1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyen de bao cao 02 ung dung CNTT day manh CP dien tu

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển đề báo cáo 02 Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin Đẩy Mạnh Xây Dựng Chính Phủ Điện Tử Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Đại Học Công Nghệ Thông Tin - University of Information Technology
Chuyên ngành Công nghệ Thông tin - Information Technology
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,3 KB
File đính kèm CDBC 02 -Ung dung CNTT CP dien tu.rar (34 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUYÊN ĐỀ BÁO CÁO 02 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1 Một số khái niệm 1 1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin 1 2 Khái niệm chính phủ điện tử 1 3 Mục tiêu và lợi ích của chính phủ điện tử 1 4 Các mô hình chính phủ điện tử 2 Thực trạng xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay 2 1 Thực trạng dịch vụ công trực tuyến 2 2 Thực trạng cơ sở hạ tầng viễn thông 2 3 Thực trạng nguồn nhân lực xây dựng chính phủ điện tử 3 Kế hoạch phát triển chí.

Trang 1

HUYÊN ĐỀ BÁO CÁO 02 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Một số khái niệm

1.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin

1.2 Khái niệm chính phủ điện tử

1.3 Mục tiêu và lợi ích của chính phủ điện tử

1.4 Các mô hình chính phủ điện tử

2 Thực trạng xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay

2.1 Thực trạng dịch vụ công trực tuyến

2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng viễn thông

2.3 Thực trạng nguồn nhân lực xây dựng chính phủ điện tử

3 Kế hoạch phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Một số giải pháp đẩy mạnh chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trang 2

1 Một số khái niệm

1.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin

Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới phát triển Chính phủ điện tử là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang mở ra một thời đại mới trong tiến trình phát triển của nhân loại - thời đại số Với những thành tựu khoa học - công nghệ tác động ngày càng mạnh mẽ lên mọi mặt hoạt của xã hội, chính phủ số cùng với nền kinh tế số và xã hội số đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của nhiều chính phủ và quốc gia trên thế giới

Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006, Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế đã khẳng định: Ứng dụng công nghệ thông tin góp phần quan trọng thực hiện ba đột phá chiến lược: (1) Triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng Chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực; (2) Ứng dụng công nghệ thông tin trong hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trước hết là các lĩnh vực liên quan tới nhân dân như giáo dục, y tế, giao thông, điện, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị lớn và cung cấp các dịch

vụ công trực tuyến cho nhân dân; (3) Tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới nội dung, phương thức dạy và học, thúc đẩy xã hội học tập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước (CQNN), hướng tới phát triển Chính phủ điện tử là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia, xây dựng chính phủ điện tử trở thành nhiệm vụ hàng đầu của bất

Trang 3

cứ Chính phủ nào, chính phủ điện tử cho phép người dân tương tác, nhận được các dịch vụ từ Chính phủ 24/7, tăng tính minh bạch, giảm chi phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ, góp phần làm giảm tiêu cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng

1.2 Khái niệm chính phủ điện tử

Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp

Ở mức độ phát triển này, Chính phủ tập trung vào việc số hoá các nguồn tài nguyên, ứng dụng công nghệ thông tin, tin học hoá quy trình nghiệp vụ đã có nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, tập trung cung cấp dịch vụ trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp

Chính phủ điện tử là thuật ngữ chỉ “Sự hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước được ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của khoa học, công nghệ thông tin, điện tử để điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội cần có sự tham gia của nhà nước và cung ứng đầy đủ, khẩn trương, liên tục với chi phí thấp các dịch vụ công cho mọi tổ chức, cá nhân thông qua các phương tiện thông tin điện tử”

1.3 Mục tiêu và lợi ích của chính phủ điện tử

Trong kỷ nguyên chính phủ điện tử, mọi công dân có thể được hưởng các dịch

vụ của chính phủ mọi lúc mọi nơi, với chi phí thấp hơn và được phục vụ nhiệt tình hơn Chính phủ điện tử cũng ảnh hưởng rất lớn lên giới doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ Các công ty giờ đây có thể hoàn thành các yêu cầu của chính phủ trên mạng, tìm kiếm các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, thực hiện các giao dịch hoặc nộp thuế ngay trên mạng

Chính phủ điện tử là chính phủ đảm bảo được cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết và đúng lúc cho việc ra quyết định Chính phủ điện tử lý tưởng là một chính phủ cung cấp đầy đủ thông tin, đúng thời điểm cho những người quyết định, đó là lợi thế

Trang 4

lớn nhất của CNTT Chính phủ điện tử sử dụng CNTT để tự động hóa các thủ tục hành chính của chính phủ, áp dụng CNTT vào các quy trình quản lý, hoạt động của chính phủ do vậy tốc độ xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn rất nhiều lần

Chính phủ điện tử cho phép công dân có thể truy cập tới các thủ tục hành chính

mà thông qua phương tiện điện tử, ví dụ như: Internet, điện thoại di động, truyền hình tương tác

Chính phủ điện tử giúp cho các doanh nghiệp làm việc với chính phủ một cách

dễ dàng bởi mọi thủ tục đều được hiểu, hướng dẫn và mỗi bước công việc đều được đảm bảo thực hiện tốt, tin cậy Mọi thông tin kinh tế mà chính phủ có đều được cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp để hoạt động hiệu quả hơn Đối với công chức, CNTT dùng trong Chính phủ điện tử là một công cụ giúp họ hoạt động hiệu quả hơn,

có khả năng đáp ứng nhu cầu của công chúng về thông tin truy cập và xử lý chúng

Về mặt lợi ích, Chính phủ điện tử có nhiều ưu điểm và lợi ích hơn so với Chính phủ truyền thống:

Thứ nhất, sự vận hành của chính phủ truyền thống diễn ra thủ công, nhiều thủ tục, tốn nhiều công sức và tài chính cho cả nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân; người dân chỉ có thể liên hệ với Chính phủ 5 ngày/tuần, 8h/ngày tại trụ sở của các CQNN Với lợi thế của việc ứng dụng CNTT &TT, Chính phủ điện tử có thể khắc phục được những hạn chế trên của Chính phủ truyền thống Thông qua Chính phủ điện tử, người dân có thể thực hiện nhiều dịch vụ hành chính như đăng ký kinh doanh, làm khai sinh, khai tử hay đóng thuế trước bạ 365 ngày/năm, 7 ngày/tuần, 24 giờ/ngày

ở bất kỳ nơi nào

Thứ hai, xét về tốc độ xử lý các dịch vụ giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ truyền thống, việc tin học hóa và tự động hoá thủ tục hành chính của Chính phủ điện

tử cho phép giải quyết các dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, gọn hơn, đơn giản hơn rất nhiều Chính phủ điện tử làm đơn giản hóa các thủ tục, giảm bớt các khâu rườm rà trong thủ tục và nâng cao hiệu quả của quá trình phê duyệt, chú trọng việc cung cấp các dịch vụ nhanh chóng, hiệu quả

Trang 5

Thứ ba, với những khách hàng trực tuyến, Chính phủ điện tử sẽ giúp làm giảm thiểu sự tham gia của các cán bộ chính phủ trong việc cung cấp một cách hiệu quả các dịch vụ công cộng cho người dân Thông qua việc tham gia rộng rãi của người dân, Chính phủ điện tử cũng giúp nâng cao tính minh bạch và tin cậy của chính phủ, đồng thời có thể thu thập rộng rãi ý kiến của người dân trong quá trình hoạch định, thực thi

và giám sát chính sách của chính phủ

Thứ tư, Chính phủ điện tử sẽ khắc phục và đẩy lùi những tiêu cực diễn ra trong hoạt động công vụ đó là cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì trệ, quan liêu …., các

“thủ tục bôi trơn” Với việc cung ứng các dịch vụ công trực tuyến, CPĐT sẽ giải quyết các công việc của người dân, doanh nghiệp theo đúng thủ tục, trình tự, thời gian, chất lượng đã được quy định sẵn theo tiêu chuẩn

Thứ năm, Chính phủ điện tử là nền tảng để chuyển từ nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển, mà thực chất là chuyển từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ Trong Chính phủ điện tử, công dân là khách hàng; quan

hệ “xin – cho” phổ biến trong Chính phủ truyền thống được chuyển thành quan hệ

“phục vụ, cung ứng dịch vụ” trong Chính phủ điện tử

– Đối với Chính phủ

+ Tăng cường tính hiệu quả và chất lượng dịch vụ của bộ máy nhà nước (hay đồng nghĩa với giảm trì trệ – quan liêu)

+ Giảm “nạn giấy tờ” văn phòng – công sở, tiết kiệm thời gian, hợp lý hóa việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngân sách chi tiêu của chính phủ

+ Hợp lý hóa việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngân sách vận hành bộ máy nhà nước + Tăng cường sự minh bạch, giảm tham nhũng: Do không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, Chính phủ điện tử tạo ra luồng thông tin thông suốt và minh mạch cũng như khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ một cách dễ dàng, thuận tiện Những thông tin này liên quan đến hoạt động mua sắm công, kế hoạch đấu thầu,

Trang 6

thông qua báo mời thầu, biên bản mở thầu và kết quả đấu thầu Chính phủ điện tử góp phần thúc đẩy cạnh tranh trên phương diện số lượng (tham gia) và chất lượng (công khai và công bằng)

+ Giảm chi phí cho chính phủ: giúp hoạt động mua sắm công của chính phủ hiệu quả hơn nhờ giảm chi phí giao dịch từ 10-20% Thông qua việc tự động hóa các quy trình đấu thầu giúp giảm thiểu chi phí đáng kể cho cả bên mời cao hơn, nhờ vào

3 đặc điểm của Chính phủ điện tử: minh bạch về giá, kích thích cạnh tranh và đổi mới quy trình Minh bạch về giá bằng cách công khai kết quả đấu thầu trên mạng đã tránh được tình trạng ký hợp đồng với giá quá cao và giúp điều chỉnh giá hàng hóa, xây lắp hay dịch vụ theo đúng giá thị trường

1.4 Các mô hình chính phủ điện tử

Một mô hình Chính phủ điện tử hiệu quả sẽ bao gồm cách thức giải quyết quan

hệ tương tác về thông tin giữa ba chủ thể: chính phủ, công dân và doanh nghiệp Trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phân loại Chính phủ điện tử

ra thành 4 loại, tương ứng với 4 dạng dịch vụ Chính phủ bao gồm:

G2C (Government to Citizens): Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân, ví dụ : Tổ chức bầu cử của công dân, thăm dò dư luận, quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, tư vấn, khiếu nại, giám sát và thanh toán thuế, hóa đơn của các ngành với người thuê bao, dịch vụ thông tin trực tiếp 24×7, phục công cộng, môi trường giáo dục

G2B (Government to Business): Dịch vụ và quan hệ chính phủ đối với các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, nhà sản xuất như: dịch vụ mua sắm, thanh tra, giám sát doanh nghiệp (về đóng thuế, tuân thủ luật pháp,…); thông tin về quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, đấu thầu, xây dựng;cung cấp thông tin dạng văn bản, hướng dẫn sử dụng, quy định, thi hành chính sách nhà nước,… cho các doanh nghiệp Đây là thành phần quan hệ cơ bản trong mô hình nhà nước là chủ thể quản

lý vĩ mô nền kinh tế, xã hội thông qua chính sách, cơ chế và luật pháp và doanh

Trang 7

nghiệp như là khách thể đại diện cho lực lượng sản xuất trực tiếp của cải vật chất của nền kinh tế

G2E (Government to Employees): chỉ các dịch vụ, giao dịch trong mối quan hệ giữa chính phủ đối với công chức, viên chức bảo hiểm, dịch vụ việc làm, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khỏe, nhà ở…

G2G (Government to Government): được hiểu như khả năng phối hợp, chuyển giao và cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả giữa các cấp, ngành, tổ chức, bộ máy nhà nước trong việc điều hành và quản ly nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máy của chính phủ vừa đóng vai trò là chủ thể và khách thể trong mối quan hệ này Toàn bộ hệ thống quan hệ, giao dịch của chính phủ như G2C, G2E, G2B,và G2G phải được đặt trên một hạ tầng vững chắc của hệ thống: độ tin cậy (trust), khả năng đảm bảo tính riêng tư (privacy) và bảo mật – an toàn (security) và cuối cùng tất

cả đều dựa trên hạ tầng CNTT & TT với các quy mô khác nhau: mạng máy tính, mạng Intranet, Extranet và Internet

2 Thực trạng xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã có sự thăng hạng về chính phủ điện tử liên tục trong 06 năm qua (từ vị trí thứ 99 năm 2014 lên vị trí thứ 86/193 quốc gia trong năm 2020) Cụ thể, Liên hợp quốc đánh giá chỉ số về chính phủ điện tử theo bốn mức: rất cao (trên 0,75 điểm); cao (từ 0,5 đến 0,75 điểm); trung bình (từ 0,25 đến 0,5 điểm), thấp (dưới 0,25 điểm) Năm 2020, chỉ số dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam là 0,6529 điểm; chỉ số về cơ sở hạ tầng viễn thông là 0,6694 điểm (đều ở mức cao theo chỉ số đánh giá của Liên hợp quốc) Bên cạnh đó, chỉ số nguồn nhân lực của Việt Nam tăng không đáng kể với 0,6779 điểm

Chính phủ Việt Nam đang từng bước hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số và

xã hội số bằng cách nắm bắt những cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại Tuy nhiên, đánh giá trong năm 2020 của Liên hợp quốc cũng chỉ ra những thách thức và rủi ro đang tồn tại ở các nước đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam

Trang 8

như: an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và nguồn lực hạn chế để thực hiện chính sách về chính phủ số

2.1 Thực trạng dịch vụ công trực tuyến

Về chỉ số dịch vụ công trực tuyến, năm 2014 Việt Nam chỉ đạt mức trung bình

là 0,4173 điểm Tuy nhiên, nhờ sự nỗ lực cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức tăng cả về số lượng và chất lượng của các bộ, ngành cũng như các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nên năm 2020 Việt Nam đã đạt chỉ số dịch vụ công trực tuyến ở mức cao với 0,6529 điểm

Theo số liệu thống kê năm 2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam

có 127.270 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và mức độ 2, có 26.734 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (chiếm 16,73%) và 5.792 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (chiếm 3,62%) So với 06 năm trước đó, cũng theo số liệu thống kê từ Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông thì Việt Nam chỉ có 2.366 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (xấp xỉ 2,27%) và 30 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (xấp xỉ 0,03%)

Đến nay, 100% bộ, ngành, địa phương đã kết nối, liên thông, gửi, nhận văn bản điện tử với Trục liên thông văn bản quốc gia; tỷ lệ văn bản dưới dạng điện tử được trao đổi trên toàn quốc đạt 90,81%; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tăng khoảng 3 lần, từ 10,76% năm 2019, lên trên 31% vào tháng 12/2020

Từ ngày 09/12/2019, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã được đưa vào vận hành tại địa chỉ www.dichvucong.gov.vn, được kết nối, tích hợp với cổng dịch vụ công và

hệ thống một cửa điện tử tại các bộ, ngành, địa phương Đây là nơi cung cấp thông tin

về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến; hỗ trợ thực hiện, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức trên toàn quốc

Cổng dịch vụ công quốc gia là đầu mối kết nối với các Cổng dịch vụ công và các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương, giúp công khai, minh bạch các thông tin liên quan về thủ tục hành chính và cung cấp, hỗ trợ thực hiện

Trang 9

dịch vụ công theo yêu cầu sử dụng của người dân, doanh nghiệp, phù hợp với từng đối tượng Với một địa chỉ truy cập duy nhất (www.dichvucong.gov.vn), bằng một tài khoản duy nhất, người dùng có thể đăng nhập được tất cả các cổng dịch vụ công cấp

Bộ, cấp tỉnh để thực hiện dịch vụ công trực tuyến Người dùng có thể theo dõi tình trạng giải quyết, đánh giá chất lượng giải quyết và gửi phản ánh, kiến nghị mà không phụ thuộc vào thời gian, địa giới hành chính Các thông tin, dữ liệu được chia sẻ, tái

sử dụng, giúp tiết kiệm thời gian chuẩn bị hồ sơ, từ đó giảm đáng kể chi phí xã hội trong thực hiện thủ tục hành chính, đặc biệt là những thủ tục hành chính có liên quan đến nhiều cơ quan

Theo đó, cổng dịch vụ công cung cấp các chức năng chính sau: Một là, chức năng đăng nhập một lần, sử dụng một tài khoản của Cổng dịch vụ công quốc gia để đăng nhập, thực hiện dịch vụ Cổng dịch vụ công của Bộ, của địa phương Hai là, tra cứu về thông tin thủ tục hành chính, dịch vụ công của tất cả các ngành, lĩnh vực, các địa phương trên toàn quốc Ba là, hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo hướng số hóa thông tin, cung cấp các tiện ích liên quan đến việc thực hiện dịch

vụ công Bốn là, theo dõi chi tiết toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công Năm là, tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về khó khăn, vướng mắc trong quy định và thực hiện quy định hành chính Sáu là, thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công Bảy là, đánh giá sự hài lòng trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch

vụ công

Từ 8 nhóm dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở thời điểm khai trương, đến ngày 06/8/2020 (sau gần 8 tháng triển khai), Cổng dịch vụ công quốc gia đã tích hợp, cung cấp 991 dịch vụ công trực tuyến (457 dịch vụ cho công dân; 604 dịch vụ cho doanh nghiệp) Cổng dịch vụ công quốc gia đã tích hợp với 18 Bộ, ngành, 63/63 địa phương, 12 tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng, trung gian thanh toán Đến nay, đã có hơn 212,5 nghìn tài khoản đăng ký; hơn 55,4 triệu lượt truy cập tìm hiểu thông tin và thực hiện dịch vụ; hơn 13,3 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái để phục vụ tra cứu, theo

Trang 10

dõi, giám sát, đánh giá quá trình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính; hơn 250 nghìn

hồ sơ thực hiện trực tuyến từ Cổng dịch vụ công quốc gia; hơn 4 nghìn giao dịch thanh toán trực tuyến thành công sau hơn 3 tháng đưa vào triển khai hệ thống thanh toán trực tuyến; tiếp nhận, xử lý hơn 7,4 nghìn phản ánh, kiến nghị và hỗ trợ, giải đáp hơn 21,3 nghìn cuộc gọi tổng đài

Thông qua việc chuẩn hóa thủ tục hành chính, tái cấu trúc quy trình, dịch vụ, bảo đảm việc theo dõi, giám sát, đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện, Cổng dịch vụ công quốc gia giúp chuẩn hóa việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến của các Bộ, ngành, địa phương thực chất, hiệu quả hơn, ngăn ngừa tệ nạn nhũng nhiễu, tiêu cực trong giải quyết thủ tục hành chính, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng phục vụ Nhân dân

Như vậy, Việt Nam đã có sự thay đổi lớn về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến mức độ cao (mức độ 3 và mức độ 4) với số lượng tăng vượt trội so với những năm trước đây Đây là kết quả quan trọng mà Việt Nam

đã đạt được nhờ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng để phục vụ người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là nỗ lực tích hợp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia

Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tập trung lựa chọn các thủ tục hành chính, dịch vụ công có đối tượng sử dụng lớn để tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, hoàn thành mục tiêu tối thiểu 30% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ, ngành, địa phương lên Cổng dịch vụ công quốc gia theo yêu cầu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ; chuẩn hóa thông tin, dữ liệu thủ tục hành chính trên cơ sở

dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng dịch vụ công quốc gia để thực hiện thanh toán các nghĩa vụ tài chính trong giải quyết thủ tục hành chính, thuế, thu phạt xử lý vi phạm hành chính nhằm thúc đẩy thực hiện thành công giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt; thực

Ngày đăng: 11/07/2022, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 749/ QĐ-TTg ngày 03/6/2020 về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm2030
1. “United Nations E-Government Survey 2020”, Department of Economic and Social Affairs - United Nations New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: United Nations E-Government Survey 2020
2. “United Nations E-Government Survey 2014”, Department of Economic and Social Affairs - United Nations New York, https:// publicadministration.un.org/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: United Nations E-Government Survey 2014
3. “United Nations E-Government Survey 2018”, Department of Economic and Social Affairs - UNITED NATIONS New York, https://publicadministration.un.org/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: United Nations E-Government Survey 2018
1. Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam 2019, Nxb Thông tin - Truyền thông Khác
2. Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam 2014, Nxb Thông tin - Truyền thông Khác
3. Bộ Thông tin và Truyền thông, Quyết định số 2323/QĐ-TTTT ngày 31/12/2019 ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam phiên bản 2.0 Khác
5. Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác năm 2020 và giai đoạn 2016 – 2020 phương hướng, nhiệm vụ năm 2021, Kế hoạch phát triển ngành TT&TT giai đoạn 2021 – 2025, ngày 12/01/2021Tài liệu đọc thêm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w