại, việc Tòa án bõ qua bất kì chứng cứ nào hoặc xem xét không toàn diện sẽ dẫn đến việc không thể đánh giá đầy đủ, chính xác dẫn đến việc• • kết luận sai sự• thật• khách quan1 của vụ việc.• •
Thứ ba, hoạt động thu thập, đánh giá chúng cứ của Tòa án phải thực hiện đủng quy định của pháp luật
Một trong những thuộc tính quan trọng của chứng cứ là tính hợp pháp Có nghĩa là, những chứng cứ, thông tin thu được trên thực tế về vụ việc dân sự đang
giải quyết phải được Tòa án thu thập từ các nguồn hợp pháp và theo đúng trình
tự, thú tục luật định Tòa án giải quyết vụ việc dựa trên những chứng cứ mà đương sự giao nộp cũng như các chứng cứ mà Tòa án thu thập được Yêu cầunày được đặt ra dựa trên một trong những thuộc tính cơ bản của chứng cứ Pháp luật quy định việc thu thập chứng cứ của Tòa án phải theo một trình tự, thủ tục
nhất định nhàm bảo đảm giá trị của chứng cứ Ngoài ra, Tòa án không được kếtluận trước về giá trị chứng minh của chứng cứ cũng như không áp đặt ý chí chù
quan hay suy diễn, bóp méo sự việc trong đánh giá chứng cứ Đánh giá chứng
cứ có tính chất quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự vì vậy Tòa ánphải thận trọng, tỉ mỉ trong việc vận dụng những kiến thức, hiểu biết về từng
loại chứng cứ để đánh giá chứng cứ Chỉ khi Tòa án áp dụng đúng phương thức
cũng như đánh giá chính xác chứng cứ thì sự thật khách quan mới được xácđịnh Ngoài ra, muốn đánh giá chứng cứ một cách chính xác, Tòa án phải xem xét ý kiến đánh giá chứng cứ của các chủ thể khác để có thể phân tích, xem xét
kĩ lưỡng
CHÚNG CỨ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT vụ VIỆC DÂN sự TẠI
1.3.1 Kỹ năng về thu thập chứng cứ cúa Tòa án Nhân dân
1.3.1.1 Xác định các trường hợp Toà án thu thập chứng cứ
14
Trang 21Điêu 85 BLTTDS 2004 quy định trong trường hợp đương sự không thê tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một
hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung
2011) đã bỏ đi hai điều kiện để Tòa án có thể áp dụng các biện pháp TTCC là
“đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ” và “có yêu cầu Do vậy, theo
quy định này Thẩm phán có quyền chủ động sử dụng các biện pháp TTCC mà
không cần chờ đương sự yêu cầu hoặc không càn đến sự yêu cầu của đương sự
Từ sự thay đổi tích cực của BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011), Điều
97 BLTTDS 2015 cũng đã quy định theo hướng Thẩm phán được chủ động thu
thập chứng cứ trong các trường hợp do BLTTDS quy định nhằm đảm bảo việc
giải quyết VADS đúng đắn, chính xác Quyền xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án được quy định tại điều luật này thể hiện một cách tiếp cận mới đối vớiquyền hạn của Tòa án liên quan đến xác minh, thu thập chứng cứ Nếu như điều
luật chỉ quy định cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ thì quy định cho Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ
Trong pháp luật TTDS, đương sự là chủ thế có nghĩa vụ chứng minh Tòa
án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của người
yêu cầu Xuất phát từ điều kiện kinh tể - xã hội cụ thể của Việt Nam đó là trình
độ dân trí không đồng đều, sự hiếu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế, khả
năng nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích không dễ dàng nên khi phát sinh tranh
chấp, họ không biết phải cần chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình
cũng như tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu đe giao nộp cho Tòa án Chính vì vậy, nếu nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn phó thác cho đương sự thì khả năngquyền lợi của đương sự trong việc giải quyết vụ án dễ bị xâm phạm Do đó, Tòa
án phải hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ Đồng thời, việc hồ trợ của
15 Trần Anh Tuấn (Chủ biên, 2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb Tư pháp, tr.252.
15
Trang 22Tòa án trong việc thu thập chứng cứ của đương sự cũng nhăm phụ vụ cho việc
làm rõ cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý của bản án, quyết định của mình16
16 Nguyễnf Công Bình_ (Chủ biên, 2012), Đề tài nghiên cứu cấp trường: Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tô tụng dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.87.
Như vậy, Toà án có quyền thu thập chứng cứ trong các trường hợp sau:
- Đương sự không thể thu thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu Tòa
án thu thập
- Toà án tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ nếu xét thấy cần thiết
Trong các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 97, Điều 98, Điều
99, Điều 100, Điều 101, Điều 102, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106,
Điều 107 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án sẽ có quyền chủ động thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ Cụ thể, Tòa án được thu thập chứng cứ trong các
trường họp”
- Lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng; lấy lời khai của người làm chứng theo yêu cầucủa đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết
- Đối chất giữa các đơng sự với nhau theo yêu cầu của đương sự hoặc xét
thấy có mâu thuần trong lời khai của đương sự, người làm chứng;
- Xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy
- Úy tác thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu, chứng cử cần thiết;
16
Trang 23- Yêu câu cơ quan, tô chức, cá nhân cung câp tài liệu đọc được, nghe
được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự
- Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú
1.3.1.2 Kỹ năng tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ của Toà án
Khi thực hiện các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ, Thẩm phán
phải nắm vững các thuộc tính của chứng cứ, đồng thời xác định chính xác yêu
cầu của đương sự (yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị
đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, những vấn đề cần phải chứng minh,các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án và các chứng cứ đang được lưu
giữ ở đâu, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, quy phạm pháp luật nội dung, từ
đó áp dụng các biện pháp phù hợp để thu thập chứng cứ Dù áp dụng biện pháp
thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình thấy cần thiết áp
dụng thì Thẩm phán cũng đều phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật
Thẩm phán chỉ áp dụng những biện pháp mà pháp luật quy định, không tự mình
áp dụng những biện pháp mà pháp luật không quy định
Thứ nhất, kĩ năng lấy lời khai của đương sự
Các đương sự là người có quyền lợi trực tiếp trong việc giải quyết các vụ
việc dân sự Họ là người trực tiếp liên quan đến các tình tiết trong vụ án và cũng
là người biết rõ các tình tiết, sự kiện trong vụ việc dân sự Vì vậy, việc lấy lờikhai của các đương sự có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm sáng tỏ
nội dung vụ án, yêu cầu của các đương sự và là cơ sở để xác định được đường lối giải quyết vụ án về nguyên tắc, lời khai của đương sự do đương sự tự cung
cấp, tự viết và ký tên Khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung cùa bản
khai chưa đầy đủ, Thẩm phán yêu cầu đương sự phải tự viết bản khai hoặc bán
khai bổ sung và ký tên của mình Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ hướng dẫn cho đương sự viết bản tự khai, quy định này nhằm cungcấp chứng cứ một cách khách quan, chính xác và giảm bớt một phần công việc cho Tòa án Chỉ trong trường hợp đương sự không thể tự viết được, thì Thẩmphán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản
17
Trang 24Việc lây lời khai của đương sự phải do Thâm phán tiên hành Thư ký Toà
án chỉ có thể giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương sự vào biên bản Quy địnhnày là hòn toàn phù hợp, bởi đây là một hoạt động tố tụng và phải ra những
quyết định gắn với chức danh tư pháp Tuy nhiên trên thực tế khối lượng công
việc của Thẩm phán rất lớn nên vì lý do công tác hoặc trở ngại khách quan, thì
Thẩm phán có thể giao cho Thư ký Tòa án tiến hành lấy lời khai nếu đương sự
đồng ý Biên bản ghi lời khai phải có xác nhận của Thẩm phán Để việc lấy lờikhai của các đương sự phục vụ tốt cho quá trình giải quyết các vụ án, Thấmphán phải nắm chắc các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án, các quy địnhcủa pháp luật nội dung cần áp dụng giải quyết vụ án
Kỹ năng lấy lời khai của đương sự phải được Thẩm phán đặc biệt chú ý đó
là chi tập chung vào các tình tiết có ý nghĩa cho việc làm sáng tỏ những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án, hoặc những vấn đề mà đương sự khai còn thiếu
và không rõ ràng Việc lấy lời khai của đương sự cần phải tránh tình trạng lấy lời
khai một cách qua loa, hời hợt và bỏ lửng không đi đến tận cùng của vấn đề cầngiải quyết trong vụ án Thái độ lấy lời khai của thấm phán phải nhẹ nhàng, tránh gay gắt, dồn nén dễ gây tâm lý bức xúc cho đương sự Lời khai của đương sựphải tập trung làm rõ nội dung cơ bản của vụ án, yêu cầu của các bên đương sự,các căn cứ pháp lý và chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của các đương sự
về địa điểm lấy lời khai, Thẩm phán phải tiến hành lấy khai của đương sự
tại trụ sở Tòa án Trong những trường hợp vì lý do khách quan, chính đáng nhưđương sự đang bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, ốm đau, bệnh tật v.v Tòa
án không thể lấy lời khai của đương sự tại trụ sở thì Thẩm phán có thể lấy lời
khai của đương sự ngoài trụ sở Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa
án phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật, quy định đối với cán bộ công
chức của ngành Tòa án nhân dân và bảo đảm khách quan Ví dụ: lấy lời khai
của đương sự bị ốm đau nhưng không đi điều trị tại cơ sở y tế phải được thựchiện tại nơi họ đang điều trị và nếu xét thấy cần thiết thì mời người chứng kiến
Đối với đương sự quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 BLTTDS năm
2015, tức là đương sự chưa đú 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự,
18
Trang 25đương sự từ đủ 6 tuôi đên chưa đủ 15 tuôi thì việc bảo vệ quyên và lợi ích hợppháp của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực
hiện Trong trường hợp lấy lời khai của họ thì phải có mặt người đại diện hợppháp của họ và người đại diện hợp pháp của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xácnhận vào biên bản lấy lời khai
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Phương pháp, địa điểm lấy lời khai người làm chứng được thực hiện như việc lấy lời khai của đương sự Việc lấylời khai của người làm chứng chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luậthoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó ( Điều 99 BLTTDS)
Khi ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán tự mình hoặc thư
ký ghi biên bản phải thể hiện rõ ngày, giờ, tháng, năm ghi biên bản, địa điểm lấy
lời khai, người tiến hành lấy lời khai, họ tên, tuổi, địa chỉ nghề nghiệp của người
được lấy lời khai khai, nội dung khai Biên bản phải phải ghi đầy đủ chính xácnội dung khai báo Nếu là những lời khai quan trọng phải ghi đúng cả lời văn
của người khai
Khi người khai có thái độ đáng chú ý trong quá trình lấy lời khai cũng cầnphản ánh vào biên bản ( ví dụ thái độ ngập ngừng, luống cuống, khóc.v.v )
Mồi chữ mồi câu thêm vào hoặc bỏ đi trong biên bản phải được cả người lấy lờikhai và người khai xác nhận Những dòng trống phải gạch đi Các biên bản lấy
lời khai được người khai tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe Đương sự có quyền
yêu cầu ghi những sửa đổi, bố sung vào biên bản ghi lời khai Chữ viết trongbiên bản phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt
Người khai ký vào biên bản xác nhận Neu người khai không biết chữ thì cho điềm chỉ xác nhận Nếu người khai không ký thì yêu cầu họ phải ghi rõ lý
do vì sao không ký Nếu đã giải thích họ vẫn không ký, không ghi lý do vì saokhông ký thì Thẩm phán yêu cầu mời người làm chứng đến xác nhận sự việc và
ký tên vào biên bản Trường hợp biên bàn lấy lời khai của đương sự được lập
19
Trang 26ngoài trụ sở của Tòa án thì có người làm chứng hoặc xác nhận của ủy ban nhân
dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của
Tòa án
Thứ hai, kĩ năng lấy lời khai người làm chứng
Người làm chứng là người được đương sự mời đến hoặc do cơ quan
tiến hành tố tụng triệu tập đến để khai báo những tình tiết có liên quan đến vụ án
mà họ được biết, người làm chứng là người không có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án Lời khai của người làm chứng chứa đựng nhiều chứng cứ vềnhững tình tiết cần chứng minh nhằm giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của
vụ án Tuy vậy, lời khai của người làm chứng cũng có thể bị sai lệch và không phù hợp với sự thật khách quan như trong trường hợp người làm chứng bị mua
chuộc, dụ dồ, đe dọa, người làm chứng cố tình khai báo sai sự thật, người làm chứng không nhớ kỳ đúng sự việc đã chứng kiến Trong các trường hợp đó lời
khai của nhân chứng không mang tính khách quan Các lời khai của nhân chứng lúc đó phải được đánh giá đồng thời với các chứng cứ khác của vụ án
Đối với trường hợp Thẩm phán lấy lời khai cùa người làm chứng theo yêu cầu của đương sự thì trước khi áp dụng biện pháp này, Thẩm phán phải xem xét
đũ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự Khi đã thấy
đủ rồi, Thẩm phán mới làm giấy triệu tập gửi cho người làm chửng Trong giấy triệu tập phải ghi rõ lý do triệu tập (để làm chứng trong vụ án ), thời gian, địa
điểm làm việc theo mẫu giấy triệu tập chung của Tòa án Giấy triệu tập phải được tống đạt hợp lệ tới người làm chứng Khi xét thấy cần thiết tuy đương sựkhông có yêu cầu, Thẩm phán có thế tiến hành lấy lời khai của người làmchứng Được coi là “cần thiết” nếu việc lấy lời khai của người làm chứng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được toàn diện, chính xác, công minh,
đúng pháp luật
về căn bản phương pháp lấy lời khai của người làm chứng và cách ghi
biên bản lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện giống như đối với
phương pháp lấy lời khai của đương sự và cách ghi biên bản lấy lời khai của
20
Trang 27đương sự Ngoài ra có một sô điêm chú ý thêm ghi biên băn: Nêu người làm
chứng là thân thích, gần gũi với đương sự như cha, mẹ, vợ, con, anh chị em
hoặc bạn bè thân thích thì trong biên bản cũng phải ghi rõ quan hệ đó Trongbiên bản ghi lời khai của người làm chứng phải có thêm các nội dung: Cam đoan
đã được Tòa án giải thích rõ về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng; Cam
đoan khai báo trung thực trước Tòa án; Cam đoan xin chịu hoàn toàn tráchnhiệm trước pháp luật về lời khai của mình
Lấy lời khai người làm chứng giúp Tòa án có thêm những chứng cứ sinhđộng, thực tế Vì vậy, đối với các vụ việc dân sự, khi lấy lời khai cùa người làm
chứng thì Thẩm phán cần tập trung vào những người làm chứng cần thiết đối vớiviệc giải quyết vụ việc dấn sự, xem xét mối quan hệ của người làm chứng đối
với các đương sự
Thứ ba, kỹ năng tiến hành biện pháp đổi chất.
Khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thấm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng, hoặc giữa những người
làm chứng với nhau theo thứ tự hợp lý Đối chất trong tố tụng dân sự là việc Tòa
án tạo điều kiện cho các đương sự, người làm chứng cùng gặp mặt trao đổi, đốichiếu, so sánh hoặc chất vấn nhau về cùng một nội dung của vụ việc dân sự cầngiải quyết, nhằm tim ra sự thật khách quan cùa vấn đề cần giải quyết 17 Như
vậy, mục đích của việc đối chất là nhàm tìm ra sự thật khách quan của vụ án nên
trong trường hợp Thẩm phán thấy có sự mâu thuần giữa lời khai của các đương
sự, người làm chứng và theo yêu cầu của đương sự thì Thấm phán tiến hành cho
đối chất giữa các đương sự với nhau và giữa các đương sự với người làm chứng,giữa người làm chứng với nhau Tùy từng trường hợp cụ thể mà tiến hành đốichất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề cần đối chất
theo thứ tự
17 Nguyễn Văn Thành (2013), Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong Tố tụng dân sự, Luận văn thạc
sĩ Luật học, tr.27
21
Trang 28Vê kỹ năng đôi chât thì Tòa án nói chung và Thâm phán nói riêng nên
thực hiện cho đối chất theo từng vấn đề có mâu thuẫn trong lời khai của các
đương sự hay giữa các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Trên thực tiễn, rất nhiềuđương sự, người làm chứng không hợp tác hoặc thông đồng với nhau để che đậy
sự thật khách quan, trốn tránh sự can thiệp pháp luật Do vậy, khi tiến hành đốichất, đòi hỏi Thẩm phán phải tập trung tiến hành khai thác thông tin để tiến hànhđối chất hiệu quả Đe từ đó, giải quyết mâu thuẫn và tìm sự thật khách quan Trước khi tiến hành buổi đối chất Thẩm phán cần lên kế hoạch cụ thể Thẩm
phán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất Biên bản phải có chữ ký
của những người tham gia đối chất Thẩm phán tiến hành đối chất, thư ký ghibiên bản đối chất và đóng dấu của Tòa án
Thứ tư, kĩ năng tiến hành trưng cầu giảm định
Trung cầu giám định là việc Tòa án ra quyết định yêu cầu tổ chức hoặc
người có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm cần thiết về lĩnh vực có đối tượng
cần giám định đưa ra kết luận khoahọc về tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự18
18 Bùi Thị Huyền (chủ biên), Bình luận khoa học BLTTTDS năm 2015, tr 165
Trong trường hợp việc đánh giá chứng cứ cần phải sử dụng các kiến thức
chuyên môn như xác định chữ viết, chữ ký, vân tay của một người nào đó nay
cần xác định nguyên nhân gây thiệt hại trong xây dựng, xác định ADN.V.V và
có yêu cầu của đương sự về việc trưng cầu giám đình, Tòa án cần phải trưng cầu
giám định khoa học Hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có chứng cứ bị
tố cáo là giả mạo thì điều đó có nghĩa là chứng cứ đó đang bị nghi ngờ về tính
xác thực Muốn khẳng định chắc chan thì phải giám định chứng cứ mới xác định
được chứng cứ giả mạo hay xác thực Bởi những thông tin chuyên môn mà bản
thân Thẩm phán cũng như đương sự không tự mình biết được Với ỷ nghĩa đó,
trưng cầu giám định đã phục vụ đắc lực việc việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác, khách quan và đúng pháp luật
Do vậy, theo yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy cần thiết Tòa án phải trưng cầu giám định đế có căn cứ giải quyết vụ án Thẩm phán căn cứ vào Điều
102 BLTTDS năm 2015, Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Nghị định số
22
Trang 2985/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiêt và biện phápthi hành Luật giám định tư pháp để ra quyết định trưng cầu giám định Quy địnhnày là cơ sở để Tòa án tiến hành trưng cầu giám định Kĩ năng trong trưng cầugiám định cùa Tòa án nhất là Thẩm phán được thực hiện dựa trên kinh nghiệm
làm việc, tư duy logic, khai thác sự mâu thuẫn trong chứng cứ Do đó, việc trưng cầu giám định đòi hỏi Thẩm phán phải sử dụng chứng cứ và đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, khách quan, trách nhiệm công việc cao Xuất phát từ tính
chất của các quan hệ dân sự, các bên có quyền quyết định và tự định đoạt trong quá trình giải quyết vụ việc, kể cả việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, BLTTDS
đã quy định cho phép đương sự đưa ra chứng cứ bị tố cáo là giả mạo được rút lại
chứng cứ đó nhằm đảm bảo cho việc giải quyết nhanh chóng vụ án mà không
cần phải giám định tránh gây lãng phí về thời gian và tiền bạc Neu đương sựkhông rút lại chứng cứ, đó thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầugiám định đối với chứng cứ đó để xác minh về tính hợp pháp của chứng cứ Trong trường họp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án sẽchuyển cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình
sự đối với người cung cấp đó, và người ra chứng cứ giả mạo có nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác
Thứ năm, kĩ năng tiến hành biện pháp định giá tài sản
Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án, hầu hết các vụ
việc đều có tranh chấp về tài sản Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ
chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp
kết quả thẩm định giá cho Tòa án Ngoài ra, pháp luật quy định Tòa án có thể
tiến hành định giá tài sản để xác định giá trị tài sản trong trường họp quy định tại Khoản 3 Điều 104 BLTTDS năm 2015
Trước khi tiến hành định giá Thẩm phán cần phải xem xét tài sản cần định giá là tài sản gì? Yêu cầu của đương sự lựa chọn tố chức thẩm định giá nào?
Nếu trong trường hợp đương sự không lựa chọn tổ chức thẩm định giá thì Tòa
án tiến hành thành lập hội đồng định giá và xem xét cơ quan chuyên môn nào
liên quan đến đến tài sản phải định giá Thẩm phán làm công văn yêu cầu cơ
23
Trang 30quan chuyên môn cử người tham gia hội đông định giá, trong công văn thê hiện
rõ tài sản cần định giá, thời gian tiến hành định giá Sau khi nhận được công
văn trả lời của cơ quan chuyên môn đáp ứng yêu cầu của Tòa án thì Thẩm phán
ra quyết định định giá tài sản Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan Hội đồng
định giá chỉ tiến hành định giá khi có đầy đu các thành viên của Hội đồng định
giá Đại diện UBND cấp xã nơi có tài sân định giá được mời chứng kiến việc
định giá, các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hànhđịnh giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá
BLTTDS năm 2015 đã khắc phục phần lớn những vấn đề tồn tại, chưahợp lý của bộ luật trước đó Tuy nhiên, vẫn còn một tồn tại một số vướng mắc
chưa giải quyết được là luật vẫn chưa giải quyết được như không quy định vềviệc việc ký và đóng dấu vào biên bản định giá: Tòa án, cơ quan tài chính, cơquan chuyên môn hay UBND, tổ chức, cơ quan nơi có tài sản định giá là cơ
quan đóng dấu biên bản định giá thì chưa quy định Điều này sẽ gây ra nhiều cách hiểu, cách áp dụng khác nhau cho Tòa án ở các địa phương
Thứ sáu, kĩ năng tiến hành biện pháp xem xét, thâm định tại chỗ.
Đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ thường được Tòa án
sử dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, những vụ án mà đối tượng
tranh chấp là bất động sản, vật không thể di chuyển hoặc trường họp Thẩm phán cần nắm vững hiện trường xảy ra sự việc tranh chấp nếu đương sự có yêu cầuxem xét, thẩm định tại chồ và Tòa án xét thấy cần thiết Để việc xét xứ được
đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự đòi hỏi Hội đồng xét xử phải sử dụng chứng cứ và đánh giá chứng
cứ một cách toàn diện, khách quan
Trong thực tiễn xét xử việc xem xét, thẩm định tại chỗ đổi với các vụ án
tranh chấp mà có đối tượng về bất động sản là nhà đất trong các vụ án tranh
chấp về dân sự, hôn nhân gia đình thì việc xem xét hiện trạng, đo đạc kích thước, mô tả, vẽ sơ đồ nhà đất là rất quan trọng Nhiều trường hợp khi đo đạc phát hiện có sự không thống nhất về số liệu thực tế diện tích thửa đất với hồ sơ
24
Trang 31kỳ thuật thửa đât và giây chứng nhận quyên SŨ' dụng đât Trong những truờng hợp như vậy đòi hỏi Thẩm phán phải áp dụng các kĩ nâng cần tiết được trang bị
để giải quyết như sau: liên hệ với cơ quan chuyên môn để làm rõ tại sao có sựmâu thuẫn về số liệu diện tích đất đó Diện tích đất có thể rộng hơn hoặc nhỏ
hơn so với diện tích đất trên thực tế thì do nguyên nhân nào? Diện tích đất rộnghơn có phải do có sự lấn chiếm đất hay không? Nếu có thì do ai lấn chiếm và lấn
chiếm thời gian nào?
Việc xem xét thẩm định tại chồ phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện theo quy định tại Khoản 2 Điều 101 BLTTDS Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Thẩm phán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
Thứ bảy, kỹ năng ủy thác thu thập chứng cứ.
Trong quá trình giải quyết các vụ kiện dân sự, có một thực tế phát sinh là
Tòa án đã thụ lý vụ kiện dân sự xét thấy cần phải thu thập thêm chứng cứ do
chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án nhưng việc thu thập chứng cứ gặp trở ngại
do phải được tiến hành ở địa phương khác hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam Để
giải quyết khó khăn này, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định cơ chế ủy thác thu
thập chứng cứ cho các Tòa án Theo đó, Tòa án đã thụ lý vụ án dân sự có thể ủy
thác cho Tòa án khác trong trường hợp cần thu thập chứng cứ ở địa phương
khác trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự của nước ngoài mà nước đó và Việt Nam đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc cùng Việt Nam
gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này đối với trường hợp cần thu
thập chứng cứ ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thực hiện việc thu thập chứng cứ, xácminh các tình tiết của vụ việc dân sự
Khi tiến hành việc ủy thác thu thập chứng cứ như ủy thác lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thấm định tại chồ, định giá tài sản hoặc ủy thác
các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân
sự, Thẩm phán phải ra quyết định ủy thác Để thuận lợi cho việc thực hiện ủy
25
Trang 32thác, trong nhiêu trường hợp Tòa án ra quyêt định ủy thác còn phải gửi kèm cábản sao một số tài liệu liên quan đến nội dung úy thác.
Để đảm bảo thời hạn tố tụng, trong quyết định ủy thác, Thẩm phán cần ẩn
định một thời hạn hợp lý để Tòa án được ủy thác thực hiện việc thu thập chúng
cứ Hiện nay, về cơ băn các Tòa án đã thực hiện nghiêm túc, với tinh thần trách
nhiệm trong công tác thu thập chứng cứ, tài liệu Tuy nhiên, việc pháp luật hiện
nay quy định “trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được ủy thác” Tòa án
nhận ủy thác mới phải trả lời ủy thác là hơi dài so với thời hạn chuẩn bị xét xử là
4 tháng đối với tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình, 2 tháng đối với tranh
chấp về kinh doanh, lao động thương mại Hoặc trong trường hợp, các đương sự
khác cố tình trì hoãn, không hợp tác Do vậy, dẫn tới bất cập là Tòa án giải
quyết vụ việc dân sự rất dễ vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nếu Tòa án, cánhân, cơ quan, tổ chức khác do cố tình hoặc tình huống bất trắc trong quá trình
thu thập chứng cứ, quá trình chuyển phát bưu điện
Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt
nam thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự của nước ngoài mà nước đó và
Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp hoặc cùng Việt Nam gia nhập điều
ước quốc tế có quy định vấn đề này Vì vậy, đối với biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ đòi hỏi Tòa án phải ấn định thời gian hợp lí và thực hiện các thủ tục
cần thiết để đảm bảo thuận lợi trong quá trình ủy thác thu thập chứng cứ
Thứ tám, kĩ năng tiến hành biện pháp yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.
Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức được coi là
một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Khác với hoạt động chứng
minh trong tố tụng hình sự - nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố
tụng, những người tham gia tố tụng khác có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh, trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Phạm vi hoạt động chứng minh của đương sự là chứng minh cho tính có căn cứ và hợp
26
Trang 33pháp trong yêu câu của mình, là cơ sở cho Tòa án xem xét châp nhận hay bác bỏ
yêu cầu đó Việc tồn tại quy định về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cánhân, cơ quan, tổ chức xuất phát từ sự cần thiết phải có một cơ sở pháp lý để
yêu cầu cung cấp chứng cứ của đương sự đối với chủ thể nằm giữ chứng cứ trở
nên có giá trị bắt buộc tương đối đối với cá nhân, cơ quan, tồ chức được yêu
cầu Để bảo đàm cho đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,
chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và Tòa án có đầy đủ chứng cứ để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ, việc dân sự, pháp luật tố
tụng dân sự đã có những quy định cơ bản về trách nhiệm của các cá nhân, cơquan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ “Đương sự có quyền yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ Khi cơ quan, tổ chức, cánhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, đương sự phải làm văn bản yêu cầu ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp; cung cấp họ, tên, địa chỉ còn cá nhân, tên, địa chi
của cơ quan, tổ chức đang quản lý, thu giữ tài liệu, chứng cử cần cung cấp”
Thực tiễn thi hành BLTTDS 2004 sửa đồi, bổ sung 2011 cho thấy, việc
các đương sự tự mình đi thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn, do không nhận được sự hợp tác của các cơ quan, tố chức nhân đang lưu giữ chứng cứ Nhiều
trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ chứng cứ không thực
hiện đúng thời hạn yêu cầu cung cấp hoặc không cung cấp chứng cứ khi nhận
được yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát nên làm ảnh hường tới thời hạn và chất lượng giải quyết vụ việc dân sự Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thực trạng trên là
do thiếu vắng các quy định và chế tài cụ thể để xử lý vi phạm và bảo đám thực
hiện Việc sửa đổi quy định nêu trên tại Điều 106 BLTTDS năm 2015 xuất phát
từ đòi hỏi của thực tiễn Quá trình thu thập chứng cử của các cơ quan tiến hành
tố tụng được thể hiện bằng các văn bản tố tụng, các văn băn này có giá trị bắtbuộc thi hành đối với một hoặc một số chủ thể xác định đo bản chất sự hoạtđộng của các cơ quan này là việc thực thi quyền lực nhà nước trong trách nhiệm
và quyền hạn luật định Ngược lại, đương sự và các chủ thể tham gia tố tụng
khác chỉ có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ tố tụng một cách hạn chế, phụ thuộc vào địa vị tố tụng của họ , do đó yêu cầu của các chủ thể này không mang
27
Trang 34tính băt buộc như văn bản tô tụng của các cơ quan tiên hành tô tụng Có thê nói
việc sửa đổi này là bước cơ bản và đầu tiên để xây đựng ý thức pháp luật của chủ thể nắm giữ tài liệu, chứng cứ nhưng không tham gia vào quá trình tố tụng
dân sự, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng các điều luật cụ thể về vai trò và
mức độ tham gia vào hoạt động chứng minh ở giai đoạn cung cấp chứng cứ ,
thực thi có hiệu quả trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cungcấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiếm sát
Thứ chín, kỹ năng xác minh sự có mặt hoặc vẳng mặt của đương sự tại nơi cư trú.
Biện pháp này được quy định tại điểm h, Khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm
2015 Đây là một điểm mới được ghi nhận trong BLTTDS năm 2015 so với
BLTTDS năm 2011 Tuy nhiên, pháp luật mới chỉ liệt kê biện pháp nay vào
danh mục các biện pháp thu thập chứng cứ chứ chưa quy định pháp luật hướng
dẫn cụ thề nào Nên theo quy định này, có thể hiểu trong trường hợp một bên
đương sự cố tình trốn tránh việc cấp, tống đạt các quyết định của Tòa án hoặc
trốn tránh liên hệ với cơ quan có thấm quyền mặc dù vần đang ở địa chỉ đó Ngoài ra, còn có trường họp không thể xác định được địa chỉ chồ ở mới mặc dù
vẫn còn đăng ký địa chỉ thường trú đó khiến cho đương sự hoặc Tòa án khôngxác định được sự có mặt hay vắng mặt của họ Do đó, bên đương sự còn lại có
quyền có thể yêu cầu Tòa án thực hiện việc xác minh theo thủ tục niêm yết đế
xét xử vắng mặt
Thực tế cho thấy, việc xác minh sự có mặt hay vắng mặt của đương sự ở nơi cú gặp nhiều khó khăn, bởi cần có sự hợp tác của Công an xã, phường, tốtrường tố dân phố khiến Tòa án lúng túng trong việc giải quyết vụ việc Do vậy,
đối với biện pháp này, kĩ năng càn thiết để thực hiện là Tòa án phải áp dụng
những kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn trong việc khai thác thông tin củađương sự Bởi hiện nay pháp luật vẫn còn bỏ ngỏ quy định trách nhiệm của các
cá nhân, cơ quan, tổ chức quản lý khác khi không hồ trợ Tòa án Do đó, pháp luật cần quy định thêm vấn đề này để đảm bảo vụ việc dân sự được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả BLTTDS năm 2015 còn quy định thêm các biện pháp
28
Trang 35khác theo quy định của Bộ luật này tại điêm i Khoản 2 Điêu 97 Quy định này
theo hướng mở nhằm mở rộng thêm các biện pháp khác để tạo thuận lợi cho các đương sự cũng như Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ
1.3.2 Kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án Nhân dân
1.3.2.1 Đặc điếm đánh giá chứng cứ trong các giai đoạn to tụng dân sự
Để có thể giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán phải nghiên cứu, xem xét,
và đánh giá hồ sơ, tài liệu của vụ việc dân sự Như vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ không chỉ diễn ra ở giai đoạn xét xử mà còn được tiến hành trong
nhiều giai đoạn của quá trình tố tụng Cụ thể:
Thứ nhất, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và hòa giải
Trong giai đoạn này, việc đánh giá chứng cứ do Thẩm phán được phâncông giải quyết vụ án tiến hành Trong đó, việc đánh giá chứng cứ chỉ được tiến
hành sơ bộ để làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án, hỗ trợ thêm cho hoạtđộng thu thập chứng cứ trong trường hợp các chứng cứ hiện có không đũ cơ sở
để giải quyết vụ việc dân sự Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 205BLTTDS thì hòa giải là hoạt động bắt buộc để các đương sự thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến
hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 BLTTDS hoặc vụ án
được giải quyết theo thủ tục rút gọn Theo đó, Thẩm phán tiến hành mở phiên
họp kiếm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Trongphiên họp này, Thẩm phán phải tiến hành hoạt động đánh giá chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án để hướng dẫn, giải thích cho các đương sự về vấn đề đang tranhchấp và đưa ra hướng giải quyết Ngoài ra, trong trường hợp hòa giải khôngthành thì việc đánh giá chứng cứ giúp Thấm phán nhận định thêm về giá trị
chứng minh của chứng cứ hiện có và có thể yêu cầu cung cấp thêm chứng cứ
hoặc thu thập chứng cứ hỗ trợ cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Như vậy, trong giai đoạn này, hoạt động đánh giá chứng cứ của Thẩmphán là những bước khởi đầu, hỗ trợ cho hoạt động yêu cầu cung cấp thêm hoặc
thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm đảm bảo đủ chứng cứ phục vụ cho quá trình
29
Trang 36giải quyêt vụ án dân sự Trong đó, ở giai đoạn hòa giải, việc đánh giá chứng cứ
nhằm bồ sung và hồ trợ cho việc hòa giải đạt kết quả
Thứ hai, đảnh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử
Trong giai đoạn này, việc đánh giá chứng cứ do thành viên hội đồng xét
xử tiến hành đó là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (ở Tòa án cấp sơ thẩm)
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án đánh giá chứng cứ độc lập trướckhi mở phiên tòa và trong khi nghị án Qúa trình xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm,
thành viên HĐXX vận dụng các kĩ năng để đánh giá tất cả chứng cứ được giao nộp, thu thập trong giai đoạn chuấn bị xét xử; hòa giải và chứng cứ được đưa ra tại phiên tòa Theo đó, thành viên HĐXX sẽ có sự nhận xét, đối chiếu, so sánh
giữa các chứng cứ với nhau nhằm loại trừ những chứng cứ không đúng với sựthật khách quan của vụ việc và xác định giá trị chứng minh của các chứng cứcòn lại Thông qua việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ, HĐXX sẽ nhận thức
được sự thật • • • khách quan của 1 vụ•••việc dân sự từ •đó đưa ra kết luận cuối cùng về
vụ việc Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá tất
cà chửng cứ có trong quá trình xét xử sơ thấm và cả những chứng cứ được thuthập thêm để giải quyết vụ việc dân sự Trong giai đoạn xét lại bản án, quyếtđịnh dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì
việc đánh giá chứng cứ cũng được tiến hành bởi các thành viên Hội đồng giám đốc thấm, tái thẩm Theo đó, các thành viên Hội đồng sẽ đánh giá các chứng cứdùng để giải quyết ở tòa án cấp sơ thẩm, chứng cứ dùng để giải quyết vụ việc ở Tòa án cấp phúc thẩm và các chứng cứ được thu thập, bồ sung thêm
I.3.2.2 Qua trình đánh giá chứng cứ
Đánh giá chứng cứ là quá trình tư duy logic của Thấm phán, thành viên
HĐXX; trong đó vừa có hoạt động nhìn nhận, xem xét vật chứng vừa đánh giá
các thông tin, đối chiếu với kinh nghiệm và quy định của pháp luật Do vậy,Thấm phán, thành viên HĐXX ngoài việc có kinh nghiệm trong quá trình đánh
giá chứng cứ còn phải có hiếu biết sâu sắc về pháp luật tổ tụng và pháp luật chuyên ngành Ngoài ra, quá trình đánh giá chứng cứ, Thẩm phán, thành viên
30
Trang 37HĐXX phải nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hô sơ theo trình
tự nhất định:
* Bước 1: Chuẩn bị đảnh giá chứng cứ.
Để có thể thực hiện hoạt động đánh giá chứng cứ, chủ thể có thấm quyềnphải thực hiện các hoạt động chuẩn bị cho việc đánh giá chứng cứ Hoạt động chuẩn bị bao gồm các công việc:
- Một là, tập hợp chứng cứ Hồ sơ vụ án sẽ bao gồm các tài liệu, chứng cứ
do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập theo các quy định của pháp luật
Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ việc sẽ trải qua nhiều giai đoạn theo đó các tài liệu, chứng cứ sẽ có sự thay đổi vì vậy việc tập hợp chứng cứ là việc làm quantrọng Chỉ khi chứng cứ được tập hợp đầy đủ và chính xác thì việc đánh giá
chứng cứ mới có thể thực hiện nhanh chóng, chính xác Trong khi thực hiện
công việc này, Thẩm phán hay thành viên HĐXX phải căn cứ vào hồ sơ, biên bản giao nhận chứng cứ để chắn chắc không bỏ xót bất kì chứng cứ nào liên
quan đến quá trình giải quyết vụ việc
- Hai là, phân loại chứng cứ Trong mỗi vụ việc, chứng cứ được phân
chia thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào nguồn chứng cứ, cách tạo thành chứng cứ, hình thức tội tại của chứng cứ, giá trị chứng minh của chứng cứ vì
vậy cần phân loại chứng cứ để việc đánh giá chứng cứ được tiến hành một cáchthuận tiện Từ việc phân loại chứng cứ, Tòa án có thế xác định được phạm vi chứng cứ, các tài liệu cần phải thu thập thêm đảm bảo giải quyết đúng vụ việc
dân sự Đồng thời khi tập hợp chứng cứ theo các nhóm, Tòa án sẽ dễ dàng trong
việc nhận thấy những điểm chung, sự liên kết với nhau giữa các chứng cứ
- Ba là, lựa chọn chứng cứ đê đánh giá theo thứ tự Vụ việc dân sự diễn ra
theo thời gian và trình tự nhất định vì vậy việc lựa chọn chứng cử nào đánh giá
trước chứng cứ nào đánh giá sau cũng rất quan trọng Việc đánh giá chứng cứtheo thứ tự đảm bảo sự logic và nhận diện cách thức diễn ra sự việc
* Bước 2: Phân tích, đánh giá giá trị chứng minh của chứng cứ:
Để có thể tiến hành đánh giá chứng cứ, Thẩm phán, thành viên HĐXXphải có sự phân tích các khía cạnh của chứng cứ Việc phân tích giá trị chứng
31
Trang 38minh của chứng cứ khi đánh giá chứng cứ sẽ nhăm mục đích xác định giá trị
chứng minh của chứng cứ vì vậy các vấn đề cần được làm rõ bao gồm:
+Chứng cứ có hợp pháp không? Neu không hợp pháp thì phải chứng minh
nó vi phạm quy định nào?
+Thông tin trong chứng cứ phản ánh những nội dung gì của tránh chấp và giá trị của chứng cứ?
+Chứng cứ còn những nội dung nào chưa rõ ràng? Vì sao chưa rõ?
+Chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự hay không?
+Sự mâu thuẫn giữa các chứng cử và mức độ mâu thuần như thế nào? Vìsao lại có sự mâu thuẫn đó?
Sau khi đã phân tích được các yếu tố trên thì Thẩm phán, thành viên
HĐXX sẽ tiến hành xem xét chứng cứ có giá trị chứng minh hay không và giá
trị chứng minh đến mức độ nào Hoặc đối với những chứng cử có sự mâu thuẫn
với nhau thì xác định vì sao có sự mâu thuẫn để đánh giá mức độ chứng minh của chứng cứ
* Bước 3: Kết luận về giá trị chứng minh của chứng cứ
Sau khi đã thực hiện các hoạt động phân tích, đánh giá chứng cử, Thấmphán, thành viên HĐXX phải đưa ra những kết luận về giá trị của chứng cứ và
sử dụng chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc Đồng thời việc kết luận về
giá trị chứng minh của chứng cứ sẽ giúp Thấm phán, thành viên HĐXX đưa ra hướng giải quyết phù hợp; đăm bảo đủ tài liệu, chứng cứ để xác định sự thậtkhách quan của cụ việc
1.3.2.3 Phương thức đánh giá chứ cứ
Theo đó, các Thẩm phán, thành viên HĐXX đánh giá chứng cứ phải đầy
đủ, khách quan, toàn diện và chính xác Mục đích của hoạt động đánh giá chứng
cứ là nhằm xác định giá trị của chứng cứ nên đánh giá chứng cứ là hoạt vô cùng
phức tạp Ngoài ra, khi đánh giá chứng cứ, Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ
và đánh giá tống hợp chứng cứ Đây được xem là hai phương thức được vận
dụng để đánh giá chứng cứ trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nhằm xác
32
Trang 39định sự thật khách quan Kỹ năng của mỗi Thẩm phán, thành viên HĐXX được thể hiện thông qua các phương thức đánh giá chứng cứ.
- Đánh giả từng chứng cứ: Đánh giá từng chứng cử là cách xem xét từng chứng cứ Đây là hoạt động tư duy logic của Thẩm phán, thành viên HĐXX
nhằm xác định mức độ tin cậy, giá trị chứng minh của từng chứng cứ trong vụ
việc Mỗi thông tin, tài liệu muốn được xem là chứng cứ trong VVDS đòi hỏipháp đáp ứng được ba thuộc tính đó là tính khách quan, tính liên quan và tính
hợp pháp Đánh giá từng chúng cứ thực chất là việc xác định các tài liệu có đảm bảo được ba yếu tố này hay không tựa như việc muốn ghép được bức tranh
về vụ việc dân sự, trước hết phải đảm bảo từng mảnh ghép phải phù hợp vớitổng thể của bức tranh Việc đánh giá toàn diện, khách quan ba yếu tố của chứng
cứ nhằm xác định nó có phù hợp với thực tế khách quan hay không, chứng cứ có giá trị chứng minh và giá trị chứng minh đến đâu là việc làm vô cùng phức tạp
nhưng đây là hoạt động bắt buộc để có thể xác định được các chứng cứ có thể sử
dụng đề giải quyết vụ việc dân sự Vì vậy, để có thể đánh giá đúng chứng cứ,Thẩm phán, thành viên HĐXX phải xem xét:
-Tình tiết, sự kiện sẽ dùng làm căn cứ đề chứng minh có phù họp với quy
luật khách quan của sự vật không?
-Sự kiện, tình tiết đó được hình thành và tồn tại trong điều kiện nào?Những gì có thế tác động tới quá trình hình thành và phát triển của nó?
-Mối quan hệ nhân quả giữa tình tiết, sự kiện dùng để chứng minh đó vớiđối tượng chứng minh của vụ việc dân sự
-Những sự kiện, tình tiết có giúp làm rõ yếu tố nào của đối tượng chứng
minh? Mức độ cụ thể?
-Những sự kiện, tình tiết đó có được rút ra từ những nguồn do pháp luật
quy định hay không; quá trình thu thập, nghiên cứu, sử dụng có đúng với quy
định pháp luật không?
Từ đó, Thẩm phán, thành viên HĐXX có thể nhận định tài liệu, tình tiết
nào là chứng cứ và có thể dùng để giải quyết vụ việc dân sự; còn lại có thể loại
bỏ để tránh việc đánh giá sai sự thật khách quan của vụ việc Đánh giá từng
33
Trang 40chứng cứ là việc làm quan trọng của Thâm phán, thành viên HĐXX đê bào đảm
chứng cứ có đầy đũ các thuộc tính, xác định được nguồn gốc, nội dung, hìnhthức, thời gian xuất hiện chứng cứ Trong quá trình này đòi hỏi Thẩm phán, thành viên HĐXX phải nắm rõ các thuộc tính của từng loại chứng cứ, nhóm
chứng cứ để có thể đánh giá chứng cứ phù hợp với sự thật khách quan của nó
- Đánh giá tổng hợp chứng cứ: Đánh giá tổng hợp chứng cứ thực chất làhoạt động nhận thức của Thẩm phán, thành viên HĐXX đối với các chứng cứ
trong mối liên quan chặt chẽ với nhau đề xác định giá trị chứng minh của chúng
và kết luận về nội dung vụ việc Sau hoạt động đánh giá từng chứng cứ có trong
hồ sơ, Thẩm phán, thành viên HĐXX phải tiến hành xem xét, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác Đây là một hoạt động phức tạp đòi hòi chủ thể thực hiện
phải có đủ khả năng tổng hợp cũng như vận dụng các quy định của pháp luậtchuyên ngành vào quá trình đánh giá chứng cứ Trong hồ sơ vụ án có nhiều chứng cứ sẽ có sự mâu thuẫn, trái ngược nhau vì vậy việc đánh giá chứng cứphải toàn diện, khách quan không được nghiêng về bất kì cứ chứng nào cũng
như không được đưa ra khẳng định nào về chứng cứ trước khi đánh giá chứng
cứ Khi đánh giá tổng hợp chứng cứ, Thấm phán, thành viên HĐXX phải:
-Xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ
-Xác định tính đầy đủ của các chứng cứ có trong vụ việc dân sự
Để đánh giá tổng hợp chứng cứ, các chù thể thực hiện quá trình này buộcphải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã được đánh giá, kiến thức về các chứng cứ,
pháp luật chuyên ngành cũng như các yêu cầu trong kỹ năng đánh giá chứng cứ
của Tòa án Bên cạnh đó, trong quá trình đánh giá chứng cứ phải xem xét toàn
diện tất cả các mặt cùa chứng cứ đế tránh việc đánh giá chứng cứ phiến diện
Trên cơ sở của những vấn đề đã được làm rõ, các chủ thể chứng minh có thể
thực hiện được mục đích cuối cùng cua quá trình chứng minh là làm rỗ được
bản chất của vụ việc dân sự, rút ra kết luận phù hợp về vụ việc đó
34