Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tố chức hoặc các• • • • • • JL • chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thấm quyền bảo vệ q
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do chính tôi thực hiện
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu được tôi sử dụng
để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bào chính xác, trung thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học
Tác giả
Ngô Thị Thuỳ Linh
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
2 Tỉnh hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài 4
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Cơ cấu của luận văn 6
Chương 1 7
NHŨNG VÁN ĐỀ LÝ LUÂN VỀ KHỚI KIÊN vu ÁN DÂN su’ TRONG PHÁP LUẬT TÓ tụng dân sụ việt nam 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự trong tố tụng dân sự 7
1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự 7• • • •
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của khởi kiện vụ án dân sự 12
1.1.3 Ý nghĩa của khởi kiện trong tố tụng dân sự 13
1.2 Cơ sở pháp luật Việt Nam quy định về khởi kiện vụ án dân sự 14
1.2.1 Khởi kiện vụ án dân sự được xây dựng trên cơ sở quyền con người 14 1.2.2 Khởi kiện vụ án dân sự được xây dựng trên cơ sở đường lối của Đảng về
Trang 4hoạt động tư pháp 15
1.2.3 Khởi kiện vụ án dân sự được xây dựng dựa trên mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng dân sự 17
1.2.4 Khởi kiện vụ án dân sự được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bán trong tố tụng dân sự 18
1.2.5 Khởi kiện vụ án dân sự được xây dựng dựa trên vị trí, vai trò của từng đương sự 19
1.3 Lược sử các quy định về khởi kiện vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 21
1.3.1 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 21
1.3.2 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1959 23
1.3.3 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1989 23
1.3.4 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 1989 đến năm 2004 25
1.3.5 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 2005 đến năm 2015 26
1.3.6 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 2015 đến nay 27
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện khởi kiện vụ án dân sự 28
Kết luận chương 1 41
Chương 2 43
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THựC TIỄN KHỚI KIỆN vụ ÁN DÂN sự TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ KIẾN NGHỊ 43
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về khởi kiện vụ án dân sự 43
2.1.1 Các quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự cùa chủ thể 43
2.1.2 Các quy định về bảo đảm khởi kiện trong tố tụng dân sự 47
2.2 Thực tiễn thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành• • • 1 J •• • • phố Hải Phòng 50 2.2.1 về thành tựu đạt được trong việc thực hiện các quy định về quyền khởi kiện
Trang 5vụ án dân sự và bảo đảm quyền khởi kiện 50
2.2.2 về những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong việc thực hiện các quy định về khởi kiện vụ án dân sự • • • 51
2.3 Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện khởi kiện vụ án dân sự 56 2.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự 56
2.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6MỎ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của việc nghiên cứu
Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chú thể Việc thực hiện quyền này của các chủ thể đuợc gọi là khởi kiện
vụ án dân sự Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tố chức hoặc các• • • • • • JL •
chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án
có thấm quyền bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình hay của người khác Khởi kiện trước hết là quyền dân sự của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác Quyền dân sự này được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện nó được thể hiện bằng việc toà án xem xét, thụ lý và giải quyết
Có thể nói, sau hơn 10 năm thực hiện BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và BLDS năm 2005 và một số luật chuyên ngành khác có liên quan có hiệu lực thi hành, các quy định về quyền khởi kiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định Quyền khởi kiện của chủ thể chưa được đảm bảo triệt để do quy định của pháp luật tố tụng còn chung chung hoặc do thiếu vắng các quy định của luật nội dung nên các cơ quan tài phán chưa làm hết trách nhiệm của mình BLDS nàm
2015 và BLTTDS năm 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và cơ bản khắc phục được phần lớn những khiếm khuyết của BLTTDS năm 2005 và BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, đề cao quyền tự do khởi kiện của các chủ thể, trách nhiệm của cơ quan tài phán trong việc xử lý vụ việc, tranh chấp dân sự Tuy nhiên, những quy định về quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật dân sự trong pháp luật dân sự hiện nay, cụ thể là trong BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015 và một số luật chuyên ngành khác như Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật doanh
Trang 7nghiệp năm 2020, Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014, Luật Đât đai năm
2013 chưa thực sự đảm bảo đầy đủ việc thực hiện quyền khởi kiện của chủ thể trong giao dịch dân sự Thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về chế định quyền khởi kiện vụ án dân sự trong pháp luật Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự, đàm bảo quyền tự do khởi kiện của mỗi chủ thể mỗi khi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm
Với những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài “Khởi kiện vụ án dân sự và thực
học và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Khởi kiện vụ án dân sự là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật TTDS Qua nghiên cứu về các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận văn, có thể nhận thấy rằng, các công trình này đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau hoặc những vấn đề cơ bản của khởi kiện VADS dưới dạng đề tài khoa học, luận án, luận văn, sách chuyên khảo, giáo trinh có thể kể tên các công trinh khoa học tiêu biểu như:
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình luật tổ tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- Trần Đức Thành (2011), Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong
- Đào Thị Tuyết (2015), Bảo đảm quyền bình đắng trước Tòa án của đương
Hà Nôi
2
Trang 8- Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong
- Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lỷ vụ án dân sự - những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn đã lý giải được
cơ sở lý luận, phân tích về nội dung pháp luật và thực trạng pháp luật về thụ lý giải quyết vụ án dân sự Ớ cấp độ luận án, luận văn, một số công trình nghiên cứu đã đánh giá và đưa ra những kiến nghị tổng hợp cho chế định khởi kiện và thụ lý vụ
án dân sự hoặc chỉ riêng phần khởi kiện hoặc chỉ riêng phần thụ lý vụ án dân sự Nhiều kiến nghị khoa học đã được tiếp thu trong các lần sửa đổi, bổ sung BLTTDS Nội dung các công trình nghiên cứu khoa học được công bố là tài liệu hữu ích để học viên nghiên cứu kế thừa Việc nghiên cứu đề tài luận văn bảo đảm tính mới so với các công trình nghiên cứu đã được thực hiện trước đó khi tiếp cận thực trạng pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền khởi kiện gắn liền với thực tiễn khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng Đe tài nghiên cứu không trùng lặp với các công trình khoa học đà được công bố
3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đe tài này người viết tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện nay về quyền khởi kiện vụ án dân sự- lý luận và thực tiễn áp dụng tại Tòa án theo BLTTDS năm 2015 và thực tiễn khởi kiện vụ án dân sự tại TAND thành phố Hải phòng
3.2 Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền khởi kiện vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành,;
3
Trang 9- Làm rõ thực trạng pháp luật hiện hành, những điêm hạn chê, bât cập trong các quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện vụ án dân sự Tìm hiểu thực tế
áp dụng chế định này trong hoạt động giải quyết các tranh chấp dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- Chỉ ra những điếm còn thiếu hoặc chưa hợp lý trong quy định của pháp luật
tố tụng dân sự về chế định khởi kiện vụ án dân sự, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
4 Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đe thực hiện được mục tiêu này, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụ:• • • • z • A • ••
- Nghiên cứu và phân tích khái niệm, bản chất về thủ tục khởi kiện vụ án dân
sự để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục này trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam;
- Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về quyền khởi kiện vụ án dân sự;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục khởi kiện vụ án dân sự Do quá trình áp dụng pháp luật của Việt Nam hiện nay còn rất nhiều bất cập và hạn chế nên đã làm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể gặp nhiều khó khăn, nhiều trường hợp quyền của chủ thể không thực hiện được Việc nghiên cứu đề tài này chỉ ra những nội dung, những vấn đề còn thiếu sót, chưa phù hợp
Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm luận giải về yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, đồng thời đề ra
4
Trang 10các giải pháp đê hoàn thiện các quy định này và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
định của BLTTDS năm 2015 về quyền khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
năm 2015 có hiệu lực tính từ năm 2016 đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đe đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sừ dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật
Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:
Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này
được sử dụng phổ biến trong việc làm rồ các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự.• • •
tác giả vận dụng đế đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp
lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triền khai
có hiệu quà các vấn đề liên quan đến việc khởi kiện, đặc biệt là các kiến nghị hoàn
5
Trang 11thiện Cụ thê như trên cở sở đưa ra những kiên nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch đế làm rõ nội dung của kiến nghị đó
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về khởi kiện vụ án dân sự trong đó tập trung nghiên cứu quyền tự do khởi kiện, chủ thể thực hiện khởi kiện và chủ thế trực tiếp giải quyết nội dung khởi kiện theo pháp luật dân sự Việt Nam Với việc nghiên cứu khởi kiện vụ án dân sự một cách có hệ thống và toàn diện cả về lý luận, thực tiễn, nghiên cứu các quy định của pháp luật về khởi kiện cả luật hình thức và luật nội dung nhàm chỉ ra thực trạng thực thi quyền khởi kiện cũng như những bất cập, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Hài Phòng Kết quả nghiên cửu nhằm đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện trong pháp luật dân sự, nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền tự do khởi kiện trên thực tế gắn với đặc thù của TAND TP Hải Phòng Đặc biệt trong thời điểm hiện nay khi BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015 và một số luật chuyên ngành có liên quan được sửa đổi, bổ sung mới có hiệu lực pháp luật mặc dù đã được bổ sung nhiều quy định mới khắc phục nhược điểm của Luật cũ nhưng cũng đang dần bộc lộ những bất cập
7 Co’ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và kiến nghị
6
Trang 12CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ KHỞI KIỆN vụ ÁN DÂN sự TRONG
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN sự VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khỏi kiện vụ án dân sự và bảo đảm
quyền khởi kiện vụ án dân sự trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm• • • ♦ khởi kiện vụ án dân sự
Sự ra đời quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân và các thiết chế báo đảm thực hiện quyền khởi kiện gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật Chỉ khi Nhà nước ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công dân mới được ghi nhận trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành Khi các chủ thể của quan hệ pháp luật cho rằng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì pháp luật cho phép họ có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đó
Trong cổ luật La Mã, đã có những quy định đầu tiên về khởi kiện Khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình Người bị vi phạm có thực hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của người đó [7, tr.3ơ\
Trong xã hội hiện đại, khởi kiện được ghi nhận là một quyền con người trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các Công ước quốc tế khác Khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con người Suy cho cùng, quyền khởi kiện là quyền của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợp pháp của mình được thực hiện Điều này được thế hiện tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 Theo đó, mọi người đều có quyền được bảo vệ bàng các
7
Trang 13Tòa án quôc gia có thâm quyên với phương tiện pháp lý có hiệu lực chông lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận Như vậy, khởi kiện được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và là cơ sở vững chắc cho việc ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, trên phương diện lý luận, khởi kiện VADS là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu TAND bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm Hiểu một cách toàn diện, khởi kiện vụ án dân sự được thực> • B • • • ' •• •••hiện không chỉ trong thủ tục vụ án - thủ tục giải quyết tranh chấp mà còn trong thủ tục việc dân sự - yêu cầu xác nhận sự kiện pháp lý không có tranh chấp
Kết quả nghiên cứu về khởi kiện vụ án dân sự trong luật thực định Việt Nam cho thấy quyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp tại Điều 50 Hiến pháp năm 1992 của Nước cộng hòa XHCN Việt Nam và khẳng định lại trong Hiến pháp năm 2013:
“Ở nước cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, kỉnh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thế hoá và ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự Cụ thể là, quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng Trước khi BLTTDS năm 2015 được ban hành, quyền khởi kiện được hiểu theo nghía rất rộng và đồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay Theo
đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Từ quy định của BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 đến BLTTDS năm 2015
8
Trang 14đã tách thủ tục giải quyêt VADS trước đây thành hai thủ tục tô tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết VADS (thủ tục giải quyết vụ án thông thường; giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn) và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây Có nghĩa là quyền khởi kiện vụ án dân sự không còn bao hàm cả quyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động như trước đây nữa mà quyền khởi kiện vụ án dân
sự được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp Khởi kiện VADS là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS
Như vậy có thể hiểu, Khởi kiện VADS là việc cá nhân, tô chức có quyền lợi dân sự và tư cách pháp lỷ hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật nộp đơn yêu cầu Tòa án có thâm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
Có thể thấy bản chất của quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay bị vi phạm Từ góc nhìn này cần phát triển khái niệm về quyền khởi kiện theo hai góc độ, theo nghĩa hẹp quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn và theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn và quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, do họ đã không thực hiện quyền yêu cầu cùa mình trước khi nguyên đơn khởi kiện vụ án
Xét theo nghĩa hẹp, quyền khởi kiện là quyền của nguyên đơn trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hay bị vi phạm.
9
Trang 15Quyên khởi kiện của nguyên đơn là quyên yêu câu Toà án bảo vệ quyên lợi của chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh VADS tại Toà án Xét về thực chất thì đây là quyền của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu việc kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, thông qua việc đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết VADS Đó
là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách Chính việc khởi kiện của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết VADS thì không
có quá trình tố tụng tiếp theo Như vậy, việc xác định quyền khởi kiện của nguyên đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự khi họ tham gia tố tụng tại Tòa án
Xét theo nghĩa rộng, quyền khởi kiện hao hàm cá quyền yêu cầu Toà án hảo
vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền phản tổ của bị đơn, quyền yêu cầu của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có quyền phản bác việc khởi kiện của nguyên đơn Bên cạnh đó, quyền phản tố của bị đơn cũng cần được pháp luật ghi nhận Điều này xuất phát từ sự bình đắng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liên quan đến nhau thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và yêu cầu này có thế được Toà án xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu của nguyên đơn khi thoả mãn những điều kiện nhất định Thực chất của phản tố là một việc kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lọi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nhưng được xét cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau Theo quy định tại Điều 200 của BLTTDS thì yêu cầu phản tố cùa bị đơn
10
Trang 16đôi với nguyên đơn, người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan có yêu câu độc lập được chấp nhận khi: “Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”; hoặc
“Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”; hoặc “Giữa yêu cầu phàn tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan đến nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác
và nhanh hơn”
Như vậy, xét theo nghĩa rộng về quyền khởi kiện thì có thế xem quyền phản
tố cũng là quyền khởi kiện nhưng là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu câu độc lập do các yêu
Cũng theo góc nhìn vê sự bình đăng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có quyền đưa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã được thiết lập giữa nguyên đơn và bị đơn Yêu cầu tố tụng này có thể chống lại nguyên đơn, bị đơn hoặc chống cả nguyên đơn và bị đơn Bản chất của yêu cầu độc lập này là một yêu cầu tố tụng của người thứ ba nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong một vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn Xét về bản chất, quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền yêu cầu của người có quyền nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là quyền khởi kiện chống lại cả nguyên đơn và bị đơn hoặc chỉ chống lại nguyên đơn hoặc
bị đơn trong VADS
Như vậy, theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, cơ quan, tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án
11
Trang 17bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp cúa mình, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thế này sẽ làm phát sinh VADS tại Tòa án Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện còn bao gồm cả quyền yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác sau khi vụ án đã phát sinh tại Tòa án
Theo đó, quyền khởi kiện còn thuộc về bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dưới hình thức là quyền phản tố hoặc quyền đưa ra yêu cầu độc lập Nội dung luận văn đề cập tới quyền khởi theo nghĩa rộng bao hàm cả quyền khởi kiện của nguyên đơn theo nghĩa đích thực của từ ’’khởi kiện” và quyền phản tố hay quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền có yêu cầu độc lập hay quyền khởi kiện chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống cả nguyên đơn, bị đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đề bảo vệ quyền lợi của mình khi mà vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thiết lập
1.1.2. Đặc điếm pháp lý của khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, khởi kiện là một quyền tố tụng được pháp luật TTDS ghi nhận và
hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Với mục đích bảo đảm quyền con người, khi quyền hay lợi ích bị xâm phạm thì Pháp luật TTDS trao cho chủ thế một công cụ đế bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, đó là khởi kiện ra tòa án theo thủ tục TTDS Khi được nhà nước trao quyền khởi kiện, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thể sử dụng quyền này để đề nghị tòa án giải quyết tranh chấp, buộc bên xâm phạm phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất về vật chất, tinh thần mà chú thể thực hiện quyền khởi kiện xứng đáng được nhận theo quy định của pháp luật
12
Trang 18Thứ hai, nộp đơn khởi kiện chỉnh là cơ sở ban đâu đê Tòa án thực hiện chức năng giải quyết, xét xử VADS tại tòa án Chủ thể thực hiện việc nộp đơn khởi kiện
là căn cứ đề Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, bảo đảm công bằng cho xã hội Đơn khởi kiện và các tài liệu, giấy tờ kèm theo đơn khởi kiện chính là cơ sở đề tòa án thụ lý hay không thụ lý VADS Vì thế, khởi kiện được thể hiện thông qua việc nộp hồ sơ khởi kiện là căn cứ mở ra quá trình tố tụng dân sự giải quyết VADS tại tòa án nhân dân
Thứ ba, vụ án dân sự có được phát sinh hay không phụ thuộc vào ỷ chí tự do định đoạt của các chủ thế được pháp luật trao quyền Các cá nhân, cơ quan, tổ
chức và các chủ thể khác có quyền và lợi ích bị xâm phạm có quyền thực hiện hay không thực hiện hoạt động khởi kiện VADS tại tòa án Việc khởi kiện được thựcG? • • • • • • • • • •hiện trên cơ sở tự nguyện và quyền tự do của cá nhân, đồng thời pháp luật cũng ghi nhận việc tự định đoạt và tự thỏa thuận của các chủ thể Điều này xuất phát từ bản• ••••• • ụ 1chất quan hệ dân sự là sự thỏa thuận, tự do ý chí của các bên Ngoài phương thức lựa chọn thủ tục tố tụng tại tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm phạm, chủ thể quan hệ pháp luật dân sự có thể lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp khác như trung gian hòa giải, trọng tài,
1.1.3 Ý nghĩa của khởi kiện trong tố tụng dân sự
Một là, khởi kiện VADS là căn cứ pháp lý đế đương sự có đầy đủ phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bên cạnh những phương thức như
tự bảo vệ, thương lượng, hòa giải, trọng tài Mỗi phương thức đều có những ưu và nhược điểm nhất định, tuy nhiên, phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ''cong cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ phương thức khác nhau mà
xã hội và Nhà nước dùng đê giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích " [27, tr
390] Sở dĩ như vậy, bởi Tòa án là cơ quan tư pháp, được Nhà nước trao cho
13
Trang 19quyên bảo vệ công lý, bảo vệ quyên con nguời, quyên công dân và bản án, quyêt định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ có tính chất bắt buộc đối với tất cả các bên liên quan, nếu các bên không tuân thủ phán quyết của Tòa sẽ phải chịu sự cuỡng chế bằng quyền lực nhà nước.
Hai là, khởi kiện VADS còn là bước khởi đầu quan trọng để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng khác đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, là cơ
sở cho Tòa án thực thi được quyền bảo vệ công lý, bảo vệ sự ổn định của các quan
hệ xã hội theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND, đồng thời còn tạo cơ chế chủ động tự bảo vệ của đương sự khi quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Từ việc khởi kiện, các cơ quan tố tụng sẽ có hành động can thiệp kịp thời đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, thiệt hại sớm được khắc phục, ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật và sớm khôi phục lại mối quan
hệ thiện chí, cởi mở, giao hòa giữa các bên trong đời sống dân sự
Ba là, khởi kiện VADS được pháp luật ghi nhận là hoạt động tố tụng đầu tiên bảo vệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và các chủ thể được pháp luật trao quyền; là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết VADS khi có đơn khởi kiện của các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định Như vậy, khởi kiện VADS là cơ sở, tiền đề đế Tòa án nhân danh nhà nước giải quyết các VADS
1.2 Cơ sở pháp luật Việt Nam quy định về khởi kiện vụ án dân sự
1.2.1 Khởi kiện vụ án dân sự được xây dụng trên cơ sở quyền con người
Con người khi sinh ra đã được xã hội thừa nhận bằng quyền được sống, đồng thời, con người phải có các quyền và lợi ích vật chất, tinh thần để tồn tại và phát triển Vì vậy, trong hệ thống pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn thế giới, các Công ước quốc tế đã ghi nhận và đề cao quyền con người Dựa trên hệ thống pháp lý
14
Trang 20này, mà pháp luật cùa tât cả các nước trên thê giới đêu ghi nhận quyên con người
Ở Việt Nam, quyền con người cũng được Đảng và Nhà nước tôn trọng tuyệt đối thông qua việc ghi nhận trong Hiến pháp về các quyền co bản của công dân Trên
cơ sở quy định của Hiến pháp, hệ thống pháp luật quốc gia đà cụ thể hoá các quyền con người, trong đó có quyền dân sự và quyền tố tụng dân sự
Hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia nên các quy định của pháp luật tố tụng dân sự là sự cụ thể hóa về quyền con người trong lĩnh vực tư pháp Các quyền này phải thể hiện được các nguyên tắc cơ bản về
tố tụng dân sự, được xây dựng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương
sự có thế bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình chống lại mọi sự cản trở hoặc gây tồn hại đến đương sự trong việc đòi công lý Ngoài ra, các quyền tố tụng của đương sự nỏi chung và quyền khởi kiện vụ án dân sự nói riêng phải thể hiện được
vị trí, vai trò và trách nhiệm của Tòa án, của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm công lý được thực thi Theo góc nhìn này thì các quy định về quyền tố tụng của đương sự trong các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng dân sự như BLTTDS sửa đổi và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao phải là sự
cụ thể hóa quyền con người, tạo cơ chế bảo vệ quyền con người một cách thiết thực và hiệu quả
1.2.2, Khởi kiện• vụ• án dân sự• được xây• •/ dựng trên• ơ cơ sở đường lốiO của Đảng về hoạt động tư pháp
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa đà khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xà hội Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện chủ trương lớn và nhiệm vụ cấp bách
đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thực
sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Trong Nhà nước pháp quyền thì quyền tư pháp là một bộ phận của quyền lực nhà nước và giữ một vai trò đặc biệt
15
Trang 21quan trọng Quyên tu pháp được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án thế hiện tập trung nhất quyền tư pháp, thể hiện nền công lý, sự công bằng và bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật,
và là cơ quan Nhà nước duy nhất được quyền nhân danh Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tổ tụng dân sự
Theo đánh giá của Bộ chính trị “Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tỉnh khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sổng Cơ chế xây dựng, sửa đôi pháp luật còn nhiều bất họp ỉỷ và chưa được coi trọng đôi mới, hoàn thiện Tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các vãn bản pháp luật chưa cao Việc nghiên cứu và tô chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ Hiệu quả công tác tuyên truyền, phô biến, giảo dục pháp luật còn hạn chế Thiết chế bảo đảm thỉ hành pháp luật còn thiếu và yếu “[29].
Chính vì vậy, Bộ chính trị trong những năm gần đây liên tục đưa ra nhiều chiến lược quan trọng về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách
tư pháp Cụ thể, tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 nhấn mạnh “Trọng tăm là hoàn thiện pháp luật về tô chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, bảo đảm Tòa án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thăm quyền xét xử của Tòa án sơ thâm và Tòa án phúc thấm phù họp với nguyên tắc hai cấp xét xử Hoàn thiện cơ chế quản lý Tòa án nhãn dân địa phương theo hướng bảo đảm tỉnh độc lập giữa các cấp Tòa án trong hoạt động xét
số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 với mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp
trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư
16
Trang 22pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiên hành có hiệu quả và hiệu lực cao” và nhiệm vụ đặt ra là "Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự Nghiên cứu
các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đôi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lỷ; người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn Khuyến khích việc giải quyết một sổ tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó ”[29].
Như vậy, theo định hướng cải cách tư pháp trên thì việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương sự phải được tiến hành theo định hướng tạo điều kiện cho các đương sự chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý
và tham gia tố tụng tại Tòa án, các quyền thương lượng, hòa giải phải được khuyến khích và phải có cơ chế hỗ trợ việc ghi nhận quyền thỏa thuận của đương sự
1.2.3 Khỏi kiện • vụ • án dãn sự• được • xây dựng dựa• trên mối liên hệ • C7giữa luật•nội dung và luật tố tụng dãn sự
Theo Điều 2 Bộ luật dân sự năm 2015, quy định về nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự như sau “ỉ Ờ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; 2 Quyền dãn sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường họp cần thiết vì lỷ do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”[5].
Trang 23hệ giữa tô quyên và quyên lợi (quyên chủ quan) là không thê phủ nhận: quyên lợi (quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lỷ phản loại các tố quyền căn
cứ vào đối tượng này: tố quyền động sản có đối tượng là một quyền lợi động sản,
tố quyền bất động sản là một quyền lợi bất động sản, tố quyền đoi nhãn dùng cho một quyền lợi đối nhãn, và quyền lợi đối vật được sinh ra từ một hành vi pháp lỷ
Như vậy, quyền lợi gắn liền với quan hệ pháp luật dãn sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động chính là đối tượng của quyền khởi kiện và là cơ sở của quyền này” [22].
Theo góc nghiên cứu này, trước khi tham gia vào một quan hệ tố tụng dân sự
cụ thể thì các đương sự chính là chủ thể của quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng này thi các chủ thể có các quyền dân sự nhất định và chỉ khi một trong các quyền dân
sự của chủ thề bị xâm phạm thì chủ thể đó mới có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ Như vậy, các quyền dân sự của chủ thể là cơ sở của quyền tố tụng dân sự nói chung và quyền khởi kiện vụ án dân sự nói riêng Tuỳ thuộc vào từng loại quyền dân sự bị vi phạm thì các chủ thể đó được pháp luật cho phép thực hiện các quyền tố tụng tương ứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo
đó, tùy trường hợp mà quyền khởi kiện có thể hướng tới hành vi của chủ thế hoặc các vật cụ thế và quyền tham gia tố tụng của đương sự được thực hiện tại Tòa án nào cũng được nhà lập pháp cân nhắc Ngoài ra, quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương sự phải được thể hiện trong pháp luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương sự có thể bảo vệ được quyền dân sự của mình khi Tòa án nhận đơn, xác định các điều kiện khởi kiện và bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền khởi kiện của mình tại Tòa án
1.2.4. Khỏi kiện vụ án dân sự• • • được ♦ xây dựng • o dựa• trên các nguyênO tắc CO'
bản trong tố tụng dân sự
18
Trang 24Nguyên tăc của luật tô tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật to tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tổ tụng dân sự [21, tr.5ỉ].
Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sụ Việt Nam hiện hành được quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 25 BLTTDS năm 2015 Nội dung của các nguyên tắc này thể hiện về những vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự như tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của hoạt động tố tụng dân sự; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án; bảo đảm quyền tham gia tố tụng của các đương sự; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; vai trò trách nhiệm của các cá nhân, tố chức khác đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án
Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự là tư tưởng chỉ đạo để xây dựng các quy định cụ thể về tố tụng dân sự Do vậy, khi xây dựng các quyền tố tụng cho đương sự phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và phù hợp với các nguyên tắc này Có thể nhận thấy quyền khởi kiện của đương sự được ghi nhận phải xuất phát và thể hiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự như nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự; nguyên tắc hai cấp xét xử; nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng dân sự; nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự; nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng; nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự; nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
1.2.5 Khởi kiện vụ án dân sự được xãy dựng dựa trên vị trí, vai trò của
từng đương sự
Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự trong vụ án
dãn sự là cơ quan, tố chức, cả nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
19
Trang 25lợi, nghĩa vụ liên quan; đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tô chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dãn sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ”.[4]
Trong nhóm người tham gia tố tụng dân sự thì đương sự là người tham gia tố tụng dân sự trọng tâm và nổi bật nhất Tùy theo từng mô hình tố tụng dân sự của mỗi nước xây dựng trong luật của mình mà vai trò của đương sự được quy định có thể có sự khác biệt Trong mô hình tố tụng tranh tụng, đương sự có vai trò quyết định các hoạt động tố tụng, có quyền chủ động quyết định đến sự tham gia tố tụng của các chủ thế khác Tòa án trong mô hình này chỉ giống như trọng tài đưa ra phán quyết cuối cùng Ngược lại, trong mô hình tố tụng thấm xét, Tòa án lại là chủ thể giữ vị trí trung tâm, đương sự không được hoàn toàn chủ động điều khiển quá trình tố tụng, các bên đương sự cưng cấp chứng cứ để thuyết phục Thẩm phán ủng
hộ mình
về bản chất, đương sự trong vụ án dân sự hay đương sự trong việc dân sự đều
có đặc điểm chung là người tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Hay nói cách khác, họ là chủ thể có quyền, lợi ích cần được giải quyết trong vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án
Trong văn bản pháp luật trước đây, xác định tư cách đương sự chỉ bao gồm nguyên đơn và bị đơn, cụ thể “Địa vị tổ tụng của moi đương sự trong một vụ kiện phản ánh mối quan hệ giữa các đương sự với nhau trong một quan hệ pháp luật nhất định nào đỏ; người cỏ quyền lợi bị xâm phạm ra trước Tòa án với tư cách là nguyên đơn và người có quyền lợi liên quan hoặc phái chịu trách nhiệm tham gia
vụ kiện ở vị trí bị đơn Như vậy, có thể thấy, thời kỳ này chưa xuất hiện địa vị tố
tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà nó được gộp chung với tư cách của bị đơn Tuy nhiên, đề quyền và lợi ích hợp pháp của từng đương sự được bảo
20
Trang 26vệ hiệu quả, pháp luật ở các thời kỳ sau đã có sự thay đôi, cụ thê tại Điêu 68 nêu trên.
Theo nguyên tác, đuơng sự khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng Bình đẳng ở đây thể hiện, khi một bên đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì bên kia được quyền biết về yêu cầu và được đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để phản bác lại đối phương, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi căn cứ và mục đích tham gia tố tụng và địa vị pháp lý của từng đương sự, pháp luật lại quy định cho họ những quyền tố tụng riêng biệt Đối với nguyên đơn, họ là người khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm nên ngoài những quyền tố tụng của đương sự, họ còn có quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện Đối với bị đơn, họ là người bị nguyên đơn khởi kiện, vì vậy họ phái có quyền được thông báo về việc bị khởi kiện, có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngoài ra,
bị đơn còn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là người mà khi Tòa án giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng
Do đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn
1.3 Lược sử các quy định vê khỏi kiện vụ án dân sự trong pháp luật tô tụng
dân sự Việt Nam
1.3.1 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ trước Cách mạng thảng 8 năm
1945
Không phài đến pháp luật hiện hành mới có các quy định về khởi kiện vụ án
21
Trang 27dân sưh Cô luật Việt Nam đã có những quy định vê khởi kiện cũng như thủ tục thực hiện quyền khởi kiện trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long, cổ luật Việt Nam không phân biệt các vụ kiện về dân sự hay hình sự, tất cả các hành vi vi phạm pháp luật đều bị các chế tài về hình sự kể cả những vụ việc mà ngày nay chúng ta coi chỉ có tính chất dân sự cổ luật không có những quy định trực tiếp về quyền khởi kiện Tuy nhiên, từ những quy định về luật hình thức và thủ tục thực hiện đơn kiện và đơn tố cáo có thể cho chúng ta biết cổ luật Việt Nam đã có những quy định về quyền khởi kiện.
Căn cứ để khởi kiện là các hành vi phạm tội được ghi nhận trong luật Hồng Đức và Luật Gia Long Người đứng đơn khởi kiện được gọi là nguyên cáo, là người có quyền lợi bị xâm phạm phải chứng minh được quyền khởi kiện của mình bằng việc đưa ra những bằng chứng và chứng cứ để chứng minh về cơ sở của việc kiện Chẳng hạn, khởi kiện về điền thố phải có văn tự, về tài sản phải có chức thư,
về nợ phải có giấy tờ ghi nhận nợ
Người bị nguyên cáo kiện được gọi là bị cáo, cũng có quyền phản đối yêu cầu của nguyên cáo bằng hình thức tương tự, đưa ra bằng chứng chứng minh làm cơ sở cho việc phản đối nộp cho nha môn Như vậy, cổ luật Việt Nam đã có những quy định cơ bàn về điều kiện khởi kiện Tuy nhiên, cố luật cũng có những quy định hạn chế quyền khởi kiện của các thành viên trong gia đình Cụ thế là cấm con cháu kiện ông bà, cha mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 511 Luật Hồng Đức, Điều 306 Luật Gia Long); con cháu cũng không được tố cáo ông bà cha mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 504 Bộ Luật Hồng Đức, Điều 304 Bộ luật Gia Long) v.v Chính các quy định này đẵ hạn chế quyền khởi kiện của công dân
Trong thời kỳ Pháp thuộc thì các Bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ cho ba
kỳ Các bộ luật quan trọng ta phải kể đến đến đó là Bộ Luật Dân sự Nam Kỳ giản
22
Trang 28yếu ra đời năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và Bộ dân luật Trung
Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936 Các Bộ luật trên đều ghi nhận quyền công dân trong lĩnh vực dân sự
1.3.2 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1959
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời Ngay sau đó Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời những luật lệ hiện hành của chế độ cũ Nhà nước đã ban hành hàng loạt các sắc lệnh trong đó cho phép Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng đề giải quyết tranh chấp dân sự như: sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán; sắc lệnh 52/SL ngày 17/04/1946 quy định thẩm quyền của các Tòa án; sắc lệnh 112/SL ngày 28/06/1946 bổ sung sắc lệnh 51; sắc lệnh 130/SL ngày 19/07/1946 quy định về thể thức thi hành án; sắc lệnh 85/SL ngày 22/05/1950 cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng; Sắc lệnh 159/SL ngày 07/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1954 các sắc lệnh do Nhà nước ban hành chủ yếu quy định chung về thủ tục tố tụng mà không có quy định cụ thể về quyền khởi kiện và đảm bảo quyền khởi kiện
1.3.3 Quy định về khởi kiện vụ án dãn sự thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1989
Ngay sau khi kháng chiến thắng lợi Nhà nước ta đà ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định các nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, Điều 22 Hiến pháp năm
1959 đã ghi nhận nguyên tắc “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bình đẳng trước pháp luật”, trên tinh thần đó Luật Tổ chức Tòa án, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát đã ghi nhận và đảm bào đầy đủ nguyên tắc đó
Đe cụ thể hóa nguyên tắc trên Tòa án nhân dân tối cao cũng đã có hướng dẫn
23
Trang 29về khởi kiện vụ án dân sự tạo cơ sở cho việc áp dụng trên thực tế quyền này cúa công dân Qua nghiên cứu cho thấy một số văn bản tố tụng quan trọng trong thời
kỳ này trực tiếp hoặc gián tiếp quy định về khởi kiện vụ án dân sự Đó là công văn
số 1111/NCLP ngày 13/07/1963 của Tòa án nhân dân tối cao về thủ tục xử chia tài sản ly hôn đối với người mất trí; công văn số 05/NCLP ngày 29/06/1966 của Tòa
án nhân dân tối cao về tư cách bị đơn; Thông tư số 39/NCLP ngày 21/01/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về thụ lý, xếp và tạm xếp nhừng việc kiện về hôn nhân và gia đình và tranh chấp dân sự; Công văn số 96/NCLP ngày 08/02/1977 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm về dân
sự Sau này Công văn số 546/DS ngày 07/07/1989 về quyền khởi kiện của cá nhân,
tổ chức vì lợi ích của Nhà nước có quy định khi Viện kiểm sát khởi tố vụ kiện thì cần đưa cơ quan Nhà nước hoặc họp tác đứng vào vai trò nguyên đơn trong vụ kiện
vì họ là đương sự chính trong vụ kiện Tiếp đến là công văn số 05/NCLP ngày 29/06/1986 của Tòa án nhân dân tối cao về tư cách của bị đơn trong vụ kiện dân sự; Nghị quyết 01/NQ/H DTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/01/1988
Có thể nhận xét trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1989, vấn đề khởi kiện tiếp tục được ghi nhận và củng cố Tuy nhiên để xác định chủ thể có quyền khởi kiện thì cần phái căn cứ vào pháp luật nội dung, trong đó sẽ xác định quyền và nghĩa vụ cùa các chủ thể khi tham gia các quan hệ cụ thể, từ đó mới xác định được chủ thể mang quyền và chủ thể có nghĩa vụ Các văn bản này cũng đề cập đến việc thực hiện quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện Theo đó, nguyên đơn có đủ tư cách để
đi kiện phải là người có năng lực hành vi dân sự và có quyền lợi bị xâm phạm Nguyên đơn có thế ủy quyền bằng văn bản có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã cho người có năng lực hành vi thay mặt mình trong việc kiện
24
Trang 301.3.4, Quy định ĩ vê khởi kiện vụ• • án dân sự thời 9 kỳ từ năm 1989 đên năm 2004
Kế thừa và phát triến các quy định về tố tụng dân sự của giai đoạn trước đó, Nhà nước ta đã ban hành ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng Đó là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) ngày 29/11/1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 06/03/1994, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) ngày 11/04/1996 Đây là những văn bản pháp luật quan trọng về tố tụng dân sự, trong đó có những quy định liên quan đến quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện
PLTTGQCVADS năm 1989 ra đời đã tạo cơ sờ pháp lý thống nhất cho việc thực thi quyền khởi kiện của công dân trên thực tế Điều 1 Pháp lệnh này quy định:
“Công dân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện vụ án dân sự đê yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình ”, Điều 34
quy định về phạm vi khởi kiện, theo đó một người có thể khởi kiện đối với một người
về một hoặc nhiều yêu cầu khác nhau, một người có thể khởi kiện đối với nhiều người hoặc nhiều người có thể khởi kiện một người về cùng một quan hệ pháp luật Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh năm 1989, trình tự thủ tục giải quyết những vụ việc phát sinh tranh chấp và không phát sinh tranh chấp đều được giải quyết theo một thủ tục chung
PLTTGQCVAKT năm 1994 và PLTTGQTCLĐ năm 1996 đã tách hai mảng kinh tế và lao động ra khởi trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự theo quy định của PLTTQGCVADS năm 1989 Hai Pháp lệnh này về cơ bản được xây dựng trên cơ sở PLTTGQCVADS năm 1989 nên các quy định về quyền khởi kiện về cơ bản tương tự như trong PLTTGQCVADS PLTTỌGCVAKT năm 1994 không quy định quyền khởi tố vụ án kinh tế của Viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, theo Điều
28 PLTTỌGCTCLĐ năm 1996 thì “đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn
25
Trang 31tật và các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, nêu không có aỉ khởi kiện thì Viện kiêm sát có CỊuyền khởi tố”,
Có thể nói pháp luật tố tụng thời gian này với ba pháp lệnh riêng rẽ với các thủ tục khác nhau, đã gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự bởi người dân vốn hạn chế về kiến thức pháp luật nay lại phải chịu sự phức tạp của các quy định nên việc khởi kiện hạn chế Mặt khác, trong khoảng thời gian này pháp luật cũng chưa quan tâm nhiều đến các cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện
1.3,5 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ tù’ năm 2005 đến năm 2015
BLTTDS năm 2004 có hiệu lực từ ngày 1/1/2005 đã thay thế ba pháp lệnh PLTTGQCVADS PLTTQGCVAKT, PLTTGQCTCLĐ và ghi nhận quyền khởi kiện của các tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại và lao động và có các cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện như cơ chế hỗ trợ của Tòa án, Viện kiểm sát, các cơ quan và tổ chức xã hội v.v Bộ luật này đà quy định về hai trình tự khác nhau là trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và trình tự thủ tục giải quyết các việc dân sự không có tranh chấp Theo đó các quy định về quyền khởi kiện, quyền yêu cầu và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện cũng có nhiều thay đổi
Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn các quy định của BLTTDS Cụ thể là Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NỌ- HĐTP ngày 17-9-2005hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về
“Chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS; Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-
26
Trang 322006 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Thu tục giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS; Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-9-2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS
về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Kiểm sát viên trong việc giải quyết các vụ việc dân sự; Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28-12-2007 Bộ
Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp
lý trong hoạt động tố tụng Các văn bản trên đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hoá BLTTDS, hướng dẫn áp dụng thống nhất BLTTDS trên phạm vi toàn quốc, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm quyền khởi kiện trên thực tế
1.3.6 Quy định về khởi kiện vụ án dân sự thời kỳ từ năm 2015 đến nay
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW; Nghị quyết số 49- NQ/TW; Kết luận số 79-KL/TW; Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người;
thực hiện mô hình tố tụng “xét hỏi kết hợp với tranh tụng”; xác định rõ hơn vị trí,
quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; thực hiện tốt việc tranh tụng xem đó là khâu đột phá của hoạt động xét xử; tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình; hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thấm; xây dựng cơ chế xét
xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định; khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa án hồ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó
27
Trang 33Cụ thê hóa các quy định của Hiên pháp năm 2013 vê Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Tóm lại, qua việc nghiên cứu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự thấy rằng mặc dù trước đó cổ luật Việt Nam đã có những ghi nhận ban đầu về quyền khởi kiện Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước được độc lập, các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện ngày càng được quan tâm chú trọng BLTTDS năm 2004 ra đời đà đánh dấu một bước phát triển và ngày càng hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện khỏi kiên vụ án dân sự*/ CT • • • • • •
Thứ nhát, Tính thống nhất, phù họp của các quy định pháp luật về khởi kiện VADS
Pháp luật là công cụ điều tiết các quan hệ xã hội Mọi hoạt động của các chủ thể trong xã hội đều phải được thực hiện theo quy định của pháp luật Để bảo đảm cho các quan hệ xã hội hình thành và phát triển theo một trật tự nhất định, pháp luật phải quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ
xã hội và cơ chế pháp lý đề thực hiện các quyền, nghĩa vụ ấy Giả thuyết quyền và lợi ích của mình bị tranh chấp hay vi phạm, chủ thể có quyền thực hiện việc khởi kiện nhưng không có nghĩa là họ có quyền khởi kiện bất kỳ ai, kiện đến bất kỳ cơ quan nào, trong một số trường hợp chủ thể có thể không thực hiện được quyền khởi kiện vì lợi ích an ninh quốc gia, cộng đồng xã hội hay còn gọi là giới hạn quyền khởi kiện Việc kiện của chủ thể phải dựa trên cơ sở một quan hệ pháp luật
28
Trang 34nhât định, căn cứ vào các quy phạm pháp luật điêu chỉnh quan hệ pháp luật này đê xác định người mà họ có quyền kiện và kiện đến cơ quan nào, theo những trình tự thủ tục gì Có thể nói, việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS phụ thuộc một phần rất lớn vào các quy định của pháp luật TTDS, trong đó
có các quy định về khởi kiện VADS ’’Pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nhân dân là hai mặt không thể tách rời của một hệ thống thống nhất đó là quy trình tố tụng dân sự [30J Pháp luật TTDS là cơ cở, phương tiện pháp lý cho các đương sự khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các VADS để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp có vi phạm hay tranh chấp Pháp luật TTDS cũng chính là
cơ sở pháp lý cho Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý, giải quyết các vụ việc dân
sự để bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của cá nhân, pháp nhân và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Nếu quy định của pháp luật TTDS cụ thể, rõ ràng, đầy đủ, thống nhất và có cơ sở khoa học thì việc giải quyết các vụ án án nói chung, việc khởi kiện và thụ lý VADS nói riêng được thuận lợi Ngược lại, nếu pháp luật TTDS quy định không rõ ràng, không đầy đủ, mâu thuẫn và thiếu cơ sở khoa học thì không những Tòa án gặp khó khăn trong việc xem xét thụ lý, giải quyết các VADS mà các đương sự cũng khó có thể bảo vệ tốt được quyền và lợi ích hợp pháp của minh tại Tòa án
Việc các đương sự thỏa thuận, thương lượng để giải quyết tranh chấp luôn được Nhà nước khuyến khích Bởi vì, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết tranh chấp thì tranh chấp, mâu thuẫn giữa các đương sự cũng được giải quyết một cách triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thông thường Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó Xét trên phương diện kinh tế, hòa giải thành trước khi khởi kiện có ý nghĩa rất lớn, các bên sẽ tránh được việc kiện tụng kéo dài, gây hao tiền, tốn của và Toà án cũng không mất thời gian, sức lực cho việc giải quyết vụ kiện Tuy nhiên, theo góc nhin đã phân tích ở trên
29
Trang 35thì việc coi hoà giải tiên tô tụng là một điêu kiện băt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án cũng là điều cần phải cân nhắc thận trọng, cần phải bảo đảm hài hoà giữa quyền khởi kiện và lợi ích cửa việc hoà giải tiền tố tụng.
Thứ hai, điều kiện về vụ việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định và việc ghi nhận quyền khởi kiện lại của chủ thê khởi kiện
về lý luận thì một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa Cách quy định này hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ việc bảo đảm hiệu lực cùa các bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm sự ồn định của các quan hệ xã hội, tránh tình trạng chồng chéo, cùng một sự việc mà có nhiều cơ quan cùng giải quyết và quyết định
Tuy nhiên, nếu quy định trên là một quy định cứng nhắc, thiếu tính mềm dẻo thì quyền khởi kiện đã không được tôn trọng và bảo đảm đúng mức Do vậy, pháp luật cũng cần có những quy định về các trường hợp ngoại lệ mà người có quyền lợi
bị vi phạm vẫn có thế có quyền khởi kiện lại Chẳng hạn như trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn; yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đối mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại v.v Chính các ngoại lệ này là đã tạo thêm cơ hội cho họ thực hiện tốt hơn quyền khởi kiện của mình và qua đó khả năng bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ bằng con đường tố tụng được nâng lên
Do đó, việc ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương sự trong những trường hợp nhất định cũng chính là một trong những phương thức bảo đảm hiệu quả thực hiện việc khởi kiện
Thứ ba, các cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cho chù thể cỏ thê thực hiện được khởi kiện vụ án.
* Đơn giản hóa và minh bạch hóa các quy định về đơn kiện và chứng cứ, tài
30
Trang 36liệu nộp kèm theo đơn kiện
Vụ án dân sự phát sinh chủ yêu là do cá nhân, tô chức thực hiện quyên khởi kiện của mình bằng cách nộp đơn Đơn khởi kiện ở khía cạnh nào đó chính là thể hiện mối quan hệ thủ tục giữa Tòa án và người dân Do đó, thực hiện chiến lược cải cách các loại thủ tục thi quy định về hình thức, nội dung đơn kiện, chứng cứ kèm theo phải rõ ràng không gây khó khăn hoặc gây phiền hà cho người khởi kiện thực hiện quyền khởi kiện Pháp luật cần quy định một cách hợp lý các chứng cứ, tài liệu mà đương sự phải xuất trình khi nộp đơn khởi kiện theo hướng đủ đế quyết định việc thụ lý chứ không bát buộc phải nộp toàn bộ các chứng cứ của vụ án
* Miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, án phí nhằm tạo điều kiện cho người nghèo
có thể tiếp cân công lỵ
Khi một chủ thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án can thiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mình bị xâm hại thì cần phải bỏ ra một khoản chi phí để Tòa án giải quyết VADS Do vậy, pháp luật quy định đương sự phải chịu một phần kinh phí mà Nhà nước cấp cho Tòa án thực hiện các hoạt động đó Đe tránh việc kiện không có căn cứ thì pháp luật thường quy định người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí
Do đó, Nhà nước căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể (như thu nhập bình quân đầu người, chi phí tố tụng ) để có thể áp dụng một mức tạm ứng án phí hợp lý để vừa bảo đảm cho hoạt động của Tòa án vừa không làm hạn chế con đường đến với công lý của người dân Ngoài ra, một trong những cơ chế hỗ trợ hiệu quả nhất là cần quy định những trường hợp miễn, giám tiền tạm ứng án phí, án phí nhằm tạo điều kiện cho người thu nhập thấp có thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình
định chủ thê tiếp tục thực hiện quyền khởi kiện
Tạm đinh chỉ giải quyết VADS là việc tòa án quyết đinh tạm dừng việc giải
31
Trang 37quyêt VADS khi có những căn cứ do pháp luật quy định Tạm đình chi giải quyêt VADS là tạm thời ngừng việc giải quyết VADS chứ không phải ngừng hắn việc giải quyết VADS Tính chất gián đoạn này sể được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng
sẽ được khôi phục khi nguyên nhân tạm đình chỉ không còn nữa Các đương sự có quyền khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập nhưng khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS sẽ có thể xuất hiện những trường họp làm cho việc thực hiện các quyền này bị gián đoạn Đó là trường hợp đương sự là cá nhân chết, cơ quan, tổ chức bị chia, tách, sáp nhập, giải thể nhưng chưa có chủ thể kế thừa tham gia tố tụng hoặc đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa xác định được người đại diện, chấm dứt đại diện mà chưa có người thay thế Trong những trường hợp này thì các quy định
về tạm đinh chỉ giải quyết VADS là một giải pháp để xác định chủ thể kế thừa quyền khởi kiện và cũng là nhằm bảo đảm quyền khởi kiện sẽ được tiếp tục thực hiện trong quá trình giải quyết VADS
* Quyền thay đôi, bô sung yêu cầu khởi kiện; quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu liên quan độc lập
Vụ án dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dựa trên nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, nguyên đơn hoàn toàn có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình Xét cho cùng, VADS do Tòa án thụ
lý giải quyết là nhằm đạt đến mục đích và nguyện vọng của nguyên đơn, giải quyết mối bất hòa trong quan hệ của các bên Tuy nhiên, xét trên phương diện lý luận nhà nước và pháp luật: quyền luôn đi liền với nghĩa vụ Hay nói khác đi, mặc dù có quyền thay đối, bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng nó phải đặt trong lợi ích của các chủ thể khác, bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên
Nếu chúng ta coi nguyên đơn có quyền khởi kiện để làm phát sinh VADS nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của mình với vai trò chủ động thì cũng phải ghi nhận
32
Trang 38quyên phản tô (kiện ngược lại) của bị đơn Tuy nhiên, quyên phàn tô này phải được thực hiện trong mối liên hệ với bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của nguyên đơn và để nguyên đơn có thể chủ động chuẩn bị chứng cứ, tài liệu nhằm bảo vệ mình và phản bác lại yêu cầu bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù không chủ động đi kiện nhưng việc giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thi có thể ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của họ Để giải quyết vụ án toàn diện, triệt để đòi hỏi cần thiết có sự tham gia của người thứ ba này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ghi nhận, quyền đưa ra yêu cầu độc lập là điều kiện đế bảo đảm quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ
* Ghi nhận quyền khiếu nại đối với việc trả lại đơn khởi kiện và quyền kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, cũng như thiết lập cơ chế xem xét lại bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục đặc biệt là quy trình tố tụng khoa học và tiến bộ nhằm cho phép các chủ thể có thể kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án, thể hiện tính dân chủ trong tố tụng, bảo đảm và tạo cơ hội đế quyền khởi kiện của đương sự thực thi có hiệu quả Trả lại đơn kiện hay đình chỉ vụ án không đúng sẽ làm cho quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự không được Toà án xem xét đến và quyền khởi kiện sẽ không được bảo đảm thực hiện trên thực tế Do đó, đế bảo đảm quyền khởi kiện trong những trường hợp này thì pháp luật cần phải ghi nhận quyền khiếu nại của đương sự đối với hành vi trả lại đơn kiện của Tòa án và quyền kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án Trên cơ sở các quyền này người có thẩm quyền, Tòa án cấp trên sẽ xem xét lại tính đúng đắn của việc trà lại đơn khởi kiện hoặc quyết định đình chỉ giả quyết vụ án
Bốn là, những yếu tổ liên quan đến hoạt động của cơ quan tiến hành tổ tụng
33
Trang 39Sự minh bạch, chi tiêt vê nhiệm vụ của người tiên hành tô tụng ảnh hưởng không nhỏ đến việc khởi kiện Khi tham gia TTDS, đương sự không những cần phải nắm rõ các quyền tố tụng của mình mà còn phải hiểu rõ các trình tự, thú tục
để thực hiện các quyền tố tụng đó Bởi, có những quyền tố tụng muốn được thực hiện phải thề hiện cụ thề bằng văn bản và được sự đồng ý, chấp nhận của người tiến hành tố tụng Nếu pháp luật tố tụng không quy định rõ ràng, cụ thể về nhiệm
vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng thì đương sự sẽ không biết được người tiến hành tố tụng có trách nhiệm như thế nào trong việc đảm bảo thực hiện quyền
tố tụng của họ dẫn tới ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền tố tụng của đương
sự Chính vì vậy, cần phải xây dựng trong pháp luật những quy định cụ thể và có các văn bản hướng dẫn chi tiết về nghĩa vụ, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng để góp phần vào việc nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đồng thời, là cơ sở quan trọng đế quyền khởi kiện của đương sự được đảm bảo thực hiện
Pháp luật TTDS tuy đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả thực hiện các hoạt động tố tụng nói riêng và hoạt động khởi kiện và thụ lý VADS nhưng nếu tách riêng pháp luật TTDS với những chủ thể có thẩm quyền tiến hành tổ tụng, đặc biệt là cán bộ, Thẩm phán Tòa án thì hiệu quả sẽ không đạt được TTDS là phương tiện để đạt được công lý, nên đế so sánh, đánh giá luật tố tụng dân sự của mỗi quốc gia phải xem xét đánh giá tổng thể cả luật tố tụng và luật nội dung, mức
độ công nhận và bảo vệ các quyền, địa vị của Tòa án trong quốc gia đó, chứ không chỉ đánh giá các thủ tục một cách riêng rẽ Các quy định của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS dù có đầy đủ, rõ ràng, cụ thể, khoa học nhưng nếu nó không được các cơ quan tiến hành TTDS thực hiện nghiêm chỉnh thi các quy định đó cũng trở nên vô nghĩa Khi nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, bị đơn thực hiện quyền phản tố, yêu cầu độc lập và người có quyền lợi,
34
Trang 40nghĩa vụ liên quan thực hiện quyên yêu câu độc lập tại Tòa án thì cán bộ Tòa án nói chung và Thấm phán nói riêng là những người có thẩm quyền tiếp nhận và xem xét có thụ lý hay không thụ lý đơn kiện cửa các chủ thể nêu trên Do đó, cán
bộ Tòa án, đặc biệt là Thẩm phán cỏ vai trò rất quan trọng trong việc bào đảm thực hiện đúng các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS Khởi kiện
và thụ lý VADS bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như nhận đơn khởi kiện, xử
lý đơn khởi kiện, khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, vào sổ thụ lý vụ án Nếu cán bộ, Thẩm phán được phân công nhiệm vụ nghiên cứu, xem xét đơn khởi kiện có đầy đủ kiến thức pháp luật, kỹ năng, kinh nghiệm sẽ bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS, đơn khởi kiện của đương sự sẽ được xem xét, thụ lý giải quyết theo đúng quy định pháp luật và ngược lại sẽ có những sai sót như chuyển đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện không đúng quy định pháp luật , khiến cho đương sự không thể thực hiện được quyền tiếp cận Tòa án Do vậy, để bảo đảm việc thực hiện khởi kiện, đòi hỏi Thẩm phán phải là người được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, thường xuyên cả về mặt lý thuyết và trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, kịp thời cập nhật thông tin, tri thức đế áp dụng vào thực tiễn xem xét, giải quyết các vụ án dân sự nói chung và việc xem xét đơn khởi kiện, thụ lý VADS nói riêng
Bên cạnh yếu tố năng lực chuyên môn thì tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức của cán bộ, Thẩm phán trong việc nhận và xử lý đơn khởi kiện cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS tại Tòa án Qua việc nghiên cứu cho thấy, quyền được tiếp cận Tòa
án một cách thực tế, hữu hiệu và quyền được xét xử kịp thời trong một thời hạn hợp lý của đương sự là một trong những quyền tố tụng cơ bản đã được pháp luật quốc tế và quốc gia thừa nhận Công lý và thủ tục tố tụng hiện nay đều chịu sự
35