1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo vệ quyền dân sự trong luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước (luận văn thạc sỹ luật)

78 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Vệ Quyền Dân Sự Trong Luật Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước
Tác giả Dưoĩig Tân Đàm
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại luận văn thạc sỹ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 19,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa NNPQXHCN của Nhân dân, do dân và vì dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi th

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chỉnh xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tỏi xin chân thành cảm on!

Tác giả luận văn

Dưoĩig Tân Đàm

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục• •

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN cơ BẢN VÈ BẢO VỆ QUYỀN DÂN Sự TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, cơ sở của bảo vệ quyền dân sự 9

1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền dân sự 9

1.1.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền dân sự 16

1.1.3 Vai trò của bảo vệ quyền dân sự 17

1.1.4 Cơ sở của bảo vệ quyền dân sự 18

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 20

1.2.1 Khái niệm của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 20

1.2.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 22

1.2.3 Vai trò của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 23

CHUÔNG 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN DÂN sụ TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC 26

2.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước 26

2.1.1 Phạm vi bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính 26

Trang 3

2.1.2 Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động

tố tụng 28

2.1.3 Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án 31

2.1.4 Đối tượng không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 32

2.2 về quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại trong việc yêu cầu bồi thường 34

2.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 35

2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường 36

2.4.1 Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường 36

2.4.2 Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án 42

2.5 về các thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường 43

CHƯƠNG 3: THỤC TIỄN BẢO VỆ QUYÈN DÂN sụ TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ 48

3.1 Thực tiễn bảo vệ quyền dân sự trong luật trách nhiệm bồi• • > </ • ơ • • thường của nhà nước 48

3.1.1 Thành tựu 48

3.1.2 Hạn chế 54

3.1.3 Nguyên nhân 61

3.2 Kiến nghị 63

3.2.1 Hoàn thiện một cách hệ thống pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 63

3.2.2 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước để bảo vệ quyền dân sự 66

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT

BLDS: Bô luât dân sư• • •

BTNN: Bồi thường Nhà nước

BTTH: Bồi thường thiệt hại

CHXHCNVN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

NNPQXHCN: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaTHADS: Thi hành án dân sư•

TNBT: Trách nhiệm bồi thường

TNBTCNN: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Trang 5

MỞ ĐÀU

1 Tính câp thỉêt cúa đê tài

Quyền dân sự là một giá trị phổ biến và thiêng liêng đối với con người

ở mọi quốc gia, mọi dân tộc Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về quyền dân

sự nói chung vẫn chưa đầy đủ Xuất phát từ những điều kiện, đặc điểm về văn hóa và vãn minh trong mồi giai đoạn phát triển, mỗi dân tộc, quốc gia có những đặc thù nhất định trong việc ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ quyền dân sự trong hệ thống pháp luật cùa mình Trải qua hon 1000 năm Bắc thuộc và hon

100 năm chịu ách đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do cùa Tồ quốc, bị tước đi hàu hết các quyền cơ bản vốn có của một con người trong đó có quyền dân sự như quyền sở hữu, quyền nhân thân Và hon ai hết, dân tộc Việt Nam rất hiếu

và trân trọng các giá trị thiêng liêng của quyền con người Do vậy, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng công bố trước toàn thế giới bản Tuyên ngôn độc lập, lần đầu tiên khẳng định tôn trọng các quyền công dân và quyền con người trong đó có quyền dân sự trên đất nước Việt Nam

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQXHCN) của Nhân dân, do dân và vì dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc xây dựng

và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) đối với những thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra trong quá trình thực thi công vụ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tồ chức đặc biệt

là quyền dân sự

Luật TNBTCNN được ban hành với các mục tiêu là một mặt, tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn

1

Trang 6

quyên được bôi thường của mình đôi với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; Nhà nước thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trước công dân trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN của Nhân dân, do dân, vì dân, mặt khác, xác định rõ TNBTCNN, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại để một mặt, tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền dân sự của mình, mặt khác, góp phần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của công chức trong quá trình thực thi công vụ.

Đen nay, sau gần 10 năm triển khai thi hành trên thực tiễn, có thể nói, việc Luật TNBTCNN và các vãn bản hướng dần được triển khai thực hiện đã phát huy hiệu quả trên thực tế, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc thiết lập cơ chế đặc thù để cá nhân, tố chức và doanh nghiệp thực hiện quyền về dân sự là yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra Người bị thiệt hại đã có ý thức cao hơn về việc bảo vệ quyền dân sự của mình trước những vi phạm của các cơ quan nhà nước trong

cả ba lĩnh vực hành chính, tố tụng và thi hành án; ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ từng bước được nâng cao Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì Pháp luật về bảo vệ quyền dân sự trong TNBTTHCNN vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế, bất cập Người dân thì gặp nhiều khó khăn trong thực thi quyền dân sự của mình, các cơ quan cỏ thẩm quyền vẫn chưa thực hiện triệt để trách nhiệm bồi thường của mình

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay khi Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013 và Luật TNBTTHCNN 2017 với nhiều quy định rất mới về quyền dân sự, đồng thời, hàng loạt các đạo luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và đều có liên quan trực tiếp đến Luật TNBTCNN như Bộ luật Dân sự,

Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính đều đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thay thế đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi Luật TNBTCNN cho phù hợp

2

Trang 7

Vì những lý do nêu trên, tôi chọn vân đê: "Bảo vệ quyên dân sự

trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước" làm đề tài nghiên cứu

của luận văn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đe tài trách nhiệm bồi thường của nhà nước là đề tài không còn mới

Có rất nhiều tác giả đã khai khác, nghiên cứu đề tài này ở nhiều khía cạnh khác nhau, một trong số các công trình nghiên cứu phải kể đến như:

- Tác giả Phạm Hồng Nhung (2015) với đề tài Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành

án dân sự, luận văn thạc sĩ luật học Đại học Luật Hà Nội Luận văn Trình bày• X • • • • • • • e e J

khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong thi hành án dân sự Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

Đe xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vấn đề này

- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2019) với đề tài Thực hiện pháp luật

về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính: luận văn thạc sĩ Luật học Đại học Luật Hà Nội Đồ tài Trình bày những vấn

đề lí luận về thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quán lí hành chính Phân tích thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lí hành chính; từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này

- Sách chuyên khảo Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2018 Nghiên cứu những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Phân tích, đánh giá các qui định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong

3

Trang 8

hoạt động quản lí hành chính; tô tụng hình sự, dân sự, hành chính; thi hành

án dân sự và hình sự

- Tác giả Nguyễn Đình Chung (2017) với bài viết Những vấn đề cần sửa đổi, bố sung Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước đăng trên tạp chí Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao số 9/2017 Bài viết nêu thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đề xuất, kiến nghị những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn hiện nay

- Tác giả Phạm Quang Hùng (2015) với bài viết Bàn về việc yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đãng trên tạp chí Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao số 14/2015 Bài viết phân tích những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự Đưa ra một

số ý kiến bổ sung, sửa đồi nhằm nâng cao hiệu quả thực thi luật trong các vụ

án yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường

- Tác giả Luông Danh Tùng (2016) với bài viết Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong tố tụng dân

sự đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp, số 15/2016 Bài viết đề cập các kết quả quan trọng đạt được khi thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2010 Chỉ ra những hạn chế, bấp cập trong quy định của Luật này và đề xuất kiến nghị hoàn thiện phù họp với

Bộ luật Dân sự năm 2015

- Tác giả Lê Thái Phưong (2014) với bài viết Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, số chuyên đề: Bảo đảm quyền con người và quyền công dân bằng thiết chế tư pháp/2014 Bài viết nêu thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước khi ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trách nhiệm

4

Trang 9

bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và một số yêu càu mới đặt ra của Hiến pháp năm 2013 đối với việc hoàn thiện các quy định này.

- Tác giả Trần Văn Hùng (2018) với bài viết Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước và vấn đề bảo vệ quyền con người dăng trên tạp chí Luật sư Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, số 4/2018 Bài viết phân tích vấn đề quyền con người trong Luật Trách nhiệm bồi thường cùa nhà nước năm 2017 Nêu hạn chế, bất cập cần khắc phục, đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo và phát huy quyền con người theo Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước

- Tác giả Lê Thị Hoa (2017) với bài viết Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước Học viện Hành Chính Quốc gia số 254(3/2017) Bài viết nêu Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền con người rất rõ ràng, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cũng như phải bảo vệ các quyền đó được thực hiện trên thực tế Quyền con người trong Hiến pháp 2013 là sự tiếp nối logic và tạo cơ sở pháp

lý cao nhất bảo đảm quyền con người được hiện thực hóa đầy đủ trong thực tiễn; quyền con người cũng là nội dung, mục tiêu và động lực mới cho phát triển Năm 2015, Quốc hội thông qua 4 bộ luật trụ cột là Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Tố tụng hình sự cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật dẫn đến những quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nay không còn đồng bộ với hệ thống pháp luật và thực tiễn Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đáp ứng và phù hợp với yêu cầu tất yếu của thực tiễn

Trong số những công trình nghiên cứu nói trên, một số công trình đã tiếp cận những vấn đề về TNBTCNN, đánh giá tình hình thi hành pháp luật trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội và phân tích về những nội dung,

5

Trang 10

những khía cạnh, phạm vi cụ thê khác nhau của pháp luật vê TNBTCNN và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN Nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào và đề xuất hoàn thiện về Bảo vệ quyền dân sự trong

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Vì vậy, đây là công trình nghiên cứu mới, góp phần kiến nghị một số nội dung nhằm tăng cường hiệu quả của công tác bồi thường, hiện thực hóa các quy định pháp luật về TNBTCNN để bão vệ quyền dân sự trên thực tế, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho sự ốn định của chế định pháp luật về TNBTCNN, góp phần nâng cao tính khả thi trong việc triển khai, thi hành pháp luật về TNBTCNN Đi sâu nghiên cứu về một vấn đề cụ thể, đảm bảo ý nghĩa khoa học và tính khác biệt so với các đề tài khác trong cùng ngành nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • •

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước trong thời gian qua, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm hoàn thiện pháp luật về bão vệ quyền dân sự trong TNBTCNN ở Việt Nam trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu các vấn đề lý luận về Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước

+ Thu thập đầy đủ, có hệ thống các thông tin, tư liệu về Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước trên cả nước trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến nay, đánh giá mặt được, mặt hạn chế và những vấn đề đặt ra hiện nay

6

Trang 11

+ Đê xuât kiên nghị, giải pháp cơ bản nhăm hoàn thiện pháp luật Bảo

vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hệ thống pháp luật của đất nước trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

£>ổí tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận có liên quan trực tiếp tới Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thưòng nhà nước; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn

đề bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân bị thiệt hại; các quy định của Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dần thi hành và những tài liệu thực tiễn như các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề đánh giá thực tiễn công tác bồi thường nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan trực tiếp tới Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước, phân tích một số quan điếm, chủ trương, chính sách được ghi nhận trong các văn kiện, văn bản của Đảng và Nhà nước về vấn đề Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước Tập trung phân tích các quy định của pháp luật và thực trạng thi hành pháp luật về Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam từ năm 2010 (năm mà Luật TNBTCNN có hiệu lực thi hành) đến nay

về địa bàn nghiên cứu thực tiễn: Luận văn nghiên cứu những vấn đề thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước trên phạm vi toàn quốc

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận của phương pháp nghiên cứu kinh tế; luận án dựa vào các qui luật kinh tế và quan điểm, đường

7

Trang 12

lối, chính sách của đảng và Nhà nước làm cơ sở phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp để giải quyết những nội dung nhiệm vụ đặt ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu kinh tế phổ biến sau:

- Phương pháp phân tích hệ thống: việc nghiên cứu pháp luật về Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với từng giai đoạn, từng hoàn cảnh lịch sủ' cụ thề của đất nước về điều kiện phát triển kinh tế

- Phương pháp thống kê, thu thập thông tin định lượng: luận văn đã sử dụng các số liệu tài liệu thống kê thích họp để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước trên địa bàn cả nước trong 10 năm vừa qua

- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản pháp luật Bảo vệ quyền dân sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước, luận văn sử dụng phương pháp quy nạp để đưa ra những đánh giá chung mang tính khái quát về thực trạng áp dụng pháp luật Bảo vệ quyền dân

sự trong trách nhiệm bồi thường nhà nước Thực trạng này được đặt trong bối cảnh chung của cả nước và dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần: Mở đầu; Ket luận; Lời cam đoan; Danh mục tài liệutham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 Chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền dân sự trong

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Chương 2: Nội dung quy định bảo vệ quyền dân sự trong luật trách

nhiệm bồi thường của nhà nước

Chương 3: Thực tiễn bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi

thường cùa Nhà nước và kiến nghị

8

Trang 13

Chương 1 nhũng vấn đề lý luận Cơ bản về bảo Vệ quyền dân sụ

TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

1.1 Khái niệm, đặc điêm, vai trò, cơ sở của bảo vệ quyên dân sự

1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền dân sự

Lý luận chung về quyền con người, quyền dân sự cùng với các quyền chính trị được xếp vào thế hệ thứ nhất của quyền con người Sự ra đời các quyền này gắn liền với giai đoạn phát triển các học thuyết về các quyền tự nhiên, với sự bùng nổ cách mạng đòi giải phóng con người, bão đảm quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc Các quyền này được quy định tại Điều 2 đến Điều 21 Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới và trong Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị Quyền dân sự được đề cập ở đây là quyền con người về dân sự, là các quyền mang những thuộc tính như: i) Tính thống nhất và gắn bó hữu cơ; ii) Tính không thể phân chia của quyền con người; iii) Tính không thể chuyển nhượng; iv) Tính phổ biến

Có thể hiểu Quyền dân sự, theo “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948” của Liên hợp quốc, được xem là những giá trị của tất cả mọi người mà các nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ Quyền dân sự thực chất là quyền tự do cá nhân, gắn liền với mồi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, như: Quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân; Quyền không

bị bắt làm nô lệ; Quyền không bị tra tấn, quyền được đối xừ nhân đạo; Quyền

tự do đi lại và cư trú; Quyền có quốc tịch; Quyền kết hôn và xây dựng gia đình Những quyền này đã được đưa vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966

Qua nghiên cứu, có thể thấy cùng với cơ chế quốc tế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, những chuẩn mực quốc tế về quyền con người hay còn gọi

9

Trang 14

là các quy phạm quôc tê vê các quyên và tụ do của con người là một trong hai

bộ phận quan trọng nhất cấu thành luật nhân quyền quốc tế Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và tự do cá nhân cơ bản được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sau đó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong những văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 1966 Theo đó các nhóm Quyền Dân sự được phân chia thành 11 nhóm quyền sau đây:

(1) Quyền sống: Được đề cập trong Điều 3 UDHR, Điều 6 ICCPR

(2) Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật: Được quy định tại các Điều: 1, 2, 6, 7, 8 của UDHR và các Điều 2, 3, 16 và 26ICCPR

(3) Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục: Quyền này được đề cập ở Điều 5 UDHR, Điều 7 ICCPR

(4) Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt làm nô lệ hay nô dịch: Quyền này được đề cập trong Điều 4 UDHR và Điều 8 ICCPR

(5) Quyền được bảo vệ để khởi bị bắt, giam giữ tùy tiện: Quyền này là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân, được quy định trong Điều 9 UDHR và Điều 9 ICCPR

(6) Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của người bị tước tự do: Quyền này được quy định trong Điều 10 ICCPR

(7) Quyền về xét xử công bằng: Được đề cập trong các Điều 10 và 11 UDHR và các điều 14, 15 và 11 ICCPR

(8) Quyền về tự do đi lại, cư trú: Được đề cập trong điều 13 UDHR và Điều 12, 13 ICCPR

(9) Quyền được bảo vệ đời tư: Quy định trong Điều 12 UDHR và Điều 17ICCPR

10

Trang 15

(10) Quyên tự do chính kiên, niêm tin, tín ngưỡng, tôn giáo: Được ghi nhận trong Điều 18 UDHR và Điều 18, 20 ICCPR.

(11) Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân: Quyền này được quy định tại Điều 16 UDHR, Điều 23 ĨCCPR và Điều 10 ICESCR

Ở Việt Nam, thuật ngữ quyền con người được nhắc đến đầu tiên bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, người đã nhắc đến con người rồi suy rộng ra là quyền tự quyết của dân tộc làm căn nguyên cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Việt Nam khỏi ách thống trị của chế độ thực dân và phong kiến Việt Nam không có một bản tuyên ngôn nhân quyền riêng mà quyền con người được quy định nằm trong một phần của Hiến pháp Hiến pháp không chi đon thuần là văn bản quy định việc

tổ chức nhà nước mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện nhân quyền, hay nói cách khác là thực hiện quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Điều này đã làm cho quyền con người mà biểu hiện là quyền công dân và Hiến pháp có sự gắn bó chặt chẽ, là cơ sở cho cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc

Giống như ở nhiều quốc gia khác, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định những tư tưởng và đường lối chi đạo về quyền con người làm cơ sở cho việc bảo vệ và thúc đầy các quyền con người trên thực tế Qua quá trình phát triển của các quy định Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam từ trước đến nay ta có thể khái lược như sau:

- Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ra đời vào năm 1946, tức là sau 01 năm dành được độc lập Điểm nồi bật của Hiến pháp 1946 là: Mặc dù

ra đời ngay trong những năm đầu tiên khi chính quyền nhân dân con non trẻ, đang phải tập trung lo toan, ứng phó với các công việc chính trị trong nước cũng như ngoại giao với nước ngoài nhưng vẫn dành một sự quan tâm đặc biệt to lớn tới vấn đề quyền công dân Điều này thể hiện ở chồ, mặc dù bản

11

Trang 16

Hiên pháp 1946 chỉ có 70 điêu nhưng đã dành hăn Chương II bao gôm 18 điều để quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Các quyền dân

sự của con người trong Hiến pháp được quy định gồm có:

+ Quyền bình đẳng: Quy định từ Điều 6 đến Điều 9: Gồm các quy định

về bình đắng trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc và giới

+ Quyền được tự do: Quy định tại Điều 10 và Điều 11: Gồm quy định

về tự do ngôn luận, xuất bản, tín ngưỡng, cư trú và tự do về an ninh cá nhân

- Tiếp theo đó là Hiến pháp 1959 cũng quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong 01 Chương gồm 21 điều dựa trên sự kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1946 Các quyền công dân được quy định thêm trong tất

cả các lĩnh vực kinh tể, chính trị, xã hội, như: Điều 24 quy định: Quyền được bảo hộ của bà mẹ và trẻ em, bảo hộ hôn nhân và gia đình

Hiến pháp 1959 có những bước tiến mới trong việc ghi nhận các quyền con người, đã có những quy định the hiện một cách rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền của mình, “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền ” hay “Nhà nước quy định , để đảm bảo cho người lao động được hưởng các quyền đó ” [37], Điểm hạn chế trong việc quy định Quyền dân sự của Hiến pháp 1959 là bỏ qua việc kế thừa một số quyền rất tiến bộ được đề cập trong Hiến pháp 1946 là: Quyền của dân tộc thiểu số được nhà nước giúp

đỡ, Quyền tự do ra nước ngoài Điều này làm cho quyền con người, quyền công dân, quyền dân sự trong Hiến pháp 1959 không được hoàn thiện

- Hiến pháp 1980 có 27 điều quy định quyền và nghĩa vụ của công dân,

là những quy định được kế thừa và phát triển từ hai bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong bản Hiến pháp 1980 rất đa dạng và phong phú, trải rộng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong lĩnh vực quyền dân sự các quy

12

Trang 17

định mới của Hiên pháp 1980 bô sung thêm như: Điêu 62: Quyên có nhà ở; Điều 70, Điều 71, Điều 72: Quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự

và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chồ ở Điểm đặc biệt của Hiến pháp 1980 là các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân được xác lập trên cơ sở tư tưởng về quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động Điều 54 Hiến pháp chỉ rõ:

Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện chế độ làm chú tập thể cùa nhân dân lao động, kết hợp hài hòa những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mồi người

Điều này khẳng định mối quan hệ không tách rời giữa Nhà nước và công dân, Nhà nước đảm bảo một cách tuyệt đối các quyền của công dân được thực hiện, nhưng ngược lại, công dân cũng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội Tuy nhiên, Hiến pháp 1980 lại không thừa nhận sở hữu tư nhân - một quyền về sở hữu tài sản, một quyền tự nhiên và là một quyền quan trọng nhất, thiêng liêng và bất khả xâm phạm cùa con người Trên thực tế, các quy định của Hiến pháp 1980 về quyền công dân

đã không phản ánh đúng được tình hình thực tế của xã hội Việt Nam thời đó Hiến pháp đã quy định một số quyền mang tính lý tưởng hóa quá mức, không

có tính khả thi để thực hiện trong thực tế Đó là quy định về nhà ờ (Điều 62), quy định về chế độ học không phải trả tiền (Điều 60), về chế độ khám chừa bệnh không phải trả tiền (Điều 61) Các quy định này chỉ có hiệu lực về mặt pháp lý - trong bản Hiến pháp chứ không có hiệu lực trên thực tế vì bản thân Nhà nước không thế có đủ điều kiện vật chất để đảm bào cho việc thực hiện

nó Mặc dù các quy định này hướng tới việc tạo cho con người có được một cuộc sống tốt đẹp nhất, nhưng sự thoát ly quá xa các quy định ấy bị mất đi ý nghĩa tích cực và xây dựng vốn có của chúng

13

Trang 18

- Quyên con người, quyên công dân trong Hiên pháp 1992 (đã sửa đôi,

bổ sung qua Nghị quyết 51) Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 được quy định trong Chương V bao gồm 34 điều chứa đựng nhiều điểm tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quy định về quyền con người

và đảm bảo quyền con người Điều 50, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, vãn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” [33], Quyền con người với quan niệm thể hiện trong Hiến pháp 1992 là chiếc cầu nối tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, bảo đảm và tăng cường hiệu lực thực hiện các quyền con người một cách mạnh mẽ hơn Theo đó hàng loạt các quy định đề cao và phát huy nhân tố con người được quy định trong Hiến pháp đã được thể chế hóa trong các bộ luật, đạo luật như: Bộ luật dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật cư trú Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 trong góc độ quyền dân sự lại đồng nhất hai khái niệm quyền con người và quyền công dân, đồng thời không thể hiện được rõ nét vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo quyền công dân

- Hiến pháp năm 2013 là đạo luật cơ bản khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, điểm nối bật nhất của Hiến pháp năm 2013 là Chương

II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bán của công dân Hiến pháp

2013 được nhận định là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ về kinh tế và chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triến đất nước

và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tập trung tại Chương II gồm có 36 điều, từ Điều

14 đến điều 49 Kế thừa và hoàn thiện các phần hạn chế của các bản Hiến pháp trước đó, thể hiện rõ vai trò của Đảng, Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền dân sự của công dân

14

Trang 19

thông nhât với các quy định của các văn bản pháp luật quôc tê vê quyên con người, đồng thời đã có sự phân định rõ ràng giữa hai phạm trù quyền con người và quyền công dân.

Điều 14 Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 2013 đã quy định:

1 Ở nước CHXNCNVN, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật

2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường họp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [42],

Quyền dân sự hiểu theo nghĩa rộng là quyền của chủ thể được pháp luật dân sự quy định như là nội dung của năng lực pháp luật của chủ thề đỏ Các chủ thề có năng lực pháp luật dân sự khác nhau thì có các quyền dân

sự khác nhau

Quyền dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là quyền của chủ thể trong quan hệ dân sự nhất định mà chủ thể đó đang tham gia, quyền tự mình thực hiện những hành vi nhất định, quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa

vụ, quyền yêu cẩu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình khi bị người khác xâm phạm

Qua các phân tích ở trên có thể hiểu quyền dân sự là khả năng được phép xử sự theo một cách nhất định của chủ thể trong quan hệ dân sự để thực hiện, bảo vệ lợi ích của mình

Việc bảo vệ quyền dân sự là bảo vệ quyền tài sản của các chủ thể và được hiểu dưới hai phương diện sau đây:

- Theo phương diện khách quan: Bảo vệ quyền dân sự là tổng họp các quy định của pháp luật công nhận các chủ thể quyền dân sự được bảo vệ

15

Trang 20

quyên, lợi ích hợp pháp và các biện pháp xử lí hành vi xâm phạm quyên dân

sự đuợc pháp luật thừa nhận

- Theo phương diện chủ quan: Bào vệ quyền dân sự là những biện pháp cụ thể được áp dụng để xử lí hành vi xâm phạm quyển dân sự tuỳ theo tinh chất, mức độ xâm phạm

Từ những khái niệm nêu trên, học viên cho rằng bảo vệ quyền dân sự là việc các chủ thể bị xâm phạm, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền vận dụng các quy định của pháp luật cho phép để đưa ra các phương thức và các biện pháp xử lí việc xâm phạm quyền dân sự tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm

1.1.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền dân sự

Cho dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bảo vệ quyền dân sự đều có một số đặc điểm sau đây:

- Đối tượng được bảo vệ quyền dân sự là các chủ thể quyền dân sự Đó

là cá nhân, pháp nhân sinh sống và làm việc tại Việt Nam và mang quốc tịch Việt Nam

- Cách thức bảo vệ quyền dân sự là áp dụng các biện pháp khác nhau để

xử lí hành vi xâm phạm tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm

- Chủ thể áp dụng biện pháp bảo vệ có thể là chủ thể quyền dân sự hoặc các cơ quan nhà nước khác Các công ước quốc tế về dân sự cũng như pháp luật Việt Nam đều cho phép chù thể quyền dân sự tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền dân sự của mình Theo quy định của pháp luật nước ta, thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền dân sự thuộc về: Toà án, cơ quan có thẩm quyền khác

- Mục đích của bão vệ quyền dân sự là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của các chủ thề quyền dân sự; ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền dân sự

16

Trang 21

1.1.3 Vai trò của bảo vệ quyên dân sự

Quan điểm cúa Đảng, Nhà nước Việt Nam là chăm lo cho con người, tôn trọng, bão vệ quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền dân sự Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt kể từ ngày Đảng ta ra đời, được thể hiện rõ từ trong Cương lĩnh chính trị năm 1930, Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp đến các văn kiện của Đảng và pháp luật của Việt Nam Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013, quyền con người tiếp tục được khẳng định và bảo đảm

Theo đó, Hiến pháp nước Việt Nam đã quy định rất rõ trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền dân sự của mỗi cá nhân, pháp nhân Đó là bản chất của nhà nước và là ngọn cờ của Cách mạng Việt Nam, là nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trên cơ sở các nguyên tắc hiển định, Chính phủ đã ban hành kế hoạch triền khai thi hành Hiến pháp, giao các cơ quan nhà nước rà soát, lập danh mục đề xuất các văn bản càn bãi bỏ, sửa đổi bổ sung các văn bản mới cho phù hợp với các quy định về quyền con người, quyền dân sự trong Hiến pháp Cho nên, bảo vệ quyền con người có vai trò là sự khẳng định nhất quán bản chất nhà nước Việt Nam cũng như uy tín, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền

Với sự vào cuộc của các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương và đồng thuận của nhân dân, hệ thống pháp luật thực thi Hiến pháp tiếp tục được hoàn thiện và triến khai, trong đó có các quy định về quyền dân sự được triền khai mạnh mẽ Điền hình như, hàng loạt bộ luật lớn như Bộ luật dân

sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tổ tụng hành chính và hàng loạt các luật khác liên quan tới bảo đảm quyền tự do dân chủ như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Bầu cừ, Luật Báo chí, Luật tiếp cận thông tin, Luật tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành đều thể chế hóa các quy định của Hiến pháp, bào

17

Trang 22

đảm phù hợp với nguyên tăc, tiêu chuân của luật pháp quôc tê vê quyên con người trong đó có quyền dân sự, những giá trị phổ cập đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013.

Các quy định pháp luật đã được ban hành, nhiệm vụ quan trọng là tiếp tục tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định về quyền con người, quyền dân sự tới các cấp, các ngành và toàn dân nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò đối với bão vệ quyền dân sự và quán triệt các nguyên tắc, tiêu chuẩn

về quyền dân sự, trong xây dựng và hoàn thiện các văn bản luật và dưới luật

Thực tế, quyền dân sự còn là câu chuyện của mồi một người dân, hiển hiện xung quanh chúng ta, trong mỗi gia đình và toàn xã hội, như trẻ em cần được đến trường, được tiếp cận giáo dục, mọi người cần được chăm sóc sức khỏe, tiếp cận nước sạch, được sống trong môi trường trong lành, được có thực phẩm an toàn, hay quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và xã hội Chính vì vậy, để hiểu về quyền dân sự, giá trị của quyền dân sự, chúng ta cần nâng cao hon nữa nhận thức cùa người dân nói chung về quyền con người đặc biệt là quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền dân sự trong giai đoạn mới

1.1.4 Cơ sở của bảo vệ quyền dân sự

* Cơ sớ lý luận

Việc xây dựng chế định bảo vệ quyền dân sự là phù hợp với yêu cầu của việc bảo đảm các quyền con người cũng như phù hợp với xu thế chung của thế giới

“Các điều ước quốc tể về quyền con người là cơ sở pháp lý quốc tể quan trọng, góp phần xác lập các tiêu chuẩn chung và tối thiêu về quyền con người” [9, tr.92], do đó, trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia nhiều

Công ước quốc tế về quyền con người bao gồm Công ước quốc tế về quyền

18

Trang 23

dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) ngày 24/9/1982; Công ước quôc tê vê quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR); Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW); Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (CRC) Theo các Công ước này, quyền con người trong mọi lĩnh vực phải được tôn trọng và bảo vệ gồm cả các quyền cần được bảo đảm bới pháp luật hình sự, tố tụng hình sự như quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; quyền tự do và an toàn cá nhân; quyền không bị bắt giữ và giam cầm vô cớ

Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết bảo đảm các quyền con người cùng quyền dân sự trong tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền chủ nghĩa Một trong những hoạt động trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta là hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế nêu trong các điều ước quốc tế

về quyền con người mà Việt Nam đã là thành viên, trong đó, từ những yêu cầu cơ bản đối với việc bảo đảm các quyền con người, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra là một trong những quyền cơ bản về dân sự, chính trị của con người Tại khoản 5 Điều 9, ICCPR đã tuyên bố: cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường" [22, tr.5O3].

* Cơ sở thực tiễn

Bên cạnh đó, thực tiễn pháp lý trên thế giới đã cho thấy càng ngày càng

có nhiều quốc gia càng đề cao quyền dân sự mặc dù nội dung cũng như truyền thống, tư duy pháp luật giữa các nước có sự khác nhau nhưng có chung một quan điếm về việc Nhà nước phải thừa nhận trách nhiệm đối với trọng trách bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về dân sự của công dân Đồng thời, việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người về dân sự ngày càng được quan tâm,

19

Trang 24

duy trì một trật tự xã hội ôn định và công băng là mục tiêu mà mọi quôc gia,

dù ở chế độ chính trị nào, dù trong hoàn cảnh nào, nền kinh tế ra sao, vẫn luôn hướng đến và mong mỏi nguyện vọng đó, ý chí đó

Như đã nêu ở mục trên, trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới thế hiện quyền lực của Nhà nước với nhân dân song song với việc bảo đảm tối

ưu nhất sự bình đẳng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt, là quyền dân sự như vậy, không chì hòa vào xu thế chung của khu vực, của thế giới mà việc thừa nhận trách nhiệm của Nhà nước cũng là phù họp với nền dân chủ mà chúng ta đang tích cực xây dựng trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân

1.2 Khái niệm, đặc điếm, vai trò của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1.2.1 Khái niệm của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Bồi thường là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra” [58, tr.191] về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì vậy bồi thường thiệt hại là "“'hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có

hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quá bằng cách bù đắp, đền bù tôn thất về vật chất và tôn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại" [52, tr.31]

Bên cạnh đó, thiệt hại, về mặt pháp lý, là những tổn thất về tài sản, tốn thất

về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm Do đó, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại những tổn thất trên bằng những cách thức và tiêu chí

do pháp luật đặt ra

Mục tiêu của Nhà nước là bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, do đó, đối với các thiệt hại gây ra trong khi thi hành công vụ cũng

20

Trang 25

phải được pháp luật bảo vệ Như vậy, khi Nhà nước thực hiện quyên lực công thông qua các hành vi thi hành công vụ của đội ngũ công chức mà gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân thì phải chịu TNBT Do đó, trách nhiệm bồi thường cùa Nhà nước là trách nhiệm khôi phục những tồn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về uy tín, tinh thần khi người thi hành công vụ gây thiệt hại cho các cá nhân, tố chức trong quá trình thực thi quyền lực công/trong quá trình thi hành công vụ Khái niệm này có thề được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, TNBTCNN là trách nhiệm mà trong đó Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do CQNN, người thi hành công vụ gây ra Nghĩa là, việc bồi thường thiệt hại được thực hiện cho tất cả các trường hợp có thiệt hại do hành vi của cơ quan, người thi hành công vụ nhà nước gây ra Theo nghĩa hẹp, thì TNBTCNN là trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có nghĩa vụ phải bồi thường cho cá nhân, tổ chức

bị thiệt hại do người thi hành công vụ nhà nước gây ra

Để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động thực hiện TNBTCNN, luôn cần có sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật đế bảo đảm các hoạt động này đi đúng với các chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước

Do đó, pháp luật về TNBTCNN được hiểu là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, từ các quy định của Hiến pháp, các văn bản luật và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các vấn đề khác có liên quan để thực hiện có hiệu quả trách nhiệm này Như vậy, pháp luật về TNBTCNN là hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do các CQNN có thấm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận, bình đắng, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện

21

Trang 26

TNBTCNN, xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ và hoạt động quản

lý nhà nước về công tác bồi thường

Từ những khái niệm nêu trên về quyền dân sự, bảo vệ quyền dân sự, về TNBTCNN, học viên cho rằng bảo vệ quyền dân sự trong pháp luật TNBTCNN là việc xây dựng một hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân

để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành công vụ giữa các CQNN có thẩm quyền với các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

1.2.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Bão vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

có một số đặc điểm sau đây:

- Đối tượng được Nhà nước bồi thường bao gồm các “cá nhân, tổ chức

bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần” [45, tr.l] thuộc các trường hợp

đã được quy định trong Luật TNBTCNN trong cả 03 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án do hành vi trái pháp luật của các cán bộ, công chức Nhà nước vì vô ý làm sai hay cố tình làm sai đe trục lợi, thực hiện hành

vi tư thù cá nhân hoặc vì vô trách nhiệm trong quá trình thực thi công vụ gây

ra thiệt hại và hậu quả cho các cá nhân, tồ chức đó Theo quy định này, có thề hiểu, các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng được Nhà nước Việt Nam bồi thường bao gồm công dân Việt Nam, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; cá nhân mang quốc tịch của quốc gia, vùng lãnh thồ khác, tố chức nước ngoài hoạt động họp pháp tại Việt Nam; người không quốc tịch đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam Các đối tưọng này đều có

22

Trang 27

thể trở thành đối tượng được bồi thường miễn là đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Luật TNBTCNN.

- về chủ thể, các bên trong quan hệ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước luôn luôn bao gồm bên gây thiệt hại - Nhà nước và bên bị thiệt hại là các cá nhân, tổ chức, chủ thể khác Nhà nước luôn luôn là một bên trong quan

hệ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại này Đây là một chủ thể đặc thù trong mối quan hệ dân sự này

1.2.3 Vai trò của bảo vệ quyền dân sự trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Góp phần bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của cá nhân, tô chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

Như đã trình bày ở trên, các cá nhân, tổ chức trong xã hội không chỉ là một bên trong quan hệ pháp luật liên quan đến việc thi hành công vụ của Nhà nước mà còn là đối tượng tác động của hoạt động công vụ đó Chính vì vậy, nếu hành vi thi hành công vụ được thực hiện nghiêm chỉnh trên cơ sở tuân thủ pháp luật thì sẽ không chỉ bào đảm được trật tự quăn lý nhà nước mà còn góp phần xử lý đúng pháp luật mọi hành vi sai trái của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, nếu việc thực thi công vụ có vi phạm và gây ra thiệt hại thì sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại

Khi quyền lợi của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm thì mặc dù khó có thể khôi phục lại nguyên vẹn như trạng thái ban đầu thì việc bảo vệ quyền dân sự trong luật TNBTCNN cũng sẽ góp phần vào việc bù đắp những tổn thất về vật chất cũng như mất mát, đau khổ về tinh thần mà họ phải gánh chịu

Góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm công vụ của người thi hành công vụ, chất lượng nền công vụ, qua đó, góp phần kiêm soát quyền lực nhà nước và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước

Người thi hành công vụ mỗi khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được phân công, bên cạnh sĩ diện, lòng tự trọng nghề nghiệp thì với pháp luật về

23

Trang 28

TNBTCNN thì họ luôn "lơ lửng trên đâu" một ý thức răng, nêu gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ sẽ làm phát sinh TNBTCNN, và qua đó, dẫn tới phát sinh trách nhiệm vật chất, trách nhiệm kỷ luật cùa họ đối với Nhà nước Chính vì vậy, bảo vệ quyền dân sự trong pháp luật về TNBTCNN là một trong những công cụ hiệu quả để góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm công vụ của người thi hành công vụ nói riêng, qua đó, nâng cao chất lượng nền công vụ nói chung.

Ở bình diện lớn hơn, Nhà nước, với tư cách là chủ thể có quyền quản

lý, điều hành xã hội thông qua quyền lực đã được ghi nhận (dù trực tiếp Nhà nước thực hiện hoặc thông qua một cơ quan, tổ chức không phải của Nhà nước) thì thường có xu hướng lạm dụng quyền lực, và sự lạm dụng có nhiều biểu hiện cụ thể, song về hình thức thường là sự vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi quyền lực, về hậu quả thường là sự tổn hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lý gây ra bới các hành vi vi phạm pháp luật nêu trên Chính vì vậy, việc ban hành Luật TNBTCNN để bảo vệ quyền dân

sự có thể coi là một cơ chế pháp lý gián tiếp rất hiệu quả trong số các phương pháp có thể hạn chế, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực cùa Nhà nước Nhìn

từ góc độ pháp luật dân sự, việc Nhà nước phải bồi thường cho tổ chức, cá nhân cũng không phải là tự hạn chế quyền lực của mình mà việc Nhà nước quy định trách nhiệm pháp lý cửa mình hoàn toàn không phải là hạn chế quyền lực hay chủ quyền trong mối quan hệ với công dân, mà chính là nâng cao trách nhiệm của Nhà nước là biện pháp bảo đảm cho các quyền tự do của công dân; bảo đảm sự thực thi những chủ trương, chính sách pháp luật mang tính cải cách trong xã hội, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của nhà nước, làm tăng sự tin tưởng của công dân vào bộ máy nhà nước

Góp phần bảo vệ chính quyền và lợi ích họp pháp của Nhà nước

Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người bị thiệt hại thì thực chất đây là sự "thương thảo" giải quyết quyền lợi cho bên bị thiệt hại Do đó, rõ

24

Trang 29

ràng răng kêt quả của việc thương thảo phải là quyên lợi được bảo đảm của bên bị thiệt hại.

Nếu quyền lợi của bên bị thiệt hại được giải quyết thấu đáo, hợp tình, hợp lý thì bên bị thiệt hại chắc chắn tin tưởng rằng Nhà nước đã thực sự thiện chí trong việc thừa nhận mình sai và thiện chí trong việc khôi phục lại các quyền và lợi ích họp pháp của bên bị thiệt hại Điều này đồng nghĩa với việc rằng Nhà nước "lấy lại" được một phần hoặc toàn bộ lòng tin của công dân của mình vào hoạt động của bộ máy nhà nước Nói một cách khác, ở góc độ

vĩ mô thì Nhà nước bảo đảm được sự hoạt động ổn định binh thường của bộ máy nhà nước trên cơ sở sự ủng hộ và tin tưởng của người dân

Ớ một khía cạnh khác, liệu có hay không có sự trục lợi từ quan hệ bồi thường nhà nước, hoặc, có hay không việc tùy tiện trong áp dụng pháp luật để giải quyết quyền lợi của bên bị thiệt hại một cách thái quá nhằm xoa dịu dư luận, làm giảm bớt tâm lý bức xúc của người bị thiệt hại? Thực tiễn thi hành Luật TNBTCNN năm 2009 đến nay cho thấy, sự trục lợi từ quan hệ bồi thường nhà nước là chưa từng xảy ra Tuy nhiên, việc quyền lợi của Nhà nước

bị ảnh hưởng do việc áp dụng pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước không đúng là đã xảy ra và kéo theo nhiều hậu quả pháp lý khác nhau như: ngân sách nhà nước phải bỏ ra một khoản tiền lớn hơn mức cần thiết để chi trả cho người bị thiệt hại, hay sử dụng trái pháp luật các nguồn kinh phí khác

mà không phải kinh phí bồi thường để bồi thường, trong khi các nguồn kinh phí khác đó được pháp luật quy định là phải sử dụng vào mục đích phát triến kinh tế xã hội thay vì sử dụng vào mục đích bồi thường Nhũng hệ quả bất lợi như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính quyền lợi của Nhà nước

Chính vì vậy, việc áp dụng đúng pháp luật TNBTCNN sẽ không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích của người bị thiệt hại mà còn của chính Nhà nước

25

Trang 30

Chương 2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN DÂN sự TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THUỜNG CỦA NHÀ NUỚC

2.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước

Việc xác định phạm vi TNBTCNN bảo đảm được quy định phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong giai đoạn ban hành đạo luật riêng về BTNN, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và BLDS năm

2015 đã ghi nhận một nguyên tắc rất cơ bản, theo đó, Nhà nước có trách nhiệm BTTH do cán bộ, công chức của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ Do đó, để bảo đảm tính khả thi của Luật TNBTCNN, phạm vi TNBTCNN được xác định phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội; khả năng của ngân sách nhà nước; năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức và bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích của cá nhân, tố chức bị thiệt hại, lợi ích của Nhà nước, đồng thời, cũng bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền, giữ vừng sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước

Trong 03 lĩnh vực được Nhà nước điều chỉnh và bảo vệ, thì phạm vi TNBTCNN được giới hạn đối với một số hành vi do cán bộ, công chức làm trái pháp luật trong khi thi hành những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực như sau:

2.1.1 Phạm vi bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính

Phạm vi bồi thường trong lĩnh vực này được liệt kê đối với 11 nhóm hành vi mà nếu gây ra thiệt hại thì Nhà nước có TNBT Đây là những hành vi

có ảnh hưởng lớn đến các quyền cơ bản của công dân như quyền tự do thân thể, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do sở hữu do đó cần được Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, bằng cách cam kết sẽ bồi thường nếu các hành vi

26

Trang 31

này của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ gây thiệt hại cho

cá nhân, tổ chức Các hành vi đó được quy định cụ thể trong Luật TNBTCNN

2017 bao gồm hành vi:

Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chinh; áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác; áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh; cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh; giấy chứng nhận đàu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép; áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất; áp dụng thủ tục hải quan; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bàng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ; và không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện [45, Điều 17]

So với luật TNBTCNN 2009 thì Luật năm 2017 đã bổ sung 02 trường họp được bồi thường do bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính trái pháp luật (điểm b và điểm c khoản 3 Điều 17); (ii) bổ sung 01

27

Trang 32

trường hợp được bôi thường do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật“giáo dục tại xã, phường, thị trấn” (khoản 5 Điều 17); (iii) bổ sung trường hợp được bồi thường “không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật tố cáo các biện pháp bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu” (khoản 6 Điều 17); (iv) bổ sung trường hợp bồi thường do “thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin” (khoản 7 Điều 17); (v) Bổ sung trường hợp được bồi thường do

áp dụng trái pháp luật việc “hoàn thuế” (khoản 9 Điều 17); (vi) bổ sung trường hợp được bồi thường do “ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức từ Tống Cục trưởng và tương đương trở xuống” (khoản 14 Điều 17)

Có thể nói, việc mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính đã cụ thể hóa một số quyền, trong đó có quyền được tiếp cận thông tin Để cụ thể hóa khoản 2 Điều 19 ICCPR và đặc biệt quyền tiếp cận thông tin theo quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013, khoản 7 Điều 17 Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đổi với trường hợp “thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin”

2.1.2 Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng

Đối với hoạt động TTHS và TTDS,pháp luật về BTNN cũng đã liệt kê các trường hợp mà Nhà nước có TNBT liên quan trực tiếp đến các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm; quyền không bị tra tấn, nhục hình và được đối xử nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, độc

28

Trang 33

đoán; quyên tự do và an toàn cá nhân; quyên được pháp luật bảo hộ vê tính mạng; quyền sống, tránh mọi hành vi trái pháp luật của người thi hành công

vụ gây ra khi xâm phạm quyền sống là ưu tiên hàng đầu của Nhà nước trong việc nhận trách nhiệm về mình và bồi thường những thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra khi thi hành công vụ Theo đó, các cá nhân, tố chức trong phạm vi được Nhà nước bồi thường bao gồm: người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tổ tụng hình sự huỷ bò quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Người

bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thấm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhung chưa thi hành mà sau

đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tống hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt

29

Trang 34

chung của nhũng tội mà người đó phải châp hành; Người bị xét xử băng nhiêu bản án, Toà án đã tổng họp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản

án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành; Tổ chức,

cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý

có liên quan đến các trường họp quy định tại các khoản 1,2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 18 Luật TNBTTHCNN 2017 thì được bồi thường

Như vậy Luật TNBTCNN 2017 đã bổ sung trường họp được bồi thường do người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (khoản 1 Điều 18); bổ sung trường hợp được bồi thường do Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy

tổ, xét xử, thi hành án oan (khoản 9 Điều 18) Quy định này của Luật đã phù hợp với khoản 5 Điều 9 ICCPR quy định:

Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường

Và khoản 6 Điều 14 ICCPR cũng quy định:

Khi một người bị kết án về một tội hình sự bởi một quyết định chung thẩm và sau đó bản án bị hủy bõ hoặc người đó được tha trên

cơ sở tình tiết mới hoặc phát hiện mới cho thấy rõ ràng có sự xét xử oan thì người đã phải chịu hình phạt theo bàn án trên theo luật, có quyền yêu cầu bồi thường

Vấn đề phạm vi BTTH trong TTDS, TTHC cũng được ghi nhận trong pháp luật về BTNN mà trong đó, đã quy định cụ thế 4 trường họp được Nhà nước bồi thường là: hành vi tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà

30

Trang 35

cá nhân, cơ quan, tô chức có yêu câu; áp dụng biện pháp khân câp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan,

tồ chức; ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án

2.1.3 Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án

Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, pháp luật về BTNN có quy định tại Điều 21 Luật TNBTCN đổi với các hành vi trái pháp luật gây ra bởi cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ liên quan trực tiếp đến các nhóm quyền bao gồm quyền về tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tư nhân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác, quyền thừa kế và Nhà nước có TNBT nếu có thiệt hại gây ra do 7 nhóm hành vi của người thi hành công vụ, bao gồm: việc ra hoặc cố ý không ra các quyết định thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án

Điều 19 Luật TNBTCNN năm 2017 đã bỏ lồi cố ý đối với trường họp

ra bản án, quyết định trái pháp luật và tách thành 02 khoản (khoản 5 và khoản

6 Điều 19) quy định cụ thể hơn căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người đã ra bản án, quyết định

Trong hoạt động thi hành án hình sự (Điều 20), Bổ sung thêm 01 trường hợp được bồi thường là: “Không thực hiện quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù” (điếm d khoản 3 Điều 20).Trong lĩnh vực thi hành án dân sự: Điều 21 Luật TNBTCNN năm

2017 đã bở lồi cố ý đối với trường hợp ra các quyết định về thi hành án và trường hợp tổ chức thi hành án các quyết định về thi hành án

31

Trang 36

2.1.4 Đôi tượng không thuộc phạm vi trách nhiệm bôi thường của Nhà nước

Bên cạnh những trường hợp thuộc phạm vi TNBTCNN trong cả 03 lĩnh vực được liệt kê cụ thể, chi tiết đối với từng hành vi trong pháp luật về BTNN

ở Việt Nam thì bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng có giới hạn những đối tượng không thuộc phạm vi TNBTCNN, cụ thể là:

Thứ nhất, những đối tượng không được Nhà nước bồi thường trong

hoạt động tố tụng hình sự, là trường hợp: người được miễn trách nhiệm hình

sự theo quy định của pháp luật; cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm; người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhung chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhung không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này; người bị khởi tổ, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm; người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự

Thứ hai, là Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra hoàn

toàn do lồi của người bị thiệt hại; người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc; do sự kiện

32

Trang 37

bất khả kháng, tình thế cấp thiết Trường hợp người thi hành công vụ và người bị thiệt hại cùng có lồi thi Nhà nước chỉ bồi thường một phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người thi hành công vụ Việc xác định thiệt hại tương ứng với phần lồi của người thi hành công vụ trong hoạt động quàn lý hành chính được thực hiện theo quy định tại BLDS 2015.• • • 1 e/ • •

Thứ ba, là những đối tượng thuộc trường hợp bị gây ra thiệt hại do

Nhà nước có vi phạm pháp luật trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế; đối tượng thuộc trường hợp bị gây ra thiệt hại do tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng, vận hành của Nhà nước; đối tượng thuộc trường hợp bị gây ra thiệt hại do việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật sai của Nhà nước; những trường hợp bị gây ra thiệt hại không do hoạt động công vụ

Có thể nhận thấy rằng việc quy định về phạm vi TNBTCNN tại Luật TNBTCNN so với các văn bản quy định về TNBTCNN trước đây cho thấy phạm vi TNBTCNN tương đối rộng, bao phủ hầu hết các hoạt động của Nhà nước trên cả 03 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án Tuy rằng việc điều chỉnh phạm vi TNBTCNN chưa được toàn diện và đầy đủ, chưa giải quyết được hoàn toàn và triệt để những sai phạm trong mọi mặt của đời sống

xã hội, tuy nhiên, việc Nhà nước ban hành một cơ chế bồi thường quy định rõ từng loại trường họp nếu có sai phạm gây ra thiệt hại sẽ được Nhà nước bồi thường đã thể hiện một ý chí, một tư tưởng tiến bộ của Nhà nước ta Ý chí đó thể hiện ở tư duy Nhà nước dám chịu trách nhiệm về mình, và giải quyết những thiệt hại mà mình gây ra thông qua việc bồi thường, quyền con người

đã phần nào được bảo vệ trong 03 lĩnh vực của đời sống nói trên Đây là một bước tiến lớn của Đảng và Nhà nước ra khi ban hành Luật TNBTCNN và mong muốn Luật sẽ từng bước đi vào cuộc sống

33

Trang 38

2.2 Vê quyên và nghĩa vụ của ngiròi bị thiệt hại trong việc yêu câu bồi thường

Quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại được pháp luật quy định tương đối cụ thể và rõ ràng, trong đó, thể hiện ở chồ Nhà nước quy định rằng người dân nếu bị thiệt hại là có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường Điều này thể hiện sự bình đẳng của nhân dân trước pháp luật và Nhà nước Luật TNBTCNN quy định:

Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bàn của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này [45, Điều 13, Khoản 1],

Thể hiện quan hệ TNBTCNN được xác định là quan hệ dân sự đặc thù,

vì vậy, khác với các quan hệ pháp luật dân sự thông thường, Luật TNBTCNN không quy định cho người bị thiệt hại được quyền làm đơn yêu cầu Nhà nước bồi thường ngay sau khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị vi phạm mà quyền đó chỉ phát sinh khi có văn bản của CQNN có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường

Việc quy định như vậy là thế hiện rõ một trong những nguyên tắc xuyên suốt của Luật TNBTCNN là phải bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và lợi ích của Nhà nước, tức là Luật TNBTCNN được ban hành là nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị người thi hành công vụ gây thiệt hại nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền Như vậy,

34

Trang 39

nêu quy định quyên yêu câu bôi thường phát sinh ngay từ thời điêm người bị thiệt hại cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm thì sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sự hoạt động của các cơ quan nhà nước.

2.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Để xác định TNBTCNN, pháp luật về BTNN ờ Việt Nam quy định rất

rõ về căn cứ mà người bị thiệt hại phải chứng minh với CQNN khi cho rằng

cơ quan đó đã gây ra thiệt hại cho mình, cụ the, căn cứ đó được quy định cụ thể đối với các lĩnh vực hoạt động khác nhau trong quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án và tố tụng hình sự

Theo đó, căn cử để xác định TNBTCNN trong các lình vực quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án (khoản 1 Điều 7 của Luật TNBTCNN 2017) được quy định cụ thể bao gồm 03 căn cứ là: phải

có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, phải có thiệt hại thực tế xảy ra và phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ Riêng trong hoạt động tố tụng hình sự, pháp luật quy định cụ thể việc người bị thiệt hại phải có

đủ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường là bản án, quyết định của CQNN

có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định thuộc phạm vi TNBT quy định tại Điều 18 Luật TNBTCNN 2017 và có thiệt hại thực tế xảy ra

Ở đây, văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công

vụ được xác định cụ thể đối với loại văn bản hợp lệ, bao gồm: Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật; Kết luận nội dung tố cáo của cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Một điểm đáng lưu ý là mặc dù không quy định trực tiếp lồi là một trong các căn cứ để xác định TNBTCNN, tuy nhiên, pháp luật về BTNN trong

35

Ngày đăng: 12/07/2022, 08:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
50. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tông kết công tác ngành toà án các năm 2010 — 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tông kết công tác ngành toà án các năm 2010 — 2015
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2015
52. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
53. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
54. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giảo trình lỷ luận nhà nước và pháp luật. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảo trình lỷ luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
55. Lương Danh Tùng (2016), “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Viện nghiên cứu lập pháp, (15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong tố tụng dân sự”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Lương Danh Tùng
Năm: 2016
56. Uỷ ban thường vụ quốc hội (2003), Nghị quyết số 388/2003/NQ- UBTVQH11 ngày 17.3.2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thầm quyền trong hoạt động tổ tụng hình sự gãy ra. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 388/2003/NQ- UBTVQH11 ngày 17.3.2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thầm quyền trong hoạt động tổ tụng hình sự gãy ra
Tác giả: Uỷ ban thường vụ quốc hội
Năm: 2003
57. Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nằng
Năm: 2005
58. Cao Đăng Vinh (2008), “Tìm hiểu pháp luật bồi thường nhà nước ở Canada”, Tạp chỉ Dân chủ và Pháp luật, tr. 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật bồi thường nhà nước ở Canada”, "Tạp chỉ Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Cao Đăng Vinh
Năm: 2008
59. Nguyễn Như Ý (1998), Từ điên tiếng Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nôi. • Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điên tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1998
51. Trung Hoa (1994), Luật Nhà nước hồi thường thiệt hại Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w