1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 2: Quản trị công nghệ và đổi mới sáng tạo
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 744,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Mục tiêu  Hiểu rõ khái niệm QTCN;  Hiểu rõ quá trình hình thành và phát triển của QTCN;  Hiểu rõ mục tiêu của QTCN;  Xác định đư

Trang 1

CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Mục tiêu

Hiểu rõ khái niệm QTCN;

Hiểu rõ quá trình hình thành và phát triển của QTCN;

Hiểu rõ mục tiêu của QTCN;

Xác định được các hoạt động QTCN;

Hiểu rõ mối quan hệ giữa QTCN và ĐMST

Nội dung Hướng dẫn học

Khái niệm về QTCN;

Sự cần thiết của QTCN;

Quá trình hình thành và phát triển của

QTCN;

Mục tiêu của QTCN;

Các hoạt động QTCN;

Vai trò của QTCN trong hoạt động sản

xuất kinh doanh và cạnh tranh

Thời lượng học

15 tiết

Học viên cần nắm được khái niệm cơ bản về quản trị công nghệ, lịch sử hình thành quản trị công nghệ, mục tiêu và hoạt động của quản trị công nghệ để biết cách quản trị công nghệ;

Học viên cần đọc kỹ tài liệu “Quản trị công nghệ và đổi mới sáng tạo” và các tài liệu tham khảo liên quan

Học viên cần trao đổi để hiểu bản chất quản trị công nghệ Trao đổi để hiểu bản chất công nghệ Các kiến thức cần

Trang 2

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống: Kymdan – Hành trình theo đuổi một ước mơ

Năm 1954, tấm nệm mút cao su thiên nhiên đầu tiên của ông

Nguyễn Văn Đan, mang tên Kymdan ra đời sử dụng kỹ thuật

luộc và nguồn nhiên liệu đốt từ trấu Sau 50 năm, nhãn hiệu

Kymdan thuộc về công ty cổ phần cao su Sài Gòn do ông

Nguyễn Hữu Trí con trai ông Đan làm Chủ tịch hội đồng

quản trị Ông Trí cũng là người nắm giữ công thức sản xuất

loại nệm mút cao su thiên nhiên của công ty

Nhận thức được tầm quan trọng của việc quảng bá sản phẩm

và tạo dựng thương hiệu, chỉ 6 năm khi Kymdan ra đời, ông Nguyễn Văn Đan đã quyết tâm đưa nó ra chinh phục thị trường thế giới Năm 1960, Kymdan của Việt Nam đã xuất hiện tại cuộc triển lãm hàng Việt ở Nhật Để tăng sức cạnh tranh qua chất lượng sản phẩm, năm 1962, nệm Kymdan được cải tiến nhằm đạt tính chất thông hơi tốt và kỹ thuật này đã được cấp bằng sáng chế số 831 của chính quyền Sài Gòn Ở vị trí độc tôn, suốt khoảng thời gian từ 1962 đến

1975, nệm Kymdan như vua một cõi chiếm lĩnh khắp thị trường miền Nam

Năm 1975, Sài Gòn được giải phóng, nhà xưởng của ông Đan trở thành xí nghiệp quốc doanh

và sau này là xí nghiệp sản xuất cao su Sài Gòn Nệm Kymdan ngưng sản xuất và tên tuổi chẳng còn được ai nhắc tới

Năm 1987, trong tình trạng các hợp đồng sản xuất sản phẩm từ cao su khô cho quân đội mất dần, công nhân đứng trước nguy cơ thất nghiệp, ông Trí mạnh dạn thuyết phục cơ quan chủ quản cho mình sản xuất lại nệm mút cao su thiên nhiên Kiên trì thuyết phục, năm 1989, tấm nệm Kymdan đầu tiên lại xuất hiện trên thị trường, lập tức đem về cho xí nghiệp doanh thu

500 triệu đồng Từ đó về sau, doanh thu năm sau gấp đôi năm trước và thương hiệu Kymdan lại trở nên quen thuộc trên thị trường

Đi cùng với những chính sách mới về kinh tế, đến năm 1999 xí nghiệp cao su Sài Gòn được cổ phần hóa trở thành công ty cổ phần cao su Sài Gòn – Kymdan và từ đây thương hiệu Kymdan lại vươn ra thị trường thế giới Ngay tại thời điểm 1999, ông Trí đã tính toán khả năng chiếm lĩnh thị trường các nước của Kymdan và bắt đầu cho tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở từng quốc gia, đến nay đã được cấp giấy chứng nhận ở 53 nước Năm 2003, Kymdan nhận chứng chỉ ISO 9001: 2000 và được chọn là sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM Tháng 3.2004, Kymdan được trao giải thưởng của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Được thành công trong kinh doanh như vậy cũng nhờ tài năng của ông Trí trong việc quản trị công nghệ, cụ thể là trong việc đưa ra các chính sách khuyến khích sáng tạo của người lao động, biết vận dụng linh hoạt chính sách của Nhà nước, nắm bắt kịp thời xu thế thị trường, chủ động nghiên cứu và phát triển công nghệ mới thay thế công nghệ truyền thống, kiên trì và dũng cảm trong việc khai thác công nghệ, biết cách bảo vệ và khuyếch trương công nghệ, Năm 1984, vừa lên làm giám đốc xí nghiệp cao su Sài Gòn, ông Trí đã thấy ngay việc trả lương theo ngạch bậc và cách đánh giá cứ đủ năm lên bậc là chưa hợp lý Ngay lúc đó ông áp dụng kiểu chia quỹ lương theo tổ, người giỏi, sáng tạo vào sau có thể nhận lương cao hơn những người chỉ có thâm niên Có lúc, ông bị đánh giá là "mất quan điểm" khi dám phát biểu:

"Tiền để tổ chức lễ lạc rình rang để dành tăng lương cho anh em công nhân tốt hơn" Qua nhiều phen, ông Trí luôn cho rằng mình may mắn, vì sau mỗi lần mạnh dạn đưa ra những

Trang 3

cải cách thì ngay sau đó Nhà nước lại có những chính sách mới kịp thời hợp thức hóa hoạt động Ông Trí mạnh dạn "xé rào" nhiều việc là do luôn có cấp dưới ủng hộ Sau 30 năm làm việc, ông đã có nhóm đồng sự trên 40 người cùng gắn bó chia sẻ lúc "lên hương" cũng như lúc

"xuống vực" từ thời trai trẻ đến nay

Nói về sự nghiệp hơn 55 năm thương hiệu Kymdan, ông Nguyễn Hữu Trí cho rằng: "So với thế giới thì tên tuổi của Kymdan có thể chẳng là gì, nhưng tôi luôn tự hào vì mình là người Việt Nam và đã làm ra được sản phẩm có nhiều tính năng ưu việt để bán được nó ra khắp thế giới"

Câu hỏi

1 Công ty Kymdan đã gặt hái được thành công như thế nào?

2 Yếu tố nào đã giúp Công ty Kymdan thành công?

3 Ông Trí đã biết cách áp dụng lý luận về quản trị công nghệ theo góc độ vi mô như thế nào?

4 Các hoạt động quản trị công nghệ cụ thể ông Trí đã thực hiện?

Trang 4

2.1 Khái niệm về quản trị công nghệ

Quản trị công nghệ có thể hiểu là tập hợp các hoạt động

có hướng đích đến công nghệ nhằm đạt được các mục tiêu

đã định

Người ta thường xem xét việc quản trị công nghệ theo hai

góc độ sau:

 Vĩ mô: Quản trị công nghệ là một lĩnh vực kiến thức

có liên quan đến việc thiết lập và thực hiện các chính

sách về phát triển và sử dụng công nghệ, về sự tác

động của công nghệ đối với xã hội, với các tổ chức,

các cá nhân và môi trường tự nhiên, nhằm thúc đẩy

đổi mới sáng tạo, tạo tăng trưởng kinh tế và tăng

cường trách nhiệm trong việc sử dụng công nghệ đối với lợi ích của xã hội Dưới góc độ này, người ta thường nói đến việc quản trị công nghệ ở phạm vi quốc gia Trong phạm vi quốc gia, việc quản trị công nghệ của chính phủ thường được chú trọng vào các nội dung sau đây:

o Xây dựng các chính sách và định ra cơ chế khuyến khích phát triển công nghệ thông qua các giải pháp quản lý kinh tế vĩ mô, các biện pháp bảo hộ các công nghệ non trẻ, đồng thời chú ý tới tác động của các công nghệ đang hoạt động nhằm đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, ngăn ngừa tác động xấu của công nghệ đến con người và môi trường tự nhiên,

o Phát triển và nâng cao năng lực công nghệ thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm phát triển các kỹ năng công nghệ, đồng thời khuyến khích nghiên cứu

và triển khai công nghệ trong nước,

o Xây dựng các thể chế thích hợp cho sự phát triển công nghệ thông qua việc đảm bảo hoạt động một cách hữu hiệu của thị trường, đảm bảo sự tự do di chuyển của thông tin và nhân lực công nghệ, đảm bảo quan hệ thông suốt giữa các ngành,

 Vi mô: Quản trị công nghệ là một bộ môn khoa học liên ngành, kết hợp khoa học

công nghệ và các tri thức quản lý để hoạch định, triển khai các năng lực công nghệ nhằm xây dựng và thực hiện các mục tiêu trước mắt và lâu dài, các mục tiêu chiến lược và tác nghiệp của một tổ chức Ở phạm vi cơ sở (tổ chức, doanh nghiệp), quản trị công nghệ thường liên quan đến bốn lĩnh vực: tạo ra sản phẩm, phân phối, quản trị và các hoạt động hỗ trợ Mỗi lĩnh vực bao gồm một số chức năng mà mỗi chức năng có thể sử dụng một hay một số công nghệ Cụ thể, quản trị công nghệ bao gồm các lĩnh vực và chức năng như sau:

o Tạo ra sản phẩm hoặc đổi mới sản phẩm bao gồm: nghiên cứu, triển khai, thiết

kế và chế tạo

o Phân phối bao gồm: marketing, bán hàng, phân phối sản phẩm và dịch vụ khách hàng

o Quản trị bao gồm: quản trị nguồn nhân lực, tài chính và kế toán, thông tin, bản quyền và pháp lý, quan hệ xã hội, mua sắm nguyên vật liệu và quản trị chung

o Các hoạt động hỗ trợ bao gồm: mối quan hệ với khách hàng và các nhà cung cấp

Trang 5

 Qua các góc độ nêu trên, vấn đề tác nghiệp trong quản trị công nghệ sẽ bao gồm:

o Phát sinh ý tưởng và khái niệm;

o Dự báo công nghệ;

o Đánh giá công nghệ;

o Lựa chọn công nghệ;

o Đổi mới công nghệ;

o Chuyển giao công nghệ;

o Đầu tư cho nghiên cứu – triển khai;

o Liên kết công nghệ, sản phẩm và thị trường

Như trong chương 1 đã nói, công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra, được dùng làm công cụ nhằm tạo ra của cải vật chất Trên thực tế, để công nghệ thực sự đem lại lợi ích cho xã hội đồng thời tránh được những mặt tiêu cực do công nghệ tạo ra, con người cần phải thường xuyên theo dõi, thay thế những công nghệ lạc hậu hoặc đổi mới công nghệ Cụ thể, công nghệ cần được quản lý hoặc quản trị một cách hợp lý vì những lý do sau đây:

 Việc thay thế hoặc đổi mới công nghệ có thể

mang lại tác động tích cực hoặc/và tiêu cực

Trên thực tế, không phải mọi công nghệ được

đổi mới đều mang lại lợi ích Việc đổi mới

công nghệ một mặt có thể nâng cao hiệu quả

sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch

vụ hoặc làm tiết kiệm hơn nguyên nhiên liệu,

sức lao động của con người, nhưng mặt khác

có thể làm suy thoái, cạn kiệt tài nguyên hoặc

ô nhiễm môi trường Những ảnh hưởng tiêu

cực này của công nghệ có thể được hạn chế hoặc tránh được nhờ vào việc quản trị công nghệ nhằm tránh sự lạm dụng công nghệ, sử dụng công nghệ sai mục đích của con người

 Thực tiễn cho thấy để phát triển, nhiều quốc gia đã chú trọng xây dựng nền kinh tế phát triển nhanh dựa trên áp dụng các công nghệ mới nhưng lại xem nhẹ công bằng xã hội Trong lúc đó, nhiều quốc gia khác dù mong muốn đem lại sự công bằng cho người dân qua phân phối cào bằng và nền sản xuất kế hoạch hóa tập trung nhưng lại gặp phải sự trì trệ về kinh tế và sản xuất Một số quốc gia khác lại biết cách kết hợp phát triển kinh tế qua việc áp dụng nhanh chóng các công nghệ mới nhưng vẫn đảm bảo được văn minh và công bằng xã hội do đã biết quản trị tốt quá trình phát triển công nghệ, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa

 Năng lực quản lý công nghệ của nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển còn rất yếu kém Mặc dù các nước đang phát triển đã nhận được sự hỗ trợ của

Trang 6

các tổ chức quốc tế trong việc phát triển công nghệ trong nước nhưng do yếu kém trong khâu quản trị công nghệ nên các quốc gia này đã không thể đạt được mục tiêu của mình Do vậy, tăng cường năng lực quản trị công nghệ là nhu cầu thiết yếu của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam

 Ớ góc độ vi mô, việc quản trị công nghệ trong phạm vi doanh nghiệp thông qua các hoạt động như phân tích tính khả thi của công nghệ, phân tích thị trường, phân tích chính sách, môi trường công nghệ, phục vụ mục đích đổi mới công nghệ tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường là rất cần thiết Quản trị công nghệ chính là phương tiện để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người tiêu dùng Tại các doanh nghiệp, quản trị công nghệ là một phần rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh Phụ thuộc vào công nghệ dưới dạng sản phẩm hay quy trình, trách nhiệm sẽ được chia sẻ giữa giám đốc sản xuất và giám đốc kỹ thuật, giám đốc nghiên cứu – triển khai Các giám đốc này sẽ giải quyết từ các vấn đề mang tính chất quản trị tác nghiệp cho đến các vấn đề chiến lược Cụ thể, một số vấn đề sau đây cần phải nghiên cứu và cân nhắc trong hoạt động của doanh nghiệp:

1 Làm thế nào để đảm bảo mức phát triển chung của doanh nghiệp là cao nhất và chi phí chung là thấp nhất?

2 Làm thế nào để giảm mức độ phức tạp của sản phẩm?

3 Có cần thay đổi công nghệ sản xuất không?

4 Nên đầu tư bao nhiêu cho nghiên cứu công nghệ là quy trình hay phương pháp sản xuất mới?

5 Các đối thủ cạnh tranh đang sử dụng công nghệ mới nào? Nên phản ứng về việc

đó như thế nào?

6 Các nhà cung cấp công nghệ đang triển khai những công nghệ mới nào? Có thể mua được công nghệ đó không? Và giá là bao nhiêu?

7 Vấn đề đào tạo khi ứng dụng kỹ thuật hoặc công nghệ mới

8 Khả năng tài chính của doanh nghiệp

9 Hệ thống thông tin quản trị có cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin cần thiết

để ra quyết định đúng về vấn đề này hay không?

Cuối cùng, công nghệ ngày càng phát triển và biến đổi không ngừng nhờ vào các cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra trên phạm vi thế giới đòi hỏi quản trị công nghệ phải trở thành một môn khoa học Khoa học quản trị công nghệ ra đời

là sự phát triển tất yếu nhằm thích ứng với nhu cầu thực tiễn phát triển của hoạt động khoa học công nghệ

Từ sự phân tích nhu cầu của quản trị công nghệ, có thể thấy rằng, khoa học về quản trị công nghệ ra đời là sự thích ứng với nhu cầu phát triển thực tiễn của các hoạt động khoa học công nghệ Có thể chia sự phát triển của khoa học quản trị công nghệ thành các thời kỳ như sau:

Trang 7

 Giai đoạn hình thành ban đầu (từ thời cổ đại đến hết thế kỷ 19)

Trong giai đoạn này, các công cụ lao động phát triển từ đơn giản đến phức tạp Đến TK 19 kỹ thuật đã được nâng cao trong xã hội, mối quan hệ giữa kinh tế – thương mại và khoa học – kỹ thuật ngày càng gắn bó hơn Đánh dấu bước tiến cơ bản của tiến trình cơ khí hóa bằng cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh (1780 – 1785) Các nhà nghiên cứu khoa học giai đoạn này cũng đồng thời là các nhà quản lý khoa học công nghệ Nghiên cứu khoa học mới chỉ dừng lại ở niềm đam mê mang tính cá nhân của các nhà khoa học, chưa được thực hiện một cách có hệ thống và đồng bộ Các sáng chế ra đời trong giai đoạn này là kết quả của hoạt động lao động cần cù mang tính cá nhân trong khi nhà nước không tổ chức hay hỗ trợ tài chính cho các hoạt động nghiên cứu khoa học dù đã xuất hiện các chính sách và quy định pháp lý nhằm bảo vệ các thành quả nghiên cứu khoa học, sáng chế này

 Giai đoạn nghiên cứu mang tính tập thể (cuối thế kỷ 19 đến những năm 30 của thế kỷ 20)

Giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến những năm 30 của thế kỷ 20, Chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh do có sự cạnh tranh, sản xuất công nghiệp phát triển nhảy vọt Trong giai đoạn này, nghiên cứu khoa học từng bước theo hướng xã hội hóa Do

có sự cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp đã bắt đầu thành lập các trung tâm nghiên cứu, đổi mới công nghệ Nghiên cứu khoa học chuyển từ hoạt động mang tính cá nhân sang hoạt động mang tính chất tập thể, dần dần xuất hiện sự phân công lao động trong nghiên cứu khoa học Các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học công nghệ đã bắt đầu đảm nhiệm những dự án nghiên cứu hoặc quản lý những trung tâm nghiên cứu lớn Tuy nhiên, quản trị công nghệ còn mang tính truyền thống, việc quản lý vẫn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm cá nhân mà chưa có lý luận

và phương pháp khoa học

 Giai đoạn quản trị công nghệ đã được thể chế hóa (1940 – 1970 của thế kỷ 20)

Bắt đầu từ giữa những năm 40 của thế kỷ 20, nhất là sau Đại chiến thế giới lần thứ

II, đã xuất hiện một cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại nhằm biến đổi khoa học công nghệ thành lực lượng sản xuất trực tiếp, biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm nhờ vào thành tựu khoa học công nghệ

Xuất phát điểm của cuộc cách mạng này những phát minh trong khoa học cơ bản vào cuối thế kỷ 19 Những phát minh này đã làm thay đổi một cách căn bản các quan niệm vốn có của con người về thế giới vật

chất, cho phép con người hiểu sâu hơn về bản

chất thế giới Có ba lĩnh vực quan trọng nhất tạo

ra tiền đề cho cuộc cách mạng khoa học – kỹ

thuật hiện đại:

o Khám phá cấu trúc bên trong của vật chất và

vũ trụ tổng thể:

Các nhà khoa học hiện nay đã vẽ được bức tranh gần như hoàn chỉnh về cấu trúc vật chất ở mức sâu thứ năm (phân tử; nguyên tử; hạt nhân và điện tử;

Trang 8

p-rô-tông và nơ-t-rông; 6 hạt quark và 6 hạt pepton) Những phát minh này giúp tạo ra các sáng chế trong các lĩnh vực bán dẫn, đồng vị phóng xạ, laze, năng lượng hạt nhân

o Khám phá trạng thái sống:

Ngay từ những năm 50 của thế kỷ 20, một loạt bộ môn sinh học trước được coi

là độc lập thì nay lại được hội tụ vào một môn mang tính liên ngành, đó là sinh học phân tử bao gồm các bộ môn sinh lý học tế bào, di truyền học, sinh hóa học, vi sinh học, virút học Bộ môn này tìm cách giải thích các chức năng của vật thể sống qua cấu trúc của các phân tử cấu tạo nên chúng Sự ra đời của sinh học phân tử và những phát minh khoa học có liên quan cộng với những tiến bộ công nghệ khác đã tạo ra các ngành công nghệ như: công nghệ vi sinh hiện đại, công nghệ di truyền (ADN tái tổ hợp), công nghệ tế bào và công nghệ enzim

o Khám phá về trái đất:

Thành tựu nổi bật trong lĩnh vực này là lý thuyết kiến tạo mảng mà theo lý thuyết này trái đất được coi như một hành tinh với những đại dương đang rộng

ra hay co lại, những lục địa đang di chuyển dù hết sức chậm chạp, những đáy biển trẻ hơn lục địa Nhờ các máy móc vũ trụ (từ vệ tinh nhân tạo, trạm quỹ đạo, ), con người có thể quan sát tổng thể trái đất Cùng với sự phát triển của các công nghệ hiện đại và sự hiểu biết về trái đất, con người có thể giải quyết nhiều vấn đề có ý nghĩa kinh tế – xã hội lớn lao như đánh giá tiềm năng khoáng sản dưới đáy biển, dự báo động đất, dự báo thời tiết dài hạn, đánh giá hậu quả những hoạt động của con người đối với khí hậu, với kết quả cao hơn Trong giai đoạn này, các bộ môn khoa học ngày càng được phân chia một cách tỉ

mỉ Do khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và quy mô nghiên cứu ngày càng lớn, các đề tài nghiên cứu ngày càng đa dạng và phức tạp nên quản trị công nghệ theo phương pháp truyền thống và phương pháp nghiên cứu khoa học mang tính tập thể không còn phù hợp Do vậy, nhà nước đứng ra tổ chức quản lý hoạt động khoa học công nghệ và giao cho một số chuyên gia quản lý thành thạo, có hiểu biết về kinh tế lãnh đạo công tác khoa học công nghệ Giai đoạn này được coi

là giai đoạn thể chế hóa hoạt động quản trị công nghệ và thể chế quản lý của chuyên gia quản lý khoa học công nghệ

 Giai đoạn thể chế quản lý tập trung đoàn chuyên gia (từ 1970 đến nay)

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại có đặc điểm và xu hướng phát triển mới và chuyển sang giai đoạn mới là cuộc cách mạng về công nghệ

Nguyên nhân chính của cuộc cách mạng công nghệ do xuất hiện những vấn đề mang tính toàn cầu từ giữa những năm 1970, như vấn đề cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng về năng lượng, ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số, an ninh lương thực, Nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng sâu sắc buộc phải có cuộc cách mạng công nghệ để thoát khỏi tình trạng này Cuộc cách mạng công nghệ đã diễn ra nhanh chóng và sâu rộng trên mọi lĩnh vực

Trang 9

o Lĩnh vực năng lượng: điện vẫn là nguồn năng

lượng chủ đạo trong hệ thống công nghệ Tuy nhiên, các nguồn năng lượng sơ cấp để sản xuất điện như năng lượng hạt nhân, các dạng năng lượng tái tạo vô tận như nước, gió, mặt trời,

đã có những bước tiến đáng kể và vẫn đang mở

ra các triển vọng to lớn Các công nghệ giúp tiết kiệm năng lượng cũng ra đời

o Lĩnh vực điện tử và công nghệ thông tin: Sáng chế transito ra đời năm 1947

và công nghệ bán dẫn ra đời và phát triển sau đó là những bước đột phá quan trọng trong kỷ nguyên điện tử và tin học hiện đại Trên cơ sở các mạnh tổ hợp, máy tính phát triển rất nhanh theo hai hướng (1) máy tính cực lớn có tốc độ tính toán đến 10 tỷ phép tính trong một giây vào năm 2000, hiện nay tốc độ tính toán còn cao hơn gấp nhiều lần (2) máy vi tính cá nhân có thể liên kết thành mạng lưới toàn cầu với vai trò của Internet

o Vi điện tử kết hợp với kỹ thuật số: đã làm biến đổi tận gốc hệ thống thông tin

viễn thông, tạo ra quá trình tự động hóa cao trong sản xuất

o Công nghệ sinh học hiện đại: đem lại những biến đổi mang tính chất cách

mạng trong các lĩnh vực tạo giống, phân bón, thuốc trừ sâu và công nghiệp chế biến nông sản Công nghệ sinh học được sử dụng để chống lại ô nhiễm môi trường do phế thải công nghiệp và nông nghiệp tạo ra Công nghệ gen đã

và đang tạo ra những biến đổi quan trọng trong việc chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh

o Lĩnh vực vật liệu: các loạt vật liệu mới, đa dạng đã được tạo ra nhằm đáp ứng

nhu cầu trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống Công nghệ và công nghiệp chất dẻo phát triển rất nhanh và sôi động, tạo ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp và tiêu dùng

Có thể thấy rằng, trong giai đoạn từ 1970 của thế kỷ 20 đến nay, khoa học công nghệ ngày càng thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực kinh tế và xã hội Việc nghiên cứu khoa học công nghệ không còn là vấn đề của riêng khoa học công nghệ mà là

sự tương tác của nhiều nhân tố Khi đó nội dung về nghiên cứu khoa học công nghệ không thể do một hoặc hai chuyên gia quản trị công nghệ có thể giải quyết được mà cần có đội ngũ lãnh đạo tập thể bao gồm nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực, được chuyên môn hóa và trang bị lý luận quản trị công nghệ hiện đại

Dựa vào phần khái niệm và phạm vi quản trị công nghệ đã trình bày ở trên, mục tiêu quản trị công nghệ sẽ được xem xét theo hai cấp độ sau đây:

 Quốc gia

o Quản trị công nghệ chú trọng vào việc xây dựng các chính sách để tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ đồng thời đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững và ngăn ngừa các tác động xấu của công nghệ gây ra cho con người và môi trường tự nhiên

Trang 10

o Quản trị công nghệ cũng nhằm nâng cao dân

trí và mặt bằng khoa học để tiếp thu các tiến

bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới, qua đó có thể lựa chọn, tiếp thu và làm chủ các công nghệ nhập ngoại

o Quản trị công nghệ cũng nhằm tăng cường

năng lực công nghệ, tăng cường khả năng cải tiến và đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa công nghệ truyền thống nhằm tạo ra chất lượng sản phẩm, dịch vụ cao hơn, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nước, tiến tới đẩy mạnh xuất khẩu, dần dần tiếp cận trình độ công nghệ khu vực và thế giới

o Quản trị công nghệ cũng nhằm phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, xây dựng được đội ngũ trí thức vững về chuyên môn, có nhiệt huyết xây dựng và phát triển nền công nghệ quốc gia, xây dựng cơ sở hạ tầng cho khoa học và công nghệ

 Doanh nghiệp

o Quản trị công nghệ trong doanh nghiệp nhằm đưa ra những quyết định khôn khéo và tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Ví dụ: Hãng sản xuất giày Nike đã thành công khi sử dụng chiến lược khai

thác công nghệ đa dạng và hiệu quả Tại Châu Á, Nike chỉ cần cung cấp các thông số kỹ thuật về vật liệu sử dụng, thể thức kiểm soát chất lượng sản phẩm, không cần mở chi nhánh hay bán sáng chế Ban đầu, các xưởng sản xuất giày của Nike được đặt toàn bộ tại Hàn Quốc và Đài Loan Nhưng, ngay khi lương

và giá thành sản xuất tăng tại đây, Nike đã tìm kiếm các nguồn sản xuất khác Đây chính là quyết định khôn khéo, giảm tổn thất và tăng sức cạnh tranh của Nike Ví dụ này sẽ được xem kỹ hơn ở mục 2.5

o Quản trị công nghệ trong doanh nghiệp cũng nhằm hiểu rõ năng lực của đối thủ

và đi trước đối thủ một bước trong việc đổi mới công nghệ

o Quản trị công nghệ cũng nhằm tiết kiệm mọi nguồn lực, tránh lãng phí và đảm bảo tối ưu hóa sản xuất

o Quản trị công nghệ cũng nhằm giúp doanh nghiệp giành chiến thắng khi tung

ra một sản phẩm mới hay một chiêu thức marketing mới nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hiện có

o Quản trị công nghệ giúp doanh nghiệp có các quyết định chính xác mang tính chiến lược về tài chính và phân phối vốn vì nó quyết định việc doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ nào, sản xuất sản phẩm nào, có bao nhiêu dự án đổi mới cần triển khai và vốn của mỗi dự án là bao nhiêu, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu – triển khai như thế nào bao gồm cả việc nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ doanh nghiệp

o Quản trị công nghệ cũng nhằm đảm bảo nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc sắp xếp hợp lý nguồn nhân lực cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thông qua kế hoạch đào tạo, quy hoạch cán bộ cho phù hợp

Ngày đăng: 11/07/2022, 03:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Hiểu rõ quá trình hình thành và phát triển của QTCN;  - CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
i ểu rõ quá trình hình thành và phát triển của QTCN; (Trang 1)
4. Trình bày quá trình hình thành và phát triển của quản trị công nghệ? - CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
4. Trình bày quá trình hình thành và phát triển của quản trị công nghệ? (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w