105] Tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự của Tòa án thề hiện qua việc công bố, cung cấp thông tin, giải trình về pháp luật, tồ chức bộ máy, việc thực hiện nhiệm vụ,
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và • nhiệm• vụ• nghiên cứuC j 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩaCZ7 khoa học• và thực tiễn • của luận• văn 8
6.1 về lý luận 8
6.2 về thực tiễn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT 9
CHƯƠNG I: MỌT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ ĐÁNH GIÁ TÍNH CÔNG KHAI, MINH BẠCH CỦA TÒA ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG TÓ TỤNG HÌNH sự 10
1.1 Tính công khai, minh bạch của tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự 10
1.1.1 Khái niệm tính công khai, minh bạch cũa tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự 10
1.1.2 Tính tất yếu của công khai, minh bạch của toà án trong hoạt động tố tụng hình sự 12
1.2 Khái niệm cơ chế đánh gỉá tính công khai, minh bạch của toà án trong hoạt e động e ” tố tụng e ” hình sự e 16
1.3 Đặc điểm cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của toà án trong hoạt động tố tụng hình sự 19
1.3.1 Đối tượng đánh giá 19
1.3.2 Chủ thể đánh giá 19
1.3.3 Nội dung đánh giá 23
1.3.4 Vai trò và tính tất yếu của của cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch 24
Trang 21.3.5 Mục đích đánh giá 29
1.3.6 Phân loại đánh giá 31
1.4 Cơ chế đánh giá 33
1.4.1 Co’ sở xây dựng tiêu chí đánh giá 33
1.4.2 Quy trình đánh giá 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ MỘT SÓ QUỐC GIA VỀ cơ X r r r A •? s X CHÊ ĐÁNH GIÁ TÍNH CỎNG KHAI, MINH BẠCH CỦA TÒA ÁN TRONG HOAT• •ĐÔNG • TỐ TUNG HÌNH su• - NHƯNG KINH NGHIÊM CHO • •VIẼT NAM 38
2.1 Pháp luật quôc tê 38
2.1.1 Co’ sở pháp lý về cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án .38
2.1.2 Ngoại lệ của việc đánh giá tính công khai, minh bạch 39
2.2 Pháp luật một số quốc gia 42
2.2.1 Thành lập Hội đồng tư pháp - Co ’ chế giám sát tính công khai, minh bạch của Tòa án của Somaliand 42
2.2.2 Xây dựng quy trình chọn lọc thẩm phán - Bosnia và Herzegovina và Kosovo 46
2.2.3 Mở rộng điều kiện thực thi công khai, minh bạch bằng công nghệ -kinh nghiệm từ Philippines và Indonesia 51
2.2.4 Mở rộng quyền giám sát của cộng đồng - kinh nghiệm tù’ Afghanistan 59
2.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam 62
2.3.1 Cơ quan giám sát 62
2.3.2 Quy trình chọn lọc thẩm phán 63
2.3.3 Tòa án điện tủ ’ 66
2.3.4 Mỏ’ rộng quyền giám sát cho công dân 66
KÉT LUẬN CHƯƠNG II 68
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CO CHẾ ĐÁNH GIÁ TÍNH CÔNG KHAI, MINH BẠCH CỦA TÒA ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG TÓ TỤNG HÌNH sự 69
Trang 33.1 Thực trạng về CO ’ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của toà án
trong tố tụng hình sự 69
3.1.1 Thực trạng cơ chê đánh giá bên ngoài toà án 70
3.1.2 Thực trạng cơ chế đánh giá nội bộ 76
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá tính công khai, minh bạch của Toà án trong hoạt động tố tụng hình sự 78
3.2.1 Cải thiện cơ sở của cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự 78
3.2.2 Hoàn thiện quy chế lựa chọn thẩm phán và xây dựng hệ thống Toà án điện tử 82
3.2.3 Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch của toà án L trong tô tụng hình sự 91
3.2.4 Thiết lập cơ quan giám sát độc lập 98
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Công khai, minh bạch là thuộc tính tất yểu của nền tư pháp văn minh, hiện đại Trong quá trình cải cách tư pháp, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của
Bộ Chính trị, Nhà nước ta đã có định hướng: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch,
trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành hiệu quả và hiệu lực cao ”. [1, tr 105] Tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự của Tòa án thề hiện qua việc công bố, cung cấp thông tin, giải trình về pháp luật, tồ chức bộ máy, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm liên quan đến hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội Theo Liên Hợp Quốc thì: “Minh bạch xét xử là
[16, tr.106] Do đó, tính công khai, minh bạch là thuộc tính tất yếu của Nhà nước pháp quyền, từ đó đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế đánh giá những thuộc tính này trong hoạt động tố tụng Hình sự của Tòa án
Đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình
sự là quy trinh được thực hiện bởi các cơ quan, tố chức, cá nhân dựa trên những tiêu chí cụ thể được so sánh với mục tiêu đề ra ban đầu nhàm đo lường chất lượng, mức
độ công khai, minh bạch trong hoạt động TTHS đối với Tòa án, do đó mà việc đánh giá có vai trò quan trọng trong cài thiện nền tư pháp liêm chính nói chung và hoạt động tố tụng của Tòa án nói riêng, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp và phát triển Nhà nước pháp quyền Quá trình đánh giá sẽ phân tích tình hình, số liệu thực tế so với chính sách pháp luật và mục tiêu của Nhà nước, nhằm đề ra những phương án, giải pháp nâng cao chất lượng trong hoạt động của Tòa án, hướng tới sự công khai,
Trang 5minh bạch Do đó, việc xây dựng cơ chê đánh giá, cũng như xây dựng khung đánh giá, hệ tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp cũng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý trong hoạt động tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự còn nhiều điểm vướng mắc, bất cập như:
- Cơ chế đánh giá tính công khai, minh hạch của Tòa án trong hoạt động tổ
49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Tuy nhiên, ngày 16-10-2019, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Đề án đã tiến hành tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết 49-NQ-TW nhưng hoàn toàn chưa có quy trình đánh giá chi tiết, hoàn thiện, khoa học và hiệu quả nhằm đáp ứng được yêu cầu xây dựng nền tư pháp trong sách, vững mạnh Cơ chế đánh giá chưa được hình thành rõ nét khi chỉ có Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành việc đánh giá thông qua quyền giám sát, chất vấn tại các kỳ họp Vì vậy các chủ thể đánh giá, đặc biệt là nhân dân khi thực hiện quyền dân chủ nhằm kiểm soát, hạn chế quyền lực Nhà nước lại không có đủ công
cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu của mình Trước những hoạt động của Tòa án, nhân dân thiếu đi cách thức đánh giá tính minh bạch đề làm nền tảng xem xét Tòa án đà thực sự hoạt động hiệu quả, đảm bảo nghĩa vụ minh bạch khi thi hành công vụ, thực hiện trách nhiệm được giao hay chưa, từ đó tiến hành những trình tự, thủ tục pháp lý nhàm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngược lại, Tòa án cũng không có cơ sở, căn cứ để thực hiện việc công khai, minh bạch thông tin
tính công khai, minh bạch hoạt động tố tụng hình sự của Tòa án đã và đang được quy định tại nhiều văn bản khác nhau, tuy nhiên các quy định này chưa toàn diện và không đầy đủ, mang tính nhở lẻ, rải rác và thiểu tập trung Nội
2
Trang 6dung các quy định chưa đây đủ, chi tiêt và nêu rõ việc công khai, minh bạch là công khai, minh bạch vấn đề gì và như thế nào đối với những hoạt động cụ thể nào của Tòa án trong tố tụng hình SỰ V.V Bên cạnh đó, mặc dù đà có những quy định về trách nhiệm đánh giá cùa một số chủ thể nhưng chưa đầy đủ, nhiều nội dung của cơ chế đánh giá chưa được luật hóa Đồng thời, tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Tòa án chỉ được quy định đơn lẻ tại một
số điều luật, chưa phải là yêu cầu bắt buộc đối với cơ quan này
trong hoạt động tố tụng của Tòa án dựa trên căn cứ khoa học nên việc đánh giá chưa đủ khách quan, toàn diện và hiệu quả
Từ những vướng mắc trong lý luận và thực tiễn phân tích trên đây, tác giả lựa chọn đề tài luận văn của mình là “ Đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án
tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài “Đánh giá tỉnh công khai, minh bạch của Tòa án trong
về vấn đề này, được thể hiện qua các sản phẩm khoa học:
- về các công trình nghiên cứu trong các sách chuyên khảo, tham khảo, giáo
trình, có thể kể đến một số tác phẩm như:
(1) J Matzer (Chủ biên), Productivity Impovement Technique, 1SMA:
Washington, 1986
(2) E.A Morley, Partitioners Guide to Public Sector Productivity
improvement, Van Nostrand Reinhold: New York, 1986
(3) J F Wholey, Evaluation and Effective Public Management, Little: Boston,
1983
(4) Kin Sung-ho, The Constitutional Soul of Korea’s democracy, Political
change in Korea (Insight into Korea Series Vol.3), The Korea Herald và Hiệp hội Khoa học chính trị biên tập, NXB Jimoondang, Seoul, 2008
3
Trang 7(5) Cha Dong-wook, “The Constitutional Court: Political or Legal”, Political
change in Korea (Insight into Korea Series Vol.3), The Korea Herald và Hiệp hội Khoa học chính trị biên tập, NXB Jimoondang, 2008
(6) Wen-chen Chang, “East Asian Foundation for Constitutionalism: Three
Models Reconstructed”, National Taiwan University Law Review, 2009 Vol 3:2
(7) Wen-chen Chang, The Emergence of East Asian Constitutionalism:
Features in Comparison, American Journal of Comparative Law, 2011, Vol 59
(8) Wen-Chen Chang, Strategic judicial responses in politically charged cases:
East Asian experiences, I.CON (2010), Vol 8, No 4
(9) Liên Hợp quốc (2011), Hướng dẫn tăng cường năng lực và liêm chính tư
https ://www unodc org/documents/sou theastasiaandpacific/2014/04/j udicia l-vietnam/UNODC_-_Judicial_Integrtiy_Vietnamese.pdf
(10) Nguyễn Quốc Hoàn (2014), Giáo trình luật so sánh, Nxb Công an Nhân
dân, Hà Nội
- về các công trinh nghiên cứu ở cấp độ luận án, luận văn về Đánh giá tỉnh
(1) Nguyễn Thị Anh Minh (2020), Minh bạch trong xét xử theo luật tố tụng
Nội
(2) Nguyễn Ngọc Mai (2020), Minh hạch trong xét xử vụ án hình sự - Pháp
Đại học Quốc gia Hà Nội
(3) Phan Thị Thùy Linh (2020), Quyền được xét xử cồng bằng trong pháp luật
Quốc gia Hà Nội
4
Trang 8(4) Nguyễn Thị Liên Hương (2015), Quyền được xét xử công bằng trong tổ
Hà Nội
- về các công trinh nghiên cứu ở cấp độ bài đăng tạp chí, trang thông tin điện
tử về Đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng
(1) Nguyễn Ngọc Chí, Nguyễn Ngọc Mai, Minh bạch tư pháp trong lĩnh vực
hình sự ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội - Chuyên san Luật học, 2020, tập 36, số 3
(2) Nguyễn Ngọc Chí, Minh bạch và đánh giá tính minh bạch trong hoạt
động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội - Chuyên san Luật học, 2021, tập 37, số 1
(3) Nguyên Anh, Công khai bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử
của Tòa án: Ý nghĩa, thực trạng và giải pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân diện từ, ngày 05/03/2018
(4) Võ Khánh Vinh, về quyền tư pháp và chế độ tư pháp ở Việt Nam, Tạp
chí Tòa án Nhân dân điện tử, ngày 01/07/2019
(5) Phạm Thị Hồng Đào, Quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp theo
Hiến pháp năm 2013, Link tham khảo: https://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc /ctv/news/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ltemld=152 (ngày đăng 28/7/2016)
Các nghiên cứu trên chưa làm rõ được một số vấn đề là điểm mới trong đề tài luận văn mà tác giả lựa chọn:
bản, khái quát chung nhất về cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, chưa xây dựng được khung, hệ tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch này Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu cơ chế đánh giá dựa trên những thành quả của những công trình nghiên cứu khác, đồng thời xây dựng khung, hệ tiêu chí và quy trình đánh giá
5
Trang 9Thứ hai, luận văn tiên hành phân tích thực trạng các quôc gia gặp vân đê vê việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng của Tòa án và các giải pháp mà các quốc gia này đã áp dụng để rút ra bài học kinh nghiệp cho Việt Nam.
Việt Nam và một số giải pháp giúp cơ chế đánh giá này được hiệu quả hơn và nâng cao tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng Hình sự
3 Mục đích • • • <—»và nhỉệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ khái niệm, vai trò và đặc điếm của cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch cùa Tòa án trong tố tụng hình sự, Luận văn hướng tới xây dựng cơ chế, tiêu chí và giải pháp đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu về lý luận và pháp luật về cơ chế, khung, tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự của Tòa án, bao gồm:
- Những vẩn đề lý luận về cơ chế, khung, tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch và vai trò của việc đánh giá chúng trong hoạt động tố tụng hình sự của Tòa án
- Pháp luật và thực tiễn về cơ chế, khung, tiêu chí đánh giá tính công, khai minh bạch ở Việt Nam• •
- Những giải pháp hoàn thiện cơ chế, khung, tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch ở Việt Nam• •
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1 Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
Phương pháp luận: về phương pháp luận, để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, Luận văn áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cúa học thuyết Mác - Lenin Đây là phương pháp khoa học vận dụng nghiên cứu trong toàn
6
Trang 10bộ Luận văn đê xây dựng cơ chê, khung và tiêu chí đánh giá tính công khai và minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự.
Phương pháp tiếp cận: Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận quyền trong nghiên cứu đánh giá tính công khai, minh bạch hoạt động tố tụng hình sự của Tòa án
5.2 Phương pháp nghiên cứu
về phương pháp nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể sau:
cứu, tác giả đà tiến hành rà soát và nghiên cứu các văn bản pháp luật, các tài liệu liên quan, cụ thể: Các văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 ), các giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu hội thảo, tạp chí luật học và các bài báo liên quan đến đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự
tác giả sử dụng rộng rãi trong bài viết nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật liên quan đến cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án tại Việt Nam và Quốc tể Qua đó đưa ra những nhận xét và bài học kinh nghiệp cho Việt Nam
hợp các dữ liệu, các vụ việc thực tế để rút ra các đánh giá liên quan đến Đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự
Phương pháp trao đổi, thảo luận: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả trao đổi với người hướng dần đề lấy ý kiến, nhận xét cũng như thực hiện việc phản biện chéo để tìm ra hướng triển khai phù hợp nhất
7
Trang 116 Y nghĩa~ • • •khoa học và thực tiên của luận văn 6.1 về lý luận
Là một trong những nghiên cứu lý luận về cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án, nên kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần bổ sung cho hệ thống lý luận, cho khoa học pháp lý tố tụng hình sự ở Việt Nam
6.2 về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo đế cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể xây dựng cơ chế đánh giá phù họp với thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự tại Việt Nam và sử dụng để đánh giá mức độ tính công khai, minh bạch của Tòa án trong quá trình hoạt động, thực thi trách nhiệm mà Nhà nước giao phó
7 Kết cấu của luận văn
Chương III: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự
8
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBM-T Tòa án được cộng đồng giám sát (tại Afghanistan)
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẮN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ ĐÁNH GIÁ TÍNH CÔNG KHAI, MINH BẠCH CỦA TÒA ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH Sự
1.1 Tính công khai, minh bạch của tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm tính công khai, minh bạch của tòa án trong hoạt động tố tụng
hình sự
Hoạt động tố tụng hình sự là quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội Quá trình này nhằm xác định sự thật khách quan, nhận thức đúng đắn về
vụ án, bao gồm các giai đoạn: Khởi tố - Điều tra - Truy tố - Xét xử Trong đó, Tòa
án là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN thực hiện quyền tư pháp Trong quá trình xét xử, Tòa án sẽ xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ
đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa
để ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp; quyết định về quyền và nghĩa vụ tài sản, quyền nhân thân cùa các bên dựa trên nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Quyền tư pháp là quyền xét xử, nhưng phạm vi quyền tư pháp lại trải rộng từ đầu cho đến khi thi hành xong bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa
án - cơ quan xét xử [9, tr 105] Theo GS.TSKH Đào Trí ủc thì phạm vi của quyền
tư pháp bao gồm từ hoạt động khởi tố, điều tra và kết thúc ở việc thi hành xong bản
án hình sự Các giai đoạn trên đều nhằm tạo cơ sở, tiền đề đế Tòa án thực hiện quyền tư pháp - xét xử của mình Do đó, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tư pháp, nhưng lại có nhiều chủ thể khác tham gia thực hiện quyền tư pháp, như: Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên
Tòa án giữ vị trí trung tâm thực hiện hoạt động trọng tâm là xét xử trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, tại Việt Nam Tòa án không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn tham gia vào hoạt động Điều tra và Truy tố, được thể hiện qua một số quyền của Hội đồng xét xử như: Trả hồ sơ điều tra bổ sung hay Khởi tố vụ
án hình SỰ V.V Đe đảm bảo các nguyên tắc tố tụng hình sự được thực thi thì Tòa án tại Việt Nam có quyền tham gia ngay từ đầu giai đoạn Khởi tố, Điều tra, cho tới
10
Trang 14Truy tô, Xét xử và Thi hành án Tòa án đóng vai trò vào hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động đó, là sự liên hệ cần thiết đế đảm bảo xác định chính xác trách nhiệm hình sự của người phạm tội dựa trên cơ chế kiểm soát tội phạm.
Tòa án, Viện Kiểm sát và Cơ quan điều tra được tổ chức theo mô hình phối hợp, kiểm soát lẫn nhau nhằm đảm bảo mục tiêu tránh bở lọt người phạm tội Tuy nhiên, hệ thống Tòa án còn được tồ chức theo mô hình phân cấp, theo mối quan hệ quản lý, điều hành - chấp hành của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới Do đó, hoạt động của Tòa án trong tố tụng hình sự được thể hiện qua nhiều phương diện khác nhau
Trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự thì giai đoạn xét xử đóng vai trò trọng tâm, quyết định hành vi của một cá nhân, pháp nhân có phải là tội phạm hay không Do đó mà Liên Hợp Quốc đã đặc biệt gắn trách nhiệm Minh hạch trong xét
xử cùa Tòa án, và định nghĩa nó như sau: “ Minh bạch xét xử là một giá trị quan
phủi được nhìn thấy là đã thực thi Minh bạch xét xử cũng được công nhận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong các tài liệu nhân quyền quốc tế, trong đỏ
trong những nền tảng của quyền được xét xử công bằng” [16, tr.106]
Tại Việt Nam thì quan niệm Minh bạch theo nghĩa hẹp và tách Công khai theo nghĩa là một tính chất riêng biệt, tuy nhiên theo quan niệm chung trên thế giới khi
đề cập đến Minh bạch sẽ bao hàm cả ý nghĩa của Công khai. Sự khác nhau này không ảnh hưởng tới bản chất của việc đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa
án Giáo sư Luật học Lynn M LoPucki khi đặt khái niệm “Minh bạch” trong bối cảnh hoạt động cùa Tòa án thì ông cho rằng: “ Minh bạch ” có nghĩa là công chúng
sẽ có quyền truy cập trực tuyến, không chỉ vào các tài liệu trong hồ sơ của Tòa án,
mà còn có thê có câu trả lời cho hàng loạt những câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến hiệu suất làm việc của hệ thống Tòa án ” [49, tr 109]
Theo sách Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2007 thì “Công khai” là "không giấu
11
Trang 15diêm, bí mật mà cho mọi người cùng bỉêt" (tr 346) Cụm từ “Công khai” thường đi cùng và gắn liền cụm từ “Minh bạch” Cũng theo sách Đại từ điền nếu trên thì
“Minh bạch” là "sáng rõ, rành mạch" (trang 1037) [36, tr 108]
Trong phạm vi đề tài của Luận văn, tác giả cho ràng khái niệm Công khai và
thuật ngữ này Công khai là sự công bố, cung cấp và đưa thông tin tới công chúng,
từ đó mà bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng có thể thấy được, chứng kiến được và tiếp cận được Đối với thuật ngữ Minh bạch thì nên được hiểu là sự tường minh, rõ ràng, rành mạch, qua đó các chú thể khi tiếp cận có thể hiểu được Tóm lại,
hình sự người phạm tội thì mọi hoạt động của Tòa án cần phải công khai đế công chúng có thể thấy được và minh bạch để công chúng có thể hiểu được
1.1.2 Tính tất yếu của công khai, minh bạch của toà án trong hoạt động tố
a Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin
Quyền tiếp cận thông tin (RTI) được quy định trong một loạt các văn kiện quốc tế Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1CCPR) quy định rằng “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm
thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ ”
[4, tr 105]
Quyền đối với thông tin về bản chất có liên quan với quyền tự do quan điểm
và biểu đạt, như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 thể hiện: “Mọi người có quyền
12
Trang 16ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyên tìm kiêm, tiêp nhận cùng phô
gia.” [35, tr 108]
Tương tự, tại Điều 2 của Công ước của Hội đồng Châu Âu về Quyền truy cập vào Tài liệu của chính quyền nhằm đảm bảo “Mọi người, không bị phân biệt đổi xứ
với hoạt động của nền xã hội dân chủ Tổ chức nhân quyền tại Anh cho rằng: “Nỏ
có thê đấy mạnh sự tham gia của công dân và hoạt động kinh tế - xã hội, cùng với
đó là quyền chính trị, thúc đẩy sự phát triển, hiệu suất kinh tế và khiến những cơ
cùng dịch vụ công của họ” [47, tr.109]
Trong những nồ lực thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin, Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ và Liên minh Châu Phi có “luật mẫu” đóng vai trò như nhừng tham số cho những thông lệ quốc tế về vấn đề này Nó liên quan cụ thể tới những thủ tục tư pháp, quyền truy cập vào các hồ sơ của Tòa án có thể được hiểu là một trong những biểu hiện của RTI Quyền cụ thể này không nên nhầm lẫn với quyền truy cập vào thông tin do cơ quan tư pháp quản lý Vì nó có liên quan đến nhánh Tư pháp, do đó việc tiếp cận thông tin có thể kể đến như:
- Điều hành và quản lý hệ thống tư pháp
- Quá trình tố tụngThông tin trong tố tụng hình sự có thể kế tới nhiều loại tài liệu khác nhau như:
Hồ sơ vụ án; Phán quyết của Tòa án; Thống kê về các trường hợp đã nộp, đã giải quyết hoặc đang chờ xử lý; Biên bản nghị án của Tòa án; Kèm theo phạm vi truy cập thông tin là một loạt các mức độ quan trọng và quyền truy cập khác nhau Điều
đó thì thường được các bên đương sự, luật sư của họ cho phép công chúng truy cập
Bên cạnh việc yêu cầu tính minh bạch đối với hồ sơ của Tòa án thì Tòa án tối cao (và các tòa án cấp dưới trong một số trường hợp) tại một số quốc gia như Brazil, Canada và Vương quốc Anh, cũng như một số Tòa án quốc tế thì cho phép
13
Trang 17(thậm chí yêu câu) việc phát sóng các phiên tòa của họ trên tivi, radio và/hoặc mạng internet
Một số lý do cần thiết khi cho phép công chúng quyền truy cập vào hồ sơ của Tòa án, đó là: Nó thúc đẩy niềm tin vào hệ thống tư pháp và sự thực thi công lý thông qua việc tăng hiệu suất và sức ảnh hưởng Sự đánh giá tính hiệu quả của cơ quan tư pháp (Ví dụ như Bảng điểm công lý của Liên minh Châu Âu) chỉ khả thi khi họ công khai dữ liệu về hiệu suất làm việc của họ Đây là điểm khởi đầu cho các cải cách và chính sách điều chỉnh nhằm mục đích giúp cho các Tòa án hoạt động hiệu quả hơn, và từ đó cúng cố những quy định của pháp luật
Nhận thức của mọi người về cơ quan tư pháp và niềm tin của họ vào nó là rất khác nhau Tăng tính minh bạch có khả năng cải thiện hoạt động của cơ quan tư pháp vì nó cung cấp thông tin xác đáng hơn tới công chúng và tạo ra những sự so sánh giữa các đất nước khác nhau Từ đó cũng khuyến khích những thẩm phán và Tòa án có lối hành xử đúng đắn hơn, giám sát những hành động của họ một cách công khai
b Bảo đảm quyền đưọc xét xử công bằng
Không tồn tại một nền tư pháp minh bạch nếu không có quyền được xét xử công bằng Mạng lưới các Hội đồng Tư pháp Châu Âu tuyên bố: “Một nền tưpìỉảp
khách quan do luật định ” [44, tr.109]
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (TCCPR) nhàm được bảo đảm quyền được xét xử công bằng, điều đó có nghĩa là trách nhiệm của Tòa án là phải công khai những phán quyết của mình Công ước tuyên bố rõ ràng rằng: “Mọi người đều bình đắng trước các toà án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một to à ấn có thâm quyền, độc lập, không
trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong
14
Trang 18các vụ kiện dân sự Báo chí và công chúng có thê không được phép tham dự toàn hộ
gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vì lợi ích cuộc sống riêng tư của các bên tham
công lý Tuy nhiên mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự phải
việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em. ” (Điều 14) [4, tr.105]
Tương tự, Công ước về nhân quyền của Hòa kỳ cho rằng: “Thủ tục tố tụng hình sự sẽ được công khai, ngoại trừ trong chừng mực có thể cần thiết để bảo vệ lợi
Công ước Châu Âu về nhân quyền xác nhận rằng: Trong phán quyết cùa Tòa
án về quyền và nghĩa vụ hoặc về bất cứ lời buộc tội nào đối với bất kì ai thì đều có quyền được xét xử công bằng và công khai trong một khoảng thời gian hợp lý bởi một Tòa án độc lập và khách quan được thành lập theo quy định của pháp luật Phán quyết sẽ được tuyên bố công khai nhưng báo chí và công chúng không được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên tòa nhằm đảm bảo đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ - nơi mà bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc bảo vệ đời sống riêng tư cho các đương sự theo yêu cầu của họ, hoặc theo quan điểm của Tòa án là cần thiết để tránh phương hại đến lợi ích của công lý (Điều 6) [43, tr 109]
Tòa án nhân quyền Châu Âu (2019a; 2019b) đã ban hành những hướng dẫn, giải thích Điều 6 về khía cạnh Dân sự và Hình sự rằng “Việc hoàn toàn che giấu về toàn bộ quyết định tư pháp đối với công chúng là không được phép biện minh Những lo ngại về an ninh họp pháp có thể được điều chỉnh thông qua các kỹ thuật nhất định, ví dụ như phân loại những quyết định tư pháp mà nếu tiết lộ sẽ gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia hoặc sự an toàn cùa những người khác” (ECHR 2019b) Trong mọi trường họp, Tòa án phải cung cấp những lý do cụ thể và đầy đủ khi
15
Trang 19muôn hạn chê sự công khai vê một phiên tòa hoặc/và một phán quyêt Cân lưu ý ràng Bị đơn có quyền được truy cập thông tin về thù tục tư pháp mà họ là một bên trong tố tụng nhằm đảm bảo đúng thủ tục.
Ngoài khuôn khổ nhân quyền quốc tế, các yêu cầu về tính minh bạch cũng được đặt ra trong Công ước của LHQ về chống tham nhũng (ƯNCAC) Điều 10 nêu
rõ rằng: “Xét đến sự cần thiết phải đấu tranh chống tham nhũng, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bán của pháp luật nước mình, mỗi quổc gia thành viên sẽ
chính công, ké cả về tổ chức, quá trình thực hiện và ra quyết định [5, tr.1051
Như vậy, khi Tòa án xét xử công bằng thì các quyền của bị can, bị cáo được bảo đảm thực thi, trong đó có quyền tiếp cận thông tin Đồng thời, một khi Tòa án thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử công bằng của mình thi đó là nền tảng đế cơ quan này sẵn sàng công khai, minh bạch thông tin của vụ án mà không chịu sự ràng buộc, hoặc những nỗi lo sợ khuất tất nào đó
Những phân tích trên cho thấy, minh bạch tư pháp là đòi hỏi tất yếu khách quan
trong nhà nước pháp quyền, là một bảo đảm quyền con người và có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội
1.2 Khái niệm cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của toà án trong
hoạt động tố tụng hình sự
Những năm gần đây, nhờ sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc, các hội nghị quốc tế tập hợp các chuyên gia về hoạt động quản lý nhà nước thường xuyên được tồ chức Trong khuôn khổ các chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc, nhiều công trình,
đề tài nghiên cứu khoa học lớn về liêm chính tư pháp nói chung và đánh giá tính công khai, minh bạch hoạt động của Tòa án nói riêng được thực hiện Cùng với đó
là các nghiên cứu so sánh về phương pháp đánh giá và thành tựu của các nước trong lĩnh vực này Từ đó đến nay, các chuyên gia của Liên Hợp Quốc đã có nhiều đóng góp trong việc phố biến thành tựu cùa nghiên cứu đến các vùng và khu vực khác nhau trên thế giới, đề xuất các mô hình cải cách và đánh giá hiệu quả cải cách tư
16
Trang 20pháp phù hợp với mỗi quốc gia Trong xu hướng cải cách tư pháp đó, việc đánh giá hiệu quả các cơ quan tư pháp được coi trọng, xuất phát từ sự thâm hụt ngân sách gia tăng, áp lực từ phía các đối tượng nộp thuế và nhằm khắc phục chủ nghĩa quan liêu
Do đó, đánh giá và nâng cao tính liêm chính tư pháp trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các quốc gia Trong giai đoạn này, nhiều công trình nghiên cứu đã bổ sung và hoàn thiện lý thuyết về hiệu quả và tiếp cận nghiên cứu các phương pháp quản lý trong khu vực tư để áp dụng và khu vực công Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Productivity Impovement
của Morley E.A [51, tr 109]; Evaluation and Effective Public Management (Đánh giá về hiệu quả của quản lý công) của Wholey J F [59, tr 110]
ớ Việt Nam, khi đề cập đến tính tất yếu, đòi hởi khách quan của việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án được đa số các nhà nghiên cứu thừa nhận và nhấn mạnh trong các nghiên cứu gần đây.[7, tr 105] “Nếu như công khai, minh bạch là quy luật tất yếu đối với hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án trong nhà nước pháp quyền thì việc đánh giá mức độ đạt được tính công khai, minh bạch thì việc đánh giá nó so với mục tiêu đặt ra cũng là đòi hởi khách quan, do yêu cầu của việc kiểm soát thực hiện quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét xử của Toà án Nếu như tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự đã được thể hiện trong hệ thống pháp luật thì sẽ đòi hỏi sự kiểm tra, đánh giá mức độ minh bạch được thể hiện như thế nào trong thực tiễn xét xử, đồng thời thông qua đó cũng đánh giá được mức độ thoa mãn các yêu cầu về tính minh bạch trong hoạt động xét xử của xã hội đối với hệ thống pháp luật.” [26, tr.107]
Việc đánh giá tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự cần phải được tiến hành trên hai phương diện, đó là mức độ minh bạch được thể hiện trong các hệ thống pháp luật TTHS và mức độ đạt được về tính minh bạch trong thực tiễn
17
Trang 21hoạt động xét xử của Tòa án Trên cả hai phương diện này, khi tiên hành đánh giá cần phải dựa trên các cãn cứ, tiêu chí nhất định làm cơ sở và lập luận cho việc đánh giá Nói cách khác, việc đánh giá tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình
sự cần phải được tiến hành trên hai phương diện, đó là mức độ minh bạch được thể hiện trong các hệ thống pháp luật TTHS và mức độ đạt được về tính minh bạch trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án
Đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án được đặt trong cơ chế thực hiện quyên lực ở mỗi quốc gia, trên cơ sở đó, hình thành nên
cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án Ớ nước ta, do cơ cấu tổ chức đặc thù của Tòa án tại Việt Nam mà hoạt động của Tòa
án trong tố tụng hình sự nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội phục vụ cho hoạt động xét xử được thế hiện qua 03 phương diện sau: Hệ thống pháp luật tố tụng hình sự; Thực tiễn xét xử; và Các hành vi hành chính, quyết định hành chính đối với việc quản lý, điều hành - chấp hành của hệ thống Tòa án và các
cơ quan phối hợp liên ngành Vì vậy, cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của tòa án thế hiện những đặc điểm này
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí thì: “Cơ chế đánh giá tính công khai, mình bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án là sự vận hành
xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại thời đỉêm nhất định theo quy định của pháp luật và quy trình được ấn định nhằm xác định mức độ minh bạch được thế
trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án ” [26, tr.107]
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Cơ chế đánh giá tính công khai, minh
quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội của Tòa án.
18
Trang 22Khung, tiêu chí đánh giá được hiêu là những dâu hiệu, tính chât thê hiện mức
độ hiệu quả, hợp pháp và hợp lý cùa hoạt động xét xử, quyết định hành chính, hệ thống pháp luật nhằm soi chiếu thực tiễn để đưa ra kết quả đánh giá về tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự
1.3 Đặc điểm CO’ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của toà án trong
hoạt động tố tụng hình sự
1.3.1 Đối tượng đánh giá
về đối tượng đánh giá, việc đánh giá tính công khai, minh bạch thể hiện qua các hoạt động của Tòa án nhằm mục tiêu phục vụ quá trình giải quyết vụ án hình sự của minh Trong đó có 03 phương diện sau: Hệ thống pháp luật tố tụng hình sự; Thực tiễn xét xử; và Các hành vi hành chính, quyết định hành chính đối với việc quản lý, điều hành - chấp hành của hệ thống Tòa án và các cơ quan phối hợp liên ngành
Hệ thống pháp luật tố tụng hình sự cần thể hiện được các nội dung về đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án Bao gồm nhiều nội dung như nguyên tắc và những đảm bảo cho việc thực thi cơ chế đánh giá; Quy trình, thủ tục tố tụng ra sao v.v
Trong hoạt động xét xử, Tòa án sẽ phối họp, kiểm sát với nhiều cơ quan khác nhau, theo đó Tòa án sẽ có những quyết định tư pháp, hành chính phục vụ cho hoạt động xét xử của mình Mối quan hệ giữa các tòa án cấp trên - cấp dưới, và giữa Tòa
án - các cơ quan, người tiến hành tố tụng khác sè nãy sinh nhiều hành vi, quyết định pháp lý Cơ chế đánh giá cần soi chiếu vào những đối tượng đó để xem xét, đo lường tính công khai, minh bạch của chúng
Cuối cùng là phiên tòa xét xử, Tòa án cần tuân thủ các quy định về nguyên tắc
và trình tự phiên tòa, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong vụ án Mỗi hành
vi, quyết định pháp lý của Tòa án đối với các chủ thể trong phiên tòa cần đảm bảo tính công khai, minh bạch
1.3.2 Chủ thể đánh giá
19
Trang 23Vê chủ thê đánh giá, bât cứ cơ quan, tô chức, cá nhân nào cũng có thê thực hiện cơ chế đánh giá của mình Tuy nhiên có thề chia làm 02 dạng là: Đánh giá trong và đánh giá ngoài Tòa án.
Đối với việc đánh giá trong Tòa án thì trước hết sể do từng Tòa án và Tòa án cấp trên tiến hành xác định mức độ công khai, minh bạch đối với các hoạt động của mình Ngoài ra, nằm trong cùng hệ thống Tòa án, các Tòa án phải đảm bảo sự độc lập, song cần có sự đánh giá khách quan đối với việc đánh giá các cán bộ, công chức Tòa án cũng như có sự báo cáo hoạt động đối với cấp trên [32, tr 108] Ví dụ như ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao về công tác của Tòa án nhân dân cấp cao để báo cáo Tòa án nhân dân tối cao Xuất phát từ cơ cấu tổ chức hệ thống Tòa
án, việc đánh giá tính công khai, minh bạch được thực hiện theo cấp tòa án, tòa án cấp trên xem xét, đánh giá đối với tòa án cấp dưới Song vẫn phải đảm bảo tính độc lập cùa hệ thống Tòa án Một trong những tiêu chí hàng đầu được đặt ra trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) là phải luôn đảm bảo tính khách quan, sự công minh của người cầm cân nảy mực Và để đạt được tiêu chí này thì đòi hỏi trong hoạt động của mình TAND phải độc lập Có thực sự độc lập, không lệ thuộc vào các cơ quan khác thì TAND mới thực sự khách quan trong việc phán xét các vụ
án theo đúng quy định của pháp luật [10, tr 105] Do đó, một bản án, quyết định của Tòa án phải đảm bảo được sự công khai, minh bạch nhằm tránh trường hợp chịu sự tác động từ các cơ quan cấp trên
Đối với đánh giá ngoài Tòa án thi Tòa án là một thiết chế nằm trong sự phối hợp với Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình
sự của người phạm tội, được đặt trong một mối liên hệ dưới phương pháp điều chỉnh chế ước, nên trước tiên, việc đánh giá tính công khai, minh bạch là Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cần có sự kiểm soát lẫn nhau giừa các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) bàng việc kiểm tra công việc cùa các bên, kiểm tra tính đúng đắn cúa việc giải quyết vụ án Ví dụ như việc
20
Trang 24Tòa án ra bản án, quyêt định, nêu xét thây có các căn cứ trái pháp luật thì Viện kiêm sát có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án.
kiểm sát hoạt động tư pháp, nghĩa là, Tòa án cũng sẽ chịu sự kiếm soát bởi VKS trong các giai đoạn tố tụng Chính sự tham gia vào việc đánh giá tính công khai, minh bạch của VKS làm cho mọi hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo đúng yêu cầu là có truy tố về hành vi, về con người thì mới được xét xử Toà án không thể tuỳ tiện làm trái thủ tục tố tụng, do đó pháp luật quy định Viện kiểm sát ngoài chức năng công tố còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, đó là giám sát việc tuân thủ của hội đồng xét xử tại phiên toà, cũng như giám sát hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền Trong trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng tại phiên toà thì kiểm sát viên có quyền ý kiến trực tiếp
Mặt khác, sau khi xét xử thì Viện kiểm sát có quyền ban hành kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử hoặc ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để giải quyết lại vụ án khi có căn cứ luật định Như vậy có thế thấy, dù Toà án có quyền độc lập trong việc phán quyết, tuy nhiên nếu trái pháp luật thì Viện kiềm sát có quyền kiến nghị, kháng nghị đề đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật của Toà án Pháp luật nước ta còn quy định, nếu kiến nghị của Viện kiếm sát không được Toà án tiếp thu, thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Toà án cấp trên và báo cáo Viện kiểm sát cấp trên để kiến nghị được đảm bảo thực hiện Qua hoạt động giám sát của Viện kiểm sát còn giúp cho Toà án tránh được những sai sót, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế Như vậy, sự đánh giá của VKS đặt trong mối quan hệ với Tòa án đảm bảo cho hoạt động xét xử được đúng pháp luật, từ đó, đảm bảo được sự công khai, minh bạch của Tòa án
khác nhau, thực hiện nhừng nhiệm vụ riêng, tuy nhiên lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trên thực tế, việc cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra của mình là nhằm hướng đến một mục đích chung là giải quyết các vấn đề về tội phạm Chính vì vậy, khi nhận thấy có các căn cứ theo quy định, Tòa án có thể xem xét trả
21
Trang 25hồ sơ để điều tra bổ sung, chuyển hồ sơ cho VKS, VKS chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra Qua việc điều tra bổ sung mà cơ quan điều tra có thể thực hiện việc đánh giá tính công khai của Tòa án đối với việc thông báo, thông tin đến các cơ quan đồng thời cũng nhận thấy tính minh bạch trong việc đưa ra các quyết định.
Thậm chí ngay cả trong giai đoạn thi hành án hình sự, cũng sẽ bắt gặp các hoạt động của cơ quan điều tra nằm trong mối quan hệ giữa Tòa án liên quan đến đánh giá tính công khai, minh bạch Ví dụ, sau khi bản án tử hình được đưa vào thi hành, Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành ấn và quyết định thành lập Hội đồng thi hành án, trong đó có Giám đốc cơ quan công an cấp tỉnh, thành phố Trong nhiều trường hợp, Giám đốc Công an ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan điều tra Sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan điều tra đảm bảo tính pháp lý khi thi hành bản án tử hình [29, tr 107] Ví dụ này càng xác định rõ sự tác động của cơ quan điều tra và Tòa án trong việc phối hợp thực hiện các hoạt động cùa tố tụng, tiến đến việc đảm bảo tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự
Việc giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân còn có Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát theo quy định của luật [17, tr.106]
sát lẫn nhau, thì dư luận xã hội cũng là một trong những chủ thể chính tham gia vào việc giám sát, đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự Ngoài việc chủ động tham gia vào việc giám sát từ người dân hay các
cơ quan báo chí thì thậm chí Tòa án cũng tự mình chủ động xây dựng các hoạt động
để tăng cường sự thu hút từ dư luận như tổ chức xét xử lưu động, báo chí phản ánh, Do đó, công tác xét xử và dư luận xã hội, dư luận nhân dân có mối quan hệ với nhau không chỉ một chiều
Một mục tiêu mà Tòa án luôn hướng tới là các bản án, quyết định của Tòa án được dư luận nhân dân đồng tình ủng hộ Lắng nghe dư luận, lắng nghe ý kiến chuyên gia, luật sư, nhà báo để có cái nhìn đa chiều về vụ án mà hồ sơ không đủ
22
Trang 26phản ánh hêt, đê giải quyêt được đúng đăn, toàn diện hơn là rât cân thiêt Do đó, nhiều Tòa án đã thu thập tất cả những bài báo phản ánh, nhất là phản ánh trái chiều
về vụ án mà Tòa án đã xét xử hoặc chuẩn bị xét xử để tiếp thu, xử lý kịp thời nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án Mặc dù không phải ý kiến của dư luận lúc nào cũng là đúng, nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò của nó trong việc đánh giá tính minh bạch đối với hoạt động của Tòa án, khiến cho nhiều vụ việc chưa sáng tỏ trở nên sáng tỏ, chưa đúng đắn trở nên đúng đắn
1.3.3 Nội dung đánh giá
về nội dung đánh giá, việc đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự thực hiện qua hoạt động giải quyết vụ án hình sự và kết quả của việc giải quyết vụ án
Trong tố tụng hình sự, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được hảo đảm là một trong những nguyên tắc chủ đạo và nền tảng [2, tr.105] Hiện nay về việc xác định tranh tụng xuất hiện từ thời điểm nào của tố tụng hình sự có nhiều ý kiến khác nhau: Có quan điểm cho rằng, tranh tụng được bắt đầu muộn hơn thời điểm bắt đầu của quá trình tố tụng hình sự (sau khởi tố vụ án) và kết thúc sớm hơn thời điểm kết thúc của nó (khi bản án có hiệu lực pháp luật); có quan điềm lại cho rằng quá trình tranh tụng bắt đầu cùng với thời điểm bắt đầu của quá trình tố tụng hình sự (cùng với giai đoạn khởi tố vụ án); cũng có quan điếm cho ràng tranh tụng chính là tranh luận tại tòa (tranh tụng chỉ có trong giai đoạn xét xử) Tuy nhiên hiểu theo nghĩa thông thường nhất, tranh tụng được thể hiện tập trung, rõ nhất trong phiên xét xứ vụ
án và gắn liền với chức năng tài phán Tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa và với sự tham gia của đầy đủ tất cả các chủ thể buộc tội, bào chữa Đặc biệt, tại phiên tòa tất cả các chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định có tội, các tranh luận, đối đáp đều phải tiến hành trực tiếp, công khai tại phiên tòa Như vậy, việc tiến hành trực tiếp, công khai các vấn đề cần giải quyết của vụ án hình sự là nền tảng cơ sở để Tòa án - được trao nhiệm vụ là trọng tài xem xét, đánh giá trực tiếp chứng cứ của cả hai bên buộc tội và gỡ tội để rồi đưa
ra bản án, quyết định đúng căn cứ pháp luật, hay nói cách khác thì mục đích của
23
Trang 27việc tranh tụng tại phiên tòa chỉ có thê được thực thi khi đảm bảo được tính công khai và minh bạch trong quá trình tranh tụng.
về việc đưa ra các quyết định tư pháp khác, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Tòa án có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án, khi có căn cứ theo quy định của pháp luật Tất cả các quyết định này cần phải chuyển cho Viện kiểm sát, và thông báo cho bị cáo, người bào chữa được biết Đây là một hình thức công khai nhằm đảm bảo Tòa án đưa ra quyết định có căn cứ pháp luật, đồng thời các căn cứ này phải rõ ràng, minh bạch
về kết quả của việc giải quyết vụ án hình sự, hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành công khai bản án, quyết định của Toà án đà có hiệu lực pháp luật Ớ Việt Nam, việc thực hiện công khai, minh bạch các hoạt động của Toà án nói chung
và công khai bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nói riêng là chủ trương lớn cùa Đảng và Nhà nước [1, tr 105], theo đó Toà án có trách nhiệm
“ từng bước thực hiện việc công khai các bản án ” Cũng để đảm bảo quyền con người cơ bản là quyền được tiếp cận thông tin, vậy nên, cá nhân, cơ quan, tố chức
có quyền tiếp nhận các thông tin của Toà án và Toà án có trách nhiệm công khai, minh bạch trong hoạt động của mình
1.3.4 Vai trò và tính tất yếu của của cơ chế đánh giá tính công khai,
minh bạch
Nếu như công khai, minh bạch là quy luật tất yếu đối với hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án trong Nhà nước pháp quyền thì việc đánh giá mức độ đạt được tính công khai, minh bạch thì việc đánh giá nó so với mục tiêu đặt
ra cũng là đòi hỏi khách quan, do yêu cầu của việc kiểm soát thực hiện quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét xử của toà án Nếu như tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự đã được thế hiện trong hệ thống pháp luật thì sẽ đòi hỏi
sự kiểm tra, đánh giá mức độ minh bạch được thể hiện như thế nào trong thực tiễn xét xử, đồng thời thông qua đó cũng đánh giá được mức độ thỏa mãn các yêu cầu về
24
Trang 28tính minh bạch trong hoạt động xét xử của xã hội đôi với hệ thông pháp luật [26, tr.107]
Việt Nam vẫn trong quá trình định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, mà tại đó mọi chủ thể cần thượng tôn pháp luật và thực thi các quy tắc xử sự mà pháp luật yêu cầu Nhà nước pháp quyền trở thành hình mẫu lí tưởng, một xu thế tất yếu
mà các quốc gia dân chủ trên thế giới hướng tới để xây dựng và phát triển Trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ cai trị tùy tiện thì Việt Nam đang hướng tới xây dựng một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, phục tùng pháp luật
Nếu như trước kia, tư pháp hình sự chủ yếu quan tâm tới việc làm thế nào đề giải quyết tội phạm nhanh chóng và ngăn ngừa nó thì như một lẽ tất yểu rằng ngày nay con người quan tâm tới quá trình tố tụng hình sự được thực hiện như thế nào, có hiệu quả và bảo đảm quyền con người hay không Quyền lực thuộc về nhân dân và
do Nhà nước đại diện thực hiện Do đó, tội phạm xâm phạm tới quyền và lợi ích của con người cũng chính là xâm hại tới các tế bào của quốc gia, tới chủ thể nắm giữ quyền lực Vì vậy mà Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để xét xử người phạm tội, qua đó bảo vệ công ý, bảo vệ quyền con người và sự phát triến ốn định của xã hội
Quyền tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực có sự kiểm soát, đối trọng và
hỗ trợ lẫn nhau giúp gìn giữ và bảo vệ pháp luật, xử lý các hành vi vi phạm Trong Nhà nước pháp quyền, khi nhân dân trao quyền lực cho Nhà nước đại diện thực hiện thì đặt ra yêu cầu rằng nhân dân phải có quyền biết nhừng thông tin cần thiết để kiểm soát hoạt động của Nhà nước, đồng thời Nhà nước có nghĩa vụ phải công khai, minh bạch trong hoạt động của mình Trong bối cảnh là tư pháp hình sự thì việc công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan vì Tòa án là cơ quan nhân danh quyền lực Nhà nước để quyết định số phận pháp lý của người phạm tội, qua đó mà bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người Do
đó mà cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch cũng là tất yếu vì nó giúp đo lường, xác định thực trạng xét xử của Tòa án có đáp ứng được những yêu cầu, tiêu chí đã đặt ra trước đó hoặc so sánh với thực trạng của giai đoạn trước về yêu cầu
25
Trang 29công khai, minh bạch hay không Cơ chê đánh giá cho phép chủ thê đánh giá kêt luận được mức độ thượng tôn pháp luật của Tòa án, mức độ bảo vệ quyền con người thông qua các tiêu chí về công khai, minh bạch v.v Như vậy, có thể khẳng định cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch cùa Tòa án trong xét xử là yêu cầu tất yếu của Nhà nước pháp quyền.
Ngay từ thời kỳ cồ đại các nhà tư tưởng như: Plato và Aristotle, Cicero đã quan tâm tới quyền tư pháp dưới những nghiên cứu về Nhà nước, phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, về thi hành pháp luật, nhưng còn sơ khai Thời kỳ tiền trung cổ Augustinus, Thomas von Aquin và Marsilius von Padua đã quan tâm nghiên cứu về tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước, các tác giả cho rằng trong Nhà nước tồn tại các nhánh quyền lực và các nhánh quyền này cần được tách bạch Thời kỳ Trung cổ có các đại diện như: J.Bodin, Th.Hobbes và V.L.von Seckendorff, thời cận đại (đến khoảng năm 1900) có các đại diện như: John Locke, Montesquieu, Đây là thời kỳ có những cuộc luận chiến về tổ chức quyền lực Nhà nước, nhiều tác giả cho rằng để hạn chế quyền lực, chống độc quyền nên cần áp dụng nguyên tắc phân quyền giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong trào lưu chính thống của triết học Đức về vấn đề Nhà nước, tư pháp phải kể đến I Kant, G
w F Hegel và K Marx, Các công trình thề hiện tư tưởng phân quyền trong việc
tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước, cũng như thiết kế bộ máy công quyền, về thực thi và chấp hành pháp luật được đề cập khá nhiều, nhưng việc khảo cứu sâu về
tư pháp, tòa án, đặc biệt là đặc tính minh bạch và hiệu quả hoạt động của Tòa án chỉ mới được quan tâm nhiều hơn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Đến cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, các phương pháp đánh giá về hiệu quả
và tác động của chính sách pháp luật ở các nước phương Tây đà được xem như là phương pháp phân tích trong lĩnh vực chính trị - hành chính và tư pháp Do áp lực phải siết chặt chi tiêu ngân sách do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu lửa vào năm 1973 và những phê phán của nhóm tự do mới đối với việc mở rộng Nhà nước phúc lợi nên đã xuất hiện những nghiên cứu về việc xem xét, kiểm soát chi phí dành
26
Trang 30cho các chương trình chính sách và hướng tới đánh giá “đâu vào - hiệu quả” hơn là
“đầu ra - hiệu lực” [26, tr.107]
Hội nghị quốc gia về phát triển bền vững Rio+20 công nhận rằng: “Sự tham
và thủ tục hành chính là cần thiết cho việc thúc đẩy phát triển bền vững ” [54, tr.llOJ
Nhận thức của công chúng về cải cách tư pháp và sự công bằng của hệ thống tòa án là hết sức quan trọng đối với việc nâng cao lòng tin của công chúng vào hệ thống tư pháp Có thể nói rằng, sự công bằng trong nhận thức được về tiến trình xét
xử thậm chí còn có tác động to lớn đối với mức độ tin tưởng của công chúng hơn là
sự công bằng trong kết quả xét xử Việc thúc đẩy, tạo dựng và duy trì lòng tin của công chúng là mục tiêu cuối cùng của bất kỳ nỗ lực cải cách tư pháp nào Nói một cách đơn giản, không một biện pháp nào trong số các biện pháp đánh giá này sẽ được coi là đạt được các kết quà như mong muốn nếu như công chúng tin rằng các Tòa án không khách quan hoặc tham nhũng
Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt, quyết định sự ổn định chính trị của mỗi quốc gia Trong xã hội hiện đại, có thế thấy, việc công khai thông tin sẽ làm gia tăng mạnh mẽ niềm tin của người dân đối với các cơ quan công quyền, còn che giấu thông tin sẽ tạo hiệu ứng ngược lại [31, tr.108] Trong tố tụng hình sự cũng vậy, việc thực thi quyền tiếp cận thông tin của cơ quan xét xử là rất quan trọng đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng Nó không chỉ ảnh hưởng ở một khâu
mà toàn bộ quá trình, nghĩa là nếu Tòa án bỏ qua việc công khai tiếp cận thông tin thì có thể kéo theo các cơ quan khác như cơ quan điều tra có thể hạn chế quyền tiếp cận các thông tin về chứng cứ đối với người bào chữa Ngược lại, nếu Tòa án có phản ứng mạnh mẽ trước các hành vi vi phạm đến quyền tiếp cận thông tin, điều này sẽ khuyến khích văn hóa tuân thủ Như vậy, vai trò của Tòa án là phải đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đối với các chủ thể tham gia tố tụng hình sự
Vì vậy, ngành tư pháp càng cấp thiết hơn khi thực hiện cải cách minh bạch đề tăng cường tính họp pháp của nó Những Tòa án không chỉ nên công khai thông qua
27
Trang 31những biện pháp minh bạch mà còn cân tìm cách đảm bảo cho sự tham gia nhiêu hơn cùa xã hội trong quá trình ra quyết định của mình Tính minh bạch trong các tòa
án cũng “khuyến khích thẩm phán hành động công bằng, nhất quán và không thiên
vị, cho phép công chúng “đánh giá thẩm phán”
Tính minh bạch của thủ tục Tòa án cũng cho phép công chúng tiếp cận những nguyên nhân đằng sau những phán quyết tư pháp và làm lắng xuống nhừng kỳ vọng cho các vụ việc trong tương lai Sự biện minh của một quyết định tư pháp ngày càng trở thành nguồn gốc cho chính quyết định đó và quyền được xét xử hợp lý được xem là một phần của quyền được xét xử công bằng Nó là cần thiết, ví dụ, để một người có thể sử dụng những biện pháp khắc phục có sẵn và quyền kháng cáo [52, tr.H0]
Tòa án nhân quyền Châu Âu (ECHR) cho rằng: “Tính công khai trong quá trình tố tụng của các cơ quan tư pháp giúp bảo vệ người khởi kiện chống lại sự che
vào Tòa án (ECHR 2019a)
Một nền tư pháp độc lập và công bằng là nền tảng của Nhà nước pháp quyền
và Nhà nước dân chủ Nó phục vụ cho việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân, tạo ra một môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Do đó, khi tham nhũng xảy ra trong ngành tư pháp, nó phá vỡ các nguyên tắc công bằng và tuân thủ pháp luật, gây ảnh hưởng tới sự phát triển của những quốc gia Nó làm xói mòn niềm tin của công chúng rằng kết quả xét xử không được công bằng và
có sự tác động từ bên ngoài Nếu người dân thiếu sự tin tưởng và điều đó diễn ra một cách phổ biến thì tất yếu sẽ dẫn tới làm suy yếu thể chế và niềm tin vào quản trị Nhà nước
Ngay từ thời Hy Lạp, La Mã cổ Đại đã có khẳng định: Ở đâu có pháp luật, thì
ở đó phải có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh [39, tr 108] Hiện nay, trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch của hệ thống tư pháp hình sự ở Việt Nam luôn được coi là một yêu cầu không thể
28
Trang 32thiêu nhăm đảm bảo nguyên tăc dân chủ trong hoạt động của Nhà nước và là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam theo nhiều điều ước mà Việt Nam là thành viên Sự bảo đảm đó trước hết phải là hoạt động của các cơ quan, trong có hệ thống các cơ quan Tòa án Việc công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự giúp tăng cường hiểu biết của người dân về hệ thống tư pháp nói chung, tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề và giảm các cơ hội cho các hành vi tham nhũng Công khai, minh bạch cũng sẽ giúp tăng cường tính độc lập cho hệ thống tư pháp
Ví dụ, một thẩm phán mẫn cán sẽ có thể chứng tỏ được rằng mình hành động theo đúng quy định của pháp luật [33, tr 108] Ngoài ra, việc công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự không chỉ đảm bảo sự giám sát, kiểm sát của các cơ quan tư pháp khác đối với cơ quan xét xử - Tòa án, mà còn giúp người dân
và các tố chức khác phát huy được vai trò giám sát của mình, hạn chế các hành vi tiêu cực từ phía cơ quan quyền lực, đạt được mục tiêu cùa Tố tụng Hình sự - không làm oan người vô tội, không bở lọt tội phạm
Tòa án tuy là cơ quan quyền lực Nhà nước, nhưng việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động của nó lại có nhiều điếm khác biệt so với việc đánh giá những cơ quan Nhà nước khác do những điểm khác biệt trong cơ cấu tồ chức, nhiệm vụ, chức năng của mình
1.3.5 Mục đích đánh giá
Khi tiến hành đánh giá, chủ thể đánh giá dựa trên những số liệu thu thập được
và sử dụng các phương thức phân tích đề đưa ra kết luận về tính công khai, minh bạch Việc xác định này nhằm mục đích trả lời các câu hỏi như: Tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án được thể hiện ở những khía cạnh nào?; Mức độ công khai, minh bạch?; Nguyên nhân gây ra sự thiếu công khai, minh bạch?; v.v Từ đó có những giải pháp thực tế phù họp để phát huy hoặc cải thiện tình trạng hiện tại của các Tòa án
Các nghị quyết 08, 48, 49-NQ/TW cũng đã lần lượt đề ra những mục tiêu của cải cách tư pháp, hướng tới sự minh bạch và hoạt động hiệu quả của hệ thống tư pháp Từ cơ sở của việc xác định được thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án thì
29
Trang 33Đảng và Nhà nước ta có thê hoạch định chính sách pháp luật hình sự trong giai đoạn tới một cách chính xác và phù hợp hơn.
Tóm lại, cơ chế đánh giá có thể có nhiều mục đích khác nhau nhưng điều đầu tiên mà các chù thể thực hiện đánh giá hướng tới là xác định rõ bức tranh toàn cảnh
về tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án Mức độ và phạm
vi đối tượng được làm rõ phụ thuộc vào từng mục đích tiến hành đánh giá, nhưng suy cho cùng thì các hoạt động này đều đưa ra kết quả về thực tiễn xét xử của Tòa
án Thông qua đó mà sử dụng các dữ liệu, kết luận đánh giá làm cơ sở phục vụ cho một mục đích xa hơn nào đó
30
Trang 341.3.6 Phân loại đánh giá
Dựa trên các căn cứ khác nhau mà có thể chia đánh giá thành các loại khác nhau Mỗi cách thức đánh giá đều có những ưu điểm và nhược điềm khác nhau, phù hợp với từng mục tiêu và mức độ, phạm vi đánh giá
1.3.6.1 Tiêu chí về chủ thể đánh giá
Chủ thể đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án có thể là bất kì cá nhân, cơ quan, tổ chức nào Dựa vào những đặc điểm chung của chúng có thể chia thành: Chủ thể trong hệ thống tổ chức của Tòa án và Chủ thể ngoài hệ thống tổ chức của Tòa án
Chủ thể trong hệ thống tổ chức của Tòa án chính là các Chánh án, phó chán
án, các cán bộ, công chức làm việc tại Tòa án tự đánh giá chính hoạt động xét xử của mình Bên cạnh đó thi Tòa án cấp trên có quyền đánh giá Tòa án cấp dưới và ngược lại
Chù thể ngoài hệ thống tổ chức của Tòa án chính là các cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng bồ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án như Viện Kiểm sát, Cơ quan cảnh sát điều tra v.v Bên cạnh đó thì những người trực tiếp tham gia tố tụng, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác (như Uỷ ban MTTQ, Quốc hội, Chính phủ, ) cũng có quyền đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án
1.3.6.2 Tiêu chí về cách tiếp cận khi đánh giá
Khi đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án cần phải lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với thực tiền và mục tiêu đánh giá đà xác định Theo các nghiên cứu của Liên Hợp Quốc những năm gần đây thì việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp cùa Tòa án có các cách tiếp cận sau f26, tr 107]:
- Tiếp cận toàn diện: Liên Hợp Quốc, Hướng dẫn tăng cường năng lực và liêm chính tư pháp của Liên Hợp Quốc đã chỉ ra: “Một sự đánh giá mang tính toàn diện đối với các hệ thống tư pháp đang trở thành một thách thức có tính chiến lược đối với các nền tư pháp trên toàn thế giới.” Cách tiếp cận này, đòi hỏi không chỉ đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của
31
Trang 35Tòa án mà còn phải đánh giá những gì được coi là hoạt động pháp lý của một Tòa
án và về các chủ thể có liên quan đến hoạt động xét xử (thẩm phán, thư ký, )
- Tiếp cận thường xuyên: Việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp cùa Tòa án được đa phần các nước tiến hành thường xuyên, có ý nghĩa tích cực đối với việc thực hiện chức năng xét xử của Tòa án
- Cách tiếp cận thực nghiệm: Hướng tới giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn là cơ sở cho việc hình thành cơ chế và tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Cách tiếp cận này, ngoài các vấn đề lý luận về tính công khai, minh bạch của hoạt hoạt động xét
xử, thực hiện quyền tư pháp, còn cũng được sử dụng để quan sát thực trạng cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, thông qua đó đưa ra những nhận xét đầy đủ, khách quan về cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của
r-1-i \ đ
-Tòa án
- Tiếp cận của người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa: việc tiếp cận của các chủ thể này đối với phiên tòa công khai hoặc phiên tòa xét xử kín là một trong những cách thức thể hiện tính công khai, minh bạch trong hoạt động đánh giá Đồng thời, cũng thế hiện quyền đánh giá của các chủ thể
I.3.6.3 Tiêu chí về phương thức đánh giá
Phương thức đánh giá là cách thức và phương pháp thực hiện cơ chế đánh giá
Mỗi phương thức khác nhau cho ra những dữ liệu cơ sở khác nhau phục vụ cho mục tiêu đánh giá Có thể chia phương thức đánh giá thành:
- Phương thức đánh giá cho điểm: Thông thường phương pháp này được áp
dụng đối với dạng khảo sát chung cho các nhóm đối tượng đánh giá về các tiêu chí đánh giá cụ thể Phương pháp đánh giá cho điểm cho phép người sừ dụng có nhiều lựa chọn trong việc thiết kế mô hình đánh giá Theo phương pháp này chủ thể đánh giá xem xét từng tiêu chí đánh giá (đặc điếm cùa đối tượng được đánh giá) và cho
điểm hoặc xếp hạng dựa trên một thang đánh giá được xây dựng từ trước Thông
32
Trang 36thường thang đánh giá (thang điêm) gôm một sô bậc được xêp hạng từ thâp tới cao,
từ “kém” cho tới “xuất sắc” hoặc một cách sắp xếp tương tự nào đó Mỗi một đặc
điểm cần đánh giá sẽ có một thang điểm phù hợp
- Phương thức đánh giá mô tả: Trong trường hợp chủ thể đánh giá cần tìm hiểu sâu hơn về suy nghĩ và đánh giá chủ quan của chủ thể khác về đối tượng cần đánh giá thì sẽ áp dụng phương thức này Chủ thể đó có thề được yêu cầu viết một báo cáo đánh giá, trong đó sẽ có nội dung chủ yếu về những ưu điểm và nhược điểm của đối tượng đánh giá, bày tỏ những quan điểm, nguyện vọng hoặc đề xuất thay đổi
- Phương thức đánh giá theo kết quả: Dựa trên những yêu cầu được đặt ra từ đầu chính sách công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án thì chủ thể đánh giá có thề thu thập các con số, dữ liệu về kết quả đạt được trong một khoảng thời gian nhất định đế so sánh với tiêu chí đã đặt ra hoặc các thông số cũ trước đó đế đánh giá về mức độ cải thiện tính công khai, minh bạch trong xét xử
1.4 Cơ chế đánh giá
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: “ Cơ chế đánh giá tỉnh công khai, minh
xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại thời điểm nhất định theo quỵ định của pháp luật và quy trình được ấn định nhằm xác định mức độ minh bạch được thế
- Pháp luật về tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án
- Cơ chế và điều kiện thực thi tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét
xư cua loa an
- Cơ chê giám sát tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòaan
1.4.1 Co’ sỏ’ xây dựng tiêu chí đánh giá
Những căn cứ sau cần phải được thiết lập [26, tr.107]:
33
Trang 37a) Nhóm căn cứ thứ nhât nhăm đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án được quy định trong luật ở mức độ nào, sẽ bao gồm: Quy định về nguyên tắc và những bảo đảm giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án; Quy định
về công khai, minh bạch trong thủ tục tố tụng; Quy định về công khai, minh bạch trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; Quy định về công khai, minh bạch tại phiên tòa; Quy định về sự tham gia và tiếp cận thông tin đối với hoạt động xét xử của người dân, công luận và xã hội; Quy định về công khai bản án và các dữ liệu của vụ án; Quy định về các điều kiện bảo đảm về công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án ;
b) Nhóm căn cứ thứ hai nhằm xác định mức độ công khai, minh bạch trên trên thực tế trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, bao gồm: Thực hiện qui định về công khai, minh bạch trong các thủ tục tố tụng; Thực hiện qui định
về công khai, minh bạch trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; Thực hiện quy định về công khai, minh bạch tại phiên tòa; Thực hiện quy định về sự tham gia và tiếp cận thông tin đối với hoạt động xét xử của người dân, công luận và xã hội; Thực hiện quy định về công khai bản án và các dừ liệu của vụ án,
c) Nhóm căn cứ thứ ba, nhằm xác định mức độ các điều kiện bảo đảm về công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, đó là: Thể chế; Con người (thẩm phán và cán bộ Tòa án); Cơ sở vật chất và phương tiện
kỹ thuật,
Mỗi căn cứ nêu trên cần được cụ thể hóa bằng các tiêu chí (chỉ số) để đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án
1.4.2 Quy trình đánh giá
Cơ chế đánh giá đòi hỏi phải khách quan, trung thực, chính xác về mức độ công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự Với đặc thù là sự lai ghép giữa hoạt động tư pháp và hành chính thì khi đánh giá Tòa án cần dựa trên
34
Trang 38các phương diện đánh giá vê pháp lý; quản lý; và lăng nghe tiêng nói từ công chúng [6, tr 105]
Khi tiến hành đánh giá, chủ thể đánh giá cần dựa trên những tiêu chí có sẵn, được xây dựng phù hợp với bối cảnh xã hội, mô hình tổ chức, đặc điểm của đối tượng cần được đánh giá để đo lường sự thay đổi, khác biệt giữa thực tế kết quả đạt được so với các chỉ tiêu đề ra ban đầu Việc đo lường được thực hiện thông qua phương pháp thu thập, phân tích các dữ liệu đầu vào, sau đó tiến hành so sánh Kết quả của việc đo lường được sử dụng nhằm mục đích phụ vụ cho mục tiêu đánh giá Tiến trình này đặc biệt được tạo ra với vai trò là một phần trong một hệ thống quản
lý theo mục tiêu (MBO)
35
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Tại chương I, tác giả đã tiến hành phân tích, làm rõ khái niệm tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động xét xử và tính tất yếu của hoạt động đánh giá đối với tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng của Tòa án Theo đó thì
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng có thể thấy được, chứng kiến được và tiếp cận được Đối với thuật ngữ Minh bạch thì nên được hiểu là sự tường minh, rõ ràng, rành mạch, qua đó các chủ thể khi tiếp cận có thể hiểu được Tóm lại, Công khai là
về hình thức, còn Minh bạch là về nội dung
Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh lại đối tượng của luận văn tiến hành nghiên cứu là hoạt động, cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự, tác giả không tiến hành đánh giá trên thực tiễn mà chỉ nghiên cứu về hoạt động, cách thức, quy trình để tổ chức, tiến hành hoạt động đánh giá mà thôi Từ đó, đưa ra khái niệm của hoạt động, cơ chế đánh giá như sau: cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự là quy trình được thực hiện bởi các cơ quan, tố chức, cá nhân dựa trên những tiêu chí cụ thể được so sánh với mục tiêu đề ra ban đầu nhằm đo lường chất lượng, mức độ công khai, minh bạch trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội của Tòa án
Khung, tiêu chí đánh giá được hiểu là những dấu hiệu, tính chất thể hiện mức
độ hiệu quả, hợp pháp và họp lý của hoạt động xét xử, quyết định hành chính, hệ thống pháp luật nhằm soi chiếu thực tiễn để đưa ra kết quả đánh giá về tính công khai, minh bạch của Tòa án trong tố tụng hình sự
Kết quả nghiên cứu lý luận về cơ chế đánh giá, tác giả kết luận những đặc điểm sau đây của cơ chế đánh giá:
tụng hình sự; Thực tiễn xét xử; và Các hành vi hành chính, quyết định hành chính đối với việc quản lý, điều hành - chấp hành của hệ thống Tòa án và các cơ quan phối hợp liên ngành
36
Trang 40Về chủ thê đánh giả: Đánh giá trong và đánh giá ngoài Tòa án Đôi với việc đánh giá trong Tòa án thì trước hết sè do từng Tòa án và Tòa án cấp trên tiến hành xác định mức độ công khai, minh bạch đối với các hoạt động của mình Đối với đánh giá ngoài, Tòa án là một thiết chế nằm trong sự phối hợp với Viện kiểm sát,
Cơ quan điều tra nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội, được đặt trong một mối liên hệ dưới phương pháp điều chỉnh chế ước.
trong tố tụng hình sự thực hiện qua hoạt động giải quyết vụ án hình sự và kết quả
nhưng điều đầu tiên mà các chủ thể thực hiện đánh giá hướng tới là xác định rõ bức tranh toàn cảnh vê tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án Mức độ và phạm vi đối tượng được làm rõ phụ thuộc vào từng mục đích tiến hành đánh giá, nhưng suy cho cùng thì các hoạt động này đều đưa ra kết quả về thực tiễn xét xử của Tòa án Thông qua đó mà sử dụng các dữ liệu, kêt luận đánh giá làm cơ
sở phục vụ cho một mục đích xa hơn nào đó.JL • • • •
37