Mục đích nghiên cứu Đ ề tài tập trung phân tích các tác động từ việc cắt giảm thuế quan theo các cam kết của V N khi gia nhập WTO đối với các doanh nghiệp V N điển hình thuộc các ngành
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN N G À N H KINH TÊ ĐÔI NGOẠI
Trần Thị Lan Trung 3
44
TS Bùi Thị Lý
H à Nội, 05/2009
Trang 3M Ụ C L Ụ C
L Ờ I M Ở Đ Ầ U Ì
C H Ư Ơ N G ì - C A M K Ế T V Ề T H U Ê Q U A N C Ủ A VIỆT N A M K H I GIA
N H Ậ P W T O 3 1.1 Nguyên tắc hoạt động và một số quy định về thuế quan của WTO 3
1.1.1 Nguyên tắc hoạt động của WTO 3
1.1.2 Quy định về thuế quan của WTO 9
1.2 Cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO 12
1.2.2 NhẮng cam kết thuế đối với thương mại hàng hóa 15
Ì 3 Đánh giá các cam kết thuế quan của Việt Nam 20
2.2 Một số tác động chủ yếu tới doanh nghiệp Việt Nam 29
2.2 Ì Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 29
2.2.2 NhẮng tác động tới doanh nghiệp V N từ cam kết cắt giảm thuế quan 32
2.3 NhẮng tác động chủ yếu tới một số doanh nghiệp cụ thể 41
2.3 Ì Đối vói doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp 41
2.3.2 Đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại 45
C H Ư Ơ N G ra - GIẢI P H Á P N H Ằ M P H Á T HUY T Á C Đ Ộ N G T Í C H
Cực, H Ạ N C H Ê T Á C Đ Ộ N G TIÊU cực T Ừ C A M K Ế T C Ắ T G I Ả M
T H U Ế Q U A N Đ Ố I V Ớ I DNVN KHI GIA NHẬP WTO 52
3.1 Nhóm giải pháp đối với Nhà nước 52
Trang 43.1.1 Tận dụng triệt để về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước
đang và chậm phát triển 52
3.1.2 Tiếp tục tích cực đàm phán hơn nữa để sớm loại bỏ quy chế về "kinh tế
phi thị trường" 53 3.1.3 Vận dụng quy tắc và quy chế của WTO để ừng phó có hiệu quả đối với
các tranh chấp thương mại 53
3.1.4 Từng bước xóa bỏ mọi hình thừc bao cấp 54
3.1.5 Tiếp tục bảo hộ bằng thuế đối với một số ngành hàng cần hỗ trợ 55
3 Ì 6 Thúc đẩy quá trình hoàn thiện hệ thống, cơ chế pháp luật 56
3.1.7 Thực hiện cải cách thủ tục hành chính 57
3.1.8 Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng 59
3.1.9 Thúc đẩy cải cách doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) 60
3.1.10 Hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trong nước 61
3.2 N h ó m giải pháp đối với doanh nghiệp 66
3.2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh 66
3.2.2 Chủ động hơn nữa về nguồn nguyên, vật liệu phục vụ cho hoạt động sản
xuất lánh doanh 70
3.2.4 Xây dựng thương hiệu vững mạnh 72
3.2.5 Tăng cường sự hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp 73
3.2.6 Củng cố cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng 74
3.2.7 Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực 77
3.2.8 Triển khai thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 5LỜI M Ở Đ Ầ U
/ Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại
T h ế giới (WTO) vào ngày 11/1/2007; đây là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Những thành tựu đạt được trong 2 năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan
và x u thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sẩc trên thế giới hiện nay
Việc gia nhập WTO cùng với các cam kết gia nhập, đặc biệt là các cam kết cẩt giảm thuế quan đem lại nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp trong nước thông qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thương mại và đầu tư nước ngoài cũng như cơ cấu lại nguồn thu ngân sách Nhà nước; mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp VN Trong đó, phải kể đến những thuận lợi như: mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hoa Việt Nam, tiếp cận dễ dàng với khoa học - công nghệ cao, nguồn vốn lớn, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoa Bên cạnh đó, việc V N giảm thuế nhập khẩu đã tạo điều kiện cho nhiều hàng hoa đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với mức giá hợp lý, giúp các doanh nghiệp V N hướng tới nâng cao hiệu quả nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn Tuy nhiên, trên thực tế cũng mang lại không ít khó khăn, thách thức, thậm chí là những tác động tiêu cực không chỉ đối với công tác hoạch định chính sách và quản lý Nhà nước m à còn đối với cộng đồng doanh nghiệp VN
Vậy trong thực tiễn các doanh nghiệp V N đã chịu những tác động như thế nào kể từ khi V N thực hiện các cam kết thuế quan trong WTO Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu những tác động của cam kết cẩt giảm thuế quan trong WTO và tìm ra các giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực đối với các doanh nghiệp V N khi gia nhập WTO là một việc hết sức quan trọng, cần thiết làm tiền đề vững chẩc cho các doanh nghiệp V N trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chính vì lý do này, người viết đã chọn đề tài "Tác động của cam kết cắt
giảm thuế quan khi gia nhập WTO đối với doanh nghiệp Việt Nam" làm đề tài
nghiên cứu cho khoa luận tốt nghiệp của mình tại trường Đ ạ i học Ngoại Thương Khoa luận đi sâu vào phàn tích những tác động cụ thể của các cam kết cẩt giảm thuế quan k h i gia nhập WTO đến các doanh nghiệp V N trên hai khía cạnh: tác động tích cực và tác động tiêu cực Tuy nhiên, khoa luận tập trung chủ yếu vào phán tích những tác động cụ thể của cam kết cẩt giảm thuế quan đối với một số doanh nghiệp
Trang 6điển hình thuộc hai lĩnh vực chính chịu ảnh hưởng chủ yếu từ cam kết thuế quan là: nông nghiệp và công nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Đ ề tài tập trung phân tích các tác động từ việc cắt giảm thuế quan theo các cam kết của V N khi gia nhập WTO đối với các doanh nghiệp V N điển hình thuộc các ngành hàng chính, qua đó đưa ra một số gợi ý cho các doanh nghiệp V N trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm phát huy nhửng ảnh hưởng tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực từ việc cắt giảm thuế của các cam kết đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nhửng tác động từ các cam kết cắt giảm thuế quan của V N khi gia nhập WTO đối với một số doanh nghiệp điển hình thuộc lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp thu thập, so sánh, phân tích và tổng hợp tài liệu nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
5 Kết cấu khoa luận
Ngoài Lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, khoa luận gồm 3 phần chính sau:
Chương Ị - Cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO
Chương li - Tác động của cam kết cắt giảm thuế quan đối với doanh nghiệp V N Chương HI - Giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tiêu cực của cam kết
cắt giảm thuế quan khi gia nhập đối với doanh nghiệp VN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của cô giáo - TS Bùi Thị Lý, giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trường Đ ạ i học Ngoại Thương, người đã hướng dẫn em hoàn thành khoa luận này
Do nhửng hạn chế về thời gian, nguồn tài liệu tham khảo và kiến thức của người viết nên chắc chắn khóa luận không tránh khỏi có nhửng hạn chế và thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn có quan tâm để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2009
Trang 7C H Ư Ơ N G ì - CAM KẾT VỀ T H U Ê QUAN CỦA VIỆT NAM
KHI GIA NHẬP WTO
LI Nguyên tắc hoạt động và một số quy định vê thuê quan của WTO
1.1.1 Nguyên tác hoạt động của WTO
1.1.1.1 Đãi ngộ tôi huệ quốc và đãi ngộ quốc gia
Nguyên tắc này là nền móng của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994, nó được thể hiện trên hai phương diện là đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia
Các điều khoản về đãi ngộ quốc gia yêu cầu khi một loại hàng hóa nào
đó vào thị trường một nước qua hải quan thì các ưu đãi khác sẽ không được thấp hơn những hàng hóa tương ứng được sản xuất trong nước Nói cách khác, sau khi nộp thuế hải quan, các hàng hóa phù hợp với quy định pháp luẩt về tiêu thụ, mua bán, vẩn chuyển và phân phối đều được coi như hàng hóa trong nước hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế đối với hàng nhẩp khẩu thì lợi ích của việc miễn giảm thuế được tiến hành giữa các thành viên sẽ bị hủy bỏ Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc trong thương mại hàng hóa chủ yếu nhằm vào phương diện sau: Thứ nhất, thuế nhẩp khẩu; thứ hai, phí ở nhiều hình thức khác nhau, thu vào xuất nhẩp khẩu, như: các loại phụ phí xuất nhẩp khẩu, thuế xuất khẩu Thứ ba, các loại phí dưới nhiều hình thức liên quan đến xuất nhẩp khẩu Thứ tư, phí thu từ thanh toán hoặc chuyển nợ quốc tế trong xuất nhẩp khẩu Thứ năm, biện pháp thu thuế, phí kể trên Ví dụ, khi thu các loại thuế quan, khi định giá giá trị hàng hóa xuất nhẩp khẩu, tiêu chuẩn đánh giá, trình tự đánh giá, phương pháp đánh giá đều cần có sự bình đẳng giữa các thành viên Thứ sáu, toàn bộ những quy định pháp luẩt và thủ tục liên quan đến xuất nhẩp khẩu, như yêu cầu công bố hoặc nói rõ tin tức đã quy định rõ trong thời gian xuất nhẩp khẩu quy định Thứ bảy, việc thu các loại thuế trong nước hoặc phí trong nước khác, như thuế tiêu thụ, phí liên quan do cục thuế địa phương thu Thứ tám, pháp luẩt quy định, yêu cầu về những ảnh hưởng đến tiêu thụ, thu mua, cung cấp, vẩn chuyển, phân phối trong nước của sản
phẩm
Trang 8Đa số các nước nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp đã ký kết hiệp định với một số nước về nhập khẩu một số sản phẩm nông nghiệp nào đó Thuế quan ràng buộc tương đối cao của hiệp định, gây ra một số ảnh hưởng không tốt đối với các nước có liên quan Vì thế, nhất định phải quy định những nước này có nghĩa vụ phải nhập khẩu một lượng sản phẩm nông nghiệp nhất định với giá tương đối thấp, tức là nhập khẩu trong một lượng quy định thì mức thu thuế tương đối thấp m à không thu mức thuế tối huệ quốc tương đối cao thông thường, tầ lệ thuế này thường là 0 % - 2 3 % và được áp dụng bình đẳng giữa tất
cả các nước thành viên
1.1.1.2 D ù n g thuế làm biện pháp bảo hộ
"Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" không ngăn cấm việc tiến hành bảo hộ đối với ngành công nghiệp trong nước, nhưng lại yêu cầu những sự bảo hộ này phải được tiến hành thông qua thuế và không được
áp dụng các biện pháp hành chính khác Đ ộ rõ ràng của việc bảo hộ thuế là rất cao, thuận tiện cho việc tiến hành đàm phán miễn giảm giữa các thành viên, từ
đó giảm bớt những vướng mắc của việc bảo hộ đối với thương mại
Điều 19 "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" cho phép các thành viên được thực hiện tạm thời hạn chế nhập khẩu hay nâng mức thuế trong những trường hợp nền công nghiệp nước thành viên bị thiệt hại nghiêm trọng do sự cạnh tranh khốc liệt của hàng hóa nhập khẩu như công nhân bị thất nghiệp, doanh nghiệp bị thua lỗ nặng nề Các biện pháp hạn chế nhập khẩu được áp dụng dựa vào các điều khoản bảo đảm phải được hạn chế trong thời gian và mức độ cần thiết khi ngăn chặn hay sửa đổi những thiệt hại nghiêm trọng nói trên và không được thực thi quá lâu Ngành công nghiệp bị ảnh hưởng có nghĩa vụ nhanh chóng tiến hành điều chỉnh kết cấu, hạn chế không được nhằm vào nguồn hàng và nước sản xuất, tức là thực thi một cách không phân biệt đối xử Trước khi áp dụng các hành động phải gửi thông báo bằng văn bản cho WTO, đồng thời tiến hành thương lượng với các bên thành viên chịu ảnh hưởng về lợi ích Thòi gian thực thi các biện pháp bảo đảm thường từ 3 - 4 năm
Trang 91.1.1.3 Giảm bớt hàng rào thương mại
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại thuế 1994 quy định rằng giữa các thành viên thông qua đàm phán để hạ bớt mức thuế của mình và liệt
kê các hạng mục thuế được miễn giảm này vào biểu miễn giảm thuế của các nước để chúng bó buộc lại với nhau, từ đó tạo nền tảng vững chắc và có thể dồ kiến được cho thương mại giữa các nước phát triển Do các loại thuế đã ràng buộc được liệt kê vào biểu miễn giảm không được tăng lên trong vòng 3 năm, sau 3 năm nếu muốn tăng thuế thì phải tiến hành thương lượng với các thành viên được miễn giảm như lúc đầu, đồng thời phải bồi thường cho những tổn thất mà nó tạo ra, vì vậy thuế sau khi đã ràng buộc khó có thể xảy ra hiện tượng tăng trở lại được
Trong Hiệp định Nông nghiệp cũng yêu cầu các nước thành viên xóa bỏ toàn bộ các biện pháp phi thuế quan và chuyển tất cả các biện pháp hàng rào phi thuế quan này thành "thuế quan tương đương" theo một công thức nhất định trong thời gian từ 1986 - 1988, cộng với thuế quan hỗn hợp được tạo thành do tỷ lệ thuế quan bình thường của các sản phẩm hiện đang chịu ảnh hưởng của các biện pháp phi thuế quan
Đối với thuế quan hỗn hợp, các nước phát triển, trong giai đoạn thồc thi hiệp định (năm 1995 - 2000) bình quân đã giảm 36% Các nước đang phát triển trong giai đoạn thồc thi hiệp định (năm 1995 - 2005) bình quân sẽ giảm 24% Đ ố i với mỗi một loại sản phẩm các nước phát triển không phải chịu bất
kỳ một trách nhiệm nào Nếu các sản phẩm không chịu hạn chế của các biện pháp phi thuế quan, thì cơ sở để tiến hành việc tính toán thuế chuyển nhượng
và giảm bớt là mức thuế quan bị ràng buộc Nếu thuế quan không bị ràng buộc, thì cơ sở để tính toán thuế quan chuyển nhượng và giảm bớt là mức thuế quan trung bình ngày 01/09/1986
Chính phủ 40 nước tham gia đàm phán " Hiệp định kỹ thuật thông tin toàn cầu" đã chấp nhận hạn định bãi bỏ các loai thuê quan cho hơn 200 các loại sản phẩm kỹ thuật thông tin bao gồm: phần mềm máy vi tính, thiết bị thông tin, thiết bị sinh ra chất bán dẫn và chất bán dẫn, các máy móc khoa học , đối với các nước phát triển là trước năm 2005 "Hiệp định kỹ thuật
Trang 10thông tin toàn cầu" quy định từng bước giảm bớt thuế quan theo bốn giai đoạn:
Đối với các nước phát triển:
- Trước ngày 01/07/1997 giảm 2 5 % mức thuế quan so với hiện tại,
- Trước ngày 01/01/1998 giảm 2 5 % mức thuế quan,
- Trước ngày 01/01/1999 giảm 2 5 % mức thuế quan,
- Trước ngày 01/01/2000 giảm hoàn toàn mức thuế quan đối với các mặt hàng trong lĩnh vực này, thực hiện mức thuế bằng 0 Các nước đang phát triển cũng giảm dần lượng thuế quan theo các giai đoạn giống như các giai đoạn ở trên nhưng một bộ phờn sản phẩm có thể kéo dài đến năm 2005 mới thực hiện việc tự do hóa
Ngoài những mức thuế thông thường ra, "Hiệp định kỹ thuờt thông t i n " đồng thời còn quy định trước ngày 01/07/1997 bãi bỏ các loại thuế quan và chi phí khác
Các nước Costa Rica, Indonesia, Hàn quốc, Đài Loan và Thái Lan được phép có thể tương đối linh hoạt trong việc giảm thuế quan của một số loại mặt hàng, trong khoảng thời gian sau năm 2000 và trước năm 2005 thì thực hiện mức thuế quan bằng 0 đối với những mặt hàng này
Hiệp định này cũng quy định các bên căn cứ trên tinh thần của mục b khoản Ì điều 2 "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" ràng buộc và giảm dần thuế quan cho các sản phẩm kỹ thuờt thông tin cùng với các khoản thu thuế và các chi phí khác Các nước tham gia ký kết hiệp định sẽ căn
cứ những biện pháp được quy định trong "Tuyên ngôn cấp Bộ trưởng về sản phẩm kỹ thuờt thông t i n " do WTO công bố ngày 13/12/1996 để đưa vào trong thư giảm bớt và chuyển nhượng thuế quan đệ trình lên Tổ chức thương mại thế giới Các nước tham gia ký kết hiệp định nhưng không phải thành viên WTO nên tự chủ trong việc thực hiện những biện pháp này, để đẩy nhanh quá trình hình thành đơn gia nhờp WTO, và sau đó thì đưa những biện pháp đã nêu ở trên vào trong thư giảm bớt và chuyển nhượng thuế quan của thị trường hàng hóa để đệ trình lên WTO Mỗi nước tham gia vào hiệp định phải lờp tức sửa
Trang 11đổi biểu thuế suất, điều chỉnh những khoản thuế có liên quan và thi hành các biện pháp để việc thực thi hiệp định sau khi ký kết có kết quả
1.1.1.4 Quan điểm cạnh tranh công bằng
"Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" cho phép sử dụng thuế và các biện pháp tài chính khác để thực hiện bảo hộ nền công nghiệp trong nước trong những trường hởp nhất định Xét từ góc độ này thì những chính sách mà "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" thực hiện không phải là những chính sách thương mại tự do thuần túy Song "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" lại nhấn mạnh đến sự cạnh tranh mở rộng và công bằng, phản đối các biện pháp thương mại bất công (chủ yếu là trở cấp và bán phá giá)
Trong trường hởp này, "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" cho phép nước nhập khẩu đưởc thu thuế chống bán phá giá gây ra cho hàng hóa trong nước Một biện pháp thương mại không công bằng khác là chính phủ trở cấp xuất khẩu Cho dù trở cấp xuất khẩu hay trở cấp trong nước thì cũng đều đưởc coi là vi phạm "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" Vì vậy, hiệp định này cũng đưa ra những quy định tương ứng đối với việc trưng thu thuế chống trở cấp
Tuy nhiên WTO cũng có quy định riêng nhằm đãi ngộ đặc biệt với các thành viên các nước đang phát triển Cùng với sự tăng lên về số lưởng và sự lớn mạnh của thành viên các nước đang phát triển thì lởi ích các nước này cũng đưởc phản ánh tương ứng trong "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" Hiệp định này thừa nhận: hàng hóa của các thành viên đang phát triển khi đưa vào thị trường thế giới phải đưởc hưởng những điều kiện ưu đãi hơn Thành viên các nước phát triển cam kết họ sẽ miễn giảm thương mại đối với các nước thành viên đang phát triển trong các cuộc đàm phán và không kỳ vọng sẽ đưởc đền đáp một cách tương xứng Thành viên các nước đang phát triển có thể đưởc hưởng ưu đãi thông thường do thành viên các nước phát triển mang lại Thành viên các nước đang phát triển có thể thực hiện trở cấp đối với xuất khẩu của mình trong một thời hạn nhất định Khi thành
Trang 12viên các nước đang phát triển cùng tiến hành miễn giảm thuế thì có thể giao
sự miên giảm đã ký kết cho các nước phát triển
Ngoài ra, quan điểm cạnh tranh công bằng về thuế quan của WTO cũng được đề cập đến trong "Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp" Sau khi điều tra chống bán phá giá cuối cùng xác định là có tổn tại bán phá giá, tổn hại đến các ngành sản xuất và quan hệ nhân quả của nó, lãnh đạo nước thành viên nhập khẩu hoữc lãnh đạo hải quan có thể đưa ra quyết định có phải trưng thu thuế chống bán phá giá hay không Khi quyết định trưng thu thuế chống bán phá giá, mức trưng thu thuế chống bán phá giá có thể bằng hoữc thấp hem biên độ bán phá giá, nhưng tuyệt đối không lớn hơn biên độ bán phá giá
1.1.1.5 Những quy định về những đôi xử đữc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và chậm phát triển
Hiện nay hơn 3/4 số thành viên của WTO là các nước đang phát triển, kém phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Do đó, trong rất nhiều hiệp định của WTO đều dành những điều khoản ưu đãi riêng cho các nước thuộc những nhóm nước này, được gọi là đối xử đữc biệt và khác biệt Đ ố i xử đữc biệt và khác biệt là đối xử dành cho các nước đang phát triển, kém phát triển và những nền kinh tế chuyển đổi, thường mang tính giảm nhẹ so với nghĩa vụ, cam kết chung mà WTO đề ra Ví dụ: được miễn không phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó, mức độ cam kết thấp hơn, thời gian thực hiện những cam kết dài hơn, được hưởng ưu đãi bổ sung về mở cửa thị trường của các nước phát triển
Về thuế quan: sau mỗi vòng đàm phán, thuế suất mà các nước thỏa thuận với nhau được ghi vào bản danh mục ưu đãi, hay còn gọi là danh mục thuế quan Mỗi nước có một danh mục thuế quan riêng Thuế suất ghi vào danh mục này gọi là thuế suất ràng buộc, tức là sau này nước đó sẽ không được phép tăng thuế suất cao hơn mức ghi trong danh mục thuế quan Như vậy, nếu đã đưa vào danh mục thuế quan là mữt hàng đã bị ràng buộc về thuế,
Trang 13còn những mặt hàng nào không được đưa vào danh mục thuế quan thì được tự
do tăng thuế
1.1.2 Quy định về thuế quan của WTO
WTO có quy định cụ thể về giảm thuế quan và thời gian thực hiện (tức thời gian chuyển tiếp để thực hiện cam kết) cho từng loại nước khác nhau, theo đó mốc thời gian thực hiện đều được tính từ ngày Ì - Ì - 1995 Như vọy, gia nhọp WTO càng muộn thì thời gian thực hiện càng ngắn, thọm chí không
có thời gian thực hiện
Tuy nhiên trên thực tế, mọi cam kết cụ thể về giảm thuế quan, loại bỏ hàng rào phi thuế quan cũng như về thời gian thực hiện phụ thuộc chủ yếu vào kết quả thương lượng giữa các nước Cụ thể, các nước gia nhọp WTO sau ngày Ì - Ì - 1995 đều đã đàm phán để thời gian thực hiện trong một số lĩnh vực tính từ thời điểm chính thức gia nhọp WTO của các nước đó
Lời nói đầu và Điều X X V I I I bis của GATT 1994 quy định các nước phải giảm bớt hoặc nếu có thể thì loại bỏ thuế suất áp dụng trên cơ sở có đi có lại thông qua đàm phán, và các thuế suất áp dụng đã được giảm bớt đó phải được "ràng buộc", nghĩa là cam kết không tăng trở lại nữa Cụ thể, hiện nay tất cả các nước thành viên WTO đã cam kết ràng buộc các loại thuế quan của
họ trong lĩnh vực nông nghiệp; khoảng 9 8 % số lượng mặt hàng công nghiệp nhọp khẩu vào các nước phát triển và đang chuyển đổi có mức thuế suất áp dụng ràng buộc Tỷ lệ đó của các nước đang phát triển là 73%
Ngoài ra, trong một số trường hợp, các nước - đặc biệt là các nước đang
phát triển - có thể thương lượng về mức thuế trần cao hơn mức thuế áp dụng
để đề phòng những trường hợp bất trắc trong thời gian thực hiện giảm thuế Trong trường hợp này (chiếm 2 7 % hàng công nghiệp nhọp khẩu của các nước đang phát triển), các nước cam kết ràng buộc đối với mức thuế trần chứ không phải mức thuế áp dụng trên thực tế Thuế trần ràng buộc này có thể là mức thuế suất áp dụng chung cho tất cả các sản phẩm nhọp khẩu hoặc cho một lĩnh vực, hay cũng có thể gồm những mức thuế suất khác nhau cho từng mặt hàng
Trang 14Điều l i quy định các nước không được phép áp dụng thuế suất cao hơn thuế suất ràng buộc đối với tất cả các thành viên
Điều x x v m quy định: Trước khi sửa đổi hoặc rút lại cam kết ràng buộc
của mình, các nước phải thương lượng với các thành viên của WTO có liên quan
để đưa ra các nhượng bộ nhằm bù đắp nhứng thiệt hại do việc tăng thuế suất gây
ra, chẳng hạn bằng cách giảm thuế suất đối với các mặt hàng khác
WTO không quy định cụ thể về mức thuế suất cao nhất m à một nước có thể áp dụng M ọ i kết quả thực hiện về thuế suất đều phụ thuộc vào đàm phán trực tiếp giứa nước gia nhập và các thành viên WTO Như vậy, mặc dù các cam kết giảm thuế có tính chất ràng buộc pháp lý, nhưng các nước vẫn có thể đàm phán để nâng thuế suất ràng buộc lên với điều kiện có đền bù hoặc tăng nhứng thuế suất áp dụng chưa bị ràng buộc lên ngang với mức thuế trần đã cam kết ràng buộc
1.1.2.1 Đôi với các sản phẩm công nghiệp
• Cắt giảm thuế quan
Trong Vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển đồng ý giảm 4 0 % mức thuế Các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi giảm 3 0 % mức thuế của mình
Để đạt được mức thuế cuối cùng được thoa thuận vào ngày Ì - Ì - 2000, nhứng cắt giảm thuế nêu trên sẽ được tiến hành trong 5 giai đoạn Bảng Ì Ì đến Ì 3 cho thấy mức thuế bình quân gia quyền của một số nền kinh tế chuyển đổi, đang phát triển và phát triển trước Vòng đàm phán Uruguay và mức thuế
sẽ được áp dụng sau ngày Ì - Ì - 2000, là thời hạn đặt ra cho việc hoàn thiện việc cắt giảm thuế đã được thoa thuận trong Vòng đàm phán Urruguay
Trong Vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển và một số nước đang phát triển cũng đồng ý sẽ xoa bỏ tất cả hàng rào thuế quan trong một số lĩnh vực thường được gọi là các lĩnh vực có mức thuế 0% Nhứng lĩnh vực này bao gồm dược, thiết bị nông nghiệp, thiết bị xây dựng, thiết bị y tế, đồ nội thất, giấy, thép và đồ chơi Do đó, cộng với nhứng cam kết khác, tỷ lệ sản phẩm công nghiệp thâm nhập vào thị trường các nước phát triển trên cơ sở
Trang 15miễn thuế sẽ tăng gấp đôi từ 2 2 % đến 44% Mức thuế bình quân gia quyền áp dụng cho các sản phẩm công nghiệp sẽ giảm từ:
6,3% đến 3,8% đối với các nước phát triển;
15,3% đến 12,3% đối với các nước phát triển;
8,6% đến 6% đối với các nền kinh tế chuyển đổi
Điều đáng lưu ý là mặc dù các nước phát triển giảm thuế áp dụng trung bình từ 6,3% năm 1995 xuống còn 3,8% vào ngày 1-1-1999 (tức giảm 4 0 % ) , song các sản phẩm xuất khẩu nhạy cảm của các nước đang phát triển không được giảm thuế nhiều, cụ thể như sau:
Tăng số lượng mặt hàng được miễn thuế (thuế suất = 0) từ 2 2 % lên
4 4 % đối với nhẹng mặt hàng không nhạy cảm
Thuế suất của các mặt hàng ít nhạy cảm giảm mạnh hơn mức trung bình như: kim loại giảm 69%; máy móc phi điện tử giảm 68%; gỗ và giấy giảm 65%
Thuế suất của các mặt hàng nhạy cảm giảm nhẹ hơn mức trung bình như: dệt may giảm 16%; khoáng sản giảm 25%; thiết bị vận tải giảm 27%; cá và sản phẩm từ cá giảm 30%; thuộc da, cao su, giày dép giảm 32%
• Ràng buộc thuế
Một khía cạnh quan trọng khác của Vòng Uruguay là tiến bộ đạt được trong việc ràng buộc thuế Hầu hết tất cả hàng nhập khẩu đến các nước phát triển sẽ có mức thuế ràng buộc; tỷ lệ ràng buộc đối với các nước đang phát triển là 7 3 % và khoảng 9 8 % đối với các nền kinh tế chuyển đổi Một trong nhưng lợi ích của việc ràng buộc thuế là bảo đảm tiếp cận thị trường Các doanh nghiệp có thể vạch kế hoạch phát triển thương mại mà không phải lo ngại đến sự gia tăng thuế và các biện pháp hạn chế số lượng
1.1.2.2 Đôi với các sản phẩm nông nghiệp
• Thuếhoá
Nội dung quan trọng nhất của Hiệp định về Nông nghiệp là nhẹng nguyên tắc mới Nhẹng nguyên tắc này yêu cầu các nước bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan (như các hạn chế số lượng, giấy phép và phí) bằng cách chuyển đổi chúng sang nhẹng mức thuế tương đương và đưa chúng vào các hạng mục
Trang 16thuế đã được cố định Do đó, các nước phát triển đã đặt ra mức thuế cao hơn đối với các sản phẩm (chủ yếu là các sản phẩm từ khu vực ôn đới) m à trước đó
họ áp dụng các biện pháp phi thuế quan Việc chuyển hoa các biện pháp phi thuế quan được căn cứ trên cơ sở giá trung bình của thế giới đối với sản phẩm
đó và giá mà nó được bảo trợ tầi nước nhập khẩu Mức thuế sau khi đã thuế hoa và các loầi thuế khác sẽ được ràng buộc lầi với mức thuế trần để ngăn chặn lầi sự gia tăng thuế sau đó
Theo quy định của GATT, nghĩa vụ thực hiện thuế hoa những biện pháp phi thuế quan không áp dụng cho những nước đang phát triển trong giai đoần khó khăn về cán cân thanh toán Họ còn được phép sử dụng các biện pháp phi thuế quan này Tuy nhiên, những nước đang phát triển, kể cả những nước có khó khăn về cán cân thanh toán, vẫn phải ràng buộc mức thuế của họ Đ ố i phó lầi với quy định này, họ thường đưa ra những mức thuế trần cao hơn nhiều so với mức thuế hiện tầi
• Tỷ lệ phần trăm cắt giảm đối với thuế
Các nước đồng ý cắt giảm thuế theo những tỷ lệ phần trăm nhất định Các nước phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi phải giảm 3 7 % và các nước đang phát triển giảm 24% Những cắt giảm này sẽ được các nước phát triển thực hiện trong giai đoần 6 năm và các nước đang phát triển trong 10 năm Những nước kém phát triển nhất mặc dù đã ràng buộc thuế với mức thuế trần cao hơn, không nhất thiết phải cắt giảm chúng
Các quy định này cũng yêu cầu mức thuế cắt giảm tối thiểu đối với một sản phẩm là 1 5 % đối với các nước phát triển và 1 0 % đối với các nước đang phát triển
1.2 Cam kết về thuê quan của Việt Nam khi gia nhập WTO
1.2.1 Mức cam kết chung
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế hiện hành gồm 10.600 dòng thuế Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong 5 - 7 năm Mức thuế bình quân với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn
Trang 1720,9% thực hiện trong 5 - 7 năm Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn
12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm
Bảng 1.4 - Diễn giải mức thuế bình quân cam kết Bình
Thuế suất cam kết vào cuối lộ trình (%)
Mức giảm so với thuế
M F N hiện hành (%)
Cam kết WTO của Trung Quốc
Mức cắt giảm thuế chung tại Vòng Uruguay
Thuế suất cam kết vào cuối lộ trình (%)
Mức giảm so với thuế
M F N hiện hành (%)
Cam kết WTO của Trung Quốc Nước phát
triển
Nước đang phát triển Hàng
Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng
thuế có thuế suất trên 20% Các mặt hàng chủ yếu, nhạy cảm đối với nền kinh
tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vịt liệu xây dựng, ôtô - xe máy vẫn duy
trì được mức bảo hộ nhất định Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức
đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất và phương tiện
vịn tải
Trong toàn bộ biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng
3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của biểu thuế), ràng buộc ở mức hiện
hàng với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của biểu thuế), ràng buộc
Trang 18theo mức trần - cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm
3 0 % số dòng của biểu thuế), chủ yếu là đối với các nhóm hàng bảo hộ nhạy cảm đối với nền kinh tế như xăng dầu, hóa chất, một số phương tiện vận tải, x i măng, vật liệu xây dựng
Bảng 1.5 - Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính
N h ó m mặt hàng
Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập WTO (%)
Thuế suất cam kết cắt giảm cuối cùng cho WTO (%)
Trang 19cho Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điểu chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp quy định WTO Hướng sửa đổi là đối với rượu trên 20 độ cồn Việt Nam hoặc sẽ áp dụng mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phủn trăm Đ ố i với bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phủn trăm
WTO không có nội dung nào yêu củu về thuế xuất khẩu Tuy nhiên, một số thành viên (chủ yếu là các nước đã phát triển như: Mỹ, úc, Canada và EU) yêu củu cắt giảm tất cả thuế xuất khẩu đặc biệt đối với phế liệu kim loại màu và đen vào thời điểm gia nhập với lý do đây là một hình thức nhằm hạn chế thương mại, gây nên tình trạng khan hiếm nguyên liệu, làm đẩy giá trên thị trường thế giới và trợ cấp cho doanh nghiệp trong nước sử dụng các mặt hàng này Cam kết của Việt Nam hiện nay là sẽ giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen từ 3 5 % xuống 1 7 % trong 5 năm; giảm thuế phế liệu kim loại màu từ 4 5 % xuống 2 2 % trong 5 năm Không cam kết ràng buộc về thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng khác
1.2.2 Những cam kết thuê đôi với thương mại hàng hóa
• Đôi với hàng nông sản:
Mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21,0% sẽ là mức giảm cuối cùng So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông nghiêph hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm sẽ là 10%
Trang 20Bảng Ì 6 - Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số
nhóm hàng nông sản quan trọng
MFN (%)
Thuế suất khi gia nhập(%)
Thuế suất cuối cùng (%)
Thời hạn thực hiện
Lộ trình thực hiện các cam kết thuế đối với lĩnh vực nông nghiệp hầu hết là từ 3 - 5 năm
Trang 21Với thuốc lá điếu và xì gà, Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên, sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà Mức thuế nhập khẩu m à Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao; thuế suất khi gia nhập cắa thuốc lá điếu là 150%, sau 3 năm giảm xuống mức cuối cùng là 135%; thuế suất khi gia nhập cắa xì gà cũng là 150% nhưng sau 5 năm phải cam kết giảm xuống còn 100%
• Những cam kết thuê đôi với hàng phi nông sán ^ g
Đ ố i với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thòi điểm gia nhập là 16,1% và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6% So với mức thuế MFN bình quân cắa hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23,9%
Bảng Ì 7 - Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán gia
nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng
suất MFN
Cam kết với WTO
suất MFN
Thuế suất khi gia nhập (%)
Thuế suất cuối cùng (%)
Thời gian thực hiện
Trang 22Với ô tô cũ Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng
không quá 5 năm
Như tất cả các nước mới gia nhập khác, Việt Nam cũng cam kết tham gia vào
kết tham gia đầy đủ là dệt may, sản phẩm công nghệ thông tin và thiết bị y tế Những ngành Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay, hóa chất và
Trang 23thiết bị xây dựng Thời gian để thực hiện cam kết cắt giảm thuế là từ 3 - 5 năm
Lộ trình thực hiện cam kết thuế đối với phi nông sản thường cũng dài hơn đối với hàng nông sản, thường là 5 - 7 năm Đặc biệt có một số mặt hàng
lộ trình thực hiện kéo dài đến 1 0 - 1 2 năm như xe ô tô con dung tích từ
2.50ƠCC trở lên, xe tải loại k h ô n g quá 5 tấn
Trong các hiệp định của WTO thì tham gia hiệp định công nghệ thông tin ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0 % sau 3-5 năm Như vậy, các sản phỹm điện tử như: máy tính, điện thoại di động, máy ghi hình, máy ảnh kỹ thuật số sẽ đều có thuế suất 0 % thực hiện sau 3 - 5 năm, tối đa là sau 7 năm Việc tham gia Hiệp định Dệt may (thực hiện đa phương hóa mức thuế
đã cam kết theo các Hiệp định Dệt may với EƯ, Hoa Kỳ) cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt hàng này; vải từ 4 0 % xuống 12%, quần áo từ
5 0 % xuống 20%, sợi từ 2 0 % xuống 5% Hàng giày dép thuế suất cũng chỉ còn
4 0 % so với 5 0 % theo ưu đãi MFN
Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành của WTO giảm thuế xuống 0 % hoặc mức thấp Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành Ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phỹm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế Việt Nam cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm đối với ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng
Trang 24Bảng Ì 8 - Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do theo ngành
Thuế Thuế suất Hiệp định tự do hoa theo ngành Sô' dòng suất cam kết
thuế M F N cuối
(%) cùng
(%)
1 H Đ công nghệ thông tin ITA- tham gia 100% 330 5,2% 0 %
2 H Đ hài hoa hoa chất CH- tham gia 8 1 % 1.300/1.600 6,8% 4,4%
3 H Đ thiết bị máy bay dân dụng CA- tham gia hầu hết 89 4,2% 2,6%
4 H Đ dệt may TXT- tham gia 100% 1.170 37,2% 13,2%
5 H Đ thiết bị y tế ME- tham gia 100% 81 2,6% 0 %
Nguồn: http:llvtc.vnlkinhdoanhl9069lindex.htm
Ngoài ra, Việt Nam tham gia không đầy đủ một số hiệp định khác như thiết bị khoa học, thiết bị xây dựng
1.3 Đánh giá các cam kết thuê quan của Việt Nam
So với định hướng phát triển của Việt Nam, các cam kết của Việt Nam
là hoàn toàn hợp lý vì khi tham gi đàm phán song phương cũng như đa phương chúng ta đứng ở thế là hoàn toàn chủ động tham gia hội nhập Việt Nam đã chủ động đổi mới thể chế kinh tế quốc tế và quá trình này diữn ra theo hai phương thức: thứ nhất, tiệm tiến, bước đi trước tạo điều kiện cho bước đi sau, đảm bảo cho chúng ta giữ vững được sự ổn định cần thiết Thứ hai, về thời điểm gia nhập WTO vào năm 2006 cũng được coi là đúng thời điểm vì thể chế pháp luật trong nước đã tương đối hoàn chỉnh và được điều chỉnh, nó cho phép Việt Nam chủ động bước vào sân choi
Có một số mặt hàng V N đã đạt được cam kết mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng như đối với nhóm xăng dầu, kim loại, hoa chất và phương tiện vận tải Một số mặt hàng trọng yếu nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy vẫn duy trì mức
Trang 25bảo hộ nhất định X i măng giảm từ 4 0 % khi gia nhập xuống còn 3 2 % sau 4 năm thực hiện; sắt thép giảm từ 17,7% khi gia nhập xuống còn 1 3 % sau khoảng 5 - 7 năm thực hiện
Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng, V N buộc phải cắt giảm nhiều và giảm ngay sau khi gia nhập như hàng dệt may Điều này đã gây ra áp lực rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước, buộc họ phải cạnh tranh ngay mà không có sự
ân hạn về mặt thời gian như hầu hết các mặt hàng khác Tuy nhiên, việc giảm thuế ngay đối với ngành dệt may đưỏc cho là để đánh đổi với việc bãi bỏ quota, tức là mở ra cơ hội thị trường lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ, cho ngành dệt may điều
m à những ngành có lộ trình thực hiện cam kết lại không thể có đưỏc
Các mức cắt giảm này có thể so sánh tương ứng với các mức cắt giảm trung bình của các nước nước đang phát triển và đã phát triển trong vòng đàm phán Uruguay (1994) như sau: trong lĩnh vực nông nghiệp các nước đang phát triển và đã phát triển cam kết cắt giảm là 3 0 % và 40%; với hàng công nghiệp tương ứng là 2 4 % và 37%; Trung quốc trong đàm phán gia nhập của mình cam kết cắt giảm khoảng 4 5 % thuế nhập khẩu (từ 17,5% xuống 10%)
Do thuế suất qua thành phẩm có mức giảm lớn hơn mức giảm cửa sản phẩm nhựa đan (nguyên vật liệu và linh kiện đầu vào) là thu hẹp đưỏc mức bảo hộ thực tế trong một số ngành mà hiện nay đang đưỏc bảo hộ quá mức cần thiết Nhìn chung, mức độ bảo hộ theo kết quả đàm phán tuy có giảm nhưng là giảm hỏp lý, bảo đảm mức độ bảo hộ tương đối đồng đều giữa các ngành: qua đó góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, sản xuất, trong đó có sản xuất hàng xuất khấu cũng sẽ đưỏc lỏi bởi tiếp cận đưỏc các yếu tố đầu vào với chi phí rẻ
Nhìn chung, việc cắt giảm thuế cho WTO sẽ thu hẹp bảo hộ quá mức đối với các ngành đang có mức thuế MFN cao Cùng với giảm thuế suất các mặt hàng thành phẩm (thường có thuế suất MFN cao) và giảm ở mức độ nhất định đối với nhiều loại sản phẩm trung gian/nguyên vật liệu, kết quả sẽ thu hẹp bảo hộ quá mức ở một số ngành Mức bảo hộ chung sẽ giảm và các ngành
Trang 26sẽ có mức bảo hộ hợp lý hem, giảm chênh lệch về bảo hộ giữa các ngành Giảm bảo hộ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển xuất khẩu
Trang 27C H Ư Ơ N G l i - T Á C ĐỘNG CỦA CAM K É T CẮT GIẢM T H U Ê QUAN
ĐỐI VỚI DNVN KHI GIA NHẬP WTO
2.1 Tác động chung đến nền kinh tê
2.1.1 Những thuận lợi và tác động tích cực
Về cơ bản, giảm thuế thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hóa nước ngoài Do vậy, sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng tăng, tính chất thị trường của nền kinh tế sẽ hình thành ngày càng rõ nét Trong nền kinh tế được vận hành như vậy, các nguồn lực sẽ được phân bố và sử dụng hiổu quả nhất Tất nhiên,
từ hiổn thực nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi hiổn nay của Viổt Nam, để đạt tới mục tiêu trên sẽ còn phải trải qua những điều chỉnh căn bản trong cơ cấu kinh tế Viổc giảm thuế theo cam kết WTO đem lại nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế V N thông qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, mở rộng thương mại và đầu tư nước ngoài cũng như cơ cấu lại nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN)
• Tác động đến cơ cấu kinh tế
Viổc giảm bớt hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, góp phần làm tăng trưởng kinh tế nói chung Nhất là đối với Viổt Nam hiổn nay, xuất khẩu chiếm gần 5 0 % GDP, nên viổc đẩy mạnh xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế Hầu hết các ngành hàng nước ta đều đạt mức tăng trưởng cao so với nhiều nước trong khu vực N ă m 2008, tổng mức bán lẻ hàng hoa và doanh thu dịch vụ tăng 31 % so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng còn 7 % ) ; kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu đạt 79,9 tỷ USD, tăng 27,5% so với năm 2007 Nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành hàng đều tăng rõ rổt Tăng trưởng kinh tế năm 2007 đã đạt mức 8,48% cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây và cao hơn năm 2006 (8,17%) Nếu so sánh với các nước trong khu vực, theo đánh giá của Ngân hàng Phát
Trang 28triển châu Á - ADB, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao thứ 2, sau Trung Quốc (Ì 1,2%), vượt qua cả Singapore (7,5%) và các nước khác Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng khai thác lợi thế so sánh với tốc độ tăng trưởng của khu vực sử dụng nhiều lao động cao hơn so với khu vực sử dụng ít lao động
• Tác động đến cơ cấu xuất nhập khẩu
Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế thế giới
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển biến về chất, chuyển dạn từ hàng nguyên liệu thô sang hàng chế biến Thị trường xuất khẩu cũng được đa dạng hóa và giúp V N ít phụ thuộc hơn vào sự biến động của từng nước bạn hàng
Tỷ trọng của các mặt hàng nông sản và khai khoáng trong tổng giá trị xuất khẩu giảm và tăng tỷ trọng của các sản phẩm chế tạo Trong cơ cấu nhập khẩu cho thấy tỷ trọng của hàng tiêu dùng đang tăng lên V N vẫn nhập khẩu chủ yếu hàng hóa từ các nước Đông Nam Á và Trung Quốc Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của V N trong tương lai khi hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc và nguyên vật liệu
Tăng cường xuất khẩu thông qua việc giải quyết vấn đề tiếp cận thị trường của các thành viên WTO Trong thời gian qua, thực hiện chiến lược kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu, V N đã xây dựng được một loạt các ngành hàng có năng lực sản xuất lớn, có sức cạnh tranh cao và kim ngạch xuất khẩu hàng cao trên thế giới: gạo xuất khẩu đứng thứ 2, hạt tiêu đứng thứ nhất, điều đứng thứ 2, chè và thúy sản đứng thứ 7 trên thế giới Trong các mặt hàng đó, nhiều mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu rất cao như dệt may năm
2004 tăng hơn 5 lạn, giày dép tăng hơn 9 lạn so với năm 1995 Tuy nhiên, trước đây, do một số thị trường chưa được khai thông, hoặc bị phân biệt đối xử nên khả năng xuất khẩu còn hạn chế Khi gia nhập WTO, Việt Nam đang và
sẽ có cơ hội mở rộng xuất khẩu những mặt hàng mà mình có tiềm năng ra toàn cạu nhờ được hưởng những thành quả của hơn 50 cuộc đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt
Trang 29trong lĩnh vực hàng nông sản và dệt may Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ kéo theo những ảnh hưởng tích cực tới các ngành kinh tế trong nước sản xuất sẽ được mở rộng và tạo ra nhiều công ăn việc làm
• Tác động tới vốn đầu tư nước ngoài
Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong những năm qua, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thực sự đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp Việt Nam Đầu tư nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam: năm 1990, tỷ trỉng kim ngạch xuất khẩu của cả khu vực này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước chỉ chiếm có 19,5%, năm 2004 con số này đã đạt 54% Theo Cục Đầu
tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong tháng 12/2007, có thêm 162 dự
án mới vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư 4,45 tỷ USD, đưa nguồn vốn cấp mới trong năm lên 17,85 tỷ ƯSD Lượng vốn các dự án hiện hữu đăng ký thêm trong năm cũng đạt 2,4 tỷ USD Với nguồn vốn 20,3 tỷ USD thu hút được, FDI năm nay tăng tới 67,93% so với năm 2006 và vượt 5 3 % kế hoạch của cả năm (dự kiến 13 tỷ USD) N ă m ngoái, vốn FDI đổ vào Việt Nam cũng đạt mức kỷ lục 10,2 tỷ USD Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trỉng trong nền kinh tế nước ta: chiếm gần 3 0 % vốn đầu tư xã hội, 3 5 % giá trị sản xuất công nghiệp, 2 0 % xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 70 vạn lao độngvà hàng chục vạn lao động gián tiếp
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam trong những năm qua Sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã có tác động dây truyền tích cực, như tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước hỉc hỏi thêm về cách thức bố trí sản xuất, quản lý, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm và cách thức tiếp thị, phục vụ khách hàng Là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ phải tuân thủ hoàn toàn Hiệp định TRIM của WTO, theo đó Việt Nam sẽ bắt buộc phải cải cách các chính sách liên quan đến đầu
Trang 30tư theo hướng giảm thiểu các rào cản trái với quy định của WTO, bãi bỏ sự phân biệt đối xử theo MFN và NT Việc tuân thủ nguyên tắc minh bạch hoa và tính dự báo các quy định, chính sách thể chế thương mại, các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư Hơn nữa có thị trường tiêu thụ rỗng lớn thì các nhà đầu tư mới yên tâm đầu tư vào Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng và viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và các Chính phủ nước ngoài Việc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ chắc chắn cũng sẽ kéo theo mỗt làn sóng đầu
tư nước ngoài vào nhiều ngành kinh tế như phán phối, bảo hiểm, ngân hàng, vận tải, viễn thông
• Tác động đến môi trưởng kinh doanh trong nước
Môi trường kinh doanh trong nước đã được cải thiện theo hướng thuận lợi và minh bạch hơn việc đơn giản hoa thủ tục hành chính đã có tác đỗng tích cực đối với phát triển các doanh nghiệp mới ở hầu hết các ngành hàng Việc phát triển hệ thống ngân hàng và bảo hiểm cũng như mở ra các kênh tài chính tạo cơ hỗi lựa chọn tiếp cận tài chính tốt hơn cho doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp hoạt đỗng kinh doanh xuất khẩu, các doanh nghiệp thuỗc các ngành ưu tiên như đóng tàu hay phát triển năng lượng mới
Việc mở cửa thị trường nỗi địa, cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đã tạo điều kiện cho nhiều mặt hàng đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với mức giá hợp lý hơn, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn
• Bình đẳng trong giải quyết tranh chấp thương mại
Việt Nam sẽ có lợi thế hơn trong giải quyết tranh chấp với các đối tác thương mại chính, do tiếp cận được hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng
và hiệu quả của WTO, tránh tình trạng bị các nước lớn gây sức ép trong các tranh chấp thương mại quốc tế Gia nhập WTO cũng tạo điều kiện để Việt
Trang 31Nam không bị đối xử như một nền kinh tế phi thị trường (NME) trong các vụ tranh chấp thương mại như hiện nay Hàng hoa của V N có cơ hội thâm nhập được thị trường các nước thành viên WTO thuận lợi hơn do thị trường được
mở rộng và không bị phân biệt đối xử; có điều kiện tiếp cận với các nguồn tín dụng, công nghệ hiện đại, các loại hình dịch vụ, vật tư, nguyên liệu
• Tác động đến ngân sách Nhà nước
V N không phải gằp vấn đề nghiêm trọng đối với nguồn thu ngân sách như nhiều quốc gia khác Thâm hụt ngân sách vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ cho dù tỷ trọng nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm Lý do chủ yếu là việc giảm thuế suất của V N diễn ra theo lộ trình; đồng thời k i m ngạch nhập khẩu tăng nhanh đã làm tăng diện thu thuế và bù đắp cho việc giảm thuế suất
• Tác động đến cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối
Sự gia tăng mạnh nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và máy móc thiết bị dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại và vãng lai Thâm hụt này được bù đắp bởi thằng dư trong cán cân vốn, chủ yếu từ nguồn đầu tư gián tiếp Do đó, cán cân thanh toán trở nên dễ bị tổn thương hơn với những biến động của dòng vốn ngắn hạn này Tuy nhiên, cán cân thanh toán vẫn thằng dư ở mức cao và
dự trữ ngoại hối đạt mức tăng kỷ lục trong năm 2007 Mức dự trữ cao này được coi là phù hợp trong bối cảnh cán cân vốn tương đối mở hiện nay
• Tác động tích cực đến giá cả trong nước
Việc mở cửa thị trường nội địa, cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu còn tạo điều kiện cho nhiều hàng hóa đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước vói mức giá hợp lý hơn, giúp cho nhiều doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn
Trang 322.1.2 Những khó khăn và tác động tiêu cực
Việc mở cửa thị trường dẫn đến sức ép cạnh tranh tăng lên, các doanh nghiệp V N không chỉ phải cạnh tranh ở thị trường trong nước m à còn phải cạnh tranh ở thị trường thế giói Nhiều khoản trợ cấp hoỏc có tính trợ cấp của Nhà nước đối với một số ngành hàng cho một số ngành trước đây buộc phải bãi bỏ theo cam kết gia nhập WTO Chẳng hạn, các ưu đãi về vốn, về tín dụng, các khoản hỗ trợ lãi suất để phát triển sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp dệt may, ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hoa đối với doanh nghiệp
cơ khí, thưởng xuất khẩu theo thành tích xuất khẩu đối với thị trường mới và mỏt hàng mới đã phải bải bỏ ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Cơ sở hạ tầng của VN, đỏc biệt là cơ sở hạ tầng giao thông, điện lực, cảng biển đang tỏ ra bất cập, không đáp ứng yêu cầu đối với sự phát triển của nền kinh tế Đ ạ i diện Phòng Thương mại úc (Auscham) cho rằng, cơ sở
hạ tầng quá tải và yếu kém là một trong những rào cản chính đối với sự tăng trưởng kinh tế của VN Việc cung cấp điện, thông tin liên lạc, giao thông và
cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác của V N chưa đủ độ tin cậy đang tạo ra sự lãng phí thời gian và tiền bạc của các nhà đầu tư cũng như của các doanh nghiệp V N và nước ngoài Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ cũng cho rằng, sự hạn chế và yếu kém về cơ sở hạ tầng là mối đe dọa đối với sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp VN
Xử lý mâu thuẫn giữa một bên là mở cửa, giảm thuế để hạ giá thành đầu vào cho sản xuất và để cho người tiêu dùng được tiếp cận với hàng hoa giá rẻ, một bên là muốn bảo hộ để duy trì sản xuất trong nước Phần lớn các ngành hàng vừa được sản xuất trong nước lại vừa được nhập khẩu Với chủ trương bảo hộ một số ngành, chúng ta đang thực hiện chính sách thuế nhập khẩu cao đối với sản phẩm hàng hoa hoàn chỉnh và thuế nhập khẩu thấp hơn đối với nguyên liệu và linh kiện, chi tiết rời để khuyến khích sản xuất và lắp ráp trong nước Tuy nhiên, nhiều ngành sản xuất không tranh thủ cơ hội này để phát
Trang 33triển sản xuất và cải tiến công nghệ m à chỉ trông chờ vào chính sách bảo hộ,
vì vậy khi thực hiện cam kết gia nhập WTO nói chung và cam kết cắt giảm thuế quan nói riêng thì những hàng hoa này được sản xuất ra luôn có giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh, khó tiêu thừ ở cả thị trường trong và ngoài nước
2.2 Một số tác động chủ yêu tới doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1 Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
• Quy mô của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là nhỏ, vốn ít
Hiện nay, có 51,3% doanh nghiệp có dưới 10 lao động, 44,7% doanh nghiệp có từ 10 - 200 lao động và chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 - 300 lao động Về quy m ô vốn, số doanh nghiệp có vốn dưới Ì tỷ đồng chiếm 41,8%, số doanh nghiệp có vốn từ Ì - 5 tỷ đồng chiếm 37,03% và số doanh
nghiệp có vốn từ 5 - l o tỷ đồng chiếm 8,18% trong tổng số khoảng trên 113
nghìn doanh nghiệp của cả nước
Các doanh nghiệp có quy m ô vừa và nhỏ (chiếm 92,4% tổng số doanh nghiệp có dưới 300 lao động và 96,6% tổng số doanh nghiệp có nguồn vốn dưới 10 tỷ đồng) chủ yếu tập trung ở khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có quy m ô lớn hơn rất nhiều Mức lao động bình quân của một doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước là 32, của các doanh nghiệp nhà nước là 499 và của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 330 lao động/doanh nghiệp Nguồn vốn trung bình của một doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước là 7 tỷ đồng, của một doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước là 355 tỷ đồng, và của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 143 tỷ đồng
• Trình độ công nghệ của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp nước ta đang sử dừng công nghệ từt hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ với 7 6 % máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1960 - 1970, với 7 5 % số thiết bị đã khấu hao hết, với 5 0 % là đồ tân trang; chỉ có 1 0 % doanh nghiệp có công nghệ hiện đại
Trang 343 8 % ở mức trung bình, còn 5 2 % ở loại lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam hiện mới chỉ đạt khoảng 2%, trong khi đó Thái Lan 3 1 % , Singapore 73%, Malaysia 5 1 % (theo tiêu chí để đạt trình độ nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải là trên 6 0 % )
Tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ cịa các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu, là một tỷ lệ quá thấp so với các nước trong khu vực (Hàn Quốc 10%) Tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị cịa Việt Nam hàng năm cũng chỉ đạt 8 - 10%, trong khi các nước trong khu vực có tỷ lệ tương ứng là 15 - 20%
Về ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh, tuy có đến 60,2% doanh nghiệp sử dụng máy vi tính, nhưng chỉ có 11,55% số doanh nghiệp sử dụng mạng nội bộ và 2,16% doanh nghiệp xây dựng website
• Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp
Về trình độ quản lý cịa các bộ quản lý các doanh nghiệp trong nước, năng lực và kỹ năng quản trị còn nhiều yếu kém, chưa chuyên nghiệp và chị yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân cịa các chị doanh nghiệp Theo điều tra mới tại 63.000 doanh nghiệp ở 36 tỉnh, thành phố trong cả nước có 34,3% lãnh đạo các doanh nghiệp mới có trình độ học vấn dưới cấp ba Số chị doanh nghiệp có trình độ thạc sỹ trở lên mới chiếm 2,99% Thực trạng thiếu hụt đội ngũ nhân lực bậc cao, các giám đốc điều hành doanh nghiệp, việc chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa quyền quản lý và quyền sở hữu trong các doanh nghiệp
V N là hết sức phổ biến, khó phát huy được vai trò quản lý Theo công ty tư vấn việc làm VietnamWorks, nguồn nhân lực quản lý cấp cao tại V N chỉ đáp ứng được khoảng 30 - 4 0 % nhu cầu
M ô hình quản lý, phân cấp quản lý và quy trình quản lý là những yếu tố cản trở khả năng cạnh tranh cịa các doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp ngoài nhà nước có m ô hình tổ chức, quản lý và quá trình ra quyết định trong doanh nghiệp không có sự khác biệt lớn khi so sánh trên mặt bằng quốc
tế Các doanh nghiệp nhà nước có m ô hình, quy trình và phân cấp quản lý rất
Trang 35đặc thù, phức tạp, nhiều tầng nấc và gây khó khăn trong cạnh tranh với doanh nghiệp khác Sự can thiệp của các cơ quan quản lý Nhà nước vẫn là những rào cản, ảnh hưởng không tốt đến thời gian, chất lượng quản lý và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Trình đọ đọi ngũ lao đọng trực tiếp sản xuất kinh doanh: Nhìn chung, lực lượng lao đọng làm việc trong các doanh nghiệp ở Việt Nam có trình đọ tay nghề thấp Hiện nay, hàng năm có khoảng 225 nghìn công nhân kỹ thuật được đào tạo dài hạn tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ra trường Tại Việt Nam tỷ lệ đại học và trên đại học -trung học chuyên nghiệp - công nhân kỹ thuật là Ì - 1,13 - 0,92 trong khi tỷ
lệ này quốc tế là Ì - 3 - 5 Tỷ lệ lao đọng qua đào tạo nghề còn quá thấp (13%), chất lượng giáo dục bậc cao còn yếu và có nguy cơ tụt hậu so với thế giới, chương trình giảng dạy chậm đổi mới, chủ yếu nặng về lý thuyết mà thiếu thực hành Tay nghề thấp là mọt trong những nguyên nhân cơ bản khiến chất lượng sản phẩm không đảm bảo, năng suất lao đọng thấp và mức thu nhập kém
• Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung không cao và có sự khác biệt khá lớn giữa các khu vực doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài có mức tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn đạt 11,6% và trên doanh thu đạt 14,6%, cao hơn nhiều so với mức tỷ suất bình quân của cả nước và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có mức tỷ suất thấp hơn rất nhiều đạt tương ứng là 2,7% và 4,0%; 2,0% và 1,4%
• Hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các
DN
Đa số các doanh nghiệp V N phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh Trong những năm qua, nhiều sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm có sự tăng trưởng cao (hàng da giày, dệt may, chế biến thực phẩm, đồ
Trang 36uống, sản phẩm thép và kim loại màu, sản phẩm nhựa, hàng điện tử, ô tô, xe
máy ) đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bán thành phẩm nhập khẩu từ
nước ngoài Trong khi đó, giá cả các loại nguyên vật liệu này trên thế giới có
xu hướng gia tăng, làm cho nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí nguyên
vật liệu khá cao Chiếm hơn 6 0 % giá thành sản phẩm
Mặt khác, rịt nhiều doanh nghiệp V N chưa xây dựng được thương hiệu
mạnh, chưa khẳng định được uy tín chịt lượng và năng lực cạnh tranh trên thị
trường khu vực và quốc tế Trên thực tế, trong nhiều sản phẩm của V N yếu tố
cịu thành của tri thức, công nghệ thịp; trong khi yếu tố sức lao động và
nguyên vật liệu cao Điều đó làm cho sức cạnh tranh thịp, chịt lượng sản
phẩm không có ưu thế rõ rệt trên thị trường
• Chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông, và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp VN còn nhiêu hạn chế
Đa số các doanh nghiệp V N có quy m ô vừa và nhỏ nên hạn chế tầm
hoạt động và mạng lưới phân phối sản phẩm Trong khi đó, hoạt động xúc tiến
thương mại còn giản đơn, sơ lược và không có hiệu quả thiết thực Có rịt ít
doanh nghiệp xây dựng được chương trình xúc tiến, giới thiệu một cách bài
bản về sản phẩm cho khách hàng Hầu hết các doanh nghiệp chưa nhận thức
đúng được giá trị và ý nghĩa của xúc tiến thương mại, quảng cáo Vì vậy, chi
phí cho quảng cáo rịt thịp, chỉ dưới Ì % doanh thu (tỷ lệ này của các doanh
nghiệp nước ngoài chiếm khoảng l o - 2 0 % doanh thu)
2.2.2 Những tác động tới doanh nghiệp V N từ cam kết cắt giảm thuê quan
2.2.2.1 Tác động tích cực
Đối với khu vực doanh nghiệp, tác động của việc cắt giảm thuế nhập
khẩu rịt trực tiếp và đa dạng Đ ố i với các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm
nhập khẩu làm đầu vào cho sản xuịt, quyết định cắt giảm thuế của Nhà nước
cho phép họ tiếp cận với nguồn nguyên liệu rẻ hơn và nhiều lựa chọn hơn
Nhờ vậy, tiết kiệm được chi phí sản xuịt, nâng cao năng lực cạnh tranh của
Trang 37sản phẩm Ngược lại, với các doanh nghiệp năng lực cạnh tranh thấp và kinh doanh các sản phẩm thay thế nhập khẩu, việc cắt giảm thuế gây ra sức ép cạnh tranh gay gắt Nguy cơ thu hẹp thị phần thậm chí phá sản là rất thực tế
Việc cắt giảm thuế quan theo WTO đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vờn lớn, công nghệ cao, dịch vụ và nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, cũng như tiếp cận dễ dàng hơn các thị trường nước ngoài Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp tăng, nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu và công nghệ được mở rộng, quan hệ thương mại được mở rộng và đa dạng hoa, đặc biệt với những đời tác chiến lược của
VN Bên cạnh đó, do phải cạnh tranh với hàng hoa, dịch vụ nước ngoài, sức ép tồn tại để tránh thua lỗ, tránh phá sản sẽ là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng hàng hoa, dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh
Đ ờ i với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trong đó một sờ lớn các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hiện đang được sự bảo hộ của Nhà nước, ví
dụ như trong các ngành sản xuất, lắp ráp ó tô, xe máy, sản xuất gờm sứ xây dựng Sự bảo hộ này được thể hiện không chỉ qua hàng rào thuế quan và phi thuế quan gần như đóng cửa thị trường trong nước mà còn nằm trong chính sách ưu đãi đầu tư Tuy cùng được hưởng ưu ái bảo hộ của Nhà nước song tác động cụ thể của việc cắt giảm thuế đời với các doanh nghiệp này không giờng với các doanh nghiệp nội địa nêu ở trên Nhờ ưu thế công nghệ và vờn, lại có thời gian tạo cơ sở thị trường vững chắc nên việc cắt giảm thuế chỉ làm giảm
mức độ màu mỡ của thị trường Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư này Các
ảnh hưởng tiêu cực đời với họ chỉ dừng lại ở mức giảm lãi suất, hoặc cùng lắm
là rút vờn đầu tư sau khi đã khấu hao hết vờn và thu lãi Tất nhiên, với kinh nghiệm kinh doanh quờc tế dày dặn, các nhà đầu tư nước ngoài không dễ chấp nhận kết cục trên vì họ sẽ biết cách tranh thủ nguyên liệu nhập khẩu giá rẻ và điều tiết sản xuất, kinh doanh giữa các chi nhánh trong khu vực để tránh cạnh
tranh giữa gà cùng một mẹ
Trang 382.2.2.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện các cam kết thuế quan của V N khi gia nhập WTO còn có những ảnh hưởng tích cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước Trong đó, nổi bật là những ảnh hưởng tiêu cực sau đây:
• Mức bảo hộ giảm
Theo đánh giá sơ bộ của Bộ Tài chính về tác động của cam kết cắt giảm thuế quan theo WTO đối với các ngành hàng sản xuất trong nước cho thấy, hầu hết trong 87 ngành hàng đưỉc khảo sát đều phải bảo hộ bằng cách giảm thuế; có rất ít các ngành hàng đưỉc giữ nguyên mức bảo hộ về thuế Tính trung bình, mức bảo hộ bằng thuế hiện nay là 30,4% sẽ giảm xuống còn 15,3% Một mức cắt giảm khá mạnh Dự tính, chỉ riêng việc giảm thuế nhập khẩu theo cam kết WTO cho cả giai đoạn 5 năm sau khi gia nhập WTO là 300 triệu USD, tương đương 4.800 tỷ đồng Trung bình giảm khoảng 1.000 tỷ đồng/năm, khoảng 6 - 7 % số thu thuế nhập khẩu hàng năm Theo Bộ tài chính, bình quân các ngành có mức bảo hộ thực tế ở mức khoảng 30% Việc cắt giảm thuế theo cam kết WTO sẽ giảm mức bảo hộ chung xuống còn khoảng 15% Mức độ chênh lệch về bảo hộ giữa các ngành sẽ thu hẹp đáng kể Các ngành hiện đang đưỉc bảo hộ cao chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, nhưng giảm bảo hộ sẽ giúp các ngành nâng cao khả năng cạnh tranh để phát triển
Trang 39Bảng 2.1- Các ngành sẽ có mức bảo hộ thực tế giảm
ÍT N h ó m sản phẩm
Hệ số bảo hộ theo mức thuế hiện hành
Hệ số bảo hộ theo mức thuế cam kết WTO
1 Thịt và sản phẩm đã chế
2 Rau, dầu, chất béo động
5 Rau quả đã qua chế
6 Rượu, bia, đồ uống có
14 Nước hoa và chất pha
Trang 4026 Gasoline, chất bôi trơn đã tinh chế 12,6 1,2
Nguồn: Uy ban Quốc gia về hợp lác kinh
tế-2007: http://ncieceov.vn/index.nciec71447
• Sức ép cạnh tranh cao
Quy m ô của doanh nghiệp V N chủ yếu là vừa và nhỏ, năng lực tài chính còn yếu kém, kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về quản lý trong môi trưỗng cạnh tranh quốc tế còn có hạn, thiếu sự liên kết và chỉ tham gia được vào các khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với hầu hết các ngành hàng nên phải lệ thuộc vào nhiều các trung gian thương mại nước ngoài Năng lực nghiên cứu và thiết kế, khả năng đổi mới công nghệ của hầu hết các doanh nghiệp còn hạn chế, lực lượng lao động có trình độ cao không
đủ đáp ứng nhu cầu phát triển
Các doanh nghiệp phải đối mặt với các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, tuân thủ các quy định về nhãn mác, xuất xứ hàng hoa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Mặc dù các hàng rào phi thuế quan được cắt giảm đối với