ĐẶC ĐIỂM TÍCH HỢP CỦA CHƯƠNG TEM-PLESTAY TRONG BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO TẠI HÀN QUỐC Phan Thị Thu Hiền* TÓM TẮT Bài viết này của chúng tôi tập trung vào đặc điểm tíc
Trang 1ĐẶC ĐIỂM TÍCH HỢP CỦA CHƯƠNG
TEM-PLESTAY) TRONG BẢO TỒN, PHÁT HUY DI
SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO TẠI HÀN QUỐC
Phan Thị Thu Hiền*
TÓM TẮT
Bài viết này của chúng tôi tập trung vào đặc điểm tích hợp của chương trình Templestay như một trong những bí quyết giúp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Phật giáo ở Hàn Quốc Bài viết góp phần nghiên cứu một hình thức du lịch gắn với chùa chiền từ các phương diện đa dạng của tiếp biến văn hóa, biến đổi văn hóa, quan
hệ giữa văn hóa tôn giáo và văn hóa dân tộc trong thời đại văn hóa đại chúng và toàn cầu hóa Liên hệ với một số chương trình ở Việt Nam có thể xem là tương đương với Templestay ở Hàn Quốc, chúng tôi hy vọng rút ra một số gợi ý có ý nghĩa thực tiễn
MỞ ĐẦU
Qua gần 20 năm, chương trình Trải nghiệm ở chùa (Templestay)
đã ngày càng phát triển thuần thục, tạo được ảnh hưởng tích cực đối với nhiều phương diện văn hóa, kinh tế của Hàn Quốc, gợi ra nhiều vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tuy nhiên, trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, sự quan tâm của giới học thuật, cả thế tục lẫn tu sĩ, ở Hàn Quốc cũng như quốc tế, đối với đề tài này vẫn còn khá khiêm tốn
* GS.TS., Trường ĐHKHXH&NV - ĐH Quốc gia TP HCM, Việt Nam.
Trang 2Giới thiệu khái quát về chương trình có thể tìm thấy trong cuốn sách Journey to Korean temples and Templestay (Hành trình tới những
ngôi chùa Hàn Quốc và Templestay) của Jang Eunhwa 2009; chương
8: “Temple Stay Programme” (Chương trình Temple Stay) trong tập tài liệu The Impact of Culture on Tourism (Tác động của văn
hóa đối với du lịch, 2009) do OECD1 thực hiện; An Encyclopedia
of Korean Buddhism (Bách khoa thư về Phật giáo Hàn Quốc, 2013)
do Hòa thượng Heywon và David A Mason biên soạn; phần viết
“Contemporary Korean Buddhist Traditions” (Những truyền thống
Phật giáo Hàn Quốc đương đại”, 2017) của Mark A Nathan trong
bộ sách Oxford Handbook of Contemporary Buddhism (Sách chỉ dẫn
về Phật giáo đương đại của Oxford) Nghiên cứu chuyên sâu hơn
mới chỉ có một số bài báo khoa học: Uri Kaplan 2010 nhấn mạnh ý nghĩa của chương trình Templestay trong việc tái xây dựng thương hiệu những ngôi chùa như bảo tàng sống quảng bá văn hóa Phật giáo và văn hóa truyền thống Hàn Quốc; Wei Wang 2011 chủ yếu tìm hiểu Temple Stay với tư cách một sản phẨm du lịch thành công; John Lee 2015 khẳng định ý thức toàn cầu hóa hình ảnh dân tộc qua chương trình Templestay chính là tiếp nối truyền thống Phật giáo hộ quốc từ thời Silla của xứ sở này; Achim Bayer 2016 xem Templestay là cách biến chuyển và thích ứng văn hóa của Phật giáo Hàn Quốc để tiếp tục tồn tại và phát triển
Kế thừa các học giả đi trước, bài viết này của chúng tôi tập trung vào đặc điểm tích hợp của chương trình Templestay, góp phần giải quyết tranh luận giữa các học giả xoay quanh câu hỏi sự bùng nổ loại hình du lịch Templestay như một hình thức văn hóa đại chúng
có tác động tích cực hay tiêu cực trong bảo tồn, phát huy di sản Phật giáo Hàn Quốc Vận dụng các lý thuyết Chức năng luận, Cấu trúc luận, Quá trình luận (Giao dịch luận), với các phương pháp hệ thống, liên ngành, dựa trên kết quả điền dã của chúng tôi từ tháng
3 đến tháng 11 năm 2018, bài viết này hy vọng có những đóng góp mới khi tìm hiểu chương trình Templestay từ các phương diện đa
1 OECD là chữ viết tắt của Organization for Economic Co-operation and Development, Hiệp hội Hợp tác và Phát triển Kinh tế của các nước Úc, Áo, Bỉ, Canada, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Netherlands, New Zealand, Na Uy, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Cộng hòa Slovak, Tây Ban Nha, Sweden, Switzerland, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ).
Trang 3dạng của tiếp biến văn hóa, biến đổi văn hóa, quan hệ giữa văn hóa tôn giáo và văn hóa dân tộc trong thời đại văn hóa đại chúng và toàn cầu hóa Liên hệ với một số chương trình ở Việt Nam có thể xem là tương đương với Templestay ở Hàn Quốc, chúng tôi hy vọng rút ra một số gợi ý có ý nghĩa thực tiễn
1 BỐI CẢNH PHẬT GIÁO HÀN QUỐC
Chính thức du nhập vương quốc Goguryeo ở phía Bắc bán đảo vào năm 372, cho đến nay, Phật giáo đã thâm nhập đời sống dân tộc Hàn hơn 17 thế kỷ và để lại một di sản những giá trị văn hóa vật chất
và tinh thần vô cùng phong phú
Dưới thời Silla thống nhất (668-935), Phật giáo trở thành quốc giáo và giữ vững địa vị thống lĩnh đến hết thời Goryeo (918-1392)
Từ thời Joseon (1392-1897), Nho giáo nắm địa vị độc tôn, chèn ép, đàn áp Phật giáo ngày càng khắc nghiệt, đuổi Tăng chúng ra khỏi kinh đô, cuối cùng trên toàn bán đảo chỉ còn 36 ngôi chùa được triều đình công nhận, phần lớn chùa chiền phải lui về nơi núi thẳm rừng sâu Sự tích hợp vốn có với Nho giáo bị đánh mất, trong khi
đó, sự hòa đồng của Phật giáo với tín ngưỡng bản địa Shaman giáo
và Đạo giáo dân gian khiến Phật giáo càng bị văn hóa dòng chủ lưu xem thường Địa vị Phật giáo sa sút nghiêm trọng vào cuối thời Trung đại
Phật giáo phần nào được vực dậy trong giai đoạn 35 năm Nhật thuộc (1910-1945) dù sự ủng hộ Phật giáo của thực dân Nhật nằm trong âm mưu đồng hóa văn hóa tinh thần của Korea Quy định
về bảo tồn di sản của Korea do Nhật Bản ban hành đã mở đầu cho cuộc tổng kiểm kê, bảo trì, phục dựng các di sản quốc gia của Korea
mà kết quả là danh sách lập năm 1945 bao gồm 591 di sản trong
đó đa số là các di sản Phật giáo Kế tiếp công cuộc đó, chính quyền Tổng thống Park Chung Hee tiếp tục mở rộng sưu tầm, điều tra, bổ sung danh sách di sản, và năm 1962 đã ban hành Luật bảo quản di sản văn hóa (Munhwajae Pohobop), và Luật quản lý di sản Phật giáo (Pulgyojaesan Kwallibop), quan tâm tái thiết các ngôi chùa ở các đô thị, cấp chứng chỉ quốc gia cho những ngôi chùa di sản, nâng dần
uy tín của Phật giáo Qua ba thập niên 60, 70, 80, hệ thống thu vé
ở những ngôi chùa di sản được chính phủ cho phép đã tạo nguồn kinh phí quan trọng tu bổ chùa chiền Hệ thống công viên quốc gia
Trang 4được xây dựng bắt đầu từ 1967 khiến nhiều ngôi chùa di sản được bao quanh bởi những công viên có hạ tầng giao thông được cải thiện tạo thuận lợi cho khách tham quan Liên kết giữa Nhà nước
và Phật giáo bắt đầu gắn bó lại sau gần 600 năm đứt đoạn
Hiện nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông thứ hai
ở Hàn Quốc Tuy nhiên, trong khi Tin Lành nắm vai trò thống lĩnh thì Phật giáo chủ yếu là tôn giáo ngoại vi, bên lề, tôn giáo của nông thôn, người già, phụ nữ, đến mức được gọi là Phật giáo Váy (Chima
Bulgyo), Phật giáo Bà già (Halmeoni Bulgyo) Không phải đã không
có những giai đoạn người ta cảnh báo về những nỗ lực biến Hàn Quốc thành đất nước của đạo Tin Lành, và theo đó là những chèn
ép đối với Phật giáo, đe dọa hòa bình tôn giáo ở Hàn Quốc
Từ khi du nhập, Thiền tông được người Hàn xem như ánh sáng hoàng kim của Phật giáo, thậm chí, tông phái duy nhất xứng đáng gọi là Phật giáo2 Quan điểm này vẫn duy trì đến tận ngày nay Dòng Thiền Jogye (Tào Khê) có lịch sử hơn 1.200 năm, với hơn 2.500 ngôi chùa và khoảng 18.000 Tăng, Ni, hiện nay giữ địa vị thống lĩnh gần như tuyệt đối Từ những năm 1980, Jogye đã chính thức công
bố sự thay đổi chiến lược từ quan điểm nhấn mạnh tu thiền chính thống, nghiêm ngặt tới các phương tiện mềm dẻo hơn để tương tác với cộng đồng xã hội, tăng cường quan hệ với Phật tử, tín đồ Từ đó, chùa chiền mở cửa, chào đón Phật tử, tín đồ, khách tham quan, các buổi thuyết pháp cho công chúng được phát triển rộng rãi
Như vậy, dù tương đồng với Phật giáo Việt Nam về lịch sử lâu dài, Phật giáo Korea cũng có những khác biệt quan trọng Ở Việt Nam, ngay cả những thời kỳ Nho giáo nắm uy quyền, tinh thần tam giáo đồng nguyên vẫn tiếp tục gắn bó hòa hợp Phật giáo với Nho giáo, Đạo giáo; Phật giáo ra khỏi cung đình trở về với dân gian vẫn phát triển sâu rộng, mạnh mẽ “Mái chùa che chở hồn dân tộc / Nếp
sống muôn đời của tổ tông”; và ngày nay, Phật giáo là tôn giáo lớn
nhất, thống lĩnh nhất Trong khi đó, Phật giáo ở Korea tiêu trầm gần
600 năm trước thời hiện đại, muốn phục hưng truyền thống của mình, phải nỗ lực rất nhiều để nối lại những gắn bó với các nguồn mạch văn hóa truyền thống khác; phải tìm liên kết, hỗ trợ từ chính
2 Roger Leverrier 1972: “Buddhism and Ancestral Religious Beliefs in Korea” Korea Journal Vol 12, No, 5, May 1972, tr 40.
Trang 5quyền; và nhất là, phải xây dựng, mở rộng quan hệ với dân chúng
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH TEMPLESTAY VÀ NHẬN THỨC VỀ ĐẶC ĐIỂM TÍCH HỢP CỦA CHƯƠNG TRÌNH
Chương trình Templestay ra đời năm 2002 khi Hàn Quốc đồng
tổ chức (cùng Nhật Bản) FIFA World Cup, khoảng 1,2 triệu du khách có nhu cầu lưu trú trong hơn 1 tháng giải đấu dẫn đến sự thiếu hụt nguồn khách sạn, nhà nghỉ các loại Chính phủ Hàn Quốc
đã đề nghị sự hợp tác của tông phái Jogye (lúc đó cai quản đến 840 ngôi chùa trong số 870 ngôi chùa thuộc quản lý nhà nước) mở cửa các ngôi chùa đáp ứng nhu cầu du khách Ban đầu cũng có những phản đối, tuy nhiên sau đó, Jogye đồng tình và còn sáng kiến cung cấp không chỉ chỗ ở mà cả cơ hội cho du khách trải nghiệm cuộc sống ở chùa Mục tiêu kép quảng bá văn hóa Phật giáo Hàn Quốc đồng thời quảng bá văn hóa truyền thống Hàn Quốc được thể hiện rất rõ qua thông điệp của Hòa thượng Do Young, lãnh đạo tông phái Jogye:
“Phật giáo Hàn Quốc mở cửa những ngôi chùa gìn giữ 1.700 năm lịch sử và truyền thống cho những du khách khắp nơi trên thế giới… Chúng tôi mời các bạn đến với nơi chốn cổ kính hướng tới hòa điệu giữa thiên nhiên và đến với nguyên lý Duyên khởi của Đức Phật về thiên nhiên, ta cùng tha nhân không biện biệt mà tương thông nhất như Ở nơi đây, các bạn có thể chiêm nghiệm nội tâm chân thực của chính mình
và có thể trải nghiệm thấm thía một lát mỏng văn hóa Hàn Quốc.”3
33 ngôi chùa tham gia đề án này, trong 42 ngày từ 20/5 đến 30/6/2002 đã đón 991 người nước ngoài, phần lớn đến từ Âu Mỹ, tham gia cả các nghi thức tụng kinh và lạy Phật
Phản ứng tích cực của du khách khiến đề án được tiếp tục với Asian Games trong cùng năm đó được tổ chức tại thành phố Busan
14 ngôi chùa, trong 36 ngày, từ 26/9 đến 30/10 đã tiếp đón 1.567
du khách, trong đó, 268 người nước ngoài, lần này chủ yếu đến từ các nước châu Á, chỉ chiếm 17,1 %, còn người Hàn (1.299 người) chiếm tới 81,9% Niềm tin được củng cố rằng những giá trị văn hóa
3 The Committee for Buddhist Temple Stay, Temple Stay Guide Book (Seoul: The Chogye Order, 2004), tr 1.
Trang 6Phật giáo Hàn Quốc nói riêng, những giá trị văn hóa truyền thống Hàn Quốc nói chung trong chương trình Templestay có sức thu hút Phương Tây thì cũng hấp dẫn du khách Phương Đông và ngay chính những người dân Hàn Quốc
Sự kiện thứ ba là chương trình Thế vận hội sinh viên quốc tế World University Games diễn ra tại “thành phố đại học” Daegu ngay trong năm sau, 2003 16 ngôi chùa, trong thời gian tháng 7 đến tháng 12, đã tiếp đón 3.755 du khách, từ khắp nơi trên thế giới cũng như từ các địa phương của Hàn Quốc Daegu Universiad cho thấy Templestay hoàn toàn có thể chinh phục những người trẻ tuổi,
có học vấn cao
Ban Văn hóa Phật giáo Hàn Quốc - thuộc tông phái Phật giáo Jogye, nhận được tài trợ một phần của Bộ Văn hóa, Thông tin và
Du lịch Hàn Quốc - được thành lập năm 2004 đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong chương trình Templestay Từ 2004, Templestay không chỉ gắn với một sự kiện lớn đột xuất nào đó mà được tổ chức quanh năm
Đi vào vận hành thường kỳ, chương trình Templestay đôi khi vẫn tiếp tục bị phản đối bởi một số trong giới tu sĩ rằng du khách làm mất đi sự tĩnh lặng cần thiết cho tu tập ở các ngôi chùa, và việc tăng chúng tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch làm suy giảm chất lượng tinh thần của tôn giáo Điển hình gay gắt như ý kiến của Hòa thượng Song Chol, tông trưởng thứ bảy của tông phái Jogye, trong trả lời phỏng vấn năm 1980:
“Chùa là mandala của Phật để trui rèn những cột trụ chân lý và
vì vậy, chúng tôi phản đối tư tưởng phát triển những ngôi chùa thành những công viên giải trí công chúng Chúng tôi phản đối những kế hoạch phát triển có tính hủy diệt của chính phủ”.4
Tuy nhiên, xu hướng chung vẫn là nỗ lực tìm được tiếng nói chung, sự hợp tác giữa hai bên Trong tài liệu truyền thông cập nhật nhất (tháng 8/2018), Ban Văn hóa Phật giáo Hàn Quốc xác định Templestay là “chương trình trải nghiệm cuộc sống ở chùa tại những
4 Yong-eui Park, trans., ‘‘A Reply To Professor Bieder’s Questions,’’ Lotus Lantern, 30 (Summer 2007), tr 27.
Trang 7ngôi chùa có lịch sử và văn hóa lâu đời của Hàn Quốc”5 thể hiện rõ cái nhìn về chủ thể ngôi chùa, cuộc sống tu viện như một thành tố của văn hóa truyền thống Hàn Quốc Việc Ban Văn hóa Phật giáo Hàn Quốc tự xác định vị thế “là cơ quan đi đầu quảng bá văn hóa truyền
thống của Hàn Quốc trong nhiều lĩnh vực đa dạng như hành hương,
ẩm thực chay, Templestay… trên nền tảng tài nguyên văn hóa phong phú của lịch sử Phật giáo Hàn Quốc 1.700 năm”6 cũng cho thấy quan điểm vận dụng tài nguyên văn hóa Phật giáo để quảng bá văn hóa truyền thống của dân tộc
Sự nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc như vậy, quả thực, đã tiếp nối truyền thống Phật giáo hộ quốc (Hogukpulgyo) từ thời Silla của Phật giáo xứ sở Kimchi Thêm nữa, thời hiện đại, trong tương quan với thế mạnh của Kito giáo, đạo Tin Lành ở Hàn Quốc do liên kết với ảnh hưởng phương Tây, liên kết với phát triển, văn minh và bối cảnh toàn cầu thì nỗ lực của Phật giáo Hàn Quốc gắn bó cùng những giá trị phương Đông, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc
là một quan điểm chiến lược sắc bén, hiệu quả
Năm 2009 đánh dấu giai đoạn phát triển cao hơn nữa của chương trình Templestay Chính phủ Hàn Quốc chính thức phê duyệt và thực hiện kế hoạch tài trợ khoảng 250 tỷ won (hơn 230 triệu dollar Mỹ) trong 10 năm từ 2009 đến 2019 cho Templestay
để phát triển du lịch Hàn Quốc Cũng từ 2009, Ban Văn hóa Phật giáo Hàn Quốc xây dựng tạp chí Templestay phát hành hàng quý và một website chuyên nghiệp truyền thông, quản lý, tiếp thị chương trình trên toàn quốc Và chương trình Templestay ngày càng phát triển Lượng du khách không ngừng tăng qua các năm, bao gồm cả
du khách nội địa lẫn quốc tế, trong đó, thị phần nội địa luôn luôn chiếm hơn 85% (xem bảng 1)
5 Templestay, Chuyến du hành vì hạnh phúc của mình Phật giáo Hàn Quốc Tào Khê tông
Ban Văn hóa Phật giáo Hàn Quốc, 8/2018, tr 11
6 Templestay, Chuyến du hành vì hạnh phúc của mình Sđd, tr 4
Trang 8Bảng 1 Số người tham gia Templestay theo năm (từ 2005 đến 2017) [Biểu đồ
do Ban Văn hóa Phật giáo Hàn Quốc lập 7 ]
Năm 2017, tổng số du khách tham gia lên đến gần 500.000 người; chương trình được thực hiện tại 130 ngôi chùa trên toàn quốc, với 26 ngôi chùa có chương trình chuyên dành cho người nước ngoài
Có thể nói, Templestay từ một giải pháp về cơ sở lưu trú có tính tình thế đã dần trở thành một loại hình du lịch đại chúng được tông phái Phật giáo Jogye và Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch Hàn Quốc đầu tư chiến lược phát triển Dù cuộc tranh luận giữa các quan điểm trái ngược nhau về ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của Templestay trong quan hệ với bảo tồn tính nguyên gốc của Phật giáo vẫn chưa đến hồi kết thúc, nhìn chung, mục tiêu quảng bá văn hóa Phật giáo Hàn Quốc gắn bó làm một với, hợp nhất với văn hóa dân tộc Hàn Quốc nhằm nâng cao hình ảnh Phật giáo Hàn Quốc trong nước cũng như nâng cao hình ảnh Hàn Quốc trên trường quốc tế vẫn được nhận thức một cách tự giác ngày càng sâu sắc và nỗ lực triển khai ngày càng hiệu quả
Ở Việt Nam, một số chương trình có điểm tương đồng nhất định phần nào có thể so sánh với Templestay Hàn Quốc bao gồm những “khóa tu một ngày”, “khóa tu mùa hè” Các chương trình này đều trải nghiệm ở chùa, và đều hướng tới không chỉ Phật tử, tín đồ
mà cả những đối tượng không / chưa theo Phật giáo Tuy nhiên, khác biệt ở chỗ, như chính tên gọi của chúng, các chương trình này,
về cơ bản, là “khóa tu”, chủ yếu thuộc về hoạt động hoằng pháp, nên chỉ do các tổ chức Phật giáo, các ngôi chùa triển khai
7 Templestay, Chuyến du hành vì hạnh phúc của mình Sđd, tr 12.
Trang 93 ĐẶC ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH TEMPLESTAY
3.1 Chương trình tiêu chuẩn và những biến thể đa dạng
Chương trình Templestay có 3 kiểu thức khác nhau
Phổ biến nhất là kiểu thức Trải nghiệm (Experience-oriented
Templestay) 2 ngày 1 đêm, thường check-in lúc 2 hoặc 3 giờ chiều
và check out lúc 11:00 hoặc 12:00 giờ trưa hôm sau Nội dung được sắp xếp theo thời gian biểu bao gồm các hoạt động chính: (1) tham quan chùa, (2) lễ Phật, (3) 108 lạy, (4) trải nghiệm 4 pháp khí thiền môn, (5) thực hành một hình thức nghệ thuật thủ công truyền thống [làm chuỗi hạt hoặc làm đèn lồng hoa sen…], (6) ăn cơm theo cách của nhà sư, (7) trà đàm cùng nhà sư, (8) tham thiền Tương đối thống nhất trong một khung chung như vậy, các ngôi chùa được khuyến khích đa dạng hóa chương trình với nhiều sắc thái tạo nên thương hiệu riêng của từng ngôi chùa Qua nghiên cứu điền dã Templestay nửa cuối năm 2007 ở hơn 20 ngôi chùa, Uri Kaplan 2010 đã ghi nhận khá phong phú các hoạt động như vậy, đặc biệt là về trải nghiệm nghề thủ công truyền thống [trải nghiệm làm gốm sứ ở Kapsa, làm giấy truyền thống ở Chondungsa, làm bản khắc gỗ ở Taehungsa, làm phong bì truyền thống ở Samunsa, làm
xà phòng truyền thống ở Popchusa, nhuộm truyền thống với chất liệu tự nhiên ở Kuryongsa, làm diều ở Hongbopsa, làm bánh gạo ở Jinkwansa] và nghệ thuật biểu diễn truyền thống [múa trống, múa mặt nạ ở Hongbopsa]… Chính chúng tôi, qua nghiên cứu điền dã
từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2018 thì ấn tượng với các hình thức thiền phong phú bên cạnh tọa thiền tương dối quen thuộc, như thiền hành qua các lớp thành cổ ở Jeondeungsa; thiền rừng, thiền suối ở Baekdamsa, Jinkwansa, Geumsunsa; thiền võ đạo (Sunmu-do) ở Golgulsa…
Chương trình trải nghiệm tiêu chuẨn như trên thường được bổ sung những hoạt động đặc biệt trong những lễ hội của chùa, những
sự kiện đặc biệt theo lịch Phật giáo hoặc những thời điểm đặc biệt trong năm Chẳng hạn, Uri Kaplan 2010 đã đề cập Templestay với hoạt động trải nghiệm làm kimchi trong tháng 12 ở nhiều chùa, trải nghiệm làm bánh bao dịp Tết ở Golgulsa, Templestay dịp
Lễ hội Tam tạng kinh ở Haeinsa Bản thân chúng tôi đã tham dự
Trang 10Templestay tại Trung tâm Thiền Quốc tế Seoul dịp Yeon Deung Hoe (Nhiên đăng hội) đón mừng Phật đản 2018 với sự thêm vào của hoạt động rước đèn lồng hoa sen; Templestay tại chùa Golgulsa dịp lễ Phật đản 2018 với sự thêm vào các nghi lễ Phật đản, các thời kinh và Pháp thoại đặc biệt cho dịp này, lễ rước đèn lồng hoa sen,
ca vũ dân gian với chủ đề Phật giáo, và riêng về Thiền võ đạo, bên cạnh các hoạt động thường nhật như võ thuật, cung tên còn có biểu diễn cưỡi ngựa…
Kiểu thức thứ hai là Templestay trong ngày, không nghỉ đêm tại
chùa (One-day Templestay), kéo dài khoảng 2 đến 3 tiếng đồng hồ,
rút gọn chương trình trải nghiệm tiêu chuẨn, dành cho những du khách bận rộn đến ngôi chùa gần nơi cư trú của mình Chương trình gồm 3 hoạt động chính: (1) viếng chùa, (2) ngồi thiền, (3) trà đạo Chúng tôi đã tham dự chương trình Templestay “A scent of Millennium” (Một làn hương thiên niên kỷ) từ 9:00 đến 12:00 sáng
ở Bulguksa với các hoạt động tour viếng chùa, trà đàm với sư, làm chuỗi hạt cầu nguyện; và đã tham dự Daily Templesaty with Night View (Templestay thường nhật - Ngắm cảnh chùa ban đêm) tổ chức vài ngày hàng tháng ở Jogyesa, từ 7:00 đến 10:00 tối, bao gồm viếng chùa, lễ Phật, viết thẻ nguyện cầu treo lên cây trong chùa, trà đạo, trải nghiệm làm và thưởng thức bánh đậu, làm đèn lồng hoa sen, xem biểu diễn văn nghệ
Kiểu thức thứ ba là Templestay Thư giãn (Rest-oriented) linh hoạt, mở rộng về thời gian tùy theo du khách Ngôi chùa trở thành nơi nghỉ ngơi cho thân tâm mệt mỏi của du khách để anh ta / cô ta
có cơ hội rời xa sinh hoạt hàng ngày bận rộn, hít thở thiên nhiên và khôi phục sinh lực qua các nghi lễ Phật giáo, thiền định, trải nghiệm cuộc sống thường nhật trong chùa mà mình tự ý lựa chọn tham gia Các chương trình thiền chính thống, theo kỷ luật nghiêm ngặt tại chùa thuộc về tu tập, nhìn chung không được xếp loại như một kiểu thức Templestay
Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các khóa tu một ngày Trường hợp điển hình có thể kể là chùa Giác Ngộ, 92 Nguyễn Chí Thanh, Phường 3, Quận 10, TP Hồ Chí Minh với khóa tu Một ngày an lạc (6 tiếng buổi sáng chủ nhật, 2 lần/tháng) chủ yếu dành cho đối tượng trung và lão niên; khóa tu Tuổi trẻ hướng Phật (5 tiếng buổi