Chính khu vực kinh tế tư nhân đã làm đa dạng hóa nền kin h tế của tỉnh, đáp ứngnhu cầu về vốn rất lớn cả về phái người tiêu dùng lẫn chủ sở hữu, tính đa dạng đó là ưu thếrất lớn để đưa n
Trang 1DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
GTGT: Giá trị gia tăng
KTQD: Kinh tế quốc dân
KTTN: Kinh tế tư nhân
KVTN: Khu vực tư nhân
MTQG: Mục tiêu quốc gia
NSLĐ: Năng suất lao động
NSNN: Ngân sách nhà nước
THPT: Trung học phổ thông
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 2
1.1 Kinh tế tư nhân và đặc điểm của kinh tế tư nhân 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Đặc điểm 3
1.1.2.1 KTTN gắn liền với lợi ích cá nhân – là động lực để thúc đẩy xã hội phát triển 3 1.1.2.2 KTTN là nền tảng của kinh tế thị trường 3
1.1.3 Các loại hình kinh tế tư nhân 4
1.1.3.1 Kinh tế cá thể, tiểu chủ: 4
1.1.3.2 Các loại hình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân 5
1.2 Vai trò của kinh tế tư nhân 7
1.2.1 Kinh tế tư nhân góp thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế 7
1.2.2 Kinh tế tư nhân góp phần khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương 7
1.2.3 Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năng động 8
1.2.4 Kinh tế tư nhân đóng góp thu ngân sách 9
1.2.5 Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm cho người lao động 10
Trang 31.2.6 Kinh tế tư nhân góp phần xóa đói giảm nghèo 12
1.3 Các nhân tố tác động đến sự phát triển của khu vực tư nhân 12
1.3.1 Nhóm nhân tố bên ngoài 12
1.3.1.1 Khung khổ pháp lý, chính sách: 12
1.3.1.2 Cơ sở hạ tầng 13
1.3.1.3 Môi trường kinh doanh 13
1.3.2 Nhóm nhân tố nội tại của doanh nghiệp 13
1.3.2.1 Vốn 13
1.3.2.2 Số lượng và chất lượng nguồn lao động 14
1.3.2.3 Năng lực quản lý, tổ chức, điều hành và tham vọng của chủ doanh nghiệp 14 1.3.2.4 Đổi mới công nghệ 14
1.4 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân 15
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 15
1.4.2 Kinh nghiệm của Hungary 22
1.4.3 Kinh nghiệm của các địa phương 25
1.4.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ngãi 25
1.4.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội 27
1.4.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc 30
1.4.4 Bài học cho tỉnh 33
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2007 – 2012 38
2.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Hòa Bình 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.1.1 Vị trí địa lý 38
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình 38
Trang 42.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 39
2.1.1.4 Khí hậu 40
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 40
2.1.2.1 Về kinh tế: 40
2.1.2.2 Về văn hóa - xã hội 42
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình 44
2.2.1 Số lượng các doanh nghiệp thuộc KTTN và kinh tế cá thể, tiểu chủ 44
2.2.1.1 Doanh nghiệp thuộc KTTN 44
2.2.1.2 Kinh tế cá thể, tiểu chủ 45
2.2.2 Phân bố kinh tế tư nhân 46
2.2.2.1 Phân bố theo ngành nghề 46
2.2.2.2 Phân bố phân theo vùng 47
2.2.3 Đóng góp của kinh tế tư nhân 48
2.3 Đánh giá các nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh 50
2.3.1 Nhóm nhân tố bên ngoài 50
2.3.1.1 Khung khổ pháp lý, chính sách: 50
2.3.1.2 Cơ sở hạ tầng 53
2.3.1.3 Môi trường kinh doanh 54
2.3.2 Nhóm nhân tố nội tại của doanh nghiệp 56
2.3.2.1 Vốn 56
2.3.2.2 Quy mô và chất lượng nguồn lao động 56
2.3.2.3 Năng lực quản lý, tổ chức, điều hành và tham vọng của chủ DN 58
2.3.2.4 Đổi mới công nghệ 59
2.4 Kết luận chung 60
2.4.1 Kết quả 60
Trang 52.4.2 Tồn tại 61
2.4.3 Nguyên nhân 62
2.4.3.1 Thị trường 62
2.4.3.2 Liên kết doanh nghiệp 63
2.4.3.3 Vốn kinh doanh 65
2.4.3.4 Mặt bằng sản xuất kinh doanh 66
2.4.3.5 Trình độ quản lý của người đứng đầu cơ sở kinh tế tư nhân 66
2.4.3.6 Môi trường pháp lý, nhận thức xã hội về kinh tế tư nhân 68
CHƯƠNG III: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỈNH HÒA BÌNH 69
3.1 Định hướng phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh Hòa Bình 69
3.1.1 Bối cảnh kinh tế 69
3.1.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 69
3.1.1.2 Bối cảnh kinh tế Việt Nam 70
3.1.2 Định hướng 71
3.1.3 Mục tiêu 73
3.2 Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình 74
3.2.1 Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư 74
3.2.2 Tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp 75
3.2.3 Đẩy mạnh cải cách hành chính, coi cải cách hành chính là khâu đột phá để hình thành môi trường quản lý nhà nước 75
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 77
3.2.5 Giải pháp về tăng cường tiếp cận mặt bằng sản xuất cho kinh tế tư nhân 78
3.2.6 Giải pháp huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn và tài sản hộ cá thể, tư nhân78 3.2.7 Giải pháp về khoa học công nghệ 80
Trang 6KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Tình hình thu hút lao động trong khu vực KTTN Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011 11Bảng 2: Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, 2007-2012 33Bảng 3: Cơ cấu theo theo ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàntỉnh Hòa Bình giai đoạn 2007 – 2012 35Bảng 4: Tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực KTTN phân theo vùng tỉnh Hòa Bìnhgiai đoạn 2007 – 2012 36Bảng 5: Tỷ trọng lao động phân bố theo ngành nghề kinh tế tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2007– 2012 38Bảng 6: Xếp hạng chỉ số PCI tỉnh Hòa Bình, 2007-2012 44Bảng 7: Cơ cấu theo theo ngành nghề hoạt động của KTTN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình giaiđoạn 2007 – 2012 49Bảng 8: Số lượng các dự án cấp giấy chứng nhận đầu tư tỉnh Hòa Bình chia theo giai đoạnhoạt động 2002 – 2012 50
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Giá trị tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của khu vực KTTN 7Hình 2: Đóng góp của KTTN vào Ngân sách nhà nước giai đoạn 2000-2010 9
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia nói chung, mỗi địa phương nói riêng, khu vực kinh tế tư nhân
có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, và tỉnh Hòa Bình cũng khôngnằm ngoài số đó Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp khôngnhỏ về tốc độ tăng GDP, tạo việc làm, đóng góp vào thu Ngân sách,… và đang dần thểhiện vai trò, vị thế của mình so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế nướcngoài Chính khu vực kinh tế tư nhân đã làm đa dạng hóa nền kin h tế của tỉnh, đáp ứngnhu cầu về vốn rất lớn cả về phái người tiêu dùng lẫn chủ sở hữu, tính đa dạng đó là ưu thếrất lớn để đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún lên nền sản xuất hàng hóa lớn.Hơn thế nữa, với phạm vi hoạt động lớn trên mọi ngành nghề, lĩnh vực cũng như địa bàn,kinh tế tư nhân đã và đang len lõi vào từng khu vực nhỏ nhất, tận dụng tối đa nguồn lựccủa từng khu vực, điều mà khu vực kinh tế nhà nước và nước ngoài khó có thể làm được
Với vai trò to lớn đó, cùng với sự phát triển nhanh chóng, phức tạp về cả số lượng,quy mô trong thời gian gần đây đòi hỏi phải có những nghiên cứu chi tiết thực trạng củakhu vực kinh tế tư nhân tỉnh, đảm bảo sự phát triển đúng quỹ đạo, định hướng kinh tế màtỉnh Hòa Bình đặt ra
Đề tài của tôi bao gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về kinh tế tư nhân
Chương II: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2007 – 2012 Chương III: Những định hướng và giải pháp phát triên kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình
Hi vọng bài viết này, về một phần nào đó sẽ giúp mọi người hình dung ra bức tranh của khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình trong thời gian gần đây, đồng thời đóng góp những giải pháp mà tỉnh có thể thực hiện nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, biến khu vực kinh tế tư nhân thành đầu tàu kéo cả nền kinh tế tỉnh phát triển
Trang 10CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1 Kinh tế tư nhân và đặc điểm của kinh tế tư nhân
1.1 Khái niệm
Hiện nay đối với thuật ngữ “khu vực tư nhân” tồn tại một số cách hiểu khác nhautùy theo quan điểm và cách nhìn nhận mang tính chất về sở hữu Do vậy, trong thực tế cáccách hiểu đó thường chỉ mang tính chất tương đối và không thống nhất
Ở Việt Nam, theo cách hiểu rộng nhất thì khu vực KTTN và khu vực KTNN (haycòn gọi là khu vực quốc doanh) là hai bộ phận cấu thành nền kinh tế Như vậy, tư nhân baogồm cả các doanh nghiệp trong nước, lẫn doanh nghiệp nước ngoài dưới dạng liên doanhhay 100% vốn nước ngoài Đồng thời, cách hiểu này ũng đưa đến một hệ quả là khu vựcKTTN bao gồm cả các cơ sở sản xuất nông nghiệp (như hợp tác xã nông nghiệp, nuôitrông và khai thác thủy hải sản,…) và các doanh nghiệp phi nông nghiệp Tuy nhiên, ởViệt Nam, nhiều người không đồng ý với định nghĩa rộng này vì trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và trong các công ty cổ phần hóa có sự tham gia góp vốn của cácdoanh nghiệp nhà nước, và khi thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và các công ty cổ phần có cổ đông là doanh nghiệp nhà nước,người ta không thể tách bạch được phần của doanh nghiệp nhà nước là bao nhiêu
Cách hiểu thứ hai về KTTN dựa trên việc chia nền kinh tế thành 3 khu vực là khuvực nhà nước (quốc doanh), khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nướcngoài Định nghĩa này đã đưa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi “khu vực ngoàiquốc doanh, coi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực riêng Theo đó, khu vựcngoài quốc doanh chỉ bao gồm các chủ thể kinh doanh trong nước, nhưng vẫn gồm các chủthể sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp Trong giáo trình “Kinh tế phát triển” củaĐHKTQD khi phân tích về vấn đề tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 cũngxét theo khía cạnh tăng trưởng nhanh được thể hiện ở các khu vực kinh tế bao gồm: khuvực nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực vốn đầu tư nước ngoài Có thể thấy rằng đã có
sự tương đồng về khái niệm KTTN theo cách hiểu thứ 2 này
Như vậy, các cách hiểu về các thuật ngữ “khu vực quốc doanh”, “khu vực ngoàiquốc doanh” và “khu vực tư nhân” đều mang tính ước lệ chưa thống nhất hoàn toàn
Trang 11Trong chuyên đề này, thuật ngữ “khu vực kinh tế tư nhân” được hiểu hẹp hơn nữa,bao gồm các doanh nghiệp trong nước trừ bộ phận kinh tế phi nông nghiệp ngoài quốcdoanh Khu vực này bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và không bao gồm bộphận kinh tế nông nghiệp ngoài quốc doanh, kể cả lâm nghiệp, thủy sản, làm muối (bộphận này gồm các cá nhân, hộ gia đình và hợp tác xã phi nông nghiệp và hợp tác xã nôngnghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trông thủy, hải sản,…).
1.2 Đặc điểm
1.2.1 KTTN gắn liền với lợi ích cá nhân – là động lực để thúc đẩy xã hội phát triển.
Lợi ích cá nhân là động lực trước hết để phát triển xã hội KTTN là khu vực kinh tếnăng động, người lao động tự chủ tiến hành hoạt động kinh doanh, do đó hoạt động có hiệuquả cao
KTTN mà tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là mô hình tổ chức kinh doanh củanền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao
Hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phân công lao động xã hội.Trước khi xuất hiện nền đại công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa còn ở trình độ thấp, đó lànền sản xuất hàng hóa giản đơn, chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp Hình thức tổchức sản xuất doanh nghiệp là hình thức tiên tiến, gắn liền với nèn đại công nghiệp, pháttriển cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở hình thức tổ chứcnày, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất tăng nhanh
1.2.2 KTTN là nền tảng của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế vận hành cóhiệu quả Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, hiện đại và hiệuquả Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, hiện đại Và cơ chế thịtrường hiện đại là môi trường để KTTN phát triển KTTN mà điển hình là mô hình tổ chứcdoanh nghiệp là sản phẩm tự nhiên của kinh tế thị trường, và tự lớn lên trong kinh tế thịtrường
KTTN ở nước ta được khôi phục từ sau công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo, trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, quan hệ sản xuất thống trị xã hội
Trang 12không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Do vây, KTTN ở nước ta có một số đặcđiểm riêng biệt khác nữa so với các nước trên thế giới:
Thứ nhất, KTTN ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần, là bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển KTTNnhằm mục đích phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Do đó, về mặt bản chất, nó khác vớiKTTN ở các nước tư bản chủ nghĩa
Thứ hai, KTTN ở nước ta mang trong mình yếu tố có tính xã hội chủ nghĩa Điều
này thể hiện ở chỗ: KTTN đại diện cho một lực lượng sản xuất mới góp phần giải phónglực lượng sản xuất, thức đẩy tăng trưởng xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,
…
Thứ ba, các doanh nghiệp tư nhân thông qua hoạt động của mình củng cố, tăng
cường khối đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vì mục tiêu dân giàu, nươc mạnh,
xã họi công bằng, văn minh
Cuối cùng, mối quan hệ trực tiếp giữa các chủ doanh nghiệp tư nhân với người lao
động doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng, chủ - thợ, quan hệ giữa một bên là chủ
sở hữu tư liệu sản xuất, một bên là người bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất mà là mối quan
hệ hợp tác
1.3 Các loại hình kinh tế tư nhân
KTTN có hai hình thức biểu hiện chính đó là hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ và cácloại hình doanh nghiệp thuộc tư nhân
Trang 13- Sử dụng lao động trong gia đình, dòng họ, giải quyết công ăn việc làm chobản thân và hộ gia đình.
Hộ kinh doanh cá thể được thừa nhân là một đơn vị kinh tế tự chủ, gốp phần tíchcực giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, ổn định chính trị
xã hội
1.3.2 Các loại hình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân
Doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN bao gồm các loại hình sau:
- Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Đặc điểm:
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân, chịu trách nhiệm vô hạn
+ Chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định quy mô, phương thức hoạt động, quản lýkinh doanh, sử dụng lợi nhuận sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước
- Công ty Cổ phần
Công ty Cổ phần là một loại hình doanh nghiệp có tính xã hội hóa cao, người laođộng có thể trở thành người chủ sở hữu, gắn được lợi ích cá nhân với hoạt động của doanhnghiệp, do đó là một mô hình hoạt động có hiệu quả hiện nay Đặc điểm:
+ Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạnchế số lượng tối đa
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp
- Công ty TNHH
Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, được pháp luật thừanhận Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt Trước pháp luật,công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứngvới quyền sở hữu công ty
Trang 14Đặc điểm:
+ Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không quá 50
+ Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và có nghĩa vụ tài sản khác trongphạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp
+ Công ty có tư cách pháp nhân
+ Công ty phải có từ hai cá nhân trở lên tham gia thành lập bao gồm thành viên hợpdanh, thành viên góp vốn (có thể có)
+ Thành viên hợp danh phải là người có trình độ, có uy tín nghề nghiệp, chịu tráchnhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình
+ Thành viên góp vốn là thành viên chỉ góp vốn vào công ty và chịu trách nhiệm hữuhạn trong phần vốn góp của mình
+ Tài sản của công ty độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằngchính tài sản đó
2 Vai trò của kinh tế tư nhân
2.1 Kinh tế tư nhân góp thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế
Hiện nay, trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, còn lại hầu hết
là do khu vực KTTN tham gia, thậm chí còn chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lươngthực, thực phẩm, nuôi trồng thủy hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hàng hóa bán lẻ, chế biến,sành sứ, giày dép, dệt may,… , đã mang về hàng tỷ đô là ngoại tệ cho nền kinh tế Chính
sự phát triển phong phú đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩmdịch vụ, các hình thức kinh doanh,… của khu vực KTTN đã tác động mạnh đến các doanh
Trang 15nghiệp nhà nước, buộc khu vực KTNN phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ,đổi mới phương thức kinh doanh dịch vụ,… để tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thịtrường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Qua đó, khu vực KTTN đã thúc đẩy sự cạnh tranhgiữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nênsức ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứng yêu cầu đòihỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nên kinh tế thị trường nói chung.
2.2 Kinh tế tư nhân góp phần khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương.
Khu vực KTTN có hiệu quả đầu tư cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo tính toán, để tạo 1 đơn vị giá trị GDP, cácdoanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chỉ cần 3,74 đơn vị đầu tư, trong khi ở khu vực nhànước cần tới 8,28 đơn vị và doanh nghiệp khu vực FDI cần 4,99 đơn vị Doanh thu trêntổng số tài sản khu vực tư nhân cũng cao hơn các khu vực khác, nếu với 1 tỉ đồng tài sản,doanh nghiệp tư nhân sẽ tạo ra được 1,18 tỉ đồng doanh thu, thì doanh nghiệp ở khu vựcnhà nước chỉ tạo ra được 0,80 tỉ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 0,89 tỉđồng Chính vì thế, vai trò của KTTN trong nền kinh tế ngày càng trở nên quan trọng.Biềuhiện, sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP cả nước ngày một tăng
Hình 1: Giá trị tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của khu vực KTTN
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 16Hơn thế nữa, mục tiêu của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhậpcao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh trong tổng sản phẩm quốc nôi Trong nền kinh tếthị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và khu vực tư nhân.
Một trong những đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân đối với phát triển kinh
tế là khả năng huy động vốn cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ Nguồn vốn là yếu
tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất Trong một nền kinh tế đang phát triển, nguồnvốn rất khan hiếm, và đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồnvốn càng khan hiếm hơn khi các tổ chức tài chính chưa phát triển và không có khả nănghuy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốncho đầu tư Do đó, khả năng huy động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng
Bên cạnh đó, sư phát triển của khu vực KTTN góp phần thu hút được nhiều laođộng ở nông thôn vào cac ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiêp đã giup chuyển đổi
cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cáu kinh tế đất nước
Khu vực KTTN tăng về số lượng và khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế.Nếu như trước đây, KTTN không được thừa nhận, bị coi là đối tượng của cách mạng
Trang 17XHCN, phải được cải tạo và xóa bỏ, với tư tưởng như thế trong giai đoạn đó KTTN vẫnchưa được phát triển mà hầu như còn bị vùi dập, kinh tế đất nước với sự hiện diện toàn bộbởi kinh tế tập thể với cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp Từ đường lối đổimới (Đại hội 6 của Đảng 12/1986) khẳng định nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phàn kinh tế tồn tại lâu dài thì KTTN được phát triển rất mạnh
mẽ, tạo cho cơ cấu kinh tê có xu hướng chuyển dịch cân bằng giữa KTTN và kinh tê tậpthể
Cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng không chỉ thể hiện về số lượnggiữa KTTN và kinh tế tập thể, mà còn thể hiện rất rõ trong sự phát triển của các vùng lãnhthổ, và giữa các ngành Các doanh nghiệp đăng ký hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinhdonh thương mại chiếm 42% tổng số doanh nghiệp, công nghiệp và xây dựng 31%, dịch vụkhác 22%, nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 5%
2.4 Kinh tế tư nhân đóng góp thu ngân sách
Đóng góp của các doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước có xu hướng tăng nhanh,bao gồm các nguồn thu: thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, thuế mônbài, VAT trong nhập khẩu và các khoản phí khác
Với sự phát triển nhanh chóng của khu vực KTTN đã đóng góp rất lớn vào sự pháttriển của đất nước với số vôn huy động lớn trong xã hội, KTTN đã đóng góp ngày càngtăng vào ngân sách nhà nước Năm 2000 nộp 5.802 tỷ đồng, ước tính chiếm 6,39% tổngnguồn thu ngân sách thì đến năm 2010, doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách nhà nước trên69.925 tỷ đồng, chiếm 7,42% tổng thu ngân sách nhà nước
Hình 2: Đóng góp của KTTN vào Ngân sách nhà nước giai đoạn 2000-2010
Đơn vị: Tỷ đồng.
Trang 18Nguồn: Tổng cục thống kê.
Qua số liệu trên cho chúng ta thấy KTTN có vai trò rất lớn trong nguồn thu ngânsách của nhà nước Với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay thì chỉ trong một vàinăm gần đây KTTN sẽ thể hiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế và là chỗdựa vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trở thành một nước côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
2.5 Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
KTTN phát triển sẽ tạo ra việc làm cho một lượng lớn lao động, góp phần vào việc
ổn định đời sống cho người dân Thật vậy, trong giai đoạn 2000-2005, hằng năm khu vựcKTTN cả nước thu hút khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc và đang trở thành nơi thu hútlao động chủ yếu của cả nước Phần lớn các doanh nghiệp khu vực KTTN có quy mô vừa
và nhỏ, dễ thích nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nhàn rỗi nên đã gópphần vào giải quyết việc làm, giảm thất nghiệpcho khu vực này Hơn nữa, nhờ chi phí tạomột việc làm mới rẻ hơn so với doanh nghiệp nhà nước (theo tính toán của Phòng Thươngmại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ hết 224 triệu đồng so với 436,5 triệu đồng) mà khu vựcKTTN đã còn góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng việc làm cho nhà nước
Chính vì vậy, khu vực KTTN đã giúp giải quyết việc làm cho phần lớn lao độngViệt Nam Cụ thể:
Trang 19Bảng 1: Tình hình thu hút lao động trong khu vực KTTN Việt Nam giai đoạn
Với công nghệ kỹ thuật ngày càng được cải thiện và nâng cao, dây truyền sản xuấtngày càng hiện đại, đòi hỏi ở công nhân một trình độ tay nghề phù hợp với điều kiện làmviệc, chinh vì thế quá trình đào tạo nghề được đưa lên vị trí hàng đầu Hiện nay, trình độtay nghề của công nhân được nâng lên rõ rệt, bên cạnh đó việc xây dựng chiến lược vàchương trình phát triển đào tạo nghề được hình thành Trong đó cần trú trọng đào tạo côngnhân kỹ thuật lành nghề à công nhân trình độ cao cho khu vực KTTN Mặt khác, điều kiện
Trang 20để đào tạo tay nghề cho người lao động thuận lợi hơn so với các khu vực kinh tế khác, hầuhết được đào tạo tại chỗ, thông qua kèm cặp của người nhà đã có tay nghề Chi phí cho đàotạo không đáng kể, đồng thời qua truyền nghề như vậy sẽ duy trì được những làng nghềtruyền thống, góp phần cùng xã hội dạy nghề mà chi phí chung của xã hội (kể cả chi phicủa tư nhân và nhà nước) không đáng kể.
Việc tạo ra nhiều chỗ làm việc mới đã góp phần thu hút nhiều lao đông trong xã hội,nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết số dôi dư
từ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chê, …
2.6 Kinh tế tư nhân góp phần xóa đói giảm nghèo
Khu vực KTTN đã góp phần đáng kể vào việc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đờisống nhân dân ở khu vực thành thị và nông thôn Theo thực tế khảo sát, thu nhập của ngườilao động trong khu vực KTTN thường có mức tường hoặc cao hơn thu nhập của lao độngtrồn lúa ở nông thôn cùng địa bàn Mức thu nhập của khu vực KTTN tuy thấp hơn cácDNNN nhưng cao hơn khu vực kinh tế tập thể Thu nhập trung bình của một lao độngtrong khu vực KTTN cao gấp 2 đến 3 lần so với mức lương cơ bản của Nhà nước quy định
1.3 Các nhân tố tác động đến sự phát triển của khu vực tư nhân
1.3.1 Nhóm nhân tố bên ngoài
2.6.1 Khung khổ pháp lý, chính sách:
Đây là các quy định pháp luật tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanhnghiệp Trong đó, các chính sách tác động trực tiếp là các chính sách liên quan đến gianhập thị trường, thuế, lao động, đất đai, cạnh tranh, xuất nhập khẩu và các chính sách hỗtrợ của nhà nước… Chi phí gia nhập thị trường cao do những quy định về cấp phép vàđăng ký kinh doanh có thể là một cản trở thành lập doanh nghiệp Chính sách thuế không
rõ ràng, hợp lý sẽ vô tình làm doanh nghiệp gặp khó khăn trong mở rộng kinh doanh…Hay các chính sách khác cũng vậy Nếu các chính sách này ban hành không hợp lý có thểgây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp
Trang 212.6.2 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển, giao lưu, trao đổi hàng hóa với cácvùng khác cũng như giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm Do đó, nó ảnh hưởng trực tiếptới sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung và khu vực KTTN nói riêng
2.6.3 Môi trường kinh doanh
- Môi trường quốc tế:
Hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới khiến sự gắn kết của các nước vớinền kinh tế thế giới ngày càng chặt chẽ Vì vậy, các bất ổn của nền kinh tế thế giới có thểảnh hưởng nhanh chóng và sâu rộng tới sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặcbiệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
- Môi trường trong nước:
Sự ổn định về mặt chính trị sẽ giúp cho KVTN của vùng yên tâm đầu tư sản xuất Đồngthời, quy mô thị trường lớn sẽ là yếu tố thu hút các DNTN đầu tư và mở rộng sản xuất Bêncạnh đó, năng lực cạnh tranh của quốc gia, của vùng tốt, có kinh nghiệm marketing quốc tế
từ phía chính phủ và doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng trong việc mở rộng thịphần trong thị trường thế giới Tuy nhiên, nếu thiếu năng lực cạnh tranh nhưng lại thựchiện mở cửa nền kinh tế thì sẽ có nguy cơ nhiều doanh nghiệp không cạnh tranh nổi và phásản
2.7 Nhóm nhân tố nội tại của doanh nghiệp
2.7.1 Vốn
Vốn là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Vốn chủ sở hữu càng cao thì khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh cũngnhư khả năng mở rộng, phát triển doanh nghiệp càng lớn Bên cạnh đó, khả năng huy độngvốn cũng vô cùng quan trọng Bởi lẽ, hầu hết vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp không
đủ cung cấp cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, khiến cho các doanh nghiệp phải tìmcách huy động nguồn vốn từ bên ngoài để duy trì và phát triển sản xuất Tuy nhiên, khảnăng huy động vốn, đặc biệt là vốn vay ngân hàng phụ thuộc đòi hỏi doanh nghiệp phải
Trang 22đáp ứng được nhiều yêu cầu như: tài sản thế chấp, chứng minh hiệu quả sản xuất kinhdoanh… do đó, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể dễ dàng huy động vốn
2.7.2 Số lượng và chất lượng nguồn lao động
Số lượng lao động trong doanh nghiệp quyết định đến khả năng chuyên môn hóatrong sản xuất của doanh nghiệp Với các DNTN có quá ít lao động thì một lao động phảiđảm đương nhiều công việc khác nhau, do đó tính chuyên môn hóa trong công việc thấp,dẫn đến NSLĐ không cao
Chất lượng nguồn lao động quyết định trực tiếp tới NSLĐ, do đó quyết định đến hiệu quảsản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
2.7.3 Năng lực quản lý, tổ chức, điều hành và tham vọng của chủ doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp là người quyết định hướng đi cũng như chiến lược phát triển chodoanh nghiệp của mình Do đó, hướng đi sai hay tầm nhìn không dài hạn của người chủdoanh nghiệp có thể khiến cho doanh nghiệp khó phát triển, thậm chí còn bị phá sản Đồngthời, khả năng quản lý, tổ chức, điều hành của chủ doanh nghiệp cũng quyết định đến việc
sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển Bên cạnh
đó, một người chủ có tham vọng cao, sẵn sàng chấp nhận rủi ro thì doanh nghiệp mới cóthể tăng trưởng nhanh
2.7.4 Đổi mới công nghệ
doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ, tiếp cận những nguồn công nghệ hiệnđại sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành Điều này hỗ trợ doanh nghiệptăng trưởng
3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân
3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách toàndiện nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thịtrường; thực hiện nhiều chính sách mở cửa với nhiều đặc điểm phát triển và vấn đề tương
tự nhau; đang trong giai đoạn phát triển thị trường, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý Với lợi
Trang 23thế là nước tiến hành cải cách sau, Việt Nam có cơ hội để học tập và tận dụng những bàihọc thành công và không thành công của Trung Quốc, tránh những tác động tiêu cực có thểnảy sinh trong quá trình chuyển đổi.
Quá trình phát triển của khu vực KTTN ở Trung Quốc
Sau ngày thành lập nước, Trung Quốc đã nhanh chóng hình thành nên một khu vựckinh tế nhà nước lớn mạnh với sự giúp đỡ của Liên Xô cũ Vào năm 1949, doanh nghiệp tưnhân chiếm 63,3% sản lượng công nghiệp nhưng đến năm 1952, tỷ lệ này đã giảm nhanhchóng xuongs còn 39% Trong thời gian đó, chính phủ đã kiểm soát khu vực tư nhân thôngqua biện pháp quốc hữu hóa Đến năm 1952, 56% sản phẩm đầu ra của khu vực tư nhân làtheo đặt hàng của nhà nước hay được tiêu thụ thông qua nhà nước Bên cạnh đó, một vàidoanh nghiệp tư nhân đã chuyển sang hình thức công tư hợp doanh Năm 1952, sản lượng
của khu vực tư nhân chiếm 5,7% tổng sản lượng quốc dân Năm 1953, trong Đường lối chung cho thời kỳ quá độ, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra một lịch trình hoàn thành
việc cải tạo xã hội chủ nghĩa các doanh nghiệp tư nhân và hộ thủ công trong vòng 15 năm.Vào lúc đó, lịch trình trên là rất khả thi và đã nhanh chóng được đẩy mạnh, nhưng cũngnhanh chóng kết thúc vào năm 1956 Sau Đại nhảy vọt, chính quyền trung ương lại mởcánh cửa cho các doanh nghiệp cá thể quy mô nhỏ, bao gồm cả hộ thủ công, nhưng doanhnghiệp tư nhân vẫn chưa được xem xét đến (cho tới tận năm 1988) Tuy nhiên tất cả đãphải đóng cửa khi Cách mạng văn hóa bùng nổ nằm 1966
KTTN không tồn tại trong giai đoạn từ 1966 đến 1979 Sau những cải cách ở khuvực nông thôn cuôi năm 1978, khu vực tư nhân đã lại xuất hiện Tuy nhiên, cuộc cải cáchnày cũng như hầu hết những cải cách gần đây tại Trung Quốc, không hẳn đã được nhìnnhận trước một cách thấu đáo mà đúng hơn là được thực hiện dưới áp lực về kinh tế vànhững tác động mang tính lịch sử khác
Ở khu vực nông thôn, KTTN cũng đã phát triển mạnh sau những cải cách thể chế
mà trong đó có cơ chế khoán theo hợp đồng được thực hiện Những thay đổi này đã tạo ra
động lực khuyến khích nông dân làm ăn và sản lượng nông nghiệp theo đó cũng tăng lên.Đồng thời với sự phát triển nhanh chóng đó, nhiều hộ gia đình ở nông thôn đã trở nên giàu
có Tuy nhiên, ngay từ giai đoạn đầu của cải cách quan trọng này, lao động nông nghiệp đãtrở nên dư thừa với mức báo động Hai yếu tố trên đã kéo các doanh ngiệp tư nhân quay vềkhu vực nông thôn
Trang 24Ở các thành phố, sự trỗi dậy của KTTN cũng do áp lực giải quyết nạn thất nghiệptrong thanh niên thành thị đang đè nặng lên vai chính phủ Cuối nhưng năm 70, đầu 80,hàng triệu thanh niên trước đây đi về các vùng nông thôn trong cách mạng văn hóa nayquay trở lại thành phố Việc làm cho những thanh niên này thực sự trở thành một gánhnặng cho chính phủ Chính phủ đã khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm bên cạnh việc
tìm những công việc chính thức khác Sau đó, một thành phần đặc biệt đã ra đời: hộ cá thể.
Trong những năm 80, hộ cá thể đã phát triển lớn mạnh và nhanh chóng đạt con số23,05 triệu, chiếm 10% tổng lao động phi nông nghiệp trong toàn quốc Có được sự lớn
mạnh nhanh chóng trên là do: thứ nhất, cải cách ở khu vực thành thị đã cho ra đơi hệ thống
hai giá mà nhờ đó rất nhiều nguồn lực được đưa vào thị trường Được hưởng lợi nhiều nhất
là những người dân ở khu vực nông thôn Lần đầu tiên sau hơn hai mươi năm họ có thể cócác nguyên liệu đầu vào quan trọng mặc dù phải trả giá cao hơn Động lực này đã giúp các
hộ cá thể phát triển; thứ hai, cải cách ở khu vực nông thôn đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nông dân, cung cấp vốn ban đầu cần thiết cho KTTN ở nông thôn; cuối cùng, cầu về
các hàng hóa thiết yếu như thực phẩm, hàng may mặc, các hàng hóa tiêu dung khác cũngtăng lên do sức mưa của người dân ở cả thành thị và nông thôn đều tăng lên Cộng themviệc nguồn cung rất hạn chế do hậu quả của quá trình phát triển dựa trên công nghiệp nặng
để lại một nền thị trường rộng lớn đã mở ra cho hộ cá thể phát triển
Sự phát triển của hộ cá thể đầu những năm 1980 đã đặt nền móng vững chắc cho sựxuất hiện chính thức của doanh nghiệp tư nhân năm 1988 Trước năm 1988, rất nhiều hộ cáthể có thể coi là doanh nghiệp tư nhân nếu xét dưới góc độ lao động Theo kết quả điều tracủa một nhóm nghiên cứu thuộc Hội đồng nhà nước trong 300 làng tiến hành năm 1987, có0,2 hộ nông dân thuê trên 8 nhân trong năm 1986 Như vậy có thể ước tính rằng cuối năm
1988 đã có khoảng 500.000 hộ cá thể có thể coi là doanh nghiệp tư nhân
Bên cạnh đó còn rất nhiều doanh nghiệp tập thể những thực chất là sở hữu tư nhân
Đó là những “doanh nghiệp đội mũ đỏ” với mục đích núp dưới danh nghĩa tập thể để tránhnhững ngăn cấm từ phía chính phủ và những phân biệt về mặt tư tưởng hệ Loại doanhnghiệp này vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi quá trình tư nhân hóa đang diễn ra mạnh mẽ vàrộng khắp Mặc dù không có số liệu chính thức những hầu hết các doanh nghiệp cấp làng ởThuận Đức là doanh nghiệp mũ đỏ trước khi chương trình tư nhân hóa được thực hiện năm
1992 Ngoài ra còn có rất nhiều doanh nghiệp tập thể cho tư nhân thuê để hoạt động Con
số này ở Hà Bắc, Thiên Tân, Liêu Ninh và Ninh Hạ năm 1984 là 18,6%, 30%, 40% và
Trang 2550% Sau khi trả một khoản tiền thuê, tư nhân có thể điều hành doanh nghiệp như doanhngiệp của chính mình và có thể tích lũy được những khoản tiền đáng kể Dần dần, tỷ lệ tàisản của tập thể trong doanh nghiệp giảm xuống và doanh nghiệp sẽ chuyển thành sở hữu tưnhân Cuối năm 1989, số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký là 90.600.
Sự kiện Thiên An Môn năm 1989 gây ra một bước thụt lùi cho khu vực tư nhân vì sau đóchính quyền đã có nhiều những chính sách mang tính bảo thủ Số lượng hộ cá thể giảm từ23,05 triệu cuối năm 1988 xuống còn 19,41 triệu cuối năm 1989; số lượng doanh nghiệp tưnhân cũng giảm từ 90.600 cuối năm 1989 xuống 88.000 tháng 6 năm 1990 Ở Hà Nam, sốlượng doanh nghiệp tư nhân giảm 23% trong thời kỳ 1989 – 1991 Xu hướng này chỉ dừnglại sau chuyến công tác nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình xuống phía Nam mà tại đó ông đãkêu gọi tiếp tục các nỗ lực cải cách Cuối năm 1992, số lượng hộ cá thể và doanh nghiệp tưnhân đã là 26,99 triệu và 139.600 Giai đoạn 1992 – 1994 là thời kỳ phát triển rực rỡ nhấtcủa các doanh nghiệp tư nhân Trên thực tế, khu vực tư nhân đã thực sự cho doanh nghiệpnhà nước thấy tính hiệu quả của sở hữu tư nhân
Tư nhân hóa và sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân
Năm 1995, chính quyền trung ương sau nhiều lần khảo sát điều tra đã đưa ra chínhsách “nắm lớn, thả nhỏ”, theo đó nhà nước chỉ trú trọng vào tư 500 đến 1000 doanh nghiệplớn và cho thuê hoặc bán các doanh nghiệp nhỏ hơn Từ chính sách “thả nhỏ” này đã xuấthiện thuật ngữ “thay đổi sở hữu” Nội dung của “thay đổi sở hữu” bao hàm cả khoán vàcho thuê, hai biện pháp được sử dụng trước đây, và các biện pháp như bán, chuyển thànhcông ty do người lao động nắm giữ hay chuyển thành hợp tác xã Chính sách này có tácđộng trực tiếp tới các doanh nghiệp mũ đỏ Với quyết tâm loại bỏ hoàn toàn những doanhnghiệp kiểu này, tháng 3 năm 1998 Quốc Vụ Viện đã ban hành một chỉ thị trong đó yêucầu tất cả các doanh nghiệp mũ đỏ phải “lột mũ” muộn nhất là đến tháng 11 năm 1998
Tuy nhiên, không phải tất cả các địa phương đều có sự chuẩn bị tốt cho việc chuyểnđổi sở hữu Nhiều doanh nghiệp chỉ đơn thuần là thay đổi tên gọi Điều này đặc biệt đúngđối với doanh nghiệp do người lao động nắm giữ cổ phần Các doanh nghiệp này vẫn đượccoi là doanh nghiệp tập thể và chính quyền địa phương vẫn can thiệp vào hoạt động củachúng Ở đây xuất hiện vấn đề thay đổi chức năng của các cơ quan công quyền Như vậy,nếu chỉ có tư nhân hoá mà không có sự thay đổi vai trò của cơ quan công quyền thì sẽ làchưa đủ để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế
Trang 26Một số vấn đề cần tiếp tục được giải quyết trong phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc
Trong những năm tới, vay phi chính thức vẫn sẽ là nguồn tài chính chủ yếu cho cácdoanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, những quy định pháp luật của Trung Quốc trong việc
điều chỉnh hoạt động vay mượn phi chính thức hiện lại rất thiếu Ví dụ, các quỹ tiết kiệm
sử dụng luân phiên quy mô nhỏ thì được phép tồn tại, nhưng lớn thì không Quỹ tiết kiệm
quay vòng quy mô lớn thực chất có thể gây ra những vấn đề về tài chính, ổn định xã hội vàcần phải có quy định điều chỉnh Vấn đề chính là chưa xác định được rõ ràng phạm vi
“quyền” của quỹ tiết kiệm quay vòng này
Ở Trung quốc, nguồn tín dụng chính thức dành cho doanh nghiệp tư nhân rất hạnchế, dưới 20% tổng vốn cho vay của 4 ngân hàng nhà nước lớn Mặc dù về mặt văn bảnkhông có sự phân biệt lớn và trong nhiều trường hợp còn khuyến khích cho vay đối vớidoanh nghiệp tư nhân, nhưng trên thực tế vẫn còn thái độ phân biệt doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp nhà nước không trả nợ đúng hạn thì tiềnvẫn nằm trong tay nhà nước, còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì trong trường hợp nàytiền nằm trong tay chủ doanh nghiệp Do đó ngân hàng cho rằng rủi ro khi cho doanhnghiệp nhà nước vay thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận cácnguồn vốn tín dụng chính thức không phải là sự phân biệt nói trên mà quy mô doanhnghiệp nhỏ và tính phi chính thức
Trang 27Một điều dễ nhận thấy là sự tiếp cận các khoản vay ngân hàng có liên quan đến quy
mô doanh nghiệp Trong cuộc điều tra 500 doanh nghiệp nói trên, kết quả cho thấy chỉ17% số doanh nghiệp có 50 lao động hoặc ít hơn có vay vốn ngân hàng, trong khi đó 83%
số doanh nghiệp có hơn 500 lao động vay vốn ngân hàng Một cuộc điều tra khác tiến hànhnăm 1996 cho kết quả tương tự: năm 1995, khoảng 38% số doanh nghiệp có ít hơn 30 laođộng vay tiền từ ngân hàng cho hoạt động kinh doanh và 33% vay vốn đầu tư ban đầu,nhưng toàn bộ các doanh nghiệp nhiều hơn 200 lao động có vay tiền kinh doanh và 50%doanh nghiệp vay vốn đầu tư ban đầu
Xét về mặt kinh tế, hoàn toàn có lý khi ngân hàng không cho doanh nghiệp nhỏ vay
Lý do trước hết là số tiền vay quá nhỏ để ngân hàng có thể kiếm lời từ đó Hơn nữa, chi phí
để ngân hàng thu thập thông tin về doanh nghiệp nhỏ đôi khi lại lớn hơn so với doanhnghiệp lớn Các công ty lớn ghi chép tài chính tốt hơn và ít làm giả tài liệu vì cần giữ uytín Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ thường không ghi chép sổ sách kế toán đầy đủ và haylàm sai lệch số liệu Do đó một trong những lý do doanh nghiệp tư nhân lớn tiếp cận nguồnvay ngân hàng dễ hơn so với doanh nghiệp nhà nước là chúng có ghi chép sổ sách tốt
Đối với các công ty đang phát triển thì khó khăn của họ không phải là tài chính chohoạt động hàng ngày mà là cho việc mở rộng phạm vi và quy mô kinh doanh Dưới góc độnày thì thị trường vốn dường như quan trọng hơn các khoản vay của ngân hàng nếu muốntăng nhanh tốc độ phát triển khu vực tư nhân nhưng cho tới nay Trung Quốc mới có hai thịtrường chứng khoán và doanh nghiệp tư nhân lại không được phép tham gia Quy định đótuy đã được xoá bỏ năm 2000 nhưng thị trường chứng khoán vẫn chủ yếu dành cho doanhnghiệp nhà nước
Sẽ là phi thực tế nếu chỉ dựa vào thị trường chứng khoán để giải quyết vấn đề vốncho các doanh nghiệp tư nhân Cách đây vài năm, cũng đã từng có rải rác ở một vài địaphương thị trường chứng khoán giao ngay cho các doanh nghiệp địa phương, tuy nhiênnhững thị trường này đã tan rã ngay sau khi hiệp hội tín dụng địa phương ngừng hoạt động.Xét trên khía cạnh quốc tế thì chưa nước nào có nhiều kinh nghiệm về việc giải quyết vấn
đề tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ Ở một nước rộng lớn như Trung Quốc, thị trườngchứng khoán địa phương có thể xem là một giải pháp tốt
Tóm lại, các công ty tư nhân ở Trung Quốc chủ yếu phụ thuộc vào thị trường vốnphi chính thức cho hoạt động kinh doanh của mình Có sự không tương xứng giữa những
Trang 28đóng góp vào nền kinh tế với việc phân phối nguồn lực tài chính: trong khi đóng góp củakhu vực ngoài nhà nước chiếm gần 2/3 GDP thì tỷ lệ vay vốn từ ngân hàng của khu vựcnày chỉ chiếm 20% Cho dù nguồn vốn thiếu hụt đó được tạo ra thông qua vay mượn trênthị trường phi chính thức đi chăng nữa cũng vẫn cần phải củng cố lại vai trò của Chínhphủ.
* Tính phi chính thức của doanh nghiệp tư nhân
Nếu có sự cản trở tiềm năng phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Trung quốc thì đóchính là tính phi chính thức của khu vực này Tính phi chính thức rất đa dạng, dưới nhiềugóc độ và hậu quả của nó cũng rất nặng nề
Trước hết, các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ không
thực hiện ghi chép sổ sách kế toán đầy đủ Nhiều trường hợp, doanh nghiệp tư nhân cố ý
sử dụng mánh khoé trong việc ghi chép và lưu giữ nhiều loại sổ sách kế toán: một cho chủdoanh nghiệp, một để tính thuế, và một cho ngân hàng Thông tin cho chủ doanh nghiệp làthực ghi, bộ sổ sách thứ hai nhằm giảm thu nhập và lợi tức của công ty và bộ thứ ba lạinhằm thổi phồng mình Thực tế này đã tạo ra tính không chắc chắn cho bên thứ ba đối vớithông tin về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trong trường hợp công ty có nhu cầuvay vốn bên ngoài thì ngân hàng lại do dự khi cấp các khoản vay cho họ cho dù họ có cungcấp thông tin thật bởi vì ngân hàng biết rằng phần lớn DNV&N không tiết lộ thông tin thật.Thậm chí nếu ngân hàng rất sẵn lòng cho vay thì chi phí liên quan đến việc xác định chínhxác thông tin tài chính của doanh nghiệp cũng rất cao
Thứ hai, doanh nghiệp tư nhân dường như không có ý thức tuân thủ pháp luật Ví
dụ, có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đã đăng ký bảo hộ tên mác sản phẩmnhưng lại sản xuất sản phẩm có chất lượng thấp hơn Chính hành vi này đã làm giảm lòngtin của người tiêu dùng đối với sản phẩm của họ, điều đó sẽ gây tổn thương cho chính cácdoanh nghiệp tư nhân Hơn thế nữa, mức độ tin tưởng lẫn nhau ngay giữa các doanhnghiệp tư nhân cũng rất thấp, việc khất nợ là phổ biến, lừa đảo xảy ra thường xuyên Cuốicùng, phần lớn các DNV&N không tuân thủ chuẩn mực về lao động, công nhân thiếu sựbảo hộ tối thiểu và nợ tiền lương cũng phổ biến Những hành vi này làm tăng chi phí giaodịch và chi phí quản lý, và rốt cuộc sẽ gây hại cho chính doanh nghiệp
Thứ ba, đa số các công ty tư nhân không có cơ chế quản lý nội bộ hợp lý, điều này
là thực tế ngay cả đối với một số doanh nghiệp quy mô lớn Nhiều công ty tư nhân là các
Trang 29công ty gia đình - ở đó không có một cơ chế quản lý minh bạch, rõ ràng Quyền ra quyếtđịnh thường được trao cho một ai đó Trong trường hợp xấu, công ty sẽ ngừng hoạt độngchỉ vì chủ doanh nghiệp không ở nhà Một vấn đề khác nữa là nhiều công ty không có độingũ nhân viên đủ khả năng Ví dụ, nhiều doanh nghiệp tư nhân có điểm xuất phát thấp vớicác nhân viên có trình độ, kỹ năng hạn chế Sau khi công ty lớn mạnh, những nhân viên đókhông đáp ứng được yêu cầu về quản lý doanh nghiệp nữa, tuy vậy họ lại không muốnthuê các nhà quản lý có trình độ điều hành công ty Trong nhiều trường hợp, các bên chấmdứt hợp tác với những tranh chấp khó giải quyết và có thể dẫn đến giải thể công ty
Cuối cùng, các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa đánh giá đúng nguồn vốn con người.
Chẳng hạn, so sánh với DNNN và doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp tư nhân thường trảmột mức lương thấp cho các sinh viên mới tốt nghiệp Nguyên nhân của hiện tượng này làdoanh nghiệp tư nhân nhấn mạnh đến yếu tố kinh nghiệm tích luỹ trong doanh nghiệpmình Điều này chắc chắn sẽ đặt doanh nghiệp tư nhân vào thế bất lợi nếu xét về sự pháttriển dài hạn
Như vậy, sau hơn hai mươi năm đổi mới, khu vực tư nhân Trung quốc cuối cùng đã
có được xử đối xử công bằng Những năm 90 chứng kiến nhiều thay đổi tích cực nhấttrong chính sách của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đối với khu vực tư nhân Đến nay,các chính sách đã được ban hành khá đầy đủ và khu vực kinh tế tư nhân đã bước vào giaiđoạn cất cánh Trong 10 năm tới, chúng ta sẽ được chứng kiến sự phát triển không ngừngcủa doanh nghiệp tư nhân Đây sẽ là một giai đoạn khó khăn cho khu vực tư nhân vì hầuhết các nỗ lực cải cách đã được thực hiện, môi trường kinh doanh đã khá bình đẳng, và do
đó các doanh nghiệp tư nhân sẽ phải phát triển dựa vào chính nội lực của mình Dưới khíacạnh tính phi chính thức, con đường phía trước cho các doanh nghiệp tư nhân hẳn không
hề bằng phẳng
Chính phủ cũng cần nỗ lực để tự hoàn thiện mình, đặc biệt là khu vực tài chính Mộtmặt, khu vực này cần phải mở rộng cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài;mặt khác, nguồn lực tài chính cần được chuyển từ khu vực nhà nước sang cho khu vực tưnhân Trên thực tế, hai mặt trên có quan hệ với nhau: nếu các định chế tài chính tư nhânđược phép tham gia thị trường tài chính thì tự nhiên, các nguồn lực tài chính sẽ đượcchuyển sang cho khu vực kinh tế tư nhân
Trang 30Hơn nữa, trong suy nghĩ của nhiều cán bộ nhà nước vẫn còn ít nhiều tư tưởng phânbiệt doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là ở những vùng kém pháttriển Xét theo nghĩa nào đó, điều này thể hiện sự không tin tưởng của quan chức chính phủđối với công nghệ mà các doanh nghiệp lựa chọn Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp
tư nhân thường sử dụng công nghệ cần nhiều lao động, quy mô doanh nghiệp nhỏ, nhàxưởng và thiết bị trông bề ngoài lại khá tồi tàn Các quan chức không thể tin rằng nhữngcông ty như vậy có thể giúp cho kinh tế phát triển nhanh Việc thiếu đào tạo cơ bản về kinh
tế và kiến thức về thực tế Trung Quốc là nguyên nhân chính của thái độ không đúng đắn
đó Thay đổi nhận thức là rất cần thiết nhưng chưa bao giờ là một việc dễ dàng
3.2 Kinh nghiệm của Hungary
Hungary là nước đầu tiên ở Trung Âu thực hiện cải cách kinh tế và chính trị, tiênphong trong số các nước XHCN thực hiện công cuộc cải cách sang nền kinh tế thị trường
Về mặt lịch sử, Hungary đã thực hiện những bước đi đầu tiên trong việc tự do hoá chínhsách kinh tế của mình bằng việc đưa ra một “cơ chế kinh tế mới” với nhiều lần thử nghiệmcải cách vào năm 1953, 1956 và 1968 Hungary cũng là nước đầu tiên trong khối Đông Âuthực hiện tư nhân hoá trên cơ sở thị trường (kể cả các khu vực mang tính chiến lược nhưnăng lượng và ngân hàng) Những cải cách khu vực công (y tế, giáo dục) cũng đã bắt đầuđược thực hiện
Hai thành quả quan trọng trong thời kỳ chuyển đổi luôn được nhắc tới ở Hungarrylà: tư nhân hoá và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chiến lược tư nhân hoá ở Hungary là bántài sản của Nhà nước theo nguyên tắc thị trường Trong giai đoạn 1990-1991 chỉ có 10%tổng số tài sản nhà nước được tư nhân hoá; trong giai đoạn 1992-1994 là hơn 40% Năm
1989, thị phần của khu vực tư nhân tính theo GDP chỉ chiếm 18%, nhưng tốc độ tư nhânhoá tăng dần lên, đến cuối năm 1993 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 50% GDP và đếncuối năm 1997 là 80% Và đến cuối những năm 90, quá trình tư nhân hoá coi như đã hoànthành: tài sản của nhà nước chỉ còn chưa đến 20%, chủ yếu là trong ngành công nghiệpmang tính chiến lược
Chuyển đổi thể chế ở Hungary đã phải trả một giá khá đắt, nhưng đổi lại cơ cấukinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng: 62% là dịch vụ, 28% là công nghiệp; 5% là nôngnghiệp và phần còn lại là công nghiệp xây dựng Các ngành mới hình thành như sản xuất ô
tô, điện tử , còn các ngành truyền thống như chế biến thực phẩm thì tiếp tục phát triển
Trang 31Tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước là yếu tố quan trọng nhất trong chuyển đổi thể chế do
nó tạo ra cơ sở vật chất cho kinh tế thị trường, đồng thời tạo ra sự thay đổi tư duy về sởhữu (chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu cá nhân) Nhờ có sự thống nhất giữa nhànước và dân chúng nên quá trình tư nhân hoá ở Hungary diễn ra thuận lợi, không có xungđột gay gắt và kéo theo các chuyển đổi hoà bình khác trong xã hội Trong số các nướcĐông Âu, Hungari là nước thực hiện quá trình chuyển đổi sở hữu nhanh và toàn diện hơn
cả Trước năm 1990, hầu hết các phương tiện sản xuất đều nằm trong tay Chính phủ: có1.850 doanh nghiệp nhà nước với tổng giá trị ghi trên sổ sách vào khoảng 20-25 tỷ USD(khoảng 3000 tỷ HUF theo tỷ giá hiện nay) Năm 1989 -1990, lĩnh vực kinh tế tư nhân củaHungary chỉ đóng góp 10-15% GDP, hiện nay lĩnh vực này đóng góp 70-75% GDP Tỷ lệnày tương đương với các nước trong Liên minh Châu Âu
Tuy nhiên, quá trình tư nhân hoá ở Hungary không diễn ra đều đặn Đầu thập kỷ
1990, Hungary đã tiến hành tư nhân hoá những cơ sở kinh doanh nhỏ, sau đó mới tiến hành
tư nhân hoá các doanh nghiệp lớn của nhà nước Kinh nghiệm tư nhân hoá những doanhnghiệp nhỏ đã giúp cho việc tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn suôn sẻ Quá trình chuẩn
bị tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn được thực hiện tốt do đã lựa chọn được đối tượng
có đủ khả năng vật chất để tiếp tục duy trì hoạt động có hiệu quả trên cơ sở đổi mới côngnghệ Việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước lớn được thực hiện từ 1993-1996 (đã tưnhân hoá các doanh nghiệp lớn, ngân hàng, doanh nghiệp ngành năng lượng )
Tư nhân hoá ở Hungary được thực hiện đại trà từ năm 1993 đến 1997 Năm 1994,
do có bầu cử và một số thay đổi cơ cấu chính trị nên quá trình tư nhân hoá chậm lại Đỉnhcao của quá trình tư nhân hoá là năm 1995: 1/3 số doanh nghiệp được tư nhân hoá trongnăm 1995, kể cả các ngành chiến lược như điện, năng lượng,
Chính phủ Hungary đã xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tư nhân hoá bằng việc banhành một số luật Luật Công ty đảm bảo cơ sở cho các công ty cổ phần và các loại hìnhcông ty khác hoạt động Năm 1995, Hungary ban hành Luật tư nhân hoá, Luật tổ chức lạidoanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Toàn bộdoanh nghiệp nhà nước của Hungary đều được chuyển sang hoạt động theo Luật công tytrước khi tư nhân hoá
Đồng thời, Công ty Tư nhân hoá và Quản lý Tài sản Nhà nước được thành lập vớimục đích đảm bảo môi trường minh bạch cho quá trình tư nhân hoá Trong những năm đầu
Trang 32thập niên 90, việc quản lý nhà nước đối với tài sản của nhà nước lỏng lẻo, làm thất thoátnhiều tài sản của nhà nước Từ năm 1992, Nhà nước quy định trong luật những tài sảnmình sẽ nắm giữ lâu dài, những doanh nghiệp sẽ tư nhân hoá và những doanh nghiệpkhông tư nhân hoá trong tương lai gần, những doanh nghiệp Nhà nước sẽ nắm giữ cổ phiếuvàng Ngoài ra, trong Luật tư nhân hoá còn quy định rõ những quyết định nào của doanhnghiệp phải có ý kiến của chủ sở hữu cổ phiếu vàng, thí dụ như những thay đổi định hướnghoạt động
Từ năm 1992 đến năm 1995, các quy định của Nhà nước đã thay đổi nhiều lần Nộidung điều chỉnh chủ yếu là những doanh nghiệp Nhà nước cần duy trì mức sở hữu 50%,60% hay 100% Đến năm 1995 đã định nghĩa chính xác doanh nghiệp không tư nhân hoábao gồm một số công ty dịch vụ công cộng, chiến lược hoặc quốc phòng Hiện nay đã xácđịnh Nhà nước sẽ nắm giữ cổ phần lâu dài trong các công ty điện lực (duy trì mức sở hữuquá bán 51%), công ty bán buôn, bán lẻ dược phẩm, công ty thép và sẽ duy trì lâu dài sởhữu nhà nước trong 3 doanh nghiệp thuộc ngành năng lượng, 3 doanh nghiệp Hàng không,
27 nông trường, 19 lâm trường, 24 doanh nghiệp giao thông liên tỉnh và 1 ngân hàng
Các hình thức tư nhân hoá ở Hungary được quy định rõ trong Luật Tư nhân hoá Cụthể là:
- Đấu thầu công khai là hình thức chủ yếu được áp dụng Hơn 90% tài sản nhà nướcđược tư nhân hoá thông qua đấu thầu công khai Nhờ đó đã đạt được tính chất minh bạch
rõ ràng Trên thực tế, việc tư nhân hoá những công ty lớn được thực hiện thông qua hìnhthức đấu thầu để lựa chọn đối tác đầu tư
- Thông báo bán công khai: các điều kiện bán được thông báo để người mua quantâm biết
- Bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: một phần nhỏ doanh nghiệp áp dụnghình thức này Một thành quả lớn là có doanh nghiệp được đưa ra bán trên thị trườngchứng khoán London và New York Khi mới bắt đầu tư nhân hoá thông qua thị trườngchứng khoán (1995), các tổ chức môi giới hưởng tỷ lệ 5 -10% hoa hồng, đến năm 1999 tỷ
lệ này giảm xuống còn 1 - 1,5%
- Bán cho nhà đầu tư chiến lược: hình thức này áp dụng đối với những doanh nghiệp
có tầm quan trọng về quốc phòng hoặc chính trị đặc biệt hoặc có nguy cơ sẽ có đối thủ
Trang 33cạnh tranh mua lại nhằm mục đích thôn tính, chiếm lĩnh thị trường Chỉ có 1 - 2 trường hợpthông qua mời thầu (an ninh, quốc phòng).
- Bán gọn, bán trả góp, khoán, cho thuê lâu dài đối với các nhà quản lý và tập thể cán
bộ công nhân viên doanh nghiệp đối với một số doanh nghiệp nhỏ: hình thức này khôngthành công nên không phổ biến
3.3 Kinh nghiệm của các địa phương
3.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ngãi
Trong xu thế toàn cầu hóa, đất nước phải thực sự chuyển mình để hội nhập kinh tếquốc tế, đặc biệt là khi Luật Doanh nghiệp chính thức có hiệu lực từ năm 2006 Trong xuthế chung đó, số lượng doanh nghiệp được thành lập mới của cả nước nói chung và tỉnhQuảng Ngãi nói riêng đã tăng lên mạnh mẽ Đến cuối năm 2009, tổng số doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh Quảng Ngãi là 2.544 doanh nghiệp, tăng gấp 2,8 lần giai đoạn 2000 – 2005;trong đó, doanh nghiệp KTTN là 2.264 doanh nghiệp, chiếm 88,99% tổng số doanh nghiệptoàn tỉnh Cùng với đó, tổng tài sản dài hạn có đến cuối năm của các doanh nghiệp KTTN
từ năm 2006 – 2009 tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng tài sản dài hạn cóđến cuối năm của các doanh nghiệp trong tỉnh; doanh thu thuần của các doanh nghiệpKTTN đạt mức tăng bình quân 42,71%/năm, lợi nhuận trước thuế có tốc độ tăng bình quân73,34%/năm
Với sự phát triển nhanh chóng đó, khu vực KTTN đang dần chứng minh vai trò của mình
vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi Thứ nhất, khu vực KTTN góp phần
giải tuyết việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp, tốc độ tăng số lượng lao động làm việctrong khu vực KTTN liên tục tăng với tốc độ bình quân 21,57%/năm và chiếm hơn 70%
tổng số lao động ở các doanh nghiệp trong tỉnh Thứ hai, góp phần vào tăng trưởng và phát
triển của ngành công nghiệp với tốc độ gia tăng GTSX công nghiệp của doanh nghiệpKTTN trung bình đạt 61,29%/năm và chiếm khoảng 60% trong tổng GTSX công nghiệp
của cả tỉnh Quảng Ngãi Thứ ba, khu vực KTTN góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng
GDP toàn tỉnh chiếm tỷ lệ 66,23% tổng GDP, trong đó riêng giá trị tăng thêm của cácdoanh nghiệp KTTN có tốc độ tăng bình quân khá cao đạt 39,66% và có tỷ lệ đóng góp
khoảng 15% tổng GDP toàn tỉnh Thứ tư, khu vực KTTN đóng góp vào thu ngân sách tỉnh
với tỷ lệ 10,64 tổng thu ngân sách với tốc độ tăng bình quân 24,45%/năm, … và còn rất
Trang 34nhiều đóng góp khác như góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo môi trường cạnh tranhlành mạnh trong tỉnh,…
Tuy nhiên, khu vực KTTN của tỉnh Quảng Ngãi vẫn tồn tại rất nhiều bất cập như:phát triển nhanh về số lượng nhưng đa số là quy mô nhỏ, phân bố không đồng đều ở cácđịa phương trong tỉnh, phát triển còn mang tính tự phát, các yếu tố sản xuất kinh doanhchưa được chuẩn bị đầy đủ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhìn chung còn thấp,khả năng tiếp cận và ứng dụng CNTT trong tiếp cận thông tin thị trường còn yếu, công tácnghiên cứu thị trường và xây dựng thương hiệu còn yếu kém và chưa được đầu tư đúngmức hay mức độ hiểu biết và quan tâm đến pháp luật, biến động xã hội thấp Để phá bỏ cáctồn tại đó, tỉnh Quảng Ngãi đã sử dụng một số giải pháp như:
- Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, tạo môi trường thông thoáng cho sự pháttriển KTTN Để thực hiện điều đó, tỉnh chủ trương tăng cường tính minh bạch và khả năngtiếp cần thông tin cho doanh nghiệp KTTN, đặc biệt là phổ biến, công khai các quy hoạch,
kế hoạch và các văn bản của tỉnh trên website thông tin điện tử hay quan tâm cạp nhật kịpthời tất cả các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, đất đai, các cơ chế, chính sách,thoogn tin về các dự án kêu gọi đầu tư, các dự án đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư, … Cùngvới đó là việc tăng cường vai trò quản lý của chính quyền địa phương, đổi mới cơ chế quản
lý và tạo lập quan hệ hợp lý giữa nhà nước và doanh nghiệp, tiếp tực bổ sung sủa đổi hoànthiện hệ thống chính sách khuyến khích KTTN phát triển (nâng cao năng lực cạnh tranh,đổi mới công nghệ, khuyến khích đầu tư, đổi mới chính sách tín dung, …)
- Giảm các chi phí khởi nghiệp và vận hành kinh doanh cho doanh nghiệp.Đởn giản hóa quy trình đăng ký kinh doanh qua mạng, tin học hóa việc cấp Giấy Chứngnhận đăng ký kinh doanh Thực hiện cơ chế một của liên thông trong một số ngành, địaphương liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, …
- Tăng cường hỗ trợ về vốn cho KTTN như thành lập Quỹ phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển đadạng hóa các phương thức khai thác vốn như thuê mua tài chính, …
- Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp KTTN: xây dựng chiếnlược, chương trình đào tạo nghề cho các thành phần kinh tế, trong đó đào tạo công nhân kỹthuật có tay nghê cao đặc biệt được trú trọng; mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng caotrình độ hiểu biết pháp luật, chuyên môn và quản trị kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp
và đội ngũ cán bộ quản lý cho doanh nghiệp
Trang 35- Tích cực tháo gỡ khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh chodoanh nghiệp KTTN như thông báo công khai diện tích đất dành cho doanh nghiệp nho vàvừa và các KCN, CCN cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tổ chức tư vấn, tháo gỡ khó khăncho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh,….
- Hỗ trợ cho doanh nghiệp KTTN trong việc mở rộng thị trường, tiếp cậnthông tin và nâng cao năng lực KH – CN
- Tạo môi trường tâm lý xã hội ủng hộ KTTN phát triển Trong đó chú ý giáodục ý thức xã hội, thái độ đối xử bình đẳng của xã hội với tất cả các thành phần kinh tế, màđặc biệt là KTTN Đồng thời tuyên truyền trong dân để họ hiểu được đúng đắn về vị trí,vai trò của khu vực KTTN góp phần tạo cho họ có một cái nhìn đúng đắn hơn về khu vựcKTTN
3.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô, là trung tâm kinh tế chính trị của cả nước, chính vì thế, nhữngbước đi của Hà Nội được được sự quan tâm của các tỉnh khác, làm kinh nghiệm để pháttriển kinh tế - xã hội Với hệ thông CSHT tương đối đồng bộ, nguồn nhân lực tương đốidồi dào và có trình độ chất lượng cao, đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo từ trung ướng, thànhphố Hà Nội đã và đang thể hiện vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế chung của ViệtNam
Kể từ khi Luật doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000 đã tạo rahành lang pháp lý để thành phần KTTN phát triển mạnh mẽ Thành tựu trong phát triểnkinh tế của Hà Nội từ giai đoạn năm 2000 đến nay là rất đáng ghi nhận Lượng vốn của tưnhân đầu tư vào sản xuất kinh doanh tăng mạnh từ 165.753 tỷ đồng năm 2002 đến 535.305
tỷ đồng năm 2008 Số lượng doanh nghiệp tư nhân Hà Nội tăng gấp 7 lần, cao hơn 12 tỉnhĐồng bằng Sông Hồng cộng lại trong giai đoạn này Tính đến năm 2012, tổng số doanhnghiệp trên địa bàn Hà Nội đã lên tới con số hơn 120.000 doanh nghiệp Hoạt động đầu tưcủa khu vực KTTN lan tỏa rộng khắp vào các ngành kinh tế, kể cả những ngành đòi hỏivốn lớn, kỹ thuật cao
Để có được những thành công đó, Hà Nội đã có những thay đổi phù hợp với tìnhhình trong từng giai đoạn cụ thể Giai đoạn 1986 – 1990, khi đất nước bước vào giai đoạnđầu thời kỳ đổi mới, ở Hà Nội còn tồn tại tấm lý e ngại các thành phần kinh tế phi xã hộichủ nghĩa nhưng chính sách của thành phố Hà Nội cũng đã khẳng định sự cần thiết phải cải
Trang 36tạo đối với tiểu thương và những người làm nghề ăn uống dịch vụ Kiên quyết xóa bỏ tưsản thương nghiệp, cấm tư thương kinh doanh xuất nhập khẩu, xóa bỏ chợ đen, xử lýnhững người buôn bán trái phép Tổ chức cho tiểu thương và các cá thể kinh doanh dịch vụ
ăn uống trong các tổ ngành hàng, hợp tác xã dịch vụ hoạt động dưới sự kiểm oats của acsccấp chính quyền và do thương nghiệp quốc doanh hướng dẫn sản xuất kinh doanh Nhànước tập trung nắm các nguồn hàng, nguyên liệu và thực hiện các hợp đồng kinh tế vớinông dân, cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh Thực hiện tận thu tối đa các nguồn thu Mặtkhác, thành phố cũng bước đầu khuyến khích sản xuất tiểu thủ công, cá thể, cho phép tưnhân thuê thêm thờ và có chính sách khuyến khích tất cả mọi người tự tổ chức sản xuấtbằng phương tiện hiện có có thể tạo ra được Đặc biệt phát huy tài năng của các nghệ nhân
về kỹ thuật, quản lý và tổ chức kinh doanh
Giai đoạn 1991 – 2000, Hà Nội chủ trương khẳng định khu vực KTTN được khuyếnkhích phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dung, chế biến nông sản và dịch
vụ phục vụ đời sống; chủ động ban hành một số chính sách và tạo môi trường cần thiết đểnhững người có vốn chủ động tham gia đầu tư kinh doanh
Tiếp sau đó, Hà Nội đã có sự điều chỉnh bằng việc đưa kinh tế cá thể ra ngoài nội hàmKTTN để tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN Tại Đại hội Đảng bộ đa chủ động nghiên cứu
và triển khai chủ trương mới về thí điểm và mở rộng dần việc nhà nước góp vốn đầu tưcùng tư nhân trên cơ sở thỏa mãn nhằm tạo thế kinh doanh, tạo lực phát triển, khuyếnkhích chủ doanh nghiệp bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp
Giai đoạn từ 2001 đến nay, thành phố Hà Nội tiếp tục nhấn mạnh vào việc tạo mọi điềukiện để các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển: tập trung chỉ đạo việc giao đất ổnđịnh lâu dài cho nông dân; tăng cường đầu tư CSHT kỹ thuật nông thôn, từng bước hiệnđại hóa nôn nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trịcao; củng cố các làng nghề truyền thống, phát triển các quần thể trang trại – khu dân cư,điểm du lịch sinh thái văn hóa; tiếp tục đổi mới quản lý doanh nghiệp, tách chức năng quản
lý sản xuất kinh doanh với chức năng quản lý nhà nước; khuyến khích các thành phần kinh
tế cùng tham gia đào tạo nghề gắn với giải quyết công ăn việc làm; khuyến khích và hỗ trợcác cơ sở sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ; ban hành và tổ chức thực hiện quychế đầu thầu quyền sử dụng đất để góp phần bình đẳng hóa về điều kiện đất đai, mặt bằngkinh doanh cho các thành phần kinh tế và bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển hạ tầngkinh tế kỹ thuật; cải thiện môi trường đầu tư, tạo cơ chế và mở rộng các kênh, hình thức hỗtrợ vốn cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau,…
Trang 37Bên cạnh đó, Hà Nội cũng triển khai nhiều chương trình, giải pháp hỗ trợ như chocác doanh nghiệp nhỏ và vừa vay tuu đãi từ quỹ hỗ trợ phát triển thành phố; hỗ trợ tàichính xây dựng hệ thống quản lý chất lượng; hỗ trợ kinh phí đào tạo và khởi sự doanhnghiệp, miễn giảm tiền thuê đất và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; hỗ trợ mặt bằngsản xuất, xây dựng các chương trình xúc tiền thương mại trọng điểm, …
Chính những đổi mới về nhận thức và chính sách tổ chức thực hiện những hoạt động hỗ trợ
đó mà KTTN đang ngày càng phát triển và dần trở thành đầu tàu cho quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của thủ đô Tỷ trọng đóng góp của DNTN trong GDP của thành phố đãtăng liên tục từ mức 8,3 % năm 1990 lên 20,8% năm 2006 và khoảng 50% năm 2012 CácDNTN và hộ sản xuất kinh doanh đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp bằng 9/10 giá trịsản xuất công nghiệp của cacs doanh nghiệp địa phương, đã chiếm khoảng 10% kim ngạchxuất khẩu, 85% tổng mức bản lẻ trên thị trường, cung cấp 60% lượng hàng hóa bán buôncho các tỉnh lân cận và thu hút 50% lao động xã hội trên địa bàn thành phố Tỷ trọng laođộng trong khu vực KTTN đã tăng lên gần 60% năm 2012
Cho đến nay, thương mai và du lịch vẫn đang là lĩnh vực kinh doanh truyền thốngcủa KTTN Hà Nội Tuy nhiên, có rất tít DNTN tham gia vào các doạt động dịch vụ caonhư kinh doanh bảo hiểm, cho thuê tài chính, kinh doanh các tòa nhà đa năng, dịch vụ viễnthông còn trong các ngành y tế hay giáo dục thì mức độ tham gia không đáng kể
Mặc dù có đạt được sự phát triển tốt của khu vực KTTN, Hà Nội vẫn còn có rấtnhiều bất cập trong chính sách phát triển khu vực này Trong đó đáng lưu ý nhất là chỉ sốnăng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hà Nội những năm gần đây đang có dấu hiệu giảmmạnh thứ hạng, nếu như năm 2011 xếp thứ 36 thì đến năm 2012 thứ hạng của Hà Nội đãgiảm tới 15 bậc, xếp thứ 51, tuy vẫn thuộc nhóm điều hành “Khá” nhưng tiến rất sát vớinhóm “Trung Bình” Theo đó, có 7/9 chỉ số giảm so với năm 2011, trong đó có 5 chỉ số sụtgiảm lớn gồm: Thiết chế pháp lý, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, tính minh bạch và tiếp cậnthông tin, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo thành phố, tiếp cận đất đai và sự ổnđịnh trong sử dụng đất Trong số các chỉ số bị đánh giá thấp, đặc biệt chó chỉ số tính năngđộng và tiên phong của lãnh đạo thành phố, điều này thể hiện mặc dù có nhiều thay đổitrong chính sách đối với KTTN thì sự năng động và tiên phong của lãnh đạo vẫn đượcđánh giá chưa cao
Bảng : xếp hạng chỉ số PCI thành phố Hà Nội giai đoạn 2007 – 2012
Trang 383.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, thuộc khu vực chuyển tiếp vớitam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc, tuy không có được nhiều thuận lợi về điềukiện tự nhiên như các tỉnh khác, tuy nhiên trong những năm gần đây nhờ những chuyểnbiến tích cực trong đường lối của chính quyền địa phương, đáng chú ý là sự vươn lên mạnh
mẽ của khu vực KTTN đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc dần trở thành một trong những tỉnh pháttriển nhất miền Bắc, được ví như Bình Dương của miền Bắc
Tuy là một tỉnh không có cảng biển, không có thể mạnh xuất nhập khẩu hay hạ tầng
cơ sở, nhưng trong lĩnh vực thu hút đầu tư lại có những thành quả rất lớn đó là lấy khu vựcKTTN, lấy công nghiệp làm nền tảng cho sự phát triển Chính nhờ sự nhận thức đúng đắn
về vai trò của khu vực KTTN, lãnh đạo tỉnh đã thống nhất quan điểm rằng sự tăng rưởngcủa các DNTN là động lực phát triển kinh tế của tỉnh, vì vậy các chính sách của chínhquyền địa phương là tập trung tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp và thúc đẩy đầu tư tưnhân Chính nhờ những thay đổi đó KTTN tỉnh liên tiếp đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổnđỉnh, vị trí trong bảng xếp hạng PCI cũng luôn ở nhóm điều hành “Tốt” và “Rất tốt” từnăm 2007 đến 2011
Nếu như năm 1997 cả tỉnh mới có 91 DNTN thì đến năm 2012 đã là 1.785 DNTNvới số vốn đăng ký lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực
Trang 39này giai đoạn 2006 – 2010 là 85,26% và con số này không chỉ dừng lại ở đó mà vẫn còntiếp tục tăng trong những năm tiếp theo.
Trọng tâm mà tỉnh trú trọng là tập trung phát triển công nghiệp có trình độ kỹ thuật
và công nghệ sản xuất khá hơn trước Trong một khảo sát gần đấy với 132 doanh nghiệpđược điều tra, có 42% doanh nghiệp được xếp vào trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến.Nhờ đó đã giải quyết được 167.453 lao động năm 2006, 235.202 lao động năm 2012 vàcũng góp phần nâng cao đời sống của người lao động trong khu vực này với thu nhập bìnhquân khoảng 3.000.000 đồng/ người/tháng Đóng góp của khu vực này vào NSNN cũngtăng lên theo sự phát triển của nó Năm 2006 đóng góp 75 tỷ đồng, thì đến năm 2010 con
số này là 130 tỷ đồng
Đạt được tất cả các thành quả trên là nhờ tỉnh đã làm tốt công tác quy hoạch côngnghiệp, cải cách thủ tục hành chính và thực hiện tốt thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư khuvực KTTN Xét cụ thể, tỉnh đã tiến hành quy hoạch 9 khu, cụm công nghiệp lớn, 30 cụmcông nghiệp nhỏ à làng nghề cho các doanh nghiệp có nhu cầu Ban quản lý KCN và thuhút đầu tư của tỉnh là đầu mối chịu trách nhiệm phối hợp với các ngành liên quan tập trunggiải quyết từ khâu hình thành đến thẩm định cấp phép đầu tư, cấp đất và triển khai chờ mặtbằng Thêm vào đó quá trình giải quyết các thủ tục hành chính đã được rút ngắn rất nhiều.Ngoài ra các đơn vị sản xuất trên địa bàn tỉnh còn được chính quyền nời đây chủ động hỗtrợ trong một số vấn đề như miễn giam tiền thuê đất, giải phóng mặt bằng, thậm chí hỗ trợ
hạ tầng cơ bản như san nền, làm đường và chi phí từ những việc này lấy từ nguồn ngânsách tỉnh, chính nhờ sự dám hi sinh lợi ích trước mắt để đổi lấy lợi ích to lớn lâu dài về sau
để đầu tư phát triển kinh tế của lãnh đạo tỉnh đã tạo cho các nhà đầu tư một niềm tin vữngchắc
Bên cạnh những hỗ trợ trực tiếp, chính quyền tỉnh còn thường xuyên có hoạt độnggiao tiếp để hiểu được các vấn đề mà doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn mặc phải Vìthế, tỉnh đã quyết định bảo trợ cho Câu lạc bộ Doanh nghiệp tỉnh bằng cách cung cấp kinhphí cho Câu lạc bộ hoạt động, thường xuyên trao đổi phối hợp các hoạt động sản xuất kinhdoanh hay những vướng mắc do bị cán bộ quản lý gây nhũng nhiễu nhưng do tâm lý e ngại
mà không dám đưa ra dư luận Cùng với đó, Sở Kế hoạch và đầu tư cùng câu lạc bộkhuyến khích các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho câu lạc bộ để câu lạc bộ phản ánhlên các cơ uan có liên quan, từ đó đưa ra biện pháp xử lý phù hợp
Với những việc đã làm được thì tỉnh vẫn còn những thiếu xót theo đánh giá PCI gầnđây Về chỉ số năng lực cạnh tranh PCI do Phòng Thương mại và Công nghiệp
Trang 40Việt Nam công bố, từ năm 2009 đến năm 2011, hầu hết các chỉ tiêu PCI của tỉnh đều giảm.Năm 2011, PCI của Vĩnh Phúc tiếp tục giảm và xếp thứ 17/63 tỉnh, thành(giảm 2 bậc sovới năm 2010) Trong bảng xếp hạng CPI của tỉnh đã có 4 chỉ tiêu giảm bậc gồm: đào tạolao động; thiết chế pháp lý; tiếp cận đất đai, sự ổn định trong sử dụng đất và tính năngđộng của lãnh đạo và 5 tiêu chí giảm điểm gồm: tính năng động và tiên phong của lãnhđạo, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động, tiếp cận đất đai và sử dụng đất ổn định
và tiêu chí về pháp lý Đến năm 2012 thực sự là một năm đáng buồn về chỉ số PCI củatỉnh Mặc dù có những chuyển biến tích cực có 02 chỉ số thành phần tăng (Chỉ số Chi phígia nhập thị trường; Chỉ số Chi phí không chính thức); tuy nhiên còn tồn tại hạn chế củaPCI Vĩnh Phúc, nhiều chỉ số thành phần thấp (Chỉ số tiếp cận đất đai; Chỉ số Thiết chếpháp lý; Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Tính năng động và tiên phong; Chi phí thờigian để thực hiện các quy định của Nhà nước), dẫn đến PCI năm 2012 của tỉnh tụt hạng sâu
so năm 2011 (từ vị trí 17 xuống vị trí 43/63)
Bảng : xếp hạng chỉ số PCI tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2007 – 2012