Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận nhằm nghiên cứu tổng quan về các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khởu, bao gồm: Dịch vụ thông tin thị trường, dịch vụ giám định hàng hóa xuất khởu, dịch vụ tà
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN N G À N H KINH T Ế Đối NGOẠI
KHOA LUẬN TỐT NGHIÊP
Đ Ê TẢI:
PHÁT TRIỀN CÁC LOẠI HÌNH DỊCH vụ HÔ TRỢ XUẤT KHẤU
SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WT0
2ỐỦ9
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khoa
Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Nhung Trang Anh 17
44H ThS Vũ Thị Hạnh
H À NÔI - 2009
Trang 3MỤC LỤC DANH M Ụ C T Ừ VIẾT T Ắ T
DANH S Á C H C Á C B Ả N G BIỂU, H Ì N H V Ẽ
LỜI M Ở Đ Ầ U Ì
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH vụ Hỗ TRỢ XUẤT KHAU 3
LI Khái niệm về các dịch vụ hỗ trạ xuất khẩu 3
1.1.ỉ Định nghĩa dịch vụ hổ trợ xuất khẩu 3
1.1.2 Đặc điểm dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu 4
1.1.3 Vai trò của dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu ố
1.2 Phân loại các dịch vụ hỗ trạ xuất khẩu 7
1.2.1, Phân loại các loại hình dịch vụ theo WTO 7
1.2.2 Các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu 9
1.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trạ xuất khẩu tại một sô nước tiêu
biểu 16
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hổ trợ xuất khẩu tại Singapore 16
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tại Nhật Bản 19
C H Ư Ơ N G 2: T H Ự C T R Ạ N G P H Á T TRIỂN C Á C L O Ạ I H Ì N H DỊCH
V Ụ H Ỗ T R Ợ X U Ấ T K H Ẩ U Ở VIỆT N A M GIAI Đ O Ạ N 2006 Đ È N N A Y
23 2.1 Khái quát chung về các loại hình dịch vụ hỗ trạ xuất khẩu ở Việt
Nam 23
2.1.1 Dịch vụ thông tin về thị trưởng 24
2.1.2 Dịch vụ kiếm nghiệm, giám định hàng hóa xuất khẩu 25
2.1.3 Dịch vụ tài chính 28
2.1.4 Dịch vụ vận tải biển và logistics 32
2.2 Thực trạng phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trạ xuất khẩu giai
Trang 42.2.1 Dịch vụ thông tin về thị trưởng 34
2.2.2 Dịch vụ giám định hàng hóa xuất khẩu 39
2.2.3 Dịch vụ tài chính 43
2.2.4 Dịch vụ vận tải biển và logistics 52
2.2.5 Các loại hình dịch vụ khác 59
2.3 Đánh giá chung tình hình phát triển của các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
2.3.1 Những thành tựu đạt được 60
2.3.2 Những khó khăn còn tồn tại 62
C H Ư Ơ N G 3: GIẢI P H Á P P H Á T TRIỂN C Á C DỊCH vụ H ỗ T R Ợ
X U Ấ T K H Ẩ U T R O N G T H Ờ I GIAN T ờ I 66
3.1 C ơ hội phát triển và thách thức đôi vói các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
trong thời gian tới 66
3.1.1 Cơ hội cho các doanh nghiệp 66
3.1.2 Thách thức đủi với các doanh nghiệp dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu 71
3.2 Các giải pháp phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu trong
thời gian tới 74
3.2.1 Đủi với Nhà nước 74
3.2.2 Đôi với các chủ thể cung ứng dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu 75
3.2.3 Giải pháp riêng cho một sủ loại hình dịch vụ hủ trợ xuất khẩu 76
DANH M Ụ C TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O 87
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 WTO World Trade Orgnization Tổ chức thương mại thế
giới
Nhà nước
10 B/L Bin of Lading Vận đơn đường biển
l i Phòng T M &
C N V N
Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
12 Viện NC QL
KTTW
Viện Nghiên cứu và quản
lý Kinh tế Trung ương
14 3PL Third - party logistics
Trang 6DANH S Á C H C Á C BIÊU Đ ổ
Biểu đồ 2.1 Phương thức quảng cáo sản phẩm của doanh nghiệp (trong
logistics
57
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành dịch vụ luôn là một ngành quan trọng trong hệ thống nền kinh tế quốc dân, cùng với hai ngành chính khác là công nghiệp và nông nghiệp Các loại hình dịch vụ đáp ứng yêu cầu sản xuất và phát triển kinh tế ngày càng được coi trọng, trong đó có các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khởu Ở nhiều nước trên thế giới, khu vực dịch vụ nói chung và dịch vụ hỗ trợ xuất khởu nói riêng đã phát triển rất mạnh và trở thành một ngành kinh tế quan trọng
Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, đánh dấu sự mở cửa lớn của ngành kinh tế, từ đó xuất khởu cũng phát triển mạnh Với tốc độ tăng trưởng xuất khởu hàng năm từ 24 - 2 8 % , nhu cầu phát triển các dịch vụ hỗ trợ xuất khởu cho các doanh nghiệp sẽ càng cấp bách hơn Trên thực tế sau 2 năm gia nhập WTO, việc kinh doanh các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khởu đã đạt được nhiều thành tựu to lán như góp phần vào tăng trưởng xuất khởu, doanh thu tăng hàng năm , nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn hay tình hình nhân công Xuất phát từ thực
trạng chung đó, em đã viết khóa luận tốt nghiệp của minh với đề tài "Phát
triển các loại hình dịch vụ hố trợ xuất khẩu sau khi Việt Nam gia nhập WTO"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận nhằm nghiên cứu tổng quan về các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khởu, bao gồm: Dịch vụ thông tin thị trường, dịch vụ giám định hàng hóa xuất khởu, dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải và một số loại hình dịch vụ khác; kinh nghiệm phát triển các dịch vụ này ở một số nước tiêu biểu; phân tích thực trạng phát triển các dịch này ở nước ta giai đoạn 2006 đến nay Từ thực trạng
đó nêu lên những giải pháp phát triển phù hợp
Ì
Trang 93 Đ ố i tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu về các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu trong nước giai đoạn từ năm 2006 đến nay, tình hình sử dụng các loại hình dịch vụ này của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Là phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh dữ liệu; kết hợp nghiên cứu lý luần và tổng kết thực tiễn
5 Kết cấu khóa luần
Ngoài phần mở đầu và kết luần, kết cấu của bài luần văn gồm 3 phần chính:
Chương ì: Tổng quan về các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
Chương 2: Thực trạng phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
ở Việt Nam giai đoạn 2006 đến nay
Chương 3: Giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu trong thời
gian tới
Để hoàn thành khóa luần tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trường đại học Ngoại Thương đã dạy em những kiến thức cơ bản trong nhà trường, đặc biệt cảm ơn cô giáo hướng dẫn Th.s Vũ Thị Hạnh đã giúp em trong quá trình viết luần văn Do trình độ nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luần văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong muốn nhần được những ý kiến đóng góp của thầy cô để luần văn của em được hoàn thiện hơn và có chất lượng tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 23/04/2009
Sinh viên
Nguyễn Nhung Trang
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN V Ề DỊCH vụ Hỗ TRỢ
XUẤT KHẨU
1.1 Khái niệm về các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
1.1.1 Định nghĩa dịch vụ hỗ trợ xuất khâu
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ - tiếng Anh là Service - là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm m à là công việc của con người dưới hình thái là lao động thể lực, kiến thọc và kĩ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chọc và thương mại Khu vực dịch vụ được coi là một trong ba bộ phận cơ bản của nền kinh tế quốc dân
- khu vực I U (cùng với "Nông nghiệp" và "Công nghiệp") Trong cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, khu vực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng Tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ Điều này là do tính vô hình, khó nắm bắt và tính đa dạng, phong phú và phọc tạp của các loại dịch vụ đã làm cho việc nêu ra định nghĩa rõ ràng về dịch vụ trở nên khó khăn Ngay cả trong hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của tổ chọc thương mại thế giới cũng không đưa ra định nghĩa về dịch vụ m à chỉ liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành khác nhau
Căn cọ vào những đặc điểm nổi bật của dịch vụ và sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa, một số nhà nghiên cọu của Việt Nam đã đưa ra những khái niệm cơ bản và tương đối đầy đủ về dịch vụ Theo GS- TS Nguyễn Thị
Mơ, "Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được" Định nghĩa này được dựa tên tính chất cơ bản của dịch vụ - tính vô hình Cũng theo cách tiếp cận tương tự, TS
Hồ Văn Vĩnh (2006) đã đưa ra định nghĩa : "Dịch vụ là toàn bộ những hoạt động nhằm đáp ọng nhu cầu nào đó của con người m à sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể" Quan niệm phổ biến khác cho rằng: "Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn
3
Trang 11tại dưới dạng hình thái phi vật thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận tiện và hiệu quả hơn các nhu cầu mới trong sản xuất và đời sống con người"
1.1.1.2 Khới niệm dịch vụ hồ trợ xuất khẩu
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, khái niệm về hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hẳn không còn xa lạ dối với các doanh nghiệp nói chung
và với mủi người nói riêng Hoạt động xuất khẩu là một trong những hoạt động quan trọng nhất đối với kinh tế của quốc gia Vì vậy, yêu cầu đặt ra ở đây là các doanh nghiệp phải tăng sức cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu xuất khẩu và tận dụng tối đa lợi thế, nâng cao yếu tố con người và huy động nhiều thực thể kinh tế tham gia Các dịch vụ hủ trợ xuất khẩu ra đời nhằm giúp doanh nghiệp xuất khẩu giải quyết những khâu liên quan đến quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm xuất khẩu ngoài việc sản xuất hàng hóa đon thuần, giúp doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
Từ những đặc điểm ở trên, chúng ta có thể hiểu dịch vụ hủ trợ xuất khẩu
là các loại hình dịch vụ thương mại , bao gồm các dịch vụ phân phối: vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ., và sản xuất: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm , phục vụ cho hoạt động xuất khẩu, từ việc cung cấp đầu vào cho sản xuất hay phục vụ cho việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
1.1.2 Đặc điểm dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
Theo định nghĩa đã được nêu ở mục trên, các dịch vụ hủ trợ xuất khẩu trước hết là một loại hình dịch vụ thương mại, do đó mang những đặc điểm cơ bản của dịch vụ, đó là các đặc điểm sau:
-Thứ nhất, dịch vụ có nhiều khi là vô hình nên khó xác định
Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ một phần rất lớn không tồn tại dưới dạng vật chất ( vật phẩm cụ thể), vì vậy không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chi tiết kĩ thuật được lượng hóa Chính vì vậy, các công tác lượng hóa, thống kê, đánh giá chất lượng và quy m ô cung ứng
Trang 12dịch vụ của một doanh nghiệp cũng nhưg một quốc gia trở nên khó khăn hơn nhiều so với việc đánh giá chất lượng và quy m ô cung ứng hàng hóa hữu hình
-Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ
thường xảy ra đổng thời
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa tách khỏi lun thông và tiêu dùng Hàng hóa có thầ được lưu kho đầ dự trữ sau đó vận chuyần đi nơi khác theo cung, cầu của thị trường Khác với hàng hóa, quá trình sản xuất dịch dịch vụ thường gắn liền với tiêu dùng dịch vụ Hai quá trình này xảy ra đồng thời, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng
và người tiêu dùng dịch vụ
Thứ ba, dịch vụ có tính chất không thầ tách rời
Thông thường đầ thực hiện một dịch vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc thao tác đi liền với nhau, các thao tác này không thầ tiến hành độc lập mà phải đi liền với nhau đầ thu được kết quả m à người tiêu dùng mong muốn
Thứ tư, dịch vụ không lưu trữ được
Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ thị trường thường diễn ra đồng thời nén nói chung không thầ sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu thông trong kho sau đó mới tiêu dùng Vái cách hiầu đó, nói chung dịch vụ là sản phẩm không lưu trữ được và trong cung ứng dịch vụ không có khái niệm tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dịch vụ
Các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu cũng là loại hình dịch vụ thương mại, xét theo cách phân chia dịch vụ thương mại và phi thương mại Do đó, tính chất cơ bản của các dịch vụ này là nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận, việc cung cấp các loại hình dịch vụ của các tổ chức này cho các doanh nghiệp xuất khẩu khác là một ngành kinh doanh Các dịch vụ này luôn gắn với xuất khẩu, cũng có nghĩa là gắn với thương mại quốc tế Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp phát triần quy m ô và họ không tự mình thực hiện những dịch vụ đó m à thông qua một bên trung gian - các tổ
5
Trang 13chức cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp Các tổ chức này có thể là doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp nhà nước (các ngân hàng thương mại nhà nước); là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu có thể là dịch vụ sản xuất hay dịch vụ phân phối, phục vụ cho quá trình xuất khẩu từ giai đoạn sản xuất như việc kiểm nghiệm, giám định hàng hóa, bảo hiểm cho lô hàng hay giai đoạn phân phối bao gọm việc vận chuyển hàng hóa, làm các thủ tục hải quan
1.1.3 Vai trò của dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
Thương mại dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế xã hội Thương mại dịch vụ có mặt ở khắp mọi nơi, ở tất cả các ngành từ du lịch, kinh doanh, vận chuyển Thương mại dịch vụ chính là ví dụ rõ nét nhất của việc chuyên môn hóa lao động, phân công lao động theo chuyên sâu, nói cách khác là dịch vụ biểu hiện của sự tiến bộ xã hội, quy m ô dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự đa dạng của dịch vụ, hiệu quả dịch vụ là những tiêu chí bổ sung để đánh giá trình độ phát triển của một đất nước và cấp độ văn minh của
xã hội
Các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu có một vai trò lớn đối cả các doanh nghiệp xuất khẩu và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cũng như đối với nền kinh tế nói chung
- Dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu là cầu nối giữa các yếu tố " đầu vào" và
"đầu ra" trong quá trình xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, hiệu quả
- Dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu phát triển thúc đẩy phân công lao động xã hội, thúc đẩy chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất tăng năng suất lao động, đọng thời đáp ứng được những nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đọng
- Phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tạo ra nhiều việc làm, thu hút một
số lượng lớn lực lượng lao động xã hội, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Trang 14- Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu, đảm bảo sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP), góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững
- Phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu có vai trò kích cầu, phục vụ khách hàng tốt hơn, đẩy nhanh tốc đọ lưu thông hàng hóa, tiền tệ giúp cho nền kinh tế phát triển
- Dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu là mọt bọ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại, đó ko chỉ là cầu nối giữa các vùng trong nước m à còn là cẩu nối giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện thực hiện quá trình hợp tác, họi nhập trong phát triển kinh tế giữa các quốc gia với nhau
Đ ố i với các doanh nghiệp xuất khẩu, các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu giúp đẩy nhanh quá trình xuất khẩu, từ khâu sản xuất đến khâu phân phối, vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc sản xuất kinh doanh; chia sẻ rủi ro với các doanh nghiệp xuất khẩu trong trường hợp gặp rủi ro trong việc sản xuất, vận chuyển hàng hóa Ví dụ như các dịch
vụ tài chính giải quyết những khó khăn m à các doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải trong việc vay vốn hay tìm kiếm nguồn ngoại tệ cho hoạt đọng kinh doanh của mình
Về phía các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ được hưởng mọt khoản lợi nhuận đáng kể trong việc hỗ trợ các hoạt đọng xuất khẩu, từ đó tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp nói chung và các lao đọng nói riêng
1.2 Phản loại các dịch vụ hỗ t r ợ xuất khẩu
1.2.1 Phân loại các loại hình dịch vụ theo WTO
Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau, tùy theo cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu Xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài -nghiên cứu về các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, xin được áp dụng cách phân loại dịch vụ theo cách phân ngành dịch vụ của WTO trong "Danh mục phân loại lĩnh vực dịch vụ" [1]
7
Trang 15Việc phân ngành dịch vụ của WTO dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế Toàn bộ khu vực dịch vụ được chia làm 12 ngành, trong đó gồm 155 phân ngành, mỗi phần ngành liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể có thể tham gia vào thương mại quốc tế:
1 Dịch vụ kinh doanh gồm 6 phân ngành, 46 tiểu phân ngành, bao gồm các dịch vụ kinh doanh chuyên ngành, các dịch vụ liên quan đến máy tính, dịch vụ nghiên cứu và phát triển (R&D), dịch vụ bất động sản, dịch vụ cho thuê không qua môi giậi, các dịch vụ kinh doanh khác
2 Dịch vụ thông tin gồm 5 phân ngành, 21 tiểu phân ngành, bao gồm dịch vụ bưu điện, dịch vụ đưa thư, dịch vụ viễn thông, dịch vụ nghe nhìn, các dịch vụ truyền thông khác
3 Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan
4 Dịch vụ phân phối: Dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch
8 Các dịch vụ xã hội và liên quan đến y tế
9 Dịch vụ du lịch và lữ hành
10 Các dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao (ngoài dịch vụ nghe nhìn)
11 Dịch vụ vận tải gồm 9 phân ngành vậi 33 tiểu ngành: dịch vụ vận tải đường biển; dịch vụ vận tải đường thủy nội địa; vận tải đường hàng không; vận tải vũ trụ; dịch vụ vận tải đường sắt, dịch vụ vận tải đường bộ; vận tải theo đường ống dẫn; các dịch vụ hỗ trợ vận tải và các dịch vụ vận tải khác
12 Các dịch vụ không có tên ở trên
Trang 16Qua cách phân loại của WTO, có thể nhận thấy đây là một cách phân loại có tính "mở" - trong mỗi ngành dịch vụ đều có mục "các dịch vụ khác", ngành thứ 12 bao gồm "các ngành dịch vụ khác không có tên ở trên" Điều này còn tạo nên tính đa dạng phong phú cho các phân ngành dịch vụ trong WTO, bởi vì các dịch vụ khác dù không được liệt kê trong danh mục này nhưng cũng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO nếu dịch vụ ấy tham gia vào thương mại quốc tế
1.2.2 Các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu
Trong bối cửnh Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, nền kinh tế mở cửa với thế giới, ngoài việc đạt được những quyền lợi của một
tổ chức thành viên thì nhiều thách thức mới cũng được đặt ra với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, khi tính cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt Trước đây, các doanh nghiệp tự lo một số dịch vụ trong sửn xuất như tài chính, thiết kế, vận tửi thì nay đã sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp Hiện nay chúng ta có thể liệt kê ra các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu chủ yếu như sau :
1.2.2.1 Dịch vụ thông tin về thị trường
Dịch vụ thông tin về thị trường được phân thành hai nhóm chính: (i) Dịch vụ thông tin về thị trường và đối thủ cạnh tranh gồm các hình thức cụ thể như sau:
- Cung cấp các thông tin, tư liệu cần thiết về thị trường, đối tác kinh doanh trong và ngoài nước
- Tư vấn, nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến cơ cấu và hướng phát triển của thị trường, chiến lược hội nhập thị trường
- Tổ chức cho các nhà doanh nghiệp đi nghiên cứu thị trường nước ngoài, tiếp xúc với các doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện việc xúc tiến đầu tư, liên kết, liên doanh, nhập máy móc, thiết bị, công nghệ, vật tư và bán hàng
(li) Dịch vụ tổ chức hội chợ, triển lãm, quửng cáo:
9
Trang 17Hội chợ thương mại là hình thức xúc tiến thương mại tập trung trong một thời gian và địa điểm nhất định, trong đó các nhà sản xuất, kinh doanh trưng bày hàng hóa của mình nhằm mục đích tiếp thị, ký kết hợp đồng mua hoặc bán hàng Thông qua hội chợ, các ký doanh nghiệp quảng cáo hàng hóa của mình, bán hàng và nữm bữt nhu cầu, ký kết hợp động mua bán Hội chợ thương mại được coi là hình thức thích hợp với hàng hóa mới và những hàng hóa ứ đọng chậm luân chuyển
Triển lãm thương mại là một hình thức dịch vụ thương mại nhằm trưng bày hàng hóa, tài liệu về hàng hóa để giới thiệu, quảng cáo cho hàng hóa, nhằm mở rộng và thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa Hàng hóa và tài liệu trưng bày tại triển lãm thương mại phải phù hợp với danh mục, số lượng, chất lượng đã đăng ký với ban tổ chức triển lãm thương mại Việc giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại triển lãm thương mại phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Quảng cáo là tuyên truyền, giới thiệu về hàng hóa bằng cách sử dụng các phương tiện khác nhau trong không gian và thời gian nhất định Trong hoạt động kinh doanh, quảng cáo là công cụ quan trọng của Marketing thương mại, là phương tiện để đẩy mạnh hoạt động bán hàng Quảng cáo nhằm làm cho hàng hóa bán được nhiều hơn, nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu được kịp thời hơn Thông qua quảng cáo, người làm công tác thương mại hiểu được nhu cầu thị trường và sự phản ứng của thị trường nhanh hơn N ó là phương tiện hỗ trợ đữc lực cho cạnh tranh Trên thị trường, sản xuất càng phát triển, tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng được áp dụng vào sản xuất, nhu cầu của sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp thì dịch vụ quảng cáo càng trở nên quan trọng Hiện nay chi phí cho các hoạt động tiếp thị, trong đó có quảng cáo chiếm một tỉ lệ khá lớn trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Các phương tiện quảng cáo là báo chí, đài phát thanh, truyền hình, áp phích, bao bì nhãn mác hàng hóa, quảng cáo qua người bán hàng
Trang 181.2.2.2 Dịch vụ kiểm nghiệm, giám định hàng hóa xuất khẩu
Trong đời sống kinh tế - xã hội, giám định là một nhu cầu tất yếu khách quan, phù hợp với sự phát triển và hòa nhập vào khu vực của nền kinh tế - xã hội Việt Nam Trong lĩnh vực ngoại thương, dịch vụ giám định càng giữ một vai trò đẩc biệt quan trọng Luật pháp tất cả các nước đều có các quy định về lĩnh vực dịch vụ này Theo luật Việt Nam, Điều 254 - Luật thương mại Việt Nam 2005 quy định: "Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công việc cẩn thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hóa, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng"
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thì có khái niệm cụ thể hơn: "Giám định hàng hóa xuất nhập khẩu là một hoạt động dịch vụ do một cơ quan giám định độc lập, trung lập thực hiện thông qua việc sử dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giám định để xác định và cung cấp các chứng cứ về thực trạng hàng hóa, phương tiện cũng như vấn đề khác
có liên quan theo yêu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các tổ chức, cá nhân khác"
Nghị định số 20/ 2006/ N Đ - CP quy định các thương nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại mới được phép thực hiện giám định và cấp chứng thư giám định
Các tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định có ba đẩc điểm chính sau:
- Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Nhà nước
- Là doanh nghiệp hoạt động độc lập, chuyên kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa
- Là doanh nghiệp không có hoạt động mua bán hàng hóa, trừ việc mua bán thiết bị máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ ngành nghề của doanh nghiệp Dịch vụ kiểm định hàng hóa bao gồm các hình thức cụ thể sau:
l i
Trang 19- Kiểm nghiệm: Đây là công việc mang tính chất kiểm tra của Nhà nước nhằm cấp giấy chứng nhận hàng hóa và xuất xứ hàng hóa
- Giám định: Nhằm cung cấp báo cáo, biên bản giám định theo yêu cầu của các bên mua, bên bán về phẩm chất, số lượng, khối lượng, chất lượng, bao
bì, tổn thất hàng hóa và các hình thức giám định phi hàng hóa như giám định hàng hải, giám định xây dựng, thẩm định giá công trình đầu tư, Các loởi dịch vụ do các tố chức giám định thực hiện bao gồm:
+ Giám đinh hàng hóa: Là loởi dịch vụ chính của các tổ chức giám định ở Việt Nam, chiếm khoảng 7 0 % doanh thu phí giám định của các tổ chức này Giám định hàng hóa bao gồm :
•SGiám định số, khối lượng hàng hóa
•SGiám định quy cách, phẩm chất, tình trởng hàng hóa
/Giám định bao bì, kí m ã hiệu
sGiám định tổn thất hàng hóa
sGiám định thể tích đối với hàng lỏng
sGiám định mức độ vệ sinh an toàn cho việc sử dụng hàng hóa
^Thẩm định trị giá hàng hóa
sGiám định nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa
•SGiám định đặc tính hàng hóa và tính năng sử dụng
sGiám định lắp đặt, vận hành, nghiệm thu hệ thống máy móc thiết bị
+ Giám định phi hàng hóa gồm các giám định hàng hải, giám định xây dựng, lắp đặt máy: Doanh thu phí của loởi dịch vụ này mới chiếm khoảng
3 0 % tổng doanh thu của các tổ chức này và chất lượng giám định loởi này của các tổ chức Việt Nam còn kém so với trình độ chung của thế giới Vì vậy, cần
cố gắng nâng cao chất lượng và tỷ trọng dịch vụ này trong thời gian tới
1.2.2.3 Dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nói riêng
và ngành kinh tế nói chung Theo cách phân loởi của WTO, dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ ngân hàng; dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan khác
Trang 20a.Dịch vụ ngân hàng
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế Bên cạnh những chức năng truyền thống như chức năng trao đổi ngoại tệ, thanh toán, tín dụng, tiết kiệm hay chức năng quản lý tiền mặt, các ngân hàng ngày nay còn có thêm nhiều chức năng khác như chức năng ủy thác, chức năng bảo hiẩm và môi giới Nhờ sự đa dạng trong dịch vụ và vai trò m à các ngân hàng ngày nay được xem như các "Bách hóa tài chính" (íinancial department stores) Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp xuất khẩu, các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp là dịch vụ thanh toán quốc tế, cho vay tín dụng xuất khẩu và bảo hiẩm xuất khẩu
Đ ố i với nhiều doanh nghiệp, việc cung ứng vốn cho xuất khẩu và bảo hiẩm xuất khẩu là điều kiện tiền đề quan trọng cho hoạt động xuất khẩu Vấn
đẩ cung ứng vốn luôn dược coi là yếu tố cạnh tranh rất quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu Tuy nhiên, vốn sử dụng trong kinh doanh xuất khẩu luôn gắn với những rủi ro Vì vậy, hoạt động cấp vốn thường gắn với các hoạt động bảo hiẩm xuất khẩu
b Dịch vụ bảo hiẩm
Theo Luật kinh doanh bảo hiẩm của Việt Nam năm 2000, kinh doanh bảo hiẩm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiẩm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiẩm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiẩm, trên cơ sở bên mua bảo hiẩm đóng phí bảo hiẩm đẩ doanh nghiệp bảo hiẩm trả tiền bảo hiẩm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiẩm khi xảy ra sự kiện bảo hiẩm Như vậy, bản chất của bảo hiẩm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiẩm cùng chịu
Bảo hiẩm thường được chia thành hai loại chính là bảo hiẩm nhân thọ
và bảo hiẩm phi nhân thọ
13
Trang 21Bảo hiểm nhân thọ thường là các hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi cho các cá nhân Đ ố i với bảo hiểm nhân thọ, bạn trả một khoản phí bảo hiểm thường niên để đảm bảo được trả một khoản tiền khi bạn chết hay đến tuổi Ví dụ, bảo hiểm sinh kỳ là loại bảo hiểm mà công ty bảo hiểm trả tiền cho người thụ hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm vẫn sống cho đến thời điểm nhựt định
Bảo hiểm phi nhân thọ là một loại hình kinh doanh m à trong đó công ty bảo hiểm được nhận phí bảo hiểm, đồng thời phải trả cho người được bảo hiểm một số tiền hay một khoảng vật chựt có giá trị tương đương tùy theo sự kiện xảy ra gây ra một tổn thựt về tài chính Trong hoạt động kinh doanh xuựt nhập khẩu, doanh nghiệp thường sử dụng hai loại hình bảo hiểm chính là bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, nhằm giảm nhẹ tổn thựt trong trường hợp gặp phải các rủi ro trong quá trình chuyên chở hàng hóa
1.2.2.4 Dịch vụ vận tải biển và logistics
Dịch vụ này liên quan đến việc lựa chọn phương tiện vận tải thích hợp
để vận chuyển hàng hóa xuựt nhập khẩu, giảm tối đa các thiệt hại trong quá trình vận chuyển, đảm bảo về kho chứa, bến bãi, bảo hiểm vận tải
Dịch vụ vận tải là hình thức dịch vụ rựt phát triển trong thương mại hiện đại vì nó cho phép các doanh nghiệp sản xuựt và xuựt khẩu tập trung vào công việc của mình là đẩy mạnh sản xuựt kinh doanh, nâng cao chựt lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý sức lao động và phương tiện vận tải, giảm chi phí lưu thông, đồng thời cho phép các doanh nghiệp xuựt khẩu làm tốt công tác tiếp cận và nghiên cứu nhu cầu thị trường, phục vụ tốt nhu cầu khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Trong phạm vi nghiên cứu của về các dịch
vụ hỗ trợ xuựt khẩu, đề tài sẽ đi sâu vào phân tích hai loại hình dịch vụ vận tải chính là dịch vụ vận tải biển và dịch vụ logistics
Hiện nay, vận tải biển giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyên chở hàng hóa trên thị trường thế giới Vận tải đường biển là ngành vận tải chủ
Trang 22chốt so với các phương thức vận tải khác trong chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, đảm nhận chuyên chở gần 8 0 % tổng khối lượng hàng hóa trong buôn bán quốc tế Ư u điểm lớn nhất của vận tải biển là có năng lực chuyên chở rất lớn, giá thành vận chuyển thấp nên việc ứng dụng dừch vụ vận tải biển vào việc phục vụ hoạt động xuất khẩu luôn được quan tâm phát triển
Dừch vụ logistics (dừch vụ hậu cần) là dừch vụ m à ở đó tổ chức kinh doanh thực hiện dừch vụ nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dừch vụ khác có liên quan để gửi hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải, hoặc của người làm dừch vụ khác gọi chung là khách hàng Theo Luật Thương Mại Việt Nam, hậu cần là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc các dừch vụ khác liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao Như vậy, dừch vụ logistics chính là hình thức phát triển cao hơn của dừch vụ kho vận và giao nhận hàng hóa trong vận tải, bao gồm:
- Giao nhận vận chuyển các loại hàng hóa (hàng xuất nhập khẩu thông thường, hàng triển lãm), hàng công trình, hàng chuyển phát nhanh Theo phương thức vận chuyển bằng đường biển, hàng không, đa phương thức
- Giao nhận vận chuyển từ cửa tới cửa thông qua hệ thống đại lý giao nhận
- Đóng gói, bốc xếp, bảo quản và lưu giữ hàng hóa trong kho của tổ chức giao nhận
Sự phát triển của các khâu dừch vụ giao nhận kho vận trong logistics dựa trên cơ sở tận dụng các ưu điểm của công nghệ tin học để điều phối hàng hoa từ khâu tiền sản xuất tới tận tay người tiêu dùng, cuối cùng qua các công đoạn: dừch chuyển, lưu kho và phân phát hàng hoa Trong quá trình lưu chuyển hàng hoa, đồng thời cũng có sự lưu chuyển của các dòng thông tin về dừch vụ Logistis Cũng vì vậy, ngày nay nhiều công ty giao nhận kho vận và
15
Trang 23nhiều hiệp hội giao nhận kho vận ở các nước đã đổi tên thành công ty cung cấp dịch vụ Logistics và Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ Logistics Cũng vì
lẽ đó, ở những nước không nói tiếng Anh, thuật ngữ Logistics được để nguyên không dịch sang tiếng Việt để diễn đạt nội dung nghề nghiệp của thuật ngữ Logistics
Ở các nước phát triển và một sả nền kinh tế mới nổi phát triển hoạt động logistics rất đa dạng và phong phú Chi phí logistics chiếm đến 9 - 1 0 % GDP trong nền kinh tế Hoa Kỳ và lên đến 2 0 % trong nền kinh tế Trung Quảc
và Thái Lan Viện nghiên cứu Logistics của Nhật Bản ước tính chi phí logistics với chi phí sản phẩm là 7 % trong năm 2006, 6 5 % trong sả này là chi phí vận tải, 3 2 % liên quan đến lưu kho, còn lại là các chi phí khác Hiện nay, dựa vào cấu trúc chi phí logistics các nước đang phát triển, theo các nhà kinh
tế thì chi phí logistics ở Việt Nam chiếm đến 15- 2 0 % GDP [2]
1.3 K i n h nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tại một sả nước tiêu biểu
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tại Singapore
Với diện tích chưa đầy 1000km2 và dân sả chỉ xấp xỉ 5 triệu người, Singapore được coi là nền kinh tế phát triển nhất khu vực Đông Nam á Là một trung tâm kinh tế của khu vực, đất nước này có nền sản xuất và dịch vụ phát triển mạnh, trong đó dịch vụ là một ngành mũi nhọn, cũng là một ngành được coi là hương phát triển chính trong thế kỉ 21 của Singapore
Những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2, Singapore vẫn là thuộc địa của Anh và sau đó sáp nhập với Malaysia cho tới năm 1965 mới tách ra Thời
kỳ đầu sau chiến tranh, kinh tế Singapore cũng gặp những khó khăn lớn do cơ
sở hạ tầng bị phá hoại, tình hình xã hội bất ổn định, nền kinh tế tăng trưởng chậm, tỉ lệ thất nghiệp cao và lương thấp Tuy nhiên, từ cuải thập niên 40 đến đầu thập niên 50 của thế kỷ 20, nhờ có nhu cầu lớn của thế giới về thép và cao
su, nền kinh tế đã dần dần hồi phục và đạt được những thành tựu to lớn N ă m
Trang 241975, Singapore đã trở thành cảng biển tấp nập với lượng giao dịch chỉ sau cảng Rotterdam và New York Thập kỉ 80 đánh dấu bước phát triển của nền kinh tế Singapore trong khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái
Mặc dù có ngành sản xuất phát triển, nền kinh tế Singapore dựa chủ yếu vào thương mại và dịch vụ, đặc biệt trên quy m ô quốc tế Hiện nay, đóng góp vào GDP của đất nước này có 7 0 % là tộ ngành dịch vụ, trong đó các dịch vụ
hỗ trợ xuất khẩu chính như dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải đóng một vai trò hết sức quan trọng
Singapore có đầy đủ các loại hình dịch vụ tài chính theo khái niệm của WTO Trong đó, xét về khía cạnh dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, dịch vụ ngân hàng
và dịch vụ bảo hiểm là hai loại hình dịch vụ phát triển rất mạnh
Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ tài chính xuất hiện sớm nhất và rất đa dạng, trong đó dịch vụ tín dụng là loại hình dịch vụ ra đời đầu tiên và hiện cũng vẫn là loại hình dịch vụ mạnh nhất Thị trường dịch vụ ngân hàng tại Singapore có đầy đủ các loại hình dịch vụ của thế giới tộ dịch vụ cá nhân cho tới dịch vụ tổ chức, tộ dịch vụ đầu tư cho tới các dịch vụ liên quan tới thương mại giao dịch, tộ các dịch vụ lâu đời như gửi tiết kiệm và cho vay tín dụng tới các ngân hàng hiện đại như e-banking, tộ các dịch vụ trong nước tới các dịch vụ quốc tế Tại Singapore, thị trường dịch vụ này cũng là thị trường lớn nhất trong các thị trường dịch vụ tài chính, với các đóng góp lớn nhất cho nền kinh tế quốc dàn Hoạt động lớn nhất của thị trường này là huy động nguồn vốn nhàn rỗi tộ xã hội thông qua các khoản tiền gửi và cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các hình thức cho vay thương mại, cho vay tài trợ dự án
Bảo hiểm cũng là thị trường dịch vụ tài chính khá lâu đời ở Singapore Tuy Singapore là nước nhỏ, nhưng nhờ hoạt động xuất khẩu và dịch vụ vận tải biển phát triển mạnh nên dịch vụ bảo hiểm cũng được phát triển Thị trường bảo hiểm Singapore cũng cung cấp đầy đủ các loại hình bảo hiểm, tộ nhân thọ đến phi nhân thọ, mang lại hỗ trợ đắc lực cho các ngành kinh tế, bao gồm cả
IHGSAI-THU0ÍI3
LN.QỈMl
ị zoog :
Trang 25hoạt động xuất khẩu, vận tải, thương mại cũng như đời sống nhân dân Đến nay, Singapore cũng được coi là một trung tâm bảo hiểm tiên tiến ở châu á Ngành dịch vụ vận tải của Singapore cũng phát triển rất mạnh, về cả dịch vụ vận tải biển và dịch vụ logistics
Singapore có điều kiện cơ sở vật chất lớn mạnh, đội ngũ tàu thuyền đi biển phục vụ tốt cho hoạt động xuất khẩu các mổt hàng chính như thép, cao
su Đ ộ i tàu biển của Singapore gồm nhiều các tàu trẻ, độ tuổi bình quân là 10, với trọng tải lên đến hàng triệu DWT (Deadxveight tonnage, chỉ số năng lực vận chuyển của tàu bao gồm trọng lượng của đội tầu, hành khách, hàng hóa, dầu, nước uống và kho hàng) Điều này tạo thuận lợi cho việc giành quyền vận tải hàng hóa trong hoạt động xuất khẩu của đất nước này
Dịch vụ logistics tại Singapore cũng rất phát triển, thuộc nhóm Ì trong các quốc gia Đông á, cùng với Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan Dịch vụ logistics tại Singapore bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lun kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa được thực hiện một cách chuyên nghiệp, nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu một cách dễ dàng hơn
Có được ngành dịch vụ vận tải phát triển như vậy là do Chính phủ Singapore đã ban hành nhiều chính sách tập trung vào ngành vận tải như hỗ trợ vốn, các ưu đãi về thuế, ngoài ra còn có các chính sách ưu đãi sĩ quan và thuyền viên làm việc trên tàu, thúc đẩy nhiều thành phần kinh tế và cá nhân tham gia vận tải biển Mổt khác, chính phủ Singapore cũng tập trung đầu tư cơ
sở hạ tầng, kho bãi, cải tiến tàu thuyền đi biển, phục vụ tốt cho dịch vụ logistics và dịch vụ vận tải biển
Vấn đề nhân lực ở Singapore cũng là một yếu tố thành công của ngành dịch vụ nước này Quá trình tuyển chọn các lao động trí óc làm việc trong các ngành dịch vụ ỏ Singapore rất kỹ càng Người lao động đòi hỏi có khả năng thực sự, đầu óc nhạy bén với công việc và trải qua các vòng phỏng vấn phù
Trang 26hợp với từng yêu cầu công việc khác nhau Chính sách nhân công đúng đắn luôn là yếu tố quan trọng cho sự thành công của doanh nghiệp
Với định hướng phát triển và những chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện của nền kinh tế cũng như bối cảnh thế giới, có thể nói chính phủ Singapore đã thành công trong việc đưa nước này trở thành con hấ châu á và là một trong những trung tâm tài chính của khu vực cũng như thế giới
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tại Nhật Bản
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi phát triển cao độ Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế - công nghiệp - tài chính thương mại - dịch vụ - khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ) Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn dầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới
Sự thành công vượt bậc của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh do sự kết hợp của nhiều yếu tố tạo nên Một nhân tố nấi bật trong số đó là vai trò quan trọng của chiến lược hướng về xuất khẩu Trong thời kỳ đầu, từ một nền công nghiệp chủ yếu dựa vào việc sản xuất các mặt hàng có hàm lượng lao động cao, Nhật Bản đã phát huy sức mạnh truyền thống là một nước chuyên chế biến xuất khẩu các sản phẩm được chế tạo bằng nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài, đã được hình thành trước chiến tranh, nhằm nhanh chóng mở rộng
và tăng cường xuất khẩu
Có thể nói một trong những nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế Nhật Bản là các biện pháp phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu Nhằm kích thích xuất khẩu hàng hóa, ngay từ đầu, Chính phủ Nhật Bản
đã đưa ra các biện pháp khuyến khích và ưu đãi các nhà xuất khẩu như: miễn,
19
Trang 27giảm thuế cho các công ty xuất khẩu, thông qua các cơ quan tài chính của Chính phủ như ngân hàng phát triển Nhật Bản và ngân hàng xuất nhập khẩu, cấp vốn với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Đặc biệt, Chính phủ còn thành lập các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu trong các lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm các thị trưởng bên ngoài Tiêu biểu nhất là Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO), được thành lập năm 1958 với các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu như: xây dựng các điểm điều tra ở hầu hết các nước, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, về thị hiếu tiêu dùng, về tình hình cạnh tranh của các nước; sau đó tập hợp các thông tin này chuyển về nước phục vụ cho các doanh nghiệp có nhu cầu JETRO còn thành lập các phòng trung bày tại nước ngoài, tổ chức các cuộc triển lãm trong và ngoài nước để giới thiệu sản phẩm mới; đồng thởi JETRO thăm dò và tìm kiếm những đối tác có thể trở thành khách hàng của Nhật Bản, và tổ chức để họ có thể gặp gỡ, tiếp xúc với các nhà sản xuất trong nước
Chính phủ Nhật Bản thành lập Ngân hàng xuất, nhập khẩu (EXIMBANK) để hỗ trợ tín dụng cho những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như sản xuất chế tạo tàu biển, thép, thiết bị Hội nghị tối cao bàn về xuất khẩu (gồm đại diện của Chính phủ và giới kinh doanh) được thành lập, họp định kỳ bàn về mục tiêu xuất khẩu và đánh giá các biện pháp hỗ trợ
Về dịch vụ vận tải, Nhật Bản luôn tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống tàu biển, cảng biển với trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Hệ thống cơ sở vật chất vận tải biển ở Nhật Bản luôn là một trong những
hệ thống đứng đầu thế giới về chất lượng chuyên chở hàng hóa, chất lượng kho bãi, dịch vụ Ngoài ra, Nhật Bản còn tập trung phát triển các dịch vụ mới như dịch vụ vận chuyển đưởng biển nhanh vào đầu năm 2009, kết nối với các cảng của các nước lân cận m à điển hình là Trung Quốc, chính sách này đã phát huy một cách tích cực vai trò của ngành vận tải biển Nhật Bản đối với các doanh nghiệp xuất khẩu
Trang 28Bên cạnh đó, để khuyến khích xuất khẩu, Nhật Bản đề ra các quy định công nhận các doanh nghiệp có nhiều cống hiến cho xuất khẩu, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu bao gồm các ngân hàng, các công
ty bảo hiểm, các công ty kinh doanh dịch vụ vận tải, hàng năm kiểm điểm, đánh giá kết quả kinh doanh
Đ ố i với Nhật Bản, tốc độ xuất khẩu nhanh một mặt chựng minh các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu đã đáp ựng được tốt yêu cầu đề ra, hỗ trợ tốt cho việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Nhật Bản ra các nước khác trên thế giới
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nhật Bản và Singapore đều là hai nước trong khu vực châu Á, đặc biệt Singapore là một nước trong khối các quốc gia Đông Nam Á, vì vậy các nước này đều có những nét tương đồng với Việt Nam về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Việc áp dụng kinh nghiệm thành công của các nước này vào nước ta là điều hết sực cần thiết nhằm phát triển hơn nữa thị trường dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu trong nước
Thứ nhát, kinh nghiệm về đầu tư cơ sở hạ tầng cho các ngành dịch vụ
Hệ thống cơ sở hạ tầng của các tổ chực dịch vụ ở Singapore và Nhật Bản rất hiện đại, đó là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công của các ngành dịch vụ Các tổ chực cung ựng dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu ở hai nước này luôn tập trung nâng cao, cải tiến cơ sở hạ tầng hiện đại, đáp ựng nhu cầu dịch vụ trong nước Hệ thống ngân hàng lớn mạnh vượt bậc nhờ áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong việc cung ựng dịch vụ Các cảng biển và đội tàu biển ở Singapore và Nhật Bản đều là nằm trong những nước lớn nhất trên thế giới Nhiều cảng biển lớn được xây dựng hiện đại, phục
vụ nhiều loại tàu thuyền khác nhau Đ ộ i tàu biển cũng hàng năm được cải tiến
và đóng mới, giảm tuổi thọ của các tàu Việt Nam là một nước đang phát triển,
do đó vốn và cơ sở hạ tầng còn thua kém Nhật và Singapore Tuy nhiên, với chính sách tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng vào các ngành dịch vụ hỗ trợ xuất
21
Trang 29khẩu, chúng ta có thể huy động vốn từ các nguồn tài trợ khác và từ chính bản thân doanh nghiệp để cải tiến tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin trong nước
Thứ hai, kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc thành lập các tổ
chặc hỗ trợ xuất khẩu, đặc biệt là tổ chặc xúc tiến thương mại Ớ Nhật Bản, tổ chặc xúc tiến thương mại JETRO không chỉ đem thuần là tổ chặc các hội chợ triển lãm mà còn xây dựng các điểm điều tra ở hầu hết các nước, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, về thị hiếu tiêu dùng, về tình hình cạnh tranh của các nước; sau đó tập hợp các thông tin này chuyển về nước phục vụ cho các doanh nghiệp có nhu cầu; thăm dò và tìm kiếm những đối tác
có thể trở thành khách hàng của Nhật Bản, và tổ chặc để họ có thể gặp gỡ, tiếp xúc với các nhà sản xuất trong nước Trong khi đó tại Việt Nam, tổ chặc xúc tiến thương mại mới chỉ thực hiện vai trò chính là tổ chặc các hội chợ triển lãm M ô hình tổ chặc JETRO ở Nhật Bản rất đáng được chính phủ nước ta tiếp thu kinh nghiệm
Thứ ba, cần học tập kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng
dịch vụ Chất lượng dịch vụ được hình thành từ nhiều yếu tố như chất lượng nhân công, cơ sở vật chất hay chính sách hoạt động của doanh nghiệp Ta có thể thấy, đội ngũ nhân công trong các ngành dịch vụ của Nhật Bản và Singapore có trình độ chuyên môn cao hơn Việt Nam Điều này là do nguồn lao động trong các ngành dịch vụ của các nước này được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, quá trình tuyển dụng khắt khe hơn ở nước ta Ngoài ta, chính sách hoạt động đúng của các tổ chặc cũng góp phần thành công cho chất lượng dịch vụ của công ty Các tổ chặc cung ặng dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu ở nước ta cần tập trung vào những kinh nghiệm thành công này để có những chính sách phù hợp cho nội bộ công ty
Trang 30C H Ư Ơ N G 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ HỖ TRỢ XUẤT KHAU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
có hoặc bị cấm Nhưng từ khi đất nước ta thực hiện quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các ngành dịch vụ cũng phát triển mạnh và ngày càng
đa dạng hơn Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng qua từng giai đoạn của các ngành dịch vụ đã có nhiều điểm khác biệt
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ chính qua các giai đoạn
ÍT Phân ngành dịch vụ
Tốc đô tăng trưởng bình quán hàng n ă m 1986-
3 Thương mại, sửa chữa thiết bị 4,2 7,4 5,9 7,5
4 Vận tải, kho chứa và viễn thông 3,4 7,2 6,5 7,4
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư-Chương trình phát triển Liên hợp quốc 2006
23
Trang 31Trong giai đoạn 1986-1996, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ gia tăng liên tục và cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP Các dịch vụ gắn liền với xuất khẩu phục vụ sản xuất
Sự sụt giảm tăng trưởng của khu vực dịch vụ kể từ năm 1996 phát triển, góp phần thúc đẩy và nâng cao hiỷu quả của sản xuất kinh doanh, đã khiến cho khu vực này không đạt mục tiêu về tăng trưởng được đề ra tại các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm Kế hoạch 1996-2000 đặt mục tiêu khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng bình quân 12-13%/năm và đến năm 2000 chiếm tỷ trọng 45-46% trong GDP, tuy nhiên các con số đạt được tương ứng chỉ là 5,7% và 38,74% Các mục tiêu của kế hoạch 2001-2005 tương ứng là trên 7 % và 41-42%, nhưng các con số tương ứng chỉ là 6,97% và 38,50% Mấy năm gần đây tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ đã có xu hướng hồi phục, nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP
Diễn biến tăng trưởng của các phân ngành dịch vụ trong 20 năm qua cũng có nhiều điểm tương tự như diễn biến tăng trưởng của cả khu vực dịch vụ nói chung Phẩn lớn các phân ngành dịch vụ đều có tốc độ tăng trưởng khá cao trong giai đoạn 1990-1995 (cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP), nhưng trong giai đoạn 1995-2000 tốc độ tăng trưởng giảm mạnh (thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP) và đạt dấu hiỷu phục hồi trong giai đoạn 2005
2.1.1 Dịch vụ thông tin về thị trường
2.1.1.1 Dịch vụ thông tin vê thị trường vá đối thủ cạnh tranh
Các dịch vụ thông tin về thị trường và đối thủ cạnh tranh thường được thực hiỷn qua các Bộ, ngành, Sở, thương vụ hoặc qua các tổ chức phi chính phủ như phòng thương mại và công nghiỷp, các hiỷp hội ngành nghề, Hiỷn các hiỷp hội ngành hàng đều đã có hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) ỏ các mức độ khác nhau, qua đó khẳng định vị thế với cộng đồng doanh nghiỷp
và với đồng nghiỷp nước ngoài Một số hiỷp hội có đội ngũ chuyên gia, tư vấn
về khoa học, công nghỷ, marketing, quản trị kinh doanh, luật pháp
Trang 322.1.1.2 Dịch vụ tổ chức hội chợ, triển lãm, quảng cáo
Trước năm 1990, dịch vụ hội chợ triển lãm ở Việt Nam được Nhà nước bao cấp, chủ yếu là mang tính tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước; dịch vụ quảng cáo cũng đã khá quen thuộc với các doanh nghiệp Việt Nam Từ khi Nhà nước cắt giảm mạnh các khoản bao cấp cho các dịch vụ hội chợ quảng cáo và giao quyền tự chủ cho kinh doanh theo cơ chế thị trường cho doanh nghiệp thì nhu cỗu tham gia hội chợ, triển lãm, quảng cáo của các doanh nghiệp sản xuất đã tăng lên đáng kể, các tổ chức cung cấp dịch vụ, hội chợ, triển lãm, quảng cáo phát triển rất nhanh chóng Từ chỗ chỉ
có vài đơn vị tổ chức hội chợ triển lãm, quảng cáo đến năm 1995 đã có khoảng 15 văn phòng quảng cáo của nước ngoài với mạng lưới phối hợp và cộng tác viên khá đông đảo gồm các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, các thương vụ nước ngoài tại Việt Nam, các vụ hợp tác quốc tế, trung tâm thông tin của 18 bộ ngành và các tỉnh thành phố lớn trong cả nước
Các tổ chức hội chợ triển lãm đã tiến hành Hội chợ triển lãm tổng hợp, định kỳ hàng năm hoặc nửa năm về thương mại, hàng tiêu dùng và thông qua các cuộc hội chợ triển lãm này, các doanh nghiệp đã tiếp nhận được các dịch
vụ như:
• Triển lãm hàng hóa sản phẩm của mình
• Tham gia trao đổi thông tin tại các cuộc hội thảo
• Tiếp xúc để xúc tiến thương mại, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, xúc tiến đỗu tư, liên doanh liên kết
Về dịch vụ quảng cáo, theo thống kê của hiệp hội quảng cáo TP.HCM, hiện tại, Việt Nam có trên 3.000 công ty quảng cáo, trong đó có khoảng 600 còng ty trực tiếp kinh doanh các dịch vụ quảng cáo và khoảng 900 công ty có chức năng hoặc gián tiếp kinh doanh dịch vụ quảng cáo
2.1.2 Dịch vụ kiểm nghiệm, giám định hàng hóa xuất khâu
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cỗu hóa về kinh tế, chất lượng sản phẩm hàng hóa có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành thách thức to lớn
25
Trang 33với mọi quốc gia Chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ớ Việt Nam, khi ký kết hợp đồng xuất khẩu hoỉc mở L/C, thường người mua hoỉc hai bên bán mua cùng chỉ định một tổ chức giám định trung lập, độc lập
mà đôi bên tin tưởng để kiểm tra hàng hóa trước khi xuất khẩu Chứng thư giám định của tổ chức này là cơ sở thanh toán tiền hàng và giải quyết tranh chấp về sau (nếu có) Thông thường phí giám định do người bán chịu
Nhà xuất khẩu đến tổ chức giám định đã được chỉ định làm các thủ tục sau:
+ Gửi giấy yêu cầu giám định đã điền dầy đủ nội dung, ký tên đóng dấu + Đính kèm hợp đồng hoỉc L/C trong đó chỉ rõ hạng mục cần giám định, phương pháp lấy mẫu, chỉ tiêu kiểm tra và định mức kiểm tra
+ Hẹn rõ ngày, giờ, địa điểm, người liên hệ, ngôn ngữ được sử dụng trong chứng thư
+ Thỏa thuận phí giám định
Người yêu cầu giám định có nghĩa vụ bố trí phương tiện, nhân công, vật
tư cần thiết phục vụ cho công việc giám định tại hiện trường Nếu thỏa thuận toàn bộ công việc do tổ chức giám định tự giải quyết thì chi phí phát sinh sẽ tính gộp vào giám định đã thỏa thuận
Tổ chức giám định có nghĩa vụ bố trí giám định viên đủ năng lực, trình
độ đến nơi kiểm tra hàng hóa và tiến hành đầy đủ các hạng mục giám định theo đúng phương pháp, tiêu chuẩn quy định
Thông thường việc giám định hàng hóa xuất khẩu được tiến hành theo 3 bước:
Bước ỉ: Giám định chính thức lúc hàng được coi là đủ số, khối lượng và
đạt phẩm chất quy định
Bước 2: Giám sát quá trình xếp hàng lên phương tiện trung chuyển từ
kho bãi ra phương tiện vận tải chuyên chở bằng đường biển, đường không, đường sắt
Trang 34Bước 3: Giám sát quá trình xếp hàng lên phương tiện vận tải
Trong trường hợp chuyên chở hàng hóa bằng container do chủ hàng tự xếp, việc đếm và niêm chì bước 2 và 3 thực hiện cùng một lúc
- Cấp và sử dụng chứng thư giám định
+ Sửa khi ký được B/L hoểc AWB với hãng vận tải, nhà xuất khẩu cung cấp bản vận đơn copy cho tổ chức giám định để được cấp chứng thư giám định
+ Tổ chức giám định cấp chứng thư giám định chính xác, trung thực, kịp thời cho các nhà xuất khẩu với nội dung phù hợp với các quy định của hợp đồng, L/C
+ Nhà xuất khẩu sử dụng chứng thư giám định vào các mục đích:
•Thanh toán tiền hàng theo L/C, C/A, TTR
•Thông báo cho người mua biết mình đã hoàn thành nhiệm vụ giám định
•Thông báo cho người vận tải, bảo hiểm biết các thông tin chi tiết về hàng hóa, có phương án thích hợp cho việc chuyên chở hàng hóa
Hiện nay ở Việt Nam có hơn 40 tổ chức giám định ( gồm cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước), thuộc 5 nhóm khác nhau, bao gồm các công ty giám định trong nước, do Nhà nước thành lập hay các công ty giám định nước ngoài
Nhóm Ì là tổ chức giám định do Nhà nước thành lập Ở Việt Nam hiện nay chỉ có duy nhất một tổ chức giám định do Nhà nước thành lập Đ ó là công
ty giám định hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam- Vinacontrol dược thành lập năm 1957 do Bộ Công Thương quản lý Đây là doanh nghiệp dịch vụ đạt tiêu chuẩn ISO 9002 đầu tiên tại Việt Nam
Nhóm 2 bao gồm các tổ chức giám định dưới dạng cơ quan giám định mang tính chất Nhà nước do các Bộ chủ quản, chuyên ngành có hàng xuất
27
Trang 35nhập khẩu đứng ra thành lập và quản lý như Foodcontrol, Cafecontrol, Quacontrol
Nhóm 3 là các Trung tâm Tiêu chuẩn Đ o lường Chất lượng Khu vực ì,
li, in trực thuộc Tổng cục tiêu chuẩn Đ o lường Chất Lượng; trung tâm kiểm
tra chất lượng hàng hóa và thực phẩm FCC là tổ chức giám định cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý pháp quyền về chất lượng hàng hóa nói chung Ngoài các tổ chức giám định được Nhà nước và các bộ quản lý, thị trường giám định hàng hóa nước ta còn có sự hoạt động của các công ty trách nhiởm hữu hạn cung cấp dịch vụ giám địn h như công ty TNHH Ngân Hà, công ty TNHH Á Châu; các công ty giám định nước ngoài hoạt động giám
định tại Viởt Nam như SGS - Thụy Sỹ, B.v - Pháp, Shinken - Đức
Như vậy, thị trường giám định ở nước ta thời gian qua hoạt động sôi nổi nhờ sự tham gia của nhiều chủ thể cung cấp dịch vụ giám định hàng hóa khác nhau, từ trong nước và các tổ chức nước ngoài Thị trường giám định hàng hóa xuất nhập khẩu thời gian qua có sự cạnh tranh lớn do một số doanh nghiởp nhập khẩu nước ngoài thay vì lựa chọn các công ty giám định trong nước đã chỉ định các công ty giám định của nước mình tiến hành dịch vụ giám định Điều này một phần làm cho thị phần hoạt động các tổ chức trong nước bị hẹp
đi Tuy nhiên đây cũng là một động lực cho các tổ chức trong nước cải tiến chất lượng cung ứng dịch vụ của mình từ đó cạnh tranh với các tổ chức nước ngoài
2.1.3 Dịch vụ tài chính
2.1.3.1 Dịch vụ ngân hàng
Ngành ngân hàng ở Viởt Nam trong những năm qua có sự phát triển mạnh mẽ, với viởc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Hở thống ngân hàng nước ta hiởn nay có thể được chia thành các ngân hàng thương mại Nhà nước và các ngân hàng thương mại cổ phần Hoạt động của các ngân hàng này nhìn chung đểu phát triển mạnh, các doanh nghiởp xuất khẩu Viởt Nam sử dụng dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng
Trang 36Hiện nay, việc cấp vốn và tài chính cho các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ xuất khẩu do các ngân hàng chủ yếu là do các N H T M N N đảm nhận Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ xuất khẩu được hưởng một số chính sách khuyến khích về tài chính (ngoài thuế) như sau:
- Được ưu tiên vay vốn, đặc biệt là vốn trung bình và dài hạn là loại vốn còn rất thiếu ở Việt Nam
- Được hưởng lãi suất ưu đãi: Lãi suất vay ngắn hạn đế sản xuất hàng xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu thường thấp hơn tớ 20-25% lãi suất ngắn hạn thông thường
Các chính sách trên được thực hiện thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh và theo chức năng do Nhà nước quy định ban đầu cho các ngân hàng thì:
- Các khoản cho vay vốn để phục vụ cho đầu tư phát triển các doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu
do hệ thống ngân hàng đẩu tư và phát triển đảm nhận
- Các khoản cho vay vốn để phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, do hệ thống ngân hàng công thương đảm nhiệm
Tuy nhiên, do các nguồn vốn, tài chính cấp cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ xuất khẩu khá đa dạng (trong nước, ngoài nước, chính phủ vay, doanh nghiệp vay, ngân hàng tự huy động), nên tùy theo nguồn tài chính, đối tác vay m à có sự tham gia quản lý của các cơ quan quản
lý Nhà nước khác nhau vào hệ thống cấp vốn tài chính
2.1.3.2 Dịch vụ báo hiểm
Thời kỳ 1995 trở về trước chỉ có duy nhất một cơ quan bảo hiểm thương mại nhà nước độc quyền, đó là Bảo Việt m à tiền thân là Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, vói số vốn ban đầu là Ì triệu đồng và số lượng cán bộ nhân viên toàn công ty là 20 người Hoạt động bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chỉ dược thực hiện sau năm 1975 - tức sau khi đất nước thống nhất, với việc
29
Trang 37Bảo Việt giành quyền bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu từ Trung Quốc Cũng bắt đầu từ giai đoạn này kim ngạch bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại được nâng cao, Bảo Việt bắt đầu mở rộng quan hệ vời nhiều nườc trên thế giời
Từ năm 1996 đến nay, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về dịch vụ bảo hiểm của nền kinh tế và đời sống xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường và yêu cầu mở cửa hội nhập, phá vỡ thế độc quyền của một công ty, Nhà nườc đã cấp giấy phép hoạt động cho một số công ty bảo hiểm nhà nườc, công ty cổ phần bảo hiểm, công ty liên doanh bảo hiểm, công ty bảo hiểm 100% vốn nườc ngoài và văn phòng đại diện của một số công ty bảo hiểm nườc ngoài Nhờ đó, thị trường bảo hiểm của Việt Nam hoạt động khá sôi động vời mức tăng bình quân hàng năm trên 20%
Giai đoạn 2005 - 2006 được đánh giá là giai đoạn có lộ trình mở cửa nhanh nhất của bảo hiểm Việt Nam vời sự cấp phép hoạt động cho các công ty bảo hiểm trong nườc: BIC, AAA, Toàn Cầu, Bảo Nông, Bảo Tín và các công
ty bảo hiểm nườc ngoài như AIG, QBE, ACE, Liberty (phi nhân thọ), ACE Life, Prevoir, New York Life (Nhân thọ)
Cho đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 30 công ty bảo hiểm hoạt động, trong đó 16/30 doanh nghiệp có vốn nườc ngoài, tỉ lệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm trong nườc và doanh nghiệp có vốn nườc ngoài cũng trở nên hài hòa
Theo quy định của WTO, trong bảng phụ lục về các dịch vụ tài chính thuộc Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tời bảo hiểm bao gồm:
(i) Bảo hiểm trực tiếp (kể cả đồng bảo hiểm)
+ nhân thọ
+ phi nhân thọ
(li) Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm;
(iii) Bảo hiểm trung gian, như là môi giời và đại lý;
Trang 38(iv) Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, như là tư vấn, dịch vụ đánh giá xác suất rủi ro và dịch vụ giải quyết khiếu nại
Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP Với tốc độ tăng trưởng khoảng 42%/nãm, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Viồt Nam được đánh giá là có mức tăng trưởng cao nhất trong vài năm trở lại đây Ở Viồt Nam, các loại dịch vụ được các công ty bảo hiểm cung cấp cho các doanh nghiồp bao gồm:
- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu với các hình thức hợp đồng: + Hợp đồng bảo hiểm chuyến: Hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng hoặc một lô hàng được vận chuyển từ cảng này đến một cảng khác + Hợp đồng bảo hiểm bao dùng cho cả năm hoặc lô hàng lớn được vận chuyển thành nhiều chuyến
+ Hợp đồng bảo hiểm định giá: Hợp đồng được ghi rõ trị giá hoặc số tiền bảo hiểm của hợp đồng
Các doanh nghiồp có thể lựa chọn các điều kiồn sau đây để mua bảo hiểm:
+ Bảo hiểm rủi ro chính (điều kiồn bảo hiểm C)
+ Bảo hiểm rủi ro chính có giới hạn (điều kiồn bảo hiểm B)
+ Bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiồn bảo hiểm A)
Tuy nhiên, do các doanh nghiồp Viồt Nam thường mua CIF, bán FOB nên mới thực hiồn bảo hiểm 3 0 % kim ngạch hàng nhập và 5 % k i m ngạch hàng xuất và xấp xỉ bằng 3 % doanh thu của ngành bảo hiểm
- Bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm trách nhiồm dân sự chủ tàu: Hiồn nay đang tiến hành bảo hiểm cho toàn bộ tàu viễn dương của Viồt Nam và trên 30 ngành tàu sông
- Bảo hiểm xây dựng, lắp đặt: N ă m 2008, doanh thu của dịch vụ này đạt 1.367 tỉ đồng tăng 79,8% so với năm 2007
- Bảo hiểm dầu khí: Dịch vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của ngành bảo hiểm Viồt Nam
31
Trang 39- Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt: Dịch vụ này đạt doanh thu Ì 030 tỷ dồng trong năm 2008
- Các loại bảo hiểm khác như bảo hiểm giai đoạn kinh doanh, bảo hiểm
đổ vỡ máy móc, hư hỏng thiết bị điện tử, bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phữm
2.1.4 Dịch vụ vận tải biển và logistìcs
2.1.4.1 Dịch vụ vận tải biển
Hiện nay vận tải đường biển giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong chuyên chở hàng hóa trên thị trường thế giới Vận tải đường biển là ngành vận tải chủ chốt so với các phương thức vận tải khác trong chuyên chở hàng hóa xuất nhập khữu Khối lượng hàng hóa chuyên chở bằng đường biển quốc tế tăng nhanh qua các giai đoạn ở nước ta, ngành vận tải biển đang là một trong những điểm mũi nhọn được Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển mạnh mẽ, với hơn 8 0 % khối lượng hàng hóa xuất nhập khữu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển thông qua các cảng trong cả nước Thực trạng về dịch vụ vận tải biển ở nước ta trong thời gian qua thể hiện qua chất lượng của tàu đi biển, các cảng, bến bãi phục vụ cho hoạt động chuyên chở hàng hóa xuất khữu
Là một nền kinh tế đang phát triển năng động, Việt Nam có kim ngạch xuất nhập khữu tăng trưởng với tốc độ gần 20%/năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khữu lớn hơn GDP Thương mại quốc tế phát triển mạnh đã thúc đữy nhanh chóng sự phát triển của các dịch vụ hàng hải gồm khai thác cảng, kho bãi, vận tải, dịch vụ kho vận trong 15 năm qua
Cùng với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế và định hướng đúng đắn của chính phủ trong việc tập trung phát triển ngành vận tải biển, đến năm 2010, thị phần vận chuyển hàng hóa X N K của ngành vận tải biển Việt Nam ước tính đạt 25%
Trang 402.1.4.2 Dịch vụ Logistics
Dịch vụ logistics ở Việt Nam đang trong thời kì đầu phát triển Trong nghiên cứu về "Thương mại và logistics ở Đông Á", các nhà kinh tế đã phân các nước Đông Á về trình độ logistics thành 4 nhóm nước Nhóm Ì là những nước có độ mở cửa nền kinh tế rất lớn với chi phí vận tải thấp và dịch vụ logistics rất phát triển bao gỚm: Singapore, HỚng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan Nhóm 2 là những nước có thương mại mở cửa, dịch vụ logisics chưa phát triển bằng các nước trẽn bao gỚm Thái Lan, Philippines, Mailaysia, Trung Quốc và Indonesia Ớ các nước này các chính sách và thể chế thúc đẩy vận tải đa phương thức đang trong thời kì đầu của quá trình phát triển Giao thông vẫn chưa phát triển trong một số vùng của các nước này, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và sự thâm nhập của 3PL (logistics của bên thứ 3) đang còn thấp Nhóm thứ 3 bao gỚm Việt Nam và Campuchia N h ó m 4 bao gỚm: Mông Cổ, Lào Đây là những nước có nền kinh tế chuyển đổi, cơ sỏ hạ tầng giao thông chưa phát triển, các dịch vụ hải quan còn chậm chạp, chi phí vận tải tương đối cao và dịch vụ logistics đang còn trong thời kỳ sơ khai
Phát triển logistics ở Việt Nam mới chỉ có ý tưởng quy hoạch và triển khai một số dự án về phát triển các cảng cạn container (ICD - Inland Clearance Deport) Việt Nam chưa có một hệ thống mang tính quy hoạch và chưa hình thành được cơ chế chính sách khuyến khích, hướng dẫn phát triển
hệ thống, mặc dù Chính phủ đã có Nghị định về vận tải đa phương thức, nhưng triển khai hoạt động này hầu như chưa đáng kể ở Việt Nam
33