1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn tại các tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh đắk lắk (luận văn thạc sỹ luật)

87 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Đảm Quyền Tranh Tụng Của Đương Sự Trong Quá Trình Giải Quyết Vụ Án Dân Sự Tại Tòa Án Cấp Sơ Thẩm Và Thực Tiễn Tại Các Tòa Án Nhân Dân Trên Địa Bàn Tỉnh Đắk Lắk
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 22,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc đánh giá nhũng điểm bất cập của pháp luật hiện hành, luận văn đề xuất sửa đồi, bổ sung một số quy định về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐÀU 1

CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT VÈ BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG sụ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT vụ ÁN DÂN sụ TẠI TÒA ÁN CẤP Sơ THẨM 9

1.1 Khái niệm, đặc điếm, ý nghĩa việc bảo đảm quyền tranh tụng của đưong sự trong quá trình giăi quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Đặc điểm 13

1.1.3 Ý nghĩa 17

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp SO’ thẩm 19

1.2.1 Cơ sở lý luận 19

1.2.2 Cơ sớ thực tiễn 22

1.2.3 Bảo đàm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thấm phù hợp với đặc thù của mô hình tranh tụng 24

1.3 Nội dung pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 26

1.3.1 Lược sử hình thành và phát triển 26

Trang 2

1.3.2 Thực trạng pháp luật hiện hành vê bảo đảm quyên tranh tụng

của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án

cấp sơ thẩm 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49

CHƯƠNG 2: THựC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỤ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT vụ ÁN DÂN SỤ TẠI TÒA ÁN CẤP so THẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK VÀ KIẾN NGHỊ 51

2.1 Khái quát về các Tòa án nhân dân trên đại bàn tỉnh Đắk Lắk 51

2.2 Thực tiễn về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giái quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp SO' thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 52

2.2.1 Những kết quà đạt được 52

2.2.2 Những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại 56

2.2.3 Nguyên nhân của một số hạn chế, tồn tại 67

2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 72

2.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 72

2.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 3

MỞ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Công cuộc hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay đang được tiến hành ngày một sâu rộng Nước ta đã và đang tham gia ngày càng đầy đủ vào các sân chơi quốc tế như: WTO, APEC, ASEAN, TPP Trong quá trinh hợp tác quốc tế, hệ thống pháp luật và thể chế tư pháp Việt Nam cần phải có những điều chỉnh, sửa đổi, hoàn thiện để báo đảm phù hợp với các nguyên tắc pháp

lý quốc tế, các cam kết đa quốc gia, tạo động lực thúc đẩy tự do thương mại

và đầu tư quốc tế Trong đó, đặc biệt việc tăng cường hoạt động tranh tụng là yêu cầu tất yếu trong cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập Nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 về “nguyên tắc

tranh tụng trong xét xử được báo đảm ”, Điều 24 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 đã quy định nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” thay thế cho nguyên tắc “Bảo đảm quyền tranh luận trong tổ tụng dân sự” cùa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 Đồng thời, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển về kỹ thuật lập pháp với sự hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật tố tụng nói chung và quy định về bão đảm quyền tranh tụng của đương sự nói riêng Bộ luật tố tụng dân sự nẳm

2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định so với pháp luật tổ tụng trước đây nhằm nâng cao và bảo đảm yếu tố tranh tụng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu đề ra trong bối cảnh hội nhập hiện nay

Quyền tranh tụng của đương sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự vì đối tượng của tố tụng dân sự thường là quan

hệ quyền, nghĩa vụ có thể được định đoạt tự do giữa các bên đương sự Sự tồn tại hay không tồn tại của quan hệ về quyền, nghĩa vụ này được xác định như

Trang 4

là kêt quả của vụ kiện giữa các đương sự, Nhà nước không có quyên lợi trực tiếp ở đây nên việc quyết định nó có tồn tại hay không trước tiên phải được dành cho các bên đương sự Tranh tụng là con đường ngấn nhất để tìm ra sự thật và là việc các bên sẽ thỏa mãn hơn với kết quả giải quyết vụ việc dân sự.

Từ thực tiễn xét xử, khi áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự hiện hành vẫn còn tồn tại những vướng mắc, đặc biệt là việc áp dụng quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nguyên tắc “Bao đảm tranh

tụng trong xét xử” Do vậy, rất nhiều bản án cùa tòa án sơ thấm bị hùy chỉ vì

tòa án chưa làm hết trách nhiệm thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án được toàn diện, điều này vô hình chung làm cho tòa án trở thành chủ thể chính trong quá trình chứng minh vụ án, còn đương sự chỉ là người thực hiện theo yêu cầu thu thập chứng cứ cùa tòa án Vì thế, chất lượng tranh tụng tại tòa án chỉ mang tính thủ tục, chưa đảm bảo được bản chất thực sự của việc tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hiện chưa có những hoạt động cụ thể, quyết liệt của các cơ quan có thẩm quyền nhằm xây dựng một bộ thủ tục tranh tụng hoàn chỉnh

Những người tham gia tố tụng dân sự chưa có kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng nên vần còn nhiều vấn đề bất cập khi thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của từng chủ thể khi tham gia vào hoạt động tố tụng Thói quen và kinh nghiệm giải quyết vụ án theo một quy trình mang tính thẩm vấn trước đây vẫn còn ảnh hưởng đến định hướng giải quyết vụ án và là lối mòn tư duy của người tiến hành tố tụng Việc nêu cao tinh thần trách nhiệm, thượng tôn công

lý, những nguyên tắc nghề nghiệp bị vi phạm nghiêm trọng cũng là những yếu

tố ảnh hưởng trực tiếp đến thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư khi tổ chức các phiên tòa mang bản chất tranh tụng

Hoạt động bảo đảm tranh tụng của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tĩnh Đắk Lắk cũng bộc lộ

2

Trang 5

những hạn chê và bât cập nhât định, đội ngũ thâm phán, hội thâm còn thiêu nhiều Thực trạng phân bổ đội ngũ thẩm phán ở một số Tòa án nhân dân cấp huyện vùng địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn còn thiếu một số lượng đáng kể về chất lượng, vẫn có những thẩm phán chưa hoàn thành trách nhiệm của mình đối với công tác đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự gây ảnh hưởng cho quá trình giải quyết đúng đắn vụ án dân sự.

Từ những lý do trên nên tôi lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền tranh tụng

của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thâm

vù thực tiễn tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài

Luận văn Thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đe tài này đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà luật học khai thác trên nhiều góc độ khác nhau Trong đó có một số đề tài đáng chú ý như:

- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà với đề tài

“Tranh tụng tại phiên toà sơ thâm dân sự, một so vấn đề lý luận và thực tiễn”,

năm 2002 Nội dung luận văn tác giả đã phân tích nội dung của pháp luật liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa dưới góc độ lý luận và nêu ra những vướng mắc thực tiễn áp dụng pháp luật

- Luận văn Thạc sỹ luật học của Trịnh Văn Chung về “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2016 Đe tài luận văn đã đề

cập đến một số vấn đề lý luận về tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành chủ yếu ở trong và trước giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của các quy định của pháp luật liên quan đến tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam

- Luận văn Thạc sỳ luật học của Nguyễn Thị Thu Hương về “Tranh tụng trong tố tụng dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ” năm 2016

3

Trang 6

- Dưới dạng bài viêt trên báo, tạp chí luật có: Bài viêt “Một sô vân đê

về tranh tụng trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà trên tạp

chí Nhà nước và Pháp luật Viện Nhà nước và Pháp luật, số 2/2010 Bài viết

đã đề cập đến khái niệm, đặc điểm, nội dung tranh tụng cũng như các chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự

- Một số bài viết khác như: Bài viết “Nghiên cứu bô sung nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng dân sự” của tác giả Lại Văn Trình trên

Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 30 số 4 năm 2014; Bài viết “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự” của TS Mai Bộ đăng trên trang Web của Tòa án nhân dân tối cao năm 2014 Ngoài các công trình nêu trên còn có các nghiên cứu gián tiếp khác liên quan đến bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự nhưng cỏ thể thấy đến nay chưa

có một công trình nghiên cửu trực tiếp, chuyên sâu về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Các công trình nghiên cứu kể trên chỉ dừng lại ở mức độ đề cập gián tiếp, chưa toàn diện về các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo đảm quyền tranh tụng cùa đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Thực tế hiện nay đã có nhiều thay đổi với một số văn bản pháp luật dân

sự mới được ban hành cùng sự vận động không ngừng của thực tiễn đòi hỏi cần có một công trình nghiên cứu trực tiếp về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài• • •

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, có

hệ thống một số vấn đề lý luận và nội dung của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về của bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá

4

Trang 7

trình giải quyêt vụ án dân sự tại Tòa án câp sơ thâm Thông qua việc đánh giá nhũng điểm bất cập của pháp luật hiện hành, luận văn đề xuất sửa đồi, bổ sung một số quy định về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm theo hướng nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền tranh tụng

của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Thứ hai, phân tích và làm rõ các nội dung cơ bản của Pháp luật tố tụng

dân sự Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Thứ ba, khảo sát thực tiễn thực hiện quyền tranh tụng của đương sự tại

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Qua đó phát hiện những tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện quyền tranh tụng của đương

sự, tìm ra nguyên nhân làm cơ sở đề xuất các giải pháp khắc phục

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài là những vấn đề lý luận chung về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, các quy định hiện hành của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện quyền tranh tụng cùa đương sự trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tĩnh Đắk Lắk

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, về nội dung: Luận văn tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm,

các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết

vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thấm và sự thể hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự qua các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

5

Trang 8

Thứ hai, vê không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vê bảo đảm

pháp lý và việc tồ chức thực hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương

sự trong tố tụng dân sự, tập trung phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật

về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Thứ ba, về thời gian: Trong giới hạn nghiên cứu đề tài của một luận

văn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề lý luận

cơ bản về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân

sự tại Tòa án cấp sơ thầm theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Thực tiễn bảo• • 1 • • • • • đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian 3 năm trở lại đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề thực hiện được mục đích nghiên cứu đề tài, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra, để giải quyết vấn

đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng họp; phương pháp so sánh; phương pháp bình luận; phương pháp thống kê Cụ thể như sau:

Phương pháp so sánh, được áp dụng để tìm ra sự tương đồng cũng như

khác biệt giữa các hình thức tranh tụng trong hệ thống pháp luật trên thế giói cùng sự quy định cùa pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm tại Chương 1 Đồng thời, phương pháp so sánh cũng được sử dụng tại Chương 2 trong quá trình phân

6

Trang 9

tích và đánh giá các quy định của pháp luật vê bảo đảm quyên tranh tụng của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thấm.

Phương pháp phân tích, được áp dụng đối với các trường hợp cần làm

rõ khái niệm, vai trò và các đặc trưng của bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tại Chương 1 Bên cạnh đó, phương pháp phân tích cũng sừ dụng đế phân tích các quy định hiện tại của pháp luật Việt Nam về những nội dung bất cập của pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được nêu tại Chương 2

Phương pháp sử dụng kết quả thống kê, được sử dụng khi thống kê số

liệu về tình hình thụ lý, kết quả giải quyết và việc áp dụng quy định về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Phương pháp bình luận, áp dụng để bình luận các vụ án dân sự đã xét

xử tại Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Trên cơ sở đó rút ra một số hạn chế, tồn tại trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được nêu tại Chương 2

Phương pháp tông hợp, áp dụng sau những vấn đề lớn đã được triển

khai trong các mục, chương để đưa ra kết luận, đánh giá cho từng phần của Luận văn và phần kết luận của Luận vãn để nêu ra một cái nhìn tổng quát về toàn bộ các nội dung được phân tích và đánh giá trong toàn bộ Luận văn Trên

cơ sở các tài liệu đã phân tích, so sánh, thống kê, tác giả sử dụng phương pháp này để tổng hợp lại những vấn đề đã nêu ra, từ đó rút ra những nhận định, kiến nghị sửa đối, bổ sung cần thiết để hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

7

Trang 10

6 Cơ câu ciia luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu với 2 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và nội dung pháp luật về bảo đảm quyềntranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyêt vụ án dân sự tại Tòa án câp

sơ thẩm

Chương 2\ Thực tiễn bảo đám quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thấm trên địa bàn tỉnh Đắk

8

Trang 11

CHƯƠNG 1

Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT VÈ BẢO ĐÃM• • •QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG sự TRONG QUÁ TRÌNH

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN sự TẠI TÒA ÁN CẤP sơ THẨM

1.1 Khái niệm, đặc điếm, ý nghĩa việc băo đẳm quyền tranh tụng ciía đương sự trong quá trình giài quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

1.1.1 Khái niệm

Theo các nhà nghiên cứu, tố tụng tranh tụng xuất hiện từ rất sớm cùng

sự xuất hiện của Tòa án nhà nước ở Châu Âu Loại hình tố tụng này được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục đáp liên tục” [11, tr.2] Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và cho đến nay nó được áp dụng ở hầu hết các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ

Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tranh tụng Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán - Việt từ điển thì tranh tụng

có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải” [4, tr.621] Theo Đại từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng” [23, tr.1686], tại Từ điển luật học thì tranh tụng được hiếu: “là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng vói nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ đe bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập” Cách hiểu này đã thể hiện được một số đặc trưng của tranh tụng như: “là hoạt động tố tụng của các bên tham gia tố tụng”;

“có quyền bình đẳng với nhau để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập” [25, tr.807] Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phân biệt được hoạt động tranh tụng với những hoạt động

tố tụng khác và cũng thiếu đi vai trò rất quan trọng của một chủ thể là Tòa án

9

Trang 12

Xung quanh khái niệm tranh tụng trong tô tụng dân sự còn có nhiêu quan điểm khác, ví dụ như:

Cách tiếp cận thứ nhất, cho rằng:

Tranh tụng trong tố tụng dân sự được hiểu là một phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà án xác định sự thật khách quan của vụ án [1, tr.8O7J

Cách tiếp cận thứ hai, cho rằng:

Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn

cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bão vệ quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên đế ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự [1],

Cách tiếp cận thứ ba, cho ràng:

Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Quá trình tranh tụng này không chì bao gồm các giai đoạn khởi kiện,chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thấm, phúc thấm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy

để tiến hành xét xử lại [25, tr.19]

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và đối đáp với

căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận đề chứng minh rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia là có căn cứ và

10

Trang 13

hợp pháp Trên cơ sớ kêt quả tranh tụng của các bên đương sự, Hội đông xét

xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự

Nghiên cứu cách tiếp cận với những quan điểm trên, có thể nói nếu tranh tụng được hiểu như quan điểm thứ nhất thì chưa đầy đú bởi quan điểm này mới chỉ coi tranh tụng là một quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện cho đến khi có bàn án, quyết định của Toà án mà chưa thể hiện được bản chất, ý nghĩa của tranh tụng Nếu tranh tụng được hiểu theo quan điểm thứ hai thì tuy phần nào nói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của khái niệm này lại quá hẹp Theo đó, tranh tụng trong tố tụng dân sự chỉ diễn ra ở phiên toà, tranh tụng trong tố tụng dân sự đồng nghĩa với tranh tụng tại phiên toà và chỉ giới hạn trong phần tranh luận của các bên tham gia tố tụng tại phiên toà là chưa đầy đủ về ngữ nghĩa, thuật ngừ tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng tại phiên toà là khác nhau Thực chất thì tranh luận tại phiên toà chỉ là sự biểu hiện tập trung cao nhất của tranh tụng trong tố tụng dân sự Theo quan điểm thứ ba, mặc dù khái niệm đã phản ánh được bản chất của tranh tụng nhưng lại không khái quát được giới hạn của quá trình tranh tụng, cụ thể là hoạt động tranh tụng sẽ được bắt đầu và kết thúc ở thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Tác giả cho rằng, khái niệm tranh tụng dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì cũng là phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, đồng thời đề Tòa án tìm ra được sự thật khách quan của vụ án Nói cách khác, tranh tụng là quá trình hoạt động của các chủ thể tố tụng được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Trong hoạt động tranh tụng

các chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển cùa Tòa án được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân

11

Trang 14

sự quy định và Tòa án ra phán quyêt giải quyêt vụ án dân sự căn cứ vào kêt quả tranh tụng của các chủ thề tranh tụng Vì vậy, tranh tụng được coi là một phương thức tố tụng để Toà án xác định sự thật khách quan của vụ án dân sự

và đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Từ những phân tích trên, khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự cần được hiểu thống nhất như sau.’

_ r

Tranh tụng trong tô tụng dân sự là quá trình làm rõ sự thật khách quan

hoặc quyêt định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Theo đó, các chủ thê tranh tụng dưới sự điều khiển của Tòa án được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp

lý, lập luận đê bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định

Theo Từ điên Tiêng Việt “bảo đảm ” nghĩa là “làm cho chăc chăn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [22, tr.38] Bảo đảm nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó có thể thực thi trên thực tế Để làm được cho một vấn đề nào đó có tính khả thi thì đòi hởi phải có một cơ chế phù họp với từng vấn đề cần thực hiện.Trong tố tụng dân sự, việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự bao gôm nhiêu nội dung khác nhau như bảo đảm pháp lý, báo đảm thông qua sự phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo đảm thông qua sự giám sát, kiểm sát của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm trong việc tổ chức thực hiện quyền tranh tụng của đương sự Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn nên tác giả tập trung nghiên cứu vê bảo đảm pháp lý Hơn nữa, trong các biện pháp bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong

tố tụng dân sự thì bảo đảm pháp lý là quan trọng nhất Đó là tiền đề cho việc thực hiện các bảo đảm khác cũng như tạo điều kiện cho các bảo đảm khác phát huy được vai trò và hiệu quả của chủng trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Theo đó, bảo đảm pháp lý quyền

12

Trang 15

tranh tụng của đương sự trong tô tụng dân sự là bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng bằng các quy định của pháp luật Hệ thống pháp luật cần quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ cua đương sự để đương sự thực hiện việc tranh tụng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự, về trách nhiệm phổi hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong việc hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng, về trình

tự, thủ tục tố tụng tranh tụng cụ thể, công khai, minh bạch Tiếp đó, để các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về bảo đảm quyền tranh tụng của đương

sự được thực hiện trên thực tế thì cần phải có cơ chế tồ chức thực hiện Theo• • • • • M • •

đó, các phương tiện thông tin đại chúng, cả hệ thống chính trị và xã hội phải thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật tố tụng dân sự về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự, thực hiện cơ chế phối hợp, hỗ trợ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, thực hiện cơ chế giám sát hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thực hiện nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho những người tiến hành tố tụng dân sự và kiện toàn hệ thống tổ chức Tòa án

Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cap sơ thẩm là tổng hợp các biện pháp, cách thức đê cho các đương sự gồm nguyên đon, bị đon và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện được trên thực tế quyền tranh tụng mà pháp luật tố tụng dân sự quy định đê bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án.

Trang 16

người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan Tham gia quá trình tô tụng, đương sự

là những chủ thể có mâu thuẫn về quyền và lợi ích, họ đứng ở vị trí tố tụng đối lập nhau Trong suốt quá trình tranh tụng, nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bỉnh đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi họp pháp của mình trước Toà án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Tòa án là chủ thế chính có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự Tòa án là cơ quan xét xử, giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng Các quyết định của Toà án có giá trị bắt buộc các chủ thể khác phải thực hiện

- Hoạt động bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự được áp dụng với tất cả các chủ thề có quyền theo quy định của Pháp luật tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, các đương sự như nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người được pháp luật tố tụng dân sự trao quyền khởi kiện mà quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác

bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện ra tòa án Khi thực hiện quyền khởi kiện,

dù tham gia với tư cách gì thì những chủ thể này đều có quyền được tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện khi có đù căn cứ theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, các chủ thể khởi kiện cũng được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền khởi kiện, quyền tranh tụng của mình mà pháp luật đã quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước tòa

- Hoạt động bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự của Tòa

án nhân dân là tạo các điều kiện cần thiết để đương sự thực hiện được quyền bình đẳng của mình trên thực tế

14

Trang 17

Thứ hai, đặc điêm vê nội dung bảo đảm quyên tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thâm

Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực hiện Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước ta không ngừng xây dựng và hoàn thiện pháp luật, hướng đến việc bảo đảm tốt nhất quyền tố tụng cho đương sự, trong đó có quyền tranh tụng khi tham gia vào tố tụng dân sự, bảo đảm người dân có quyền sử dụng pháp luật

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cùa mình Ngoài việc quy định cụ thể về quyền tranh tụng của đương sự, Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam còn ghi nhận nhiều quy định khác bảo đảm thực thi toàn diện quyền tranh tụng của đương sự như xây dựng cơ chế đại diện thay đương sự thực hiện quyền tranh tụng; ghi nhận trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự ;

Hoạt động tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự muốn thực hiện có hiệu quả phải được điều chỉnh bằng quy định của pháp luật Điều này

là tất yếu khách quan Pháp luật quy định trình tự, thủ tục, nội dung, cách thức thực hiện hoạt động tranh tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự Nói cách khác, các quy định cùa pháp luật tạo

ra hành lang pháp lý xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng Pháp luật chính là bảo đảm pháp lý giữ vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự khi tham gia tố tụng dân sự Các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự tập trung nhất trong Bộ luật tổ tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn dưới luật do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc liên ngành Tư pháp trung ương ban hành Hiện nay, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 với những quy định mới, tiến bộ chính là cơ sở pháp lý, yếu

15

Trang 18

tô ảnh hưởng tiên quyêt đên việc bảo đảm quyên tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Thứ ba, đặc điểm về trình tự, thủ tục bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thâm

Quyền tranh tụng của đương sự được pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận nhưng để quyền tranh tụng đó của đương sự được hiện thực hóa thì cần phải tiến hành đồng bộ các biện pháp, cách thức để đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự được thực hiện trên thực tế Đó là, trước tiên các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội phải thực hiện các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật tố tụng dân sự về tranh tụng để đảm bảo các đương sự có đầy đủ hiểu biết pháp luật tố tụng dân sự về tranh tụng Có như vậy thì đương sự mới biết bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thực hiện đúng quyền tranh tụng của mình, không được lạm dụng quyền tranh tụng để gây khó khăn cho đương sự khác cũng như Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm cho các đương sự thực hiện được quyền tranh tụng, phải tạo điều kiện và không được cản trở các đương sự thực hiện quyền này Các cơ quan,

tổ chức, cá nhân thực hiện trách nhiệm phổi hợp, hỗ trợ, tạo điều kiện cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người báo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tranh tụng của đương sự và Tòa án

Quyền tranh tụng của các đương sự không chỉ được Hiến pháp và Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận mà Pháp luật tố tụng dân sự tạo các điều kiện cần thiết để quyền tranh tụng đó được thực hiện trong thực tế Vì thế, những quy định để quyền tranh tụng được thực hiện thuận lợi trong thực tiễn tại tòa án như ghi nhận quyền khởi kiện, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự Bên cạnh đó, cơ quan

16

Trang 19

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đều phải có trách nhiệm tạo điều kiện để đương sự thực hiện tốt quyền tranh tụng của mình khi lựa chọn Tòa

án giải quyết tranh chấp

Hoạt động bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự được thực hiện thông qua các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng Tính độc lập, khách quan của Tòa án là điều không thể thiếu để bảo đảm quyền tranh tụng

Sự độc lập của Tòa án, sự vô tư, khách quan của người tiến hành tố tụng sẽ là bảo đảm cần thiết cho quyền tranh tụng được thực thi trên thực tế Ngoài tính độc lập, khách quan của Tòa án, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát cũng là điều kiện cần thiết để quyền trang tụng không bị xâm phạm Việc ghi nhận quyền tham gia tố tụng của Viện Kiểm sát ngay từ khi tòa án thụ lý vụ án là điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền tranh tụng không bị xâm phạm Sự tham gia của Viện kiểm sát một mặt sẽ hạn chế tối đa việc vi phạm quyền tranh tụng của đương sự Ngoài ra, thông qua hoạt động kiểm sát của mình Viện kiểm sát có thể kịp thời kháng nghị để quyền tranh tụng cùa đương sự được bảo đảm thực hiện

1.1.3 Ỷ nghĩa

Thứ nhất, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ

án tại Tòa án cấp sơ thấm tạo cơ hội cho các bên đương sự báo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án Các đương sự có điều kiện trong việc

trình bày, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hơn nữa, tranh tụng cũng buộc các đương sự phải nồ lực, tích cực hơn trong việc tham gia tố tụng Ket quả tranh tụng là cơ sở để Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên đương sự phải tìm mọi cách để thu thập chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia

17

Trang 20

Thứ hai, bảo đảm quyên tranh tụng đê cao tính chát dân chủ, công khai

và minh bạch trong hoạt động to tụng dân sự nói chung và tại cấp sơ thảm nói riêng với tư cách là cấp xét xử lần đầu vụ án Tranh tụng trong tố tụng

dân sự là tư tưởng pháp lý chỉ đạo thể hiện rõ nhất tính chất dân chủ, công khai và minh bạch của tố tụng dân sự Trong quá trình thực hiện việc tranh tụng, các đương sự, người đại diện của đương sự đều được bình đẳng, chủ động và công khai đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý và đối đáp nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án dân sự Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng đóng vai trò giám sát quá trình tranh tụng, sử dụng kết quả tranh tụng của các bên để giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan, công bằng và đúng pháp luật

Thứ ba, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự góp phần bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên là có căn cứ và hợp pháp Tranh

tụng không những tạo điều kiện cho đương sự thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng Tòa án xác định được sự thật khách quan của vụ án dân sự Trên cơ sở đó, Tòa án giải quyết được yêu cầu của các đương sự, xác định đúng các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật Vì khi đương sự thực hiện đầy đủ các quyền tổ tụng dân sự của mình như quyền đề đạt yêu cầu để Tòa án bảo vệ, quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp hoặc do Tòa án thu thập, quyền yêu cầu Tòa án

áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thời, quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ, quyền tranh luận tại phiên tòa thì các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án có đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự một cách chính xác, công minh và đúng pháp luật

Thứ tư, bào đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm giúp cho mọi công dân hiểu biết thềm pháp

18

Trang 21

luật, củng cô thêm lòng tin vào chê độ, vào đường lôi,chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Trên cơ sở đó góp phần vào việc giáo dục và nâng cao

ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội của Nhân dân, tạo điều kiện cho việc củng cố trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.Việc bảo đảm quyền tranh tụng này cùa đương sự có ý nghĩa thiết thực

và rất quan trọng đối với quyền lợi của công dân mà trực tiếp là những chủ thể

có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, bảo đảm tính khả thi trong quá trình thực thi quyền này của công dân Chính thông qua cơ chế bảo đảm quyền tranh tụng như quy định họp lý quyền và nghĩa vụ của đương sự, thiết lập cơ chế hồ trợ hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng, bảo đảm thông qua các quy định về thể chế và thù tục liên quan tới hoạt động

tố tụng dân sự của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát mà quyền tranh tụng của các cá nhân, cơ quan, tồ chức sẽ được thực thi trên thực tế

Thứ năm, việc ghi nhận bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thấm cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân Qua đó hạn chế tình trạng xâm phạm quyền lợi hợp pháp

của chủ thể khác khi tham gia các quan hệ pháp luật Quy định về quyền tranh tụng của đương sự sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Đồng thời, quy định này có ý nghĩa răn đe, ngăn chặn các hành

vi xâm phạm quyền lợi của các chủ thể, tránh được việc tranh chấp, kiện tụng gây phiền hà, tốn kém thời gian và tiền bạc cho các chủ thế

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình gỉăi quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

1.2.1 Cơ sở lý luận

Tranh tụng trong tố tụng dân sự là loại hình tố tụng đề cao vị trí, vai trò của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp, nó là một loại hình tố tụng dân

19

Trang 22

sự dân chủ nhât, thê hiện được sự tiên bộ của nên văn minh nhân loại [1, tr.6] Tranh tụng phát huy được tính tích cực, chủ động của các đương sự trong việc thu thập, cung cấp và đánh giá chứng cứ, thực hiện tranh tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm giúp Tòa án nhanh chóng nhận thức được các tình tiết của vụ án để xác định sự thật, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.Trong quá trình tố tụng, các đương sự trao đổi với nhau những chứng cứ để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở của các quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Tranh tụng trong tố tụng dân sự xuất phát từ bản chất của quan hệ pháp luật nội dung giải quyết trong vụ án Các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung này có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền

và nghĩa vụ phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội Các chủ thể có quyền tự định đoạt có tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung hay không, quyết định nội dung của quan hệ gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên, quyết định các phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ.Khi

họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì việc tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình phải thuộc về các đương sự Hơn nữa các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự, do đó việc xác định nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự Việc xét xử vụ án dân sự thực chất là việc giải quyết xung đột hoặc liên quan đến quyền lợi của đương sự Đương sự là chủ thế của quan hệ pháp luật nội dung, là người đưa ra yêu cầu, kết quả của việc giải quyết vụ án dân sự liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chính họ nên họ có quyền và nghĩa vụ tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án Quá trình giải quyết tranh chấp trong tố tụng dân sự đòi hỏi các đương sự phải tranh tụng để làm rõ được quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp, quyền lợi

20

Trang 23

hợp pháp của mình trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được xuât trình và các lý

lẽ, lập luận được sử dụng.Vì mâu thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đương sự là tiền đề và là động lực thúc đẩy quá trình tranh tụng Mật khác để tiến hành tranh tụng, pháp luật tổ tụng dân sự phải quy định cụ thế quyền hạn, nghĩa vụ của các bên đương sự và Tòa án trong việc tranh tụng, trình tự và thủ tục tranh tụng Thẩm phán giải quyết vụ án phái độc lập, khách quan, có trình

độ chuyên môn cao và năng lực xét xử tốt Các đương sự phải biết được yêu càu, chứng cứ và lý lẽ của đối phương đưa ra, phải có sự hiếu biết về pháp luật

và những kinh nghiệm tham gia tố tụng nhất định [1, tr.7]

Tranh tụng thực chất là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau để bảo vệ quyền lợi của mình dưới sự chứng kiến của Tòa án Thông qua việc tranh tụng, các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án nhận thức được sự thật khách quan của vụ án Khi bên đưa ra yêu cầu đã chứng minh được tính có căn cứ và hợp pháp đối với yêu cầu của mình thì bên phản đối yêu càu cũng phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh sự phản đối của mình là có căn cứ Trong tranh tụng dân sự, các đương sự là người trong cuộc, biết được sự việc, đưa ra yêu cầu nên họ phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án và đương sự đối phương, từ đó các bên có thể đưa ra quan điểm của mình, giúp Tòa án có thể làm rõ sự việc tranh chấp Đe báo đàm cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, đúng pháp luật giữa các đương sự phải được bình đẳng về quyền

và nghĩa vụ tố tụng dân sự Tòa án có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp do pháp luật quy định để tạo điều kiện cho các đương sự được thật sự bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Tranh tụng thực chất là việc các đương sự cung cấp chứng cứ, đưa ra các luận điếm, căn cứ pháp lý để đối đáp, tranh luận với nhau để bảo vệ quyền lợi cùa mình, giảm bớt trách nhiệm xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án, tạo điều kiện

21

Trang 24

đê Tòa án trở thành cơ quan tài phán độc lập, bảo đảm khách quan trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Loại hình tố tụng tranh tụng quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án dân sự để họ có thể

tự bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tòa án là cơ quan bảo

vệ công lý, với chức năng xét xử có vai trò bảo đảm cho các đương sự thực hiện tranh tụng để đi đến xác định được sự thật của vụ án Các đương sự là chủ the của tranh tụng nên giữ vai trò quan trọng trong quá trình tranh tụng,

có quyền bình đẳng trong việc cung cấp, đánh giá chứng cứ, tranh tụng để bảo

vệ quyền lợi của mình

Tranh tụng xuất phát từ yêu cầu xét xử đúng pháp luật các vụ án dân

sự của Tòa án Tranh tụng có ý nghĩa lớn trong việc tìm ra sự thật của vụ án, bảo vệ quyền lợi của đương sự [1, tr.7] Để giải quyết đúng pháp luật các vụ

án dân sự, Tòa án phải đánh giá, phân tích các chứng cứ, căn cứ pháp lý mà các đương sự cung cấp Tranh tụng yêu cầu phiên tòa dân sự được diễn ra theo hướng các đương sự thực hiện nghĩa vụ đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình còn Tòa án chỉ thẩm tra các chứng cứ do các đương sự và những người tham gia tố tụng khác cung cấp Thông qua tranh tụng Tòa án có điều kiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá chứng cứ làm sáng tở các quan hệ pháp luật nội dung mà các đương sự tranh chấp trong vụ án Mục đích cuối cùng bão đảm cho phán quyết của Tòa án được khách quan và đúng pháp luật

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cho thấy tỷ lệ các vụ

án dân sự bị hủy, sửa còn cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong

đó có nhiều trường hợp là khi tiến hành giải quyết các vụ án dân sự Tòa án đã

vi phạm thủ tục tố tụng, đặc biệt là chưa tạo điều kiện cho các đương sự trình bày chứng cứ, lý lẽ để làm sáng tỏ vụ án Trước yêu cầu phát triển kinh tể xã

22

Trang 25

hội và xây dựng nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao chất lượng xét xử các vụ án dân sự của Tòa án là một đòi hởi cấp bách Vì vậy, phài đổi mới mô hình tố tụng dân sự trong đó

có sự kết hợp những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng với thấm vấn Tranh tụng trong tố tụng dân sự là giải pháp làm cho Tòa án gần dân, giúp dân, hiểu dân, tăng cường hiệu quả công tác xét xử các vụ án dân sự, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các vụ án dân sự bị hủy, sửa do lồi chủ quan hoặc phải kéo dài thời hạn giải quyết

Tranh tụng trong tố tụng dân sự cũng xuất phát từ yêu càu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Nhà nước ta Trước những yêu cầu của việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như đổi mới thủ tục tố tụng dân sự nói riêng trong điều kiện xây dung nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày 24/5/2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48- NQ/TW về chiến lược xây dụng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Tiếp đó, ngày 02/6/2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cả hai Nghị quyết này đều xác định nhiều định hướng quan trọng, toàn diện cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và chương trình cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó trọng tâm là đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự, người dân có cơ hội được tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua quá trình tranh tụng góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự đang ngày càng gia tăng Ngày 29/03/2011 khi Quốc hội ban hành Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 đã bổ sung thêm Điều 23a về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự Tuy vậy, do tranh luận không phải

là tranh tụng nên nguyên tắc này chưa thật sự bảo đảm được các yêu cầu của

23

Trang 26

tranh tụng Tiêp đó, khi Hiên pháp năm 2013 được thông qua, tại Điêu 103 khoản 5 Hiến pháp khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Đây là quy định mang tính chất bản lề cho việc xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong các luật tố tụng nói chung và trong luật tố tụng dân

sự nói riêng Vì vậy, khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua thì tranh tụng trong tố tụng dân sự đã được khẳng định là một trong những nguyên tắc chung nhất của luật tố tụng dân sự, quy định rõ nội hàm của nguyên tắc này theo hướng Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bào vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cử và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác Tòa án phải đảm bảo mọi tài liệu, chứng cứ được xem xét công khai Tòa

án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng đế ra bản án, quyết định Trên cơ sở đó, Bộ luật tố tụng dân sự đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc này

1.2.3 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cap sơ thẩm phù hợp với đặc thù của mô hình tranh tụng

Mỗi hệ thống tố tụng lại có cách xác định sự thật khác nhau, cơ sở pháp

lý khác nhau, nên phạm vi, tính chất và mức độ tranh tụng cũng có những điểm khác nhau Căn cứ vào phương cách mà tố tụng được thực hiện, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện phương cách đó, người ta phân tố tụng tư pháp thành các hệ thống khác nhau: hệ thống tranh tụng, hệ thống xét hỏi (hay thẩm vấn) và hệ thống pha trộn Và trong mồi hệ thống đó, mức độ tranh tụng cũng khác nhau và việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự phải phù hợp với tính chất của từng mô hình tranh tụng

24

Trang 27

Hệ thông tranh tụng: Thường được sử dụng trong các nước có hệ thông

luật án lệ (common law) Mục đích chính của tố tụng theo hệ thống này là phán quyết trên cơ sở thỏa mãn với sự thật pháp lý mà các bên chứng minh tại phiên tòa Theo hệ thống này, hoạt động tư pháp thực chất được bó gọn trong hoạt động xét xử tại phiên tòa với các quy định nghiêm ngặt (nhiều khi đến mức máy móc) về thủ tục tố tụng Tính tranh tụng trong xét xử vụ án được thực hiện một cách triệt để,sự thật chỉ được xác lập tại phiên tòa Các chức• • • ft / • • ft ft X. • Ãnăng tố tụng được quy định và thực hiện minh bạch và hoàn toàn chế ước, kiểm tra lẫn nhau Tòa án đóng vai trò là người trọng tài và qua phiên tòa xác định xem “sự thật” của ai (bên nguyên và bên bị) thuyết phục hơn để qua đó phán xét Quyết định của tòa án dường như được thực hiện không phải trên cơ

sở sự thật khách quan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng minh tại phiên tòa có tính thuyết phục cao hơn

Vì vậy, tòa án không xét hởi, không tranh luận và cũng không gợi ý tranh luận, mà chỉ là người trọng tài điều khiển phiên tòa, đóng vai trò thụ động trong quá trình chứng minh, nhung lại toàn quyền phán quyết về vụ án Toàn bộ quá trình tố tụng được thực hiện bằng miệng Vì vậy, tại phiên tòa phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng, các vật chứng phải được các bên đưa ra xem xét tại phiên tòa v.v

Hệ thống xét hởi: Thường được sử dụng trong các nước theo hệ thống

luật lục địa (legal law) Mục đích chính cùa tố tụng theo hệ thống này là cố gắng xác định sự thật khách quan của vụ án để từ đó ra phán quyết Vì vậy, quá trình tố tụng được thực hiện bằng văn bản và bằng lời, bao gồm cả giai đoạn điều tra và xét xử tại phiên tòa Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ sở sử dụng kết quả đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa Vì vậy thủ tục tố tụng tại phiên tòa đơn giản hơn, ít khắt khe hơn về mặt hình thức: việc xét xử không nhất thiết phải có mặt tất cả

25

Trang 28

những người tham gia tô tụng, chứng cứ thu thập chỉ cân thâm tra lại tại phiên tòa, gánh nặng xét hỏi do tòa án đảm nhận Phán quyết của tòa án được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm của tòa án về sự thật khách quan cua vụ án, chứ không phải là kết qủa của việc ai thuyết phục tòa án tốt hơn tại phiên tòa v.v.

Hệ thong pha trộn: Được thực hiện trên cơ sở kết hợp hai hệ thống

tranh tụng và xét hỏi Nhìn từ góc độ mục đích tố tụng cũng như phương cách

đế đạt được mục đích đó, thì mỗi hệ thống tranh tụng (tranh tụng hay xét hỏi) đều có mặt tích cực và hạn chế nhất định Hệ thống tố tụng pha trộn là sự kết hợp giữa hai hệ thống tranh tụng trên Tùy theo việc quốc gia thuộc vào hệ thống tư pháp nào (án lệ hay lục địa) mà “dấu ấn” của hệ thống tố tụng trong

hệ thống tố tụng pha trộn nổi rõ hơn

Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật lục địa Tố tụng nước ta được thực hiện theo hệ thống pha trộn thiên về xét hởi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng nước ta rõ nét hơn Việc nghiên cứu bản chất của tranh tụng tại phiên tòa ở nước ta phải được xem xét từ góc độ tranh tụng trong tố tụng xét hỏi

1.3 Nội dung pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

1.3.1 Lược sử hình thành và phát triển

- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990

Với thắng lợi cách mạng tháng 8, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

ra đời đã đánh dấu một bước ngặt lớn trong lịch sử nước ta Đế xây dựng, củng cố chính quyền, bên cạnh hệ thống toà án được thiết lập, Nhà nước ta đã ban hành hành loạt các văn bản pháp luật Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, đáng chú ý nhất là sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và quy định các ngạch thẩm phán; sắc lệnh số 69/SL ngày 18/06/1949 về việc những

bị can có thể một công dân không phải là luật sư bào chữa cho trước toà án

26

Trang 29

thường và toà án đặc biệt xử việc tiêu hình và đại hình Điêu 1 của Săc lệnh 69/SL quy định:

Từ nay đến khi nào có thể lệ khác, trước các tòa án thường và tòa

án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ tòa án binh tại mặt • • • • ' • • trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh án thừa nhận

Cũng từ Sắc lệnh này, đế mờ rộng thêm quyền bào chữa, Điều 2 quy định:

Neu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can

Ngày 22 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành tiếp Sắc lệnh số 144/SL mở rộng cho người không phải là luật sư cũng được bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong các vụ án dân

sự Điều 1 Sắc lệnh số 144/SL sửa lại Điều 1 của sắc lệnh số 69/SL như sau:

Từ nay, trước tòa án việc xử hộ và thương mại, trước các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ tòa án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận

Bước vào những năm 50, chúng ta đã có cuộc cài cách tư pháp nhàm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, đó là việc ban hành sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, trong đó quy định luật sư được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự

Đến năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam thắng lợi, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn và tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam vẫn tiếp tục kháng chiến để giành độc lập, thống nhất đất nước

Vì vậy, hai miền Bắc, Nam có hai hệ thống pháp luật tố tụng dân sự khác nhau

27

Trang 30

ơ miên Nam, trong thời gian dài chính quyên Sài Gòn vân áp dụng những văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc Đến ngày 20/12/1972, chính quyền ngụy Sài Gòn đã ban hành Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng Trong

đó, thừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự, quyền nhờ luật sư, tôn thuộc, ti thuộc, vợ chồng, anh em, đồng thừa kế và đồng hội viên thay mặt (Điều 50)

Bộ luật cũng quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh, đó là “người nào

viện dẫn một sự kiện thuận lợi cho mình, có trách nhiệm dẫn chứng Đối♦ • • • • * zphương muon phủ nhận tín lực của sự kiên được chứng minh, phải xuất trĩnh bằng cớ tương phản” (Điều 56) Đặc biệt, Bộ luật này kế thừa những quy định

của Bộ luật dân sự Pháp nên có quy định quá trình giải quyết vụ việc thông qua tranh tụng Tuy nhiên, do bị hạn chế về mặt chính trị nên đây chỉ là những quy định mang tính hình thức khi vẫn chua có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của đương sự

Ở miền Bắc, Hiển pháp năm 1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 được ban hành làm nền móng cho việc xây dựng một thiết chế xét

xử xã hội chủ nghĩa Nhiều văn bản pháp luật ra đời quy định cụ thể về nghĩa

vụ chứng minh của đương sự, vai trò của luật sư, về sự vô tư, khách quan của Thấm phán trong khi xét xử và tranh tụng tại phiên toà

Thông tư 06/TT-TATC ngày 25/02/1974 đã quy định:

Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý

lẽ đế chứng minh những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình

Ngoài ra, thông tư số 16/TATC ngày 27/09/1974 quy định:

Viện kiếm sát nhân dân, bị cáo (nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện dân sự) và những người khác tham gia tố tụng có quyền tranh luận về chứng cứ cũng như việc áp dụng pháp luật, đường lối,

28

Trang 31

chính sách xét xử Các Thâm phán và Hội thâm nhân dân cân tránh tư tưởng coi nhẹ việc xét hỏi và tranh cãi ở phiên toà vì chỉ tin vào hồ sơ hoặc cho là để hợp pháp hoá một chủ trương xét xử

đã được dự kiến trước

Ngày 08/02/1977, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 96/NCPL hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm Trong đó, tại mục A- Phần thứ ba của Công văn quy định quyền và nghĩa vụ của những người tham gia

tố tụng như được đề xuất chứng cứ và yêu cầu về biện pháp khẩn cấp tạm thời; được đề xuất những câu hỏi trong khi Toà án nhân dân thấm vấn và được tham gia tranh luận Bên cạnh đó, Công văn còn xác định rõ trách nhiệm của Toà án nhân dân trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong tố tụng, quy định trình tự xét xử sơ thẩm tại phiên toà Đặc biệt, tại mục c công văn này đã có sự phân biệt giữa xét hởi và tranh luận tại phiên toà, trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên toà

Sau khi miền Nam giải phóng, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp năm

1980, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1988 khẳng định các đương sự không những có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình mà còn có quyền tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình

Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này, nhiều văn bản pháp luật tố tụng dân sự được ban hành đã đề cao quyền và nghĩa vụ chứng minh của các đương sự và của luật sư Nhiều quy định tiến bộ về quyền bình đẳng trong tố tụng, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, tranh luận tại phiên toà, trách nhiệm của Toà án nhân dân trong việc đảm bảo quyền và lợi ích họp pháp của các đương sự khi ban hành phán quyết được ghi nhận

- Giai đoạn tù' năm 1990 đến năm 2004

Ke thừa và phát triển các quy định về tố tụng dân sự của giai đoạn trước đó, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

29

Trang 32

sự ngày 29/11/1989 Pháp lệnh đánh đâu bước phát triên của pháp luật TTDS, quy định một cách có hệ thống về trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

Điều 3 PLTTGQCVADS quy định:

Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và• • • •khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cú’ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác Pháp lệnh cũng quy định rõ: Các đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ để bảo

vệ quyền lợi của mình; được biết chứng cứ do bên kia cung cấp; yêu cầu Toà án tiến hành biện pháp điều tra cần thiết, quyết định biện pháp khấn cấp tạm thời; tham gia hoà giải; tham gia phiên toà; yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư

ký Toà án, người giám định, người phiên dịch; đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; tham gia tranh luận tại phiên toà; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án

Có thể thấy, những quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự và đảm bảo quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc giải quyết

vụ án dân sự được tiếp tục ghi nhận và khẳng định Các đương sự tham gia vụ

án dân sự được đảm bảo quyền khởi kiện, được tham gia tranh luận tại phiên toà với quyền và nghĩa vụ ngang nhau, Toà án có nghĩa vụ đảm bảo cho mọi người dân được thực hiện những quyền và nghĩa vụ của mình Mặc dù còn những hạn chế về mặt lập pháp, song có thể khẳng định tranh tụng trong tố tụng dân sự ở giai đoạn này đã được chú ý ở một mức độ nhất định, tạo tiền

đề cho việc mở rộng tranh tụng trong giai đoạn tiếp theo

- Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng mở rộng tranh tụng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị

30

Trang 33

quyêt sô 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 vê một sô nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Trên cơ sở đổi mới của Đảng, từ thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,có hiệu lực từ ngày 01/01/2005.

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển của các quy định liên quan đến vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự Mặc dù trong các nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự mà Bộ luật nêu ra chưa có quy định nào về áp dụng nguyên tắc tranh tụng nhưng nội dung của hoạt động tranh tụng trong tố tụng dân sự đã được đề cập khá cụ thể và chi tiết Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã có những quy định liên quan đến quá trình tranh tụng như quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của người khởi kiện; quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan Nghĩa vụ chứng minh cùa đương sự được đề cao hơn trước, trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa

đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ và Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc trong trường họp do pháp luật quy định Bên cạnh đó, việc quy định thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo hướng Tòa án không được hạn chế thời gian tranh luận của các đương sự mà phải tạo điều kiện cho người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến của họ đã góp phần bảo đảm cho tranh tụng trong tố tụng dân sự có cơ sở thực hiện, đây là bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp so với các văn bán pháp luật trước đây

Tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, có hiệu lực ngày 01/01/2012 Trong đạo luật này đã có nhiều quy định mới liên quan đến việc

31

Trang 34

bảo đảm tranh tụng của các đương sự như: đương sự trong các vụ việc dân sự

có thêm quyền được trực tiếp đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép cùa Tòa án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn

đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng Đặc biệt, Điều 23a của Luật này ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự: “Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Toà án

bảo đảm đê các bên đương sự, người báo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận đê bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự’’ Quy định này tạo hành lang pháp lý cho việc bảo đảm quyền tranh

tụng của các chủ thể tranh tụng đặc biệt là đương sự Hơn nữa nó càng thể hiện rõ nét các nội dung của một nguyên tắc, đó là nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 25/11/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 Trong đó, để thi hành khoản 5 Điều

103 của Hiến pháp, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định tại Điều 24, coi tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cùng với đó là nhiều quy định mới khác nhằm bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện có hiệu quả như: quy định rõ nội hàm của nguyên tắc này theo hướng Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kế từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bò yêu cầu của người khác Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chửng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; có nghĩa

vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bán sao đơn

32

Trang 35

khởi kiện và tài liệu, chứng cứ Tòa án phải bảo đảm mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét công khai Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bàn án, quyết định.

1.3.2 Thực trạng pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dãn sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

1.3.2.1 Chủ the bảo đảm quyền tranh tụng của đưong sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thâm

Chủ thể tham gia tranh tụng được hiểu là những chủ thể mang quyền, nghĩa vụ tố tụng, tham gia vào quá trình tranh tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Do đó, quá trình tranh tụng luôn có sự tham gia của hai bên đương sự, là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng Bởi vì, họ tham gia tranh tụng xuất phát

từ chính yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của bản thân các đương sự Hơn nữa, các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự, người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thỏa mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật Đương sự trong vụ án dân sự gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu là nguyên đơn và bị đơn Họ là những chủ thể có mâu thuần về quyền và lợi ích, họ đứng ở vị trí tố tụng đối lập nhau Trong suốt quá trình tranh tụng, nguyên đơn và bị đơn bình đắng với nhau và liên tục trao đoi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý đế chứng minh, biện luận cho quyền lợi họp pháp của mình trước Toà án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

33

Trang 36

Ngoài nguyên đon và bị đơn, tham gia vào quá trình tranh tụng còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp này họ cũng được coi

là chủ thể tranh tụng, bới họ cũng có lợi ích liên quan đến vụ án, tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng

có quyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn Do vậy, họ cũng được đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của các đương sự khác

Như vậy, có thế thấy đương sự là những chủ thế giữ vị trí và vai trò trung tâm trong quá trình tranh tụng Tuy nhiên, trên thực tế có những đương

sự không thể hoặc không có điều kiện thực hiện tốt nhất quyền tranh tụng của mình nên việc tranh tụng của các đương sự này do người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của đương sự thực hiện Việc tham gia tranh tụng của người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự xuất phát từ quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự chứ không phải xuất phát trực tiếp từ lợi ích của họ bởi họ không phải là các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung Người đại diện của đương

sự là người thay mặt cho đương sự tham gia vào quá trình tranh tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như bảo vệ quyền lợi cho chính mình Người đại diện có quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự khi tham gia vào tranh tụng Do đó, người đại diện có quyền được biết tất cả chứng cứ, lý lẽ của bên đương sự đối phương và được quyền trình bày ý kiến, đối đáp về những vấn đề mà đối phương có yêu cầu đối với đương sự mà mình đại diện Người đại diện của đương sự phải có quyền bình đẳng với bên đương sự đối lập trước Tòa án trong việc thực hiện tranh tụng

Trong tranh tụng thì không thể thiếu một chủ thể quan trọng đó là người bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp của đương sự Họ là người giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý, đồng thời tham gia tranh tụng để bâo vệ quyền và

34

Trang 37

lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, có các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định chứ không bị ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ của đương sự như người đại diện Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thông thường là các Luật sư hoặc là những người am hiểu pháp luật Trong quá trình tranh tụng, do người bảo vệ

là người có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm tham gia tố tụng và kỹ năng tranh tụng nên có thể giúp cho các bên đương sự bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhất là trong việc đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lập luận Không những thế, ý kiến tham gia tranh tụng của người bảo vệ còn giúp cho Tòa án trong việc giãi quyết vụ án

Tòa án có vai trò quyết định bảo đảm cho tranh tụng trong tố tụng dân

sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và hiệu quả Đe bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì trong quá trình tranh tụng Tòa án, mà trước tiên là Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ

án và Hội đồng xét xử tại phiên tòa phải thực hiện đúng chức năng của mình

là người tài phán công minh, xem xét, đánh giá toàn diện tất cả các chứng cứ, căn cứ, lập luận mà các bên đương sự đưa ra trong quá trình tranh tụng Tòa

án điều khiến quá trình tranh tụng, bảo đảm quá trình này diễn ra một cách rõ ràng, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và bảo đảm sự bình đẳng của các bên tham gia tranh tụng, kết quả tranh tụng sẽ là căn cứ để Tòa án ra quyết định giải quyết vụ án

1.3.2.2 Nội dung hảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thâm

Bảo đảm đương sự có quyền tranh tụng Thứ nhất, quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phán tố và yêu cầu độc lập

Khoăn 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã tuyên bố rất rõ ràng: “Ờ nước

35

Trang 38

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyên con người, quyên công dân

về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hỏa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo

vệ, báo đám theo Hiến pháp và pháp luật” Hiểu rộng ra, mọi tổ chức, cá nhân

đều được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bảo vệ mình Một trong những phương thức đề các chủ thể này tự bảo vệ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại là khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự [15] Quyền khởi kiện vụ án là cơ

sở đầu tiên để đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự Để bảo đảm quyền này cho đương sự, pháp luật tố tụng dân sự quy định rất rõ ràng các chủ thể có quyền khởi kiện; điều kiện khởi kiện; hình thức và phạm

vi khởi kiện; điều kiện để thụ lý vụ án và những trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện Sau khi thụ lý vụ án, quyền khởi kiện chính là căn cứ để xác định

tư cách đương sự tham gia tố tụng Theo đó, người thực hiện quyền khởi kiện

sẽ là nguyên đơn, trừ một số trường họp Còn người bị kiện sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị đơn Lúc này, đặt trong mối tương quan lợi ích, có sự đối kháng nhau về quyền lợi giữa nguyên đơn và bị đơn Để bảo đảm công bằng khi nguyên đơn đã thực hiện quyền khởi kiện, pháp luật tố tụng dân sự quy định bị đơn có quyền yêu cầu phản tố Khoản 1 Điều 200 Bộ luật tổ tụng dân

sự 2015 quy định: “Cùng với việc phải nộp cho Tỏa án vãn bản ghi ý kiến của

mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đổi với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”

Theo đó, việc phản tố của bị đơn chỉ được thực hiện sau khi đã có việc khởi kiện của nguyên đơn và Tòa án đã thụ lý vụ án Tuy nhiên, đế yêu cầu phản tố này không gây khó khăn cho việc thực hiện tranh tụng, pháp luật đã quy định giới hạn quyền yêu cầu phản tố trong một số trường hợp nhất định Bên cạnh

36

Trang 39

nguyên đơn, bị đơn, còn một đương sự khác tham gia vào tô tụng dân sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đây là các chủ thế không đi kiện và cũng không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ nên Tòa án theo đề nghị của đương sự quyết định hoặc tự mình quyết định khi không có đề nghị cùa đương sự đưa họ vào tham gia tố tụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng với bên nguyên đơn, với bên bị đơn hoặc tham gia độc lập Cũng như quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, pháp luật tố tụng dân sự quy định trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập Như vậy, để bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự thì phải bảo đảm cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện được hai quyền trên trong quá trình Toà án giải quyết vụ án dân sự.

r/iỉ? hai, quyền thay đôi, bô sung và rút yêu cầu của đicơng sựTrong quá trình giải quyết vụ án dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đồi các yêu cầu của mình một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm pháp luật và không trái đạo đức xã hội Quy định này của pháp luật xuất phát từ nguyên tắc “tối cao” trong tổ tụng dân sự là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Khi đưa ra yêu cầu, đề nghị và xuất trình tài liệu, chứng cứ kèm theo, các bên đương sự sẽ phải tự xem xét, đánh giá yêu cầu,

đề nghị của mình có hợp lý hay không? Các tài liệu, chứng cứ, lý lẽ, lập luận, căn cứ pháp lý mà họ viện dẫn cỏ đủ sức thuyết phục hay không? Trong trường hợp các đương sự tự thấy các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý mà họ đưa ra không đủ cơ sở để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình thì trong nhiều trường họp đương sự sẽ tự nguyện rút yêu cầu và khi đó Tòa án có căn

cứ để ra quyết định đình chi giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết phần yêu cầu đã rút và thay đổi địa vị tố tụng Tại phiên tòa, trường hợp có đương

37

Trang 40

sự rút một phân hoặc toàn bộ yêu câu của mình và việc rút yêu câu của họ là

tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút và có thể thay đổi địa vị tố tụng Bên cạnh quyền rút yêu càu là quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu Mặc dù pháp luật tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nhưng để quyền thay đồi, bổ sung này không gây khó khăn cho các đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng, thì theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, việc thay đổi, bổ sung yêu càu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu Giới hạn phạm

vi của những yêu cầu này đã được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quy định này là hợp lý và cần thiết, bởi vi để giải quyết một yêu cầu mới phát sinh thì Toà án cần có thời gian xem xét những vấn đề liên quan đến yêu cầu mới Đồng thời, không gây ra sự bất lợi cho các đương

sự khác nhằm đảm bảo quyền tranh tụng giữa các đương sự trong tố tụng dân

sự Vì vậy, đề bảo đảm cho các đương sự thực hiện được quyền này, Toà án cần phải thông báo, giải thích cho các đương sự biết rõ các quy định này ngay sau khi tiến hành thụ lý vụ án

77ií? ba, quyền thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh

trong tổ tụng dân sự

Theo khoản 1 Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền

và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cụ thể hóa quy định này, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và

38

Ngày đăng: 12/07/2022, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đại từ điên tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điên tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
24. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
25. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), “Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng dân sự”, Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng dân sự”, "Thông tin khoa học pháp lý
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2004
26. Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nằng, Hà Nội - Đà Nằng.Tài liệu trang Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt," Nxb Đà Nằng, Hà Nội - Đà Nằng
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nằng
Năm: 2006
27. Mai Bộ, Nguyên tắc tranh tụng trong to tụng dân sự, http://toaan.gov.vn/portal/page/tandtc/baiviet?p_page_id= 1754190&p_cateid=1751909&item_id=72692867&article_details=l, truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc tranh tụng trong to tụng dân sự
28. Phan Thị Thu Hà, Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=210, truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp
29. Thế Sự, Triển khai công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đẳk Lẳk năm 2019, 2020, cổng thông tin điện tử tĩnh Đăk Lăk, https://daklak.gov.vn/-/trien-khai-cong-tac-toa-an-nhan-dan-hai-cap-tinh-ak-lak-nam-2020, truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đẳk Lẳk năm 2019, 2020

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w