Trình độ phát triển kinh tế- xã hội Tuy khoản thu nhập của mỗi cá nhân có được là khác nhau, phụ thuộc vào khả năng tạng cá nhân nhưng nhìn về mặt tổng thể, thu nhập của những cá nhân t
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G HÀ NỘI
KHOA KINH TÉ VÀ KINH DOANH QUỐC TÉ
CHUYÊN NGÀNH KINH TÊ ĐỐI NGOẠI
G S ^ B O
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP
TÊN ĐỂ TÀI:
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT T H U Ê THU NHẬP CÁ N H Â N
V À KHẢ N Ă N G ẢNH H Ư Ở N G TỚI NEN KINH TÊ VIỆT NAM
Họ tên sinh viên
Lớp
Khoa Giáo viên hướng dẫn
: Đào Thị Ngọc Mai : Nhật 3
:44 : TS Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮVIẾT TẮT 4
LỜI CẢM ƠN 5 LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG ì NHỮNG LÝ LUẬN cơ BẢN VỀ THU NHẬP VÀ THUÉTNCN 9
ì T h u nhập (Income) 9
Ì Khái niệm về thu nhập 9
a Quan điểm Haig - Simons vê thu nhập 9
b Quan điểm kinh tế học hiện đại về thu nhập 10
b Thường được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ l i
c Hình thành thông qua phân phối lần đầu và phân phối lại l i
3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập li
a Trình độ phát triển kinh tế - xã hội l i
b C ơ chế phân phối tồng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân 12
c Các nhân tố khác 12
a Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập 13
b Cân cứ vào thòi gian phát sinh thu nhập 13
c Căn cứ vào phạm vi lãnh thồ phát sinh thu nhập 13
d Căn cứ vào chủ thể hưởng thu nhập 14
e Cân cứ vào tính pháp lý của thu nhập 14
a Nguvên nhân ra đời thuế T N C N 15
Trang 4b Quá trình hình thành và phát triển thuế TNCN 16
4 Vai trò của thuếTNCN đối với nén kinh tế 26
CHƯƠNG li NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THUẾ TNCN VÀ KHẢ NĂNG ẢNH
HƯỞNG TỚI KINH TẾ VIỆT NAM 32
ộ Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế đáp ứng nhu cẩu phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước 32
2 Đảm bảo nguồn thu NSNN ổn định 34
n Sự khác biệt giữa luật thuế TNCN và Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có
thu nhập cao 34
ộ Đổi mới và bổ sung về đối tượng nộp thuế 35
3 Những điểm mới trong các khoản giảm trừ khỏi thu nhập chịu thuếTNCN 43
a Giảm trừ gia cảnh 43
b Giảm trừ đôi với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo 44
c Giảm trừ chi phí cho cá nhân kinh doanh 45
4 Những điều chộnh về thuế suất 46
HI Những ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam của Luật thuế TNCN năm 2007 49
Ì Ánh hưởng tới nguồn cung lao động so
Trang 52 Ánh hưởng tới các hoạt dộng kinh doanh, đầu rư 53
a Môi trường đầu tư 53
b Hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ 54
3 Ánh hưởng của chính sách hoãn nộp thuếTNCN tới nền kinh tế 58
CHƯƠNG IU THUẾ TNCN CỦA MỘT số NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, NHỮNG VẤN ĐỂ
ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP THỰC THI LUẬT THUẾTNCN TẠI VIỆT NAM 62
ì Thuế TNCN của một số nước trên thế giới 62
Ì ThuếTNCN tại Pháp 62
c Các khoản giảm trừ 67
2 ThuếTNCN tại Trung Quốc 69
1 Những vấn đề đặt ra khi áp dụng rhuếTNCN tại Việt Nam 73
a Thời cơ 73
b Thách thức 75
2 Giải pháp thực thi Luật thuếTNCN tại Việt Nam 78
d Phệt triển hình thức nộp thuế không dùng tiền mặt 82
K Ế T L U Ậ N 86
D A N H M Ụ C TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O 88
D A N H M Ụ C B Ả N G BIÊU 89
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
LỞI CẢM Ơ N
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô trong Ban giám hiệu, các thầy cô giáo
trong khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế cùng toàn thể các cô
chú cán bộ đang giảng dạy, công tác tại trường Đại học Ngoại
Thương Hà N ộ i đã tạo điều kiện và giúp đỡ em học tập cũng
như trưịng thành hơn trong bốn năm học tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo - TS Tăng Vãn Nghĩa - trưịng khoa Sau Đại học thuộc trường Đại học
Ngoại Thương Hà Nội, người đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ
em hoàn thành bản khóa luận với đề tài: "Những điểm mới của
Luật thuế thu nhập cá nhân và khả năng ánh hưởng tới nền kinh
tếviệt Nam "
Nhân đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị nhân viên tư vấn thuế đang làm việc tại phòng thuế Hà Nội, công ty
TOHH Deloitte Việt Nam cùng toàn thể bạn bè, gia đình và
người thân đã luôn cổ vũ, quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi
giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Trang 8Khóa luận tối nghiệp Đại Học Ngoại Thương
LỜI MỞ ĐẤU
ì TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Với một nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, để tồn tại
và phát triển trong thời đại ngày nay thì không thể nằm ngoài xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, hòa bình ổn định cùng phát triển của thế giới Quá trình hội nhập kinh tế thế giới đã đem lại nhiều cơ hội nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra không ít thách thức cho nền kinh tế các nước Nhận biết được nhặng khó khăn, thách thức đó, để theo kịp các nước khác, Việt Nam cũng đang có nhặng chính sách hợp lý, từng bước thay đổi về kinh tế, văn hóa nhằm tiến sâu hơn nặa vào quá trinh hội nhập quốc tế Đặc biệt là kể từ sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã liên tục có nhặng thay đổi, làm mới
hệ thống luật pháp, nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi và phù hợp với thông lệ quốc tế Một trong nhặng thay đổi trong hệ thống luật pháp
Việt Nam là sự sửa đổi và ra đời của nhiều đạo luật, trong đó có Luật thuế
thu nhập cá nhân (TNCN), ban hành thay thế Pháp lệnh thuê thu nhập đôi với cá nhân có thu nhập cao Luật thuế TOCN ra đời đã có rất nhiều sự thay
đổi so với nhặng quy đinh về thuế TNCN trước đây cũng như được kỳ vọng sẽ tạo ra nhặng ảnh hưởng tích cực giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp:
"Những điểm mới trong luật thuế TNCN và khả năng ảnh hưởng tới nền kinh tê Việt Nam"
n M Ụ C Đ Í C H N G H I Ê N cứu Đ Ể T À I
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là:
Tập trung làm rõ nhặng vấn đề cơ bản về thu nhập và thuế TNCN
Trang 9Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Phân tích những điểm mới trong luật thuế T N C N và khả năng ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam
Đ ề xuất những giải pháp nhằm áp dụng thành công luật thuế T N C N tại Việt Nam
ra Đ Ố I T Ư Ợ N G V À P H Ạ M VI N G H I Ê N cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu vai trò của thuế TNCN đối với nền kinh
dụng thuế TNCN tại Việt Nam Phạm v i nghiên cứu của khóa luận chỉ giới hạn trong những quy định, nửi dụng cơ bản trong Luật thuế TNCN và những văn bản pháp luật liên quan tới thuế thu nhập, không đi sâu phân tích chi tiết các Phụ lục, các Vãn bản diễn giải đi kèm
IV P H Ư Ơ N G P H Á P N G H I Ê N C Ứ U
Đ ể hoàn thành khóa luận, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích biện chứng, logic, kết hợp lý luận, thực tiễn và tính hiện thực Ngoài ra còn sử dụng phương pháp so sánh, diễn giải và phân tích ưên cơ sở của phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng
V N Ộ I D U N G K H Ó A L U Ậ N
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được trình bày thành 3 chương:
Chương ì: Tổng quan về thu nhập và thuê T N C N
Chương l i : Những điểm mới trong luật thuê T N C N và khả nàng ảnh hưởng tới nền kinh tẽ Việt Nam
Chương DI: Thuế T N C N cứa một sô nước trên thê giới, thời cơ và thách thức trong quá trình áp dụng thuê T N C N tại Việt Nam
Khóa luận được hoàn thiện ngoài sự nỗ lực của bản thân còn nhờ có thầy giáo - TS Tăng Văn Nghĩa đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ trong việc hoàn thiện đề tài
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Do những hạn chế về mặt thời gian, kiến thức và chuyên môn thực tế,
khóa luận được dầy đủ và hoàn thiện hơn
Sinh viên: Đào Thị Ngọc Mai
Nhật 3 K44F - Trường Đ H Ngoại Thương
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
CHƯƠNG ì
NHỮNG LÝ LUẬN cơ BẢN V Ế THU NHẬP V À THUÊ TNCN
ì Thu nhập (Income)
1 Khái niệm vê thu nhập
Mặc dù khái niệm về thu nhập đã có từ hàng trăm năm nay, nhưng trên thế giới vẫn còn rất nhiều quan điểm khác nhau và thực tế vẫn chưa có một khái niệm nào tổng quát, đầy đủ và chính xác được đưa ra M ộ t trong những định nghĩa xuất hiện sớm nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất về thu nhập chính là định nghĩa được R M Haig và H c Simons đưa ra vào đầu thế kỹ
XX
ã Quan điểm Haig - Simons về thu nhập
Quan điểm của hai nhà kinh tế học người Mỹ: Robert M Haig và Henry c Simons là một trong những quan điểm về thu nhập xuất hiện sớm nhất trên thế giới Hai ông đã nghiên cứu và dưa ra đinh nghĩa về thu nhập vào
khoảng những năm 1920 và được gọi là "Định nghĩa Haig Simons" (Haig
-Simons Income) Thu nhập theo đinh nghĩa Haig - Simons là "giá trị tiền tăng thực tê trong k h ả nàng của từng cá nhân để tiêu dùng trong suốt một khoảng thòi gian nào đó."
Thu nhập Haig - Simons được tính bởi công thức:
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
được chấp nhận rộng rãi Tuy nhiên, trên thực tế lại rất khó thực hiện, vì giá trị tiền tăng thêm đó rất khó xác định và nó được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như biểu hiện dưới dạng tiền tệ, hàng hóa và dịch vụ nhưng lại chỉ được tính là có sự tăng thêm về giá trị khi có sự chuyển dịch quyền sở hữu Chẳng hạn như khi một cá nhân tiêu dùng hàng hóa tự sẹn xuất thì rất khó để xác định được giá trị tiền tăng thực tế của cá nhân đó
b Quan điểm kinh tế học hiện đại về thu nhập
Dựa trên quan điểm Haig-Simons về thu nhập và để tạo cơ sở áp dụng thuế TNCN, các nhà kinh tế học hiện đại chia thu nhập ra thành hai loại là
"thu nhập hạn hẹp" và "thu nhập bao quát" Trong đó:
- Thu nhập hạn hẹp là thu nhập chỉ giới hạn trong những lợi ích phát sinh lập đi lặp lại, có tính chất liên tục
- Thu nhập bao quát là mọi khoẹn thu nhập ròng từ các nguồn sau khi
đã khấu trừ các chi phí để tạo ra chúng
2 Đặc điểm thu nhập
a Gắn với một chủ thể nhất định
Một trong những đặc điểm đặc trưng nhất của thu nhập chính là tính sở hữu Hay nói cụ thể hơn, thu nhập luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế - xã hội Thu nhập của những cá nhân khác nhau là khác
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
nhau, khoản thu nhập đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực cá nhân, tính chất công việc
b Thường được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
Thông thường, để dễ tính toán thu nhập của một cá nhân trong thời gian xác định thì thu nhập của cá nhân đó thường dược biểu hiện dưcá hình thức tiền tệ - là hình thức thông qua đó có thể biết được tổng số thu nhập tạ các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân
c Hình thành thông qua phân phối lần đầu và phân phối lại
TNCN được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và nhà nước thực hiện
3 Các nhấn tố ảnh hưởng tới thu nhập
a Trình độ phát triển kinh tế- xã hội
Tuy khoản thu nhập của mỗi cá nhân có được là khác nhau, phụ thuộc vào khả năng tạng cá nhân nhưng nhìn về mặt tổng thể, thu nhập của những cá nhân trong một quốc gia sẽ cùng chịu những ảnh hưởng như nhau tạ những yếu tố chung của quốc gia đó Trong số những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập thì trình độ phát triển kinh tế - xã hội là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định mức tăng thu nhập của mỗi cá nhân Điều này thể hiện ở chỗ, trên thực tế, thu nhập bình quân đầu nguôi của những nước phát triển thường rất cao, còn thu nhập bình quân đầu người của các nước đang phát triển thì thường thấp Ta có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau:
Đào Thi Ngọc Mai l i Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 14Khóa luận lốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Bảng 1 Thu nhập bình quân đầu người của một số nước năm 2007'
b Cơ chế phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
Thu nhập phụ thuộc vào cơ chế phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong những điều kiện kinh tế nhất đinh, trong đó chế độ sở hữu về các yếu tố sản xuất chi phối mức thu nhập của các thành viên tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối thu nhập
c Các nhân tố khác
Ngoài ra, còn nhiều nhân tố có tính xã hội khác tác động đến thu nhập của chủ thể như:
> Khả năng đầu tư và tờo thêm việc làm của nhà nước,
> Trình độ nhận thức và nghề nghiệp của người lao động,
> Quyền sở hữu về tài sản của các cá nhân,
> Quan hệ tình cảm trong xã hội
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
4 Phán loại thu nhập
a Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập
Thu nhập được tạo ra từ rất nhiều nguồn khác nhau và rất phức tạp M ộ t
cá nhân có thể vừa có thu nhập do tham gia vào sản xuất lánh doanh lại vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công, hay có thu nhập từ thừa kế Chẳng hạn một người buôn bán nhỏ lẻ đồng thời đầu tư vào thị trường chứng khoán được nhận thừa một khoản tiền lữn Trong trường hợp này, thu nhập của người đó nhận được từ nhiều nguồn khác nhau như thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền công, thu nhập từ đầu tư Dựa trên nguồn tạo ra thu nhập, ta có thể chia thu nhập thành các loại: thu nhập từ lao động, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tài sản, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ dầu tư
b Căn cứ vào thời gian phát sinh thu nhập
Căn cứ vào thời gian phát sinh thu nhập thì thu nhập được chia làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Thu nhập thường xuyên là những thu nhập m à cá nhân nhận được một cách ổn định, đều đặn và có tính chất thu nhập dài hạn như thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh m à cá nhân nhận được có tính chất định kỳ Ngược lại, thu nhập không thường xuyên là thu nhập mang tính ngắn hạn, cá nhân nhận được khoản thu nhập đó không đều đặn, bất thường Như thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ lao động thời vụ
c Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay, mối quan hệ giữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế thế giữi ngày càng được mở rộng nên thu nhập của một cá nhân ngày nay có tính chất là khoản thu nhập được phát sinh
từ nhiều nưữc khác nhau M ỗ i nưữc có những sắc thuế riêng đánh vào khoản TNCN, vì lý do đó nên để có một sắc thuế công bàng áp dụng cho TNCN, cần
đặc điểm này, thu nhập được chia thành thu nhập phát sinh ở trong nưữc và
Đào Thi Ngọc Mai 13 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 16Khóa luận lốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
thu nhập phát sinh từ nước ngoài Trong đó, căn cứ để xác định một thu nhập
là trong nước hay nước ngoài chính là xuất xứ của cơ quan chi trả thu nhập
ả Căn cứ vào chủ thể hường thu nhập
Căn cứ vào chủ thể hưởng thu nhập thì thu nhập có thể được chia thành
thu nhập công ty, TNCN, thu nhập chính phủ V V
e Căn cứ vào tính pháp lý của thu nhập
Thu nhập có thể được chia thành hai loại nếu cân cứ vào tính pháp lý của thu nhập Trong đó:
Thu nhập hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ hoạt động hợp pháp và được nhà nước kiểm soát, bảo vệ
Thu nhập không hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ hoạt động bất hợp pháp nên nhà nước không thể kiểm soát được và do đó không được pháp luật bảo vệ
/ Cân cứ vào phương diện nộp thuế
Mặc dù thu nhập được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau nhưng trong thầc tế không phải toàn bộ thu nhập đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập Thuế thu nhập chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Vì vậy, căn cứ trên phương diện nộp thuế thì thu nhập được chia thành thu nhập chịu thuế và thu nhập không chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập N ó được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một
số khoản chi phí Tùy theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước m à nội dung, phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sầ khác nhau
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
n Thuế TNCN (Personal Income Tax)
Được biết đến như một công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách của mỗi quốc gia, thuế TNCN đã và đang được áp dụng tại nhiều nước
trên thế giới Bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ xvm, khi lần đầu tiên được áp
dụng tại Anh, thuế TNCN đã dần dần được sậ dụng bởi nhiều nước không chỉ với vai trò như Ì công cụ điều tiết thu nhập m à còn là công cụ có vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập lại xã hội thông qua sự phân phối lại thu nhập
1 Quá trình hình thành và phát triển thuếTNCN
a Nguyên nhân ra đời thuếTNCN
> N h u cầu chi tiêu của chính phủ
Đ ể thực hiện các chính sách điều tiết kinh tế, quản lý xã hội do nhà nước đặt ra thì yếu tố không thể thiếu chính là nguồn thu NSNN V ớ i một nguồn ngân sách dồi dào, chính phủ có thể thực hiện các biện pháp tích cực như xây dựng cơ sở vật chất, trợ giúp các doanh nghiệp, ưu tiên phát triển các ngành nghề, giúp nền kinh tế ngày càng phát triển và tăng mức sống của người dân Một trong những nguồn thu chính của NSNN là nguồn thu từ thuế thu nhập - trong đó có thuế TNCN Lần đầu tiên được biết đến tại Anh năm 1779, thuế T N C N là một sắc thuế nhằm tập trung của cải từ nhân dân để phục vụ
cho cuộc chiến tranh Napolenonic về sau, với yêu cầu tự do hóa thương mại
để phát triển kinh tế của các nước, hàng rào thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu sẽ phải được xóa bỏ để san bằng thuế đánh vào hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu khiến cho một phần lớn trong khoản thu của NSNN đã bị giảm xuống Trong tình hình đó, để tăng nguồn thu cho NSNN, nhằm đáp ứng những nhu cầu chi tiêu của chính phủ thì các loại thuế khác cần phải dược phát huy tác dụng K h i trình độ kinh tế ngày càng phát triển thì thuế thu nhập ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế Trên thế giới nguồn tài chính lớn nhất đóng góp vào ngân sách quốc gia của các nước phát
Đào Thi Ngọc Mai 15 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
triển chính là khoản thuế thu được từ thu nhập của các cá nhân Ta có thể thấy
rõ điều đó qua bảng số liệu sau:
Bảng 2
Cơ cấu thuế của các nhóm nước chia theo GDP bình quản đâu người 2
N h ó m nước chia theo G D P bình quân đầu
nguôi
Tổng số thu thuế (%GDP)
Cơ cấu thuếTNCN (% tổng thu thuế)
Các nước dang phát triển thu nhập thấp (GDP
bình quân đáu người < 745$) 14.1 16.62
Các nước đang phát triển thu nhập trung bình
(GDP bình quân dầu người từ 746$ đến 2.975$) 16.7 16.03
Các nước dang phát triển thu nhập cao (GDP
bình quân đáu người từ 2.976$ đến 9.205$) 20.2 20.49
Bình quân các nước đang phát triển 17.6 18
Các nước phát triển (GDP bình quản đầu người
trên 9,206$) 25 44.63
> Điều tiết vĩ m ô nền kinh tế
Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes về tính hữu dụng giảm
dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó
càng thấp Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần phải điều tiết bớt thu nhập của
những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lời cho những đối tượng có thu
nhập thấp hơn Đ ể thực hiện được mục tiêu này, nhà nước cần phải có những
công cụ hữu hiệu để áp dụng nó Một trong những phương tiện giúp nhà nước
thực hiện được mục tiêu này chính là thuế thu nhập - công cụ linh hoờt để điều
tiết vĩ m ô , kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư
b Quá trình hình thành và phát triển thuếTNCN
Cùng với sự phát triển của loài người, thuế TNCN cũng có lịch sử rất
lâu đời và là một trong số các loời thuế xuất hiện đầu tiên trong hệ thống thuế
Can Deveìoping Countries ỉmpose an Ịndividuaì ỉncome Tax?, J Aỉm and s Waỉỉace (2004 )
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
áp dụng tại một số nền văn minh cổ xưa với nhiều cấp độ thuế khác nhau đánh vào các tầng lớp của xã hội gồm giới quý tộc, nô lệ và cả ngưửi ngoại quốc Trải qua những thăng trầm của lịch sử thế giới nói chung và lịch sử của các nước trên thế giới nói riêng, thuế TNCN đã có một quá trình phát triển nhiều biến động và ngày càng được áp dụng phổ biến trên thế giới Nước đầu tiên áp dụng thuế TNCN chính là Anh vào năm 1799, sau đó, loại thuế này đã được phổ biến dần ra các nước châu  u và dần lan rộng ra toàn thế giới
Tại Anh, theo các nhà nghiên cứu, thuế thu nhập được áp dụng lần đầu
tiên vào năm 1799, được áp dụng trong thửi gian ngắn nhằm mục tiêu trang trải cho cuộc chiến tranh Napoleonic
Sắc thuế đầu tiên trên thế giới chia thu nhập ra làm 3 mức để đánh thuế,
đó là thu nhập vượt quá 200 bảng, từ 60 bảng đến 200 bảng và thu nhập dưới mức 60 bảng Thuế TNCN được áp dụng tại Anh như sau:
- Thuế suất 1 0 % đánh trên tổng thu nhập vượt quá 200 bảng của mỗi
cá nhân
- Thuế suất thấp hơn 1 0 % đánh trên tổng thu nhập từ 60 bảng đến 200
bảng
- _ ^ LY càu
- Miễn thuế cho những cá nhân có thu nhập dưới 60 bảng ZỮVỌ
N ă m 1815, cuộc chiến tranh Napoleonic kết thúc cũng là lúc sắc thuế này bị bãi bỏ do mục tiêu để áp dụng không còn nữa
Sau đó, cuộc chiến tranh thuế giới lần thứ ì diễn ra và một mức thuế suất chuẩn đã được áp dụng, bên cạnh đó, khoản thuế siêu lợi tức đánh vào những ngưửi có thu nhập cao nhất cũng ra đửi Thuế TNCN chính thức được ban hành tại Anh vào năm 1842
Tại Châu Ấu lục địa, thuế TNCN được áp dụng đầu tiên tại một số nước
trong liên bang Đức vào năm 1840 Trong giai đoạn đầu, thuế thu nhập tại
Đào Thi Ngọc Mai 17 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Đức được áp dụng chung cho toàn liên ban Từ năm 1920 đến năm 1945, thuế thu nhập được tách ra và áp dụng riêng biệt ở từng bang Sau khi chiến tranh
t h ế giói lần thứ 2 kết thúc, thuế liên bang lại một lần nữa được áp dụng và được điều chỉnh bới luật liên bang
Trong những năm đầu tiên thuế TNCN xâm nhập vào Châu  u lục địa,
nó chỉ được áp dụng tại Đức và cho đến tận năm 1891, sau khi được Phổ sửa đổi thì thuế TNCN mới thấc sấ trở thành một công cụ tài chính hiệu quả đối với tất cả các nước trong liên bang Ngay sau đó, thuế thu nhập sửa đổi đã được phổ biến rộng rãi đến những nước khác tại Châu  u và đến năm 1913 thì
tỷ trọng thuế TNCN trong NSNN trên toàn Châu  u đã tăng lên tới 6 0 %
Từ những năm 1870, thuế thu nhập đã được Pháp áp dụng thử nghiệm, nhưng do có những mâu thuẫn về quan điểm giữa thượng nghị viện và hạ nghị viện nên đến năm 1909 thuế thu nhập mới được hạ nghị viện thông qua và bắt đầu được áp dụng tại Pháp Dấ luật đã được thông qua một cách vội vàng và khá sơ sài vào thời điểm 2 tuần trước khi chiến tranh thế giới bắt đầu năm
1914 Nhưng phải mất đến 3 năm sau đó, hệ thống thuế thu nhập mới được sửa đổi bổ sung và trở thành một hệ thống thuế đầy đủ, ổn định hơn
Tại Italia, thuế TNCN là một trong những đạo luật đầu tiên do chính
phủ Italia hợp nhất ban hành vào năm 1864 Trong thời kỳ đầu, thuế thu nhập chỉ áp dụng cho một số loại thu nhập nhất định của cá nhân chảng hạn như thuế nhà đất Đến năm 1925 thì thuế thu nhập đánh vào mọi loại thu nhập được áp dụng trên toàn Italia
Scandinavian vả NorM'ơy đã áp dụng thuế thu nhập năm 1892 và áp
dụng thuế suất lũy tiến năm 1896;
N ă m 1910, Thụy điển thông qua thuế TNCN hiện đại
Từ khi được áp dụng lần đầu tiên tại Anh năm 1799, thuế TNCN đã được rất nhiều nước trên thế giới lần lượt áp dụng Từ Phổ năm 1808 đến Hoa
Kỳ năm 1864 rồi các nước Châu  u còn lại như úc, Niu-Di-Lân, Nhật Bản
Trang 21Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
vào nửa cuối thế kỷ XIX Sau đó các nước Châu Á cũng áp dụng thuế T N C N
Indonexia - 1949, Trung Quốc - 1980 Vào những năm 90, các nước Đông  u thuộc các nền kinh tế chuyển đổi cũng bắt đầu đưa thuế T N C N vào
hệ thống thuế của mình: Rumani áp dụng năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992 Đ ế n nay, trên thế giới đã có trên 180 nước áp dụng và phổ biến thuế T N C N tại đất nước mình.3
2 Khái niệm và đặc điểm thuếTNCN
'ThuếTNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) "
b Nguyên tắc đánh thuếTNCN
Trên thực tế, một cá nhân tuy có thu nhừp từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không phải tất cả thu nhừp phát sinh của cá nhân đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Ngoài ra, với ý nghĩa tạo tính công bằng, tăng thu cho NSNN và thúc đẩy phát triển kinh tế, chính phủ các nước cần phải lựa chọn phương pháp đánh thuế và thời gian tính thuế hợp lý để đảm bảo thuế TNCN được áp dụng đúng với ý nghĩa của nó Có ba nguyên tắc m à nước áp dụng thuế T N C N cần phải tuân theo, đó là:
(Ì) Đánh thuế TNCN trên cơ sở thu nhừp thực tế
3 Hội tu vấn thuế Việt Nam (2008) Hòi đáp vé rhuếTNDN thuếTNCN ỔI đại lý thuế NXB Hả Nội, 148-149
Hà Nội
Đào Thị Ngọc Mai 19 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 22Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Trong số các thu nhập phát sinh từ các nguồn khác nhau của một cá nhân, chỉ có phần thu nhập chịu thuế - cơ sở để đánh thuế thu nhập - là đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Đ ể phản ánh đúng khả năng kinh tế của người nộp thuế, thu nhập chịu thuế của một cá nhân luôn là thu nhập ròng -nghĩa là thu nhập thực tế của cá nhân đó sau khi đã trừ đi những chi phí cần thiết để tổo ra nó và những khoản theo quy định được phép giảm trừ Các nước khác nhau có cách xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập được miễn trừ trong tổng thu nhập của một cá nhân khác nhau
Thu nhập không chịu thuế thu nhập thông thường là những khoản thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập hay một loổi thuế tương đương ở một khâu nào đó hoặc những thu nhập nằm trong diện ưu tiên, khuyến khích theo chính sách của nhà nước
Thu nhập chịu thuế của một cá nhân, về nguyên tắc là tất cả các khoản thu nhập phát sinh, kể cả tiền và hiện vật, không phân biệt nguồn tổo ra nó (sản xuất kinh doanh, lao động, đầu tư) sau khi loổi bỏ những khoản được pháp luật quy định không phải chịu thuế TNCN Ở hầu hết các nước, thu nhập chịu thuế được xác định trong các trường hợp cụ thể sau đây:
- Thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường được quy về hình thức tiền tệ
- Thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường được quy về hình thức tiền tệ trừ đi các khoản chi phí khách quan gắn liền với quá trình tổo
ra thu nhập (cả chi phí sản xuất và chi phí khách quan khác) Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước m à các khoản chi phí miễn trừ này được quy đinh khác nhau
- Thu nhập của các tổ chức, cá nhân phát sinh từ giao dịch trên thị trường được miễn trừ thêm một khoản thu nhập để khuyến khích những hoổt động kinh doanh, đầu tư theo đinh hướng của nhà nước
Trang 23Khóa luận tắt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
(2) Á p dụng phương pháp lũy tiến để tính thuế T N C N
Thuế suất lũy tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo "khả năng nộp thuế" của cá nhân và làm tăng tính hữu dụng đối với thu nhập, giảm thiểu sụ mất mát tổng thể của xã hội do tính hữu dụng của thu nhập đối với chủ càng giảm khi thu nhập càng tăng
Hiện nay, biểu thuế lũy tiến đã và đang được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới vói những hình thức khác nhau Có những quốc áp dụng biểu thuế toàn phần đối với tịng loại thu nhập riêng biệt của cá nhân nhưng cũng có những quốc gia áp dụng biểu thuế lũy tiến trên toàn bộ thu nhập của
cá nhân không phân biệt nguồn gốc phát sinh
(3) Xác định đúng thời gian phát sinh thu nhập chịu thuếTNCN
nhau Chính vì vậy, việc xác định thời gian phát sinh thu nhập chịu thuế chỉ có tính tương đối về mặt thời gian Chẳng hạn, khoản lợi tức m à cá nhân nhận được tại thời điểm hiện tại là kết quả của việc đầu tư của cá nhân đó tị quá khứ, hay khoản trả trước tiền nhà cá nhân nhận được là thu nhập ứng trước của hoạt động cho thuê nhà trong tương lai Do vậy, để đảm báo tính khả thi và công bằng khi tính thuế, cần phải quy ước một sự phân đoạn về mặt thời gian
để xác định thu nhập chịu thuế thu nhập của cá nhân Thời gian tính thu nhập chịu thuế được áp dụng phổ biến trên thế giới thường là một năm tính thuế trùng vói năm kế toán hoặc năm ngân sách Những khoản thu nhập phát sinh trong thời gian đó là đối tượng chịu thuế thu nhập trong giai đoạn đó
c Phương pháp đánh thuế TNCN
Mỗi quốc gia với những điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ quản lý, phong tục tập quán và chính sách khác nhau có thể chọn cho mình một phương pháp riêng để đánh thuế TNCN Trên thế giói, nhìn chung các nước đều chọn một trong 3 phương pháp đánh thuế TNCN:
Đào Thi Ngọc Mai 21 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 24Khóa luận tồi nghiệp Đại Học Ngoại Thương
(1) Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập
Theo phương pháp này, thuế suất thuế TNCN có rất nhiều mức độ khác nhau áp dụng cho những thu nhập có nguồn phát sinh khác nhau Số thuế m à một cá nhân phải nộp sẽ là tổng số thuế cá nhân đó phải nộp theo từng nguồn
Vì đánh thuế trên từng loại thu nhập nên thuế TNCN sẽ được áp dụng với toàn
bộ thu nhập chịu thuế của cá nhân và phương pháp này sẽ giúp nhà nước hạn chế tình trạng trốn thuế Tuy nhiên, phương pháp đánh thuế trên từng nguồn hình thành thu nhập vởn không phải là không có nhược điểm Thứ nhất, việc
áp dụng mức thuế suất khác nhau đối vói từng loại thu nhập khác nhau sẽ khiến cho việc tính thuế, quản lý thu thuế của nhà nước trở thành công việc hết sức phức tạp và khó khăn Hai là, một người có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, vì vậy, ranh giới để phân chia thu nhập xuất phát từ nguồn nào là rất khó chính xác Đ ể được hưởng mức thuế suất thấp hơn, người nộp thuế có thể sẽ gian lận trong khâu kê khai nguồn hình thành thu nhập và dởn đến tình trạng trốn thuế Ngoài ra, rất khó để áp dụng thuế suất lũy tiến cho phương pháp này, dởn đến việc làm giảm tính công bằng khi đánh thuế TNCN
(2) Đánh thuế trên tổng thu nhập
Đây là phương pháp đang được hầu hết các nước phát triển trên thế giới
áp dụng Trái với phương pháp trên, ở phương pháp này, thu nhập của một cá nhân sẽ được tính tổng lại, không phân biệt nguồn hình thành thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập Sau đó, một biểu thuế suất lũy tiến sẽ được áp dụng chung cho toàn bộ thu nhập ròng của cá nhân đó Phương pháp đánh thuế thu nhập này, về cơ bản, có thể khắc phục được những nhược điểm của phương pháp đánh thuế thu nhập trên từng nguồn phát sinh, do không có việc phân chia thu nhập của cá nhân Bên cạnh đó, nó còn có ưu điểm là đơn giản, áp dụng biểu thuế lũy tiến một cách dễ dàng và hiệu quả, đạt được ý nghĩa công bằng khi đánh thuế TNCN Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là không phân
Trang 25Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
chia rõ từng loại thu nhập của một cá nhân nén rất khó để theo sát được từng nguồn thu nhập, dễ dẫn đến tình trạng trốn thuế của cá nhân
(3) Đánh thuế hỗn họp
Đ ể hạn chế nhược điểm và phát huy ưu điểm của cả hai phương pháp trên, thuế T N C N có thể được đánh theo phương pháp hỗn hợp Nghĩa là ban đầu đánh thuế trên từng nguồn hình thành thu nhập vổi những mức thuế suất khác nhau, sau đó tổng hợp tất cả các thu nhập lại và đánh thuế trên thu nhập tổng đó một mức thuế suất chung khác nữa Đây là phương pháp lý tưởng nhất cho việc áp dụng thuế TNCN Vì nó vừa áp dụng được thuế suất lũy tiến (cho phần thu nhập tổng) lại vừa đảm bảo được việc theo sát từng nguồn thu nhập của cá nhân Nhưng phương pháp này lại quá phức tạp khi tính toán, tốn kém trong khâu quản lý nên nó chỉ có ý nghĩa là "hình mẫu lý tưởng trên lý thuyết"
3 Cơ sở xác định thuê TNCN
Đ ể xác định được số thuế thu nhập một cá nhân phải đóng, điều kiện cần và đủ là phải xác định được 3 yếu tố sau:
(Ì) Thu nhập chịu thuế
(2) Thu nhập được miễn trừ khỏi diện chịu thuế
(3) T h u ế suất thuế TNCN
Một trong những yếu tố quan trọng nhất dể xác định chính xác thuế
T N C N chính là thu nhập tính thuế của cá nhân đó Thu nhập tính thuế của cá nhân có thể được tính bằng công thức:
Thu nhập tính thuế = thu nhập chịu thuế - các khoản giảm trừ
Qua đó có thể thấy, để xác định thu nhập tính thuế của cá nhân cần xác định thu nhập chịu thuế và các khoản giảm trừ trong thu nhập của cá nhân đó
Đào Thị Ngọc Mai 23 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
ứ Xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong công thức trên là tổng thu nhập của cá nhân không bao gồm các khoản miễn thuế Việc xác định đâu là thu nhập chịu thuế và đâu là thu nhập được giảm trừ trong tổng thu nhập của một
cá nhân đối với m ỗ i quốc gia là khác nhau tùy theo mục đích đánh thuế của quốc gia đó Đ ạ xác định thu nhập chịu thuế, thông thường các quốc gia sẽ quy định căn cứ vào nguồn hình thành thu nhập Các nước phát triạn trên thế giới hiện nay hầu hết xác định khoản thu nhập chịu thuế như trong sơ đồ Ì Thu nhập chịu thuế tại các nước đang phát triạn có thạ được xác định khác đi tùy chính sách của từng nước
Sơ đồ 1 Thu nhập chịu thuế và cơ sở xác định thu nhập tinh thuế
T h u nhập từ
đẩu tư
T h u nhập từ lao đ ộ n g G i ả m trừ
T h u nhập k i n h d o a n h (ròng)
T h u nhập lãi v ố n *\ Giàn
T h u nhập từ
bất đ ộ n g sản
T h u nhập tiền c h o thuê, lãi v ố n
T h u nhập từ
bất đ ộ n g sản
T h u nhập tiền c h o thuê, lãi v ố n
Giảm trù co bân
- G i â m t r ừ
tối thiểu (thresholcty
- G i ả m trừ gia cành
- G i ả m trừ dịch
vụ xã hội c a sà (giáo dục, y tế)
Trang 27Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
TNCN Thu nhập giảm trừ gồm 2 loại: giảm trừ tiêu chuẩn và giảm trừ cá nhân Giảm trừ tiêu chuẩn là đưa ra một mức giảm trừ áp dụng chung cho toàn
xã hội, nó được thực hiện thông qua việc xác định mức khởi điểm chịu thuế mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ nhớng chi phí cần thiết
nhau là khác nhau phụ thuộc vào mức sống, quan niệm và tập quán của từng nước Việc áp dụng thu nhập giảm trừ tiêu chuẩn sẽ không gây khó khăn trong quá trình tính toán thuế thu nhập, tiết kiệm chi phí nên đã được hầu hết các nước trên thế giới hiện nay áp dụng Giảm trừ cá nhân gồm giảm trừ có tính chất kinh tế (giảm trừ nhớng chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập) và giảm trừ có tính chất xã hội (nhớng khoản chi ủng hộ giáo dục, giúp
đỡ người có hoàn cảnh khó khăn) Đây là đặc điểm giúp thuế TNCN thực hiện được ý nghĩa tạo sự công bằng trong xã hội của nó Tuy nhiên, do tính phức tạp và khó khăn trong tính toán, công nghệ nên nhớng khoản giảm trừ cá nhân mới chỉ được áp dụng rộng rãi tại các nước phát triển và nhớng nước có nền
k i n h tế đang chuyển đổi
Ngoài ra, còn có một số thu nhập được trừ khỏi tổng thu nhập trước khi xác định thu nhập chịu thuế Đ ó thường là nhớng chi phí phát sinh thường xuyên và khách quan như chi y tế, lãi thế chấp, các loại thuế, đóng góp từ thiện, mất mát đột xuất
c Thuế suất thuếTNCN
Một yếu tố không kém phần quan trọng để xác định thuế TNCN chính
là thuế suất Do là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến gánh nặng thuế m à mỗi cá nhân phải chịu nên biểu thuế của mỗi quốc gia cũng phải đảm bảo được tính công bằng và kinh tế Đ ể làm được điều đó, các quốc gia cũng cần tuân thủ theo nhớng nguyên tắc nhất định về thuế suất thuế TNCN Trong đó có:
(1) Đánh thuế vào thu nhập tổng hợp với số lượng thuế suất vừa phải để dễ dàng trong việc quản lý
Đào Thi Ngọc Mai 25 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
(2) Mức thuế suất không nên quá cao làm ảnh hưởng đến nỗ lực lao động, tiết kiệm và đầu tư
(3) Sử dụng thuế suất ưu tiên linh hoạt cho từng loại thu nhập căn cứ vào đặc điểm kinh tế, xã hội Trên thế giổi, các nưổc thường sử dụng mức thuế suất ưu đãi đối vổi thu nhập từ lao động nhiều hơn là thu nhập từ vốn
Bên cạnh đó, một đặc trưng nổi bật nhất của thuế TNCN chính là việc
áp dụng mức thuế suất lũy tiến, gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần Thuế suất toàn phần nghĩa là áp dụng một mức thuế suất cho tổng thu nhập chịu thuế Ví dụ nưổc ta áp dụng mức thuế suất 5 % đối vổi thu nhập
từ bản quyền Như vậy, một cá nhân có thu nhập 5 triệu đồng/lần phát sinh thu nhập và cá nhân có thu nhập 50 triệu đồng/lần phát sinh thu nhập sẽ phải đóng thuế T N C N vổi cùng một mức thuế suất Thuế suất toàn phần có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán nhưng lại có nhược điểm là có tính dàn trải, không phần biệt mức thu nhập cao hay thấp Ngược lại, thuế suất lũy tiến từng phẩn là việc thu nhập tính thuế và thuế suất được thiết kế theo mức độ tăng dần, số thuế phải nộp cũng lũy tiến tàng theo Chính vì vậy, khi tính thuế theo loại thuế suất này, những người có thu nhập cao hơn thì sẽ phải áp dụng mức thuế suất cao hơn và số thuế phải nộp sẽ nhiều hơn Thuế suất lũy tiến từng phần có nhược điểm là phức tạp trong tính toán do có nhiều bậc thuế
Trong quá trình thiết k ế biểu thuế, việc một quốc gia lựa chọn loại thuế suất nào để áp dụng cho thuế TNCN của đất nưổc mình phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm kinh tế, xã hội và mục tiêu chính sách của quốc gia đó
4 Vai trò của thué TNCN đói với nên kinh tế
ã ThuếTNCN góp phẩn điều chỉnh vĩ mó nên kinh tế
hệ thống thuế phát huy vai trò của nó trong việc góp phần điều chỉnh vĩ m ô
thống thuế đó giữ được vai trò công bàng trong xã hội Ó mỗi thời kỳ phát
Trang 29Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
triển kinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ m ô nền kinh tế của chính phủ m à chính sách thuế T N C N được xây dựng phù hợp với nước đó
John Maynard Keynes - nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đưa ra
tư tưởng can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế để đạt được "cầu hiệu quả" thông qua chính sách thuế, trong đó có thuế TNCN Ông cho rằng, tồn tại một quy luữt tâm lý cơ bản là khi thu nhữp của một cá nhân tăng lên, nhu cầu tiêu dùng của người đó cũng tăng nhưng không phải tăng theo cùng mức tăng của thu nhữp Trong khi đó, cùng với tốc độ tăng của thu nhữp thì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn Đây là nguyên nhân chính khiến cho cầu không đạt hiệu quả Muốn để cho cầu đạt hiệu quả trở lại thì cần thiết phải có một chính sách thuế đánh vào khoản thu nhữp đưa vào tiết kiệm để kích thích tiêu dùng, tăng đầu tư và phát triển kinh doanh Theo ông, khuynh hướng tiêu dùng của những người có thu nhữp thấp thường cao hơn của những người có thu nhữp cao, vì vữy, tỷ lệ tiết kiệm của những người có thu nhữp cao thường cao hơn ở những người có thu nhữp thấp Do đó, thuế suất lũy tiến có thể phân phối lại thu nhữp của những người có thu nhữp cao đưa vào tiết kiệm để hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế4
Keynes, nhiều nước tư bản phát triển sau khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929 - 1933 đã sử dụng lý thuyết này để đánh thuế thu nhữp ở đất nước mình V ớ i mục tiêu nhắm vào thu nhữp đưa vào tiết kiệm của những người có thu nhữp cao, thuế TNCN trong thời kỳ này có đặc trưng bằng biểu thuế suất khá cao với nhiều thang bữc thuế và mức chênh lệch giữa bữc thấp và bữc cao khá lớn
Ngoài lý thuyết Keynes về "cầu cân bằng", vai trò của thuế TNCN trong vấn đề góp phần điều chỉnh vĩ m ô nền kinh tế còn được các nhà kinh tế học thuộc trường phái "trọng cung" quan tâm đến Một trong những đại biểu
4 John Mavnard Keynes (2006) General Theoty oỊEmployment, ìnierest andMoney Atlantic Publishers &
Distributors 79-118, New Delhi
Đào Thị Ngọc Mai 27 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 30Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
tiêu biểu nhất của những nhà kinh tế theo trường phải này chính là Laffer với đường cong lý thuyết nổi tiếng gọi là "đường cong Laffer"
Sơ đồ 2 Mô hình đường cong Laffer
0 Ti T 2 T 3 100 Thuế suất
M ô hình đường cong Laffer thể hiện mối quan hệ giữa thuế suất và tổng
số thu từ thuế Đường cong Laffer có thể được chia thành các phần để phân tích:
(1) Từ thuế suất 0 % đến thuế suất Tị
Việc nâng dần mức thuế suất từ 0 % đến T, làm cho thu nhạp từ thuế cũng tàng dần lên và tâng với tốc độ nhanh
(2) Từ thuế suất T I đến thuế suất T2
Nếu mức thuế suất được nâng lên cao hơn mức Tj thì mặc dù lượng thu nhạp từ thuế có tăng dần lên nhưng tốc độ tăng không còn được như trước Bên cạnh đó việc tăng thu thuế còn gây ra một số phản ứng của người dân gây ảnh hưởng đến kinh tế như:
s Do tỷ trọng thuế phải nộp trong thu nhạp m à một cá nhân nhạn được
ngày càng tăng nên dẫn đến tâm lý chán nản của người dân, làm hạ thấp động lực kinh doanh
•S Trong thời buổi thõng tin toàn cầu như ngày nay, các cá nhân dễ
dàng so sánh mức thuế suất của các quốc gia và có thể dẫn đến tâm lý lựa chọn quốc gia thu thuế ít nhất để kinh doanh Do đó, nếu tiếp tục tăng mức
Trang 31Khóa luận tót nghiệp Đại Học Ngoại Thương
thuế suất lớn hơn T, sẽ làm cho các cá nhân có xu hướng chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để giảm số thuế phải nộp
s Số thuế phải nộp lớn là nguyên nhân khiến cho hoạt động kinh tế
ngầm hình thành và phát triển để các cá nhân có thể trốn thuế TNCN
(3) Từ thuế suất T2 đến thuế suất T3
Sau k h i đạt đến một giới hạn nhất định, nếu tiếp tục tăng thuế suất thì
số tiền thu được từ thuế không những không tăng lén m à còn giảm đi Do khi
đó, số tiền thuế phải nộp đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu nhệp của một cá nhân, khiến cho họ không còn động lực để làm việc Khi thuế suất thuế
khi đó là giảm thuế Qua đồ thị ta thấy, nếu thuế suất được hạ thấp thì số thu của ngân sách không những không bị giảm m à còn tăng lên do kinh tế được kích thích tăng trưởng và sự ủng hộ, đồng tình của các đối tượng nộp thuế
Từ hình trên ta thấy, trên đường cong Laffer tồn tại những điểm có thuế suất khác nhau nhưng đều cho tổng thuế như nhau (Trên hình ta có thể thấy đó
là điểm T, và T3) Về nguyên tắc, nếu hạ mức thuế suất từ T3 xuống Tj thì tổng thu thuế không thay đổi, còn trong trường hợp hạ mức thuế suất từ T3 xuống
T2 thì tổng thu thuế sẽ tăng lên Tuy vệy, phải mất một thời gian khá dài mới
có kết quả tăng thu về thuế, còn trong ngắn hạn, số thuế thu được từ thu nhệp của các cá nhân sẽ giảm đi Nguyên nhân do khi hạ mức thuế suất từ T3 đến T2
người dân phải mất một thời gian mới thích ứng được với sự thay đổi trong mức thuế suất, có động lực làm việc trở lại, giúp tổng thu nhệp tăng lên và mức thu thuế do đó cũng tăng lên
Đ ể xây dựng được một phương pháp đánh thuế TNCN đáp ứng được những mục tiêu đề ra và có thể trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho chính phủ trong quá trình điều tiết nền kinh tế thì đường cong Laffer có thể được coi
là một lý thuyết lý tưởng để các nước áp dụng theo Tuy nhiên, do còn có một
số nhược điểm nên đường cong Laffer rất khó để ứng dụng trên thực tế:
Đào Thị Ngọc Mai 29 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 32Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
một điểm rất quan trọng để xác định thời điểm tăng giảm thuế rất khó để xác định trên thực tế
(2) K h ó có thể xác định rõ nền kinh tế đang ở điểm nào trên đường cong Laffer để từ đó hoạch định chính sách thuế
Như vậy, nếu thuế suất thuế TNCN được xác định ở một mức hợp lý thì
nó sẽ là một yếu tố quan trọng giúp kích thích quá trình tăng trưởng kinh tế,
Hạ thấp mức thuế suất để giảm nhệ gánh nặng thuế trong những điều kiện nhất định có thể là một biện pháp đúng đắn để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế Mặc dù các nước cũng phải đánh đổi trong việc thu nhập của ngân sách bị cắt giảm trong ngắn hạn nhưng về dài hạn, nó sẽ giúp tăng thu thuế, cũng là tăng thu NSNN, giúp nhà nước có điều kiện và khả năng tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm tăng thu nhập cho người dân, thu hút dầu tư và thúc đẩy quá trình tăng trường kinh tế
b ThuếTNCN đảm bảo nguồn thu cho NSNN
Nguồn thu của ngân sách bao gồm rất nhiều khoản khác nhau: thuế, phí
- lệ phí, thu từ bán - cho thuê đất dai, tài sản, tài sản, các khoản vay, viện trợ của nước ngoài Trong số các nguồn thu trên thì nguồn thu từ thuế - bao gồm
cả thuế TNCN là nguồn thu quan trọng trong hệ thống NSNN, nó ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của các chế độ xã hội Bên cạnh đó, thuế
T N C N còn là nguồn thu bắt buộc của chính phủ đối với cá nhân khi phát sinh thu nhập phải chuyển một phần thu nhập hoặc tài sản của mình thành nguồn thu của nhà nước
Nguồn thu từ thuế có đặc điểm:
(Ì) Có tính cưỡng bức
(2) Không hoàn trả cho người nộp một cách trực tiếp
Trang 33Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
(3) Mức thu được xác định trước
(4) Nhà nước sử dụng các chính sách thuế làm đòn bẩy kinh tế
Đ ố i vói nước ta, tuy thuế TNCN mới chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng thu NSNN song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa như hiện nay, T N C N có xu hướng tăng nhanh nén tỷ trọng thuế T N C N trong tổng thu NSNN có khậ năng sẽ tăng lên trong thời gian tới
Trong thời buổi hiện nay, khi kinh tế của các nước ngày càng phát triển, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của nhà nước để giậi quyết các vấn đề an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển kinh tế ngày càng gia tăng Ngoài ra, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày nay đã dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng đang thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích lũy trong nước được tăng dần lên và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng thu NSNN Trong đó, thuế TNCN cũng đang phát triển theo hướng
đó, góp phần quan trọng nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho NSNN, giúp phát triển kinh tế quốc gia và tăng sức cạnh tranh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đào Thi Ngọc Mai 31 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 34Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
C H Ư Ơ N G li
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT T H U Ê TNCN V À KHẢ N Ă N G
ẢNH H Ư Ở N G TỚI KINH TẾ VIỆT NAM
ì Sự cần thiết ban hành luật thuê TNCN
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư ở nước ta đang tăng dần lên đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân K è m theo đó là khoảng cách chênh lệch giàu nghèo của nước ta cũng có xu hướng tăng Đ ể giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp trong xã hội thì cần thiết phải áp dụng thuế TNCN Tuy vậy, trước khi luật thuế T N C N có hiệu lực, Việt Nam vỏn chưa có một luật thuế TNCN hoàn chỉnh m à việc điều chỉnh TNCN được thực hiện thông qua các luật và pháp lệnh thuế khác nhau Điều kiện kinh tế, xã hội và trình độ phát triển của nước ta đang đòi hỏi cần phải có một sự quản lý thu nhập tập trung, cụ thể và bao quát Do đó, việc ra đời một dạo luật điều chỉnh thuế TNCN là vấn đề hết sức thiết yếu nhằm giúp đảm bảo tính hợp lý, hiệu quả của chính sách thuế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và giúp nhà nước nắm được thông tin về thu nhập của các cá nhân để đưa ra những chính sách, định hướng đúng đắn về động viên nguồn lực của xã hội, góp phần chống tham nhũng, lãng phí cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Trên thế giới, ngay từ khi nền kinh tế còn chưa phát triển, nhiều nước
đã áp dụng thuế trên TNCN của nước mình, cho đến nay, trên 180 nước trên
thế giới đã áp dụng loại thuế này như một phần của hệ thống thuế
1 Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trang 35Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Ở nước ta, thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, hệ thống chính sách thuế đã được hình thành và hoàn thiện dần qua 2 lần cải cách (năm 1990 và năm 1995) Trong giai đoạn này, hệ thống thuế của nước ta gồm 3 sắc thuế động viên phù hợp với từng loại thu nhập gồm thuế T N D N áp dửng đối với doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao áp dửng đối với người có thu nhập từ tiền lương, tiền công và thuế chuyển quyền sử dửng đất
áp dửng đối với người có thu nhập từ việc chuyển quyền sử dửng đất
Nước ta đã và đang tiếp tửc hoàn thiện các chính sách tài chính trong đó
là do với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng tăng, nền kinh tế nước ta không những cung cấp điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức, cá nhân trong nước nâng cao cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh m à còn là điểm đến hấp dẫn và được đánh giá cao trong quá trình tìm kiếm cơ sở đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Cùng với sự phát triển đó, thu nhập của các cá nhân cũng được ngày càng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương tiền công, từ dịch vử, đầu tư tài chính và cả thu nhập từ nước ngoài Tình hình đó đã khiến cho chính sách thuế giai đoạn trước của nước ta bộc l ộ một số hạn chế Thứ nhất là hệ thống thuế chưa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về nghĩa vử thuế làm giảm động lực làm việc, đầu tư, mong muốn làm giàu chính đáng của các cá nhân trong xã hội, điều đó dần dần làm hạn chế sự phát triển kinh tế của đất nước Như cùng là TNCN nhưng thu nhập từ kinh doanh không được trừ khởi điểm và nộp thuế theo mức 2 8 % còn thu nhập từ tiền lương, tiền công trên mức khởi điểm 5 triệu/tháng mới phải nộp thuế và áp dửng mức thuế suất lũy tiến từng phần từ 1 0 % đến 4 0 % Thứ hai, hệ thống thuế còn áp dửng biểu thuế khác nhau giữa người Việt Nam
và người nước ngoài, không sự công bằng trong thu nhập, dẫn đến hạn chế trong quá trình xây dựng môi trường thuận lợi để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư cũng như những tổ chức, cá nhân nước ngoài đến sinh sống
Đào Thi Ngọc Mai 33 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 36Khóa luận tót nghiệp Đại Học Ngoại Thương
và làm việc tại Việt Nam Thứ 3, chính sách thuế vẫn chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế: Chưa có một chính sách thuế điều tiết thống nhất đối với các khoản thu nhập của cá nhân
2 Đảm bảo nguồn thu NSNN ổn định
N h ư trong chương ì đã phân tích, thuế TNCN là một thành phần rất quan trọng trong nguồn thu NSNN và đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn K h i kinh tế - xã hội của một đất nước phát triẩn, hội nhập kinh tế sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của nhà nước cũng ngày càng tăng đẩ giải quyết các vấn đề phát triẩn sự nghiệp giáo dục, y tế, thúc đẩy sự phát triẩn kinh tế, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn Cùng với việc thuế TNCN ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu NSNN, vai trò của thuế TNCN đối với sự phát triẩn kinh tế cũng ngày càng tăng lên Chính vì vậy, thuế thu nhập cá nhân cần được quản lý một cách chặt chẽ và có định hướng hơn Luật thuế TNCN ra đời
một cách hiệu quả nhất theo đúng mục tiêu thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng nộp thuế, đảm bảo công bằng xã hội, đẩy mạnh sự phát triẩn kinh tế
và nâng cao đời sống nhân dân
n Sự khác biệt giữa luật thuê TNCN và Pháp lệnh Thuế thu nhập
đôi với người có t h u nhập cao
quyền Sài G ò n áp dụng nhưng khi đó nó có tên gọi khác là thuế lợi tức lương bổng (1962) và sau đó được cải cách vào năm 1972
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước ta đã ký lệnh công bố Pháp lệnh
T h u ế t h u nhập đối với người có t h u nhập cao và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Từ đó đến nay nước ta đã có 06 lần sửa đổi nhàm hướng
hệ thống thuế TNCN phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triẩn kinh tế- xã hội của đất nước, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với
Trang 37Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thirơng
người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001) và lần thứ 6
là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 đến trước ngày 1/1/2009)
Đ ể phát huy hơn nữa vai trò của thuế TNCN, có các biện pháp chế tài
đủ mạnh để thực hiện thu thuế TNCN mằt cách ổn định, hiệu quả, công bằng, vào ngày 20/11/2007, kỳ họp thứ 2 Quốc hằi khoa xn đã thông qua Luật số
04/2007/QH12 - Luật thuế T N C N có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 Luật thuế
T N C N mới ban hành có thể nói là mằt văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từ trước tới nay, phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thể hiện sự thống nhất ý kiến của nhân dân và chính phủ sau hơn 3 năm chuẩn bị
kỹ lưỡng với hàng trăm cuằc hằi thảo và gần Ì năm công bố rằng rãi để lấy ý
hợp với điều kiện kinh tế - xã hằi nước ta hiện nay với nhiều điểm mới và tiến
bằ hơn so với Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
1 Đổi mới và bổ sung về đối tượng nộp thuế
Mằt nhược điểm dễ nhận thấy trong hệ thống chính sách thuế cũ chính
nhau, trong đó có thuế TNCN và thuế TNDN Đ ể khắc phục hạn chế này, cũng như tạo hiệu quả hơn về mạt quản lý và thể hiện vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, Luật thuế TNCN 2007 đã bổ sung thêm và quy định cụ thể, hợp
lý hơn về điều khoản đối tượng nằp thuế TNCN
Theo điều 2 Luật thuế TNCN 2007, đối tượng nằp thuế TNCN gồm:
ỉ Đối tượng nộp thuếTNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điêu 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thố Việt Nam
Đào Thi Ngọc Mai 35 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 38Khóa luận tắt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
2 Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn
3 Cá nhăn không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoấn 2 Điều này
Theo đó, những cá nhân có thu nhập phát sinh thuộc Ì trong 10 loại thu nhập theo quy định và đáp ứng những điều kiện về cư trú, nơi phát sinh thu nhập sẽ là đối tượng nộp thuế TNCN 10 loại thu nhập theo luật định gồm có:
ỉ Thu nhập từ kinh doanh
2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công
3 Thu nhập từ đầu tư vốn
4 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sán
6 Thu nhập từ trúng thưởng
7 Thu nhập từ bấn quyến
8 Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
9 Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sấn và tài sẩn khác phấi đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
10 Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bài động sấn và tài sấn khác phấi đăng kỷ sở hữu hoặc đăng kỷ sử dụng
Trang 39Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Như vậy, ta có thể thấy, so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì đối tượng nộp thuế TNCN đã có những điểm mới:
(Ì) Bổ sung thêm một số đối tượng vào diện đối tượng nộp thuế
Quy định đưa cá nhân kinh doanh vào đối tượng chịu thuế TNCN là điểm mới cơ bản nhất liên quan đến đối tượng chịu thuế của luật thuế TNCN
Sự thay đổi này giúp thực hiện tính chất công bằng và phân phối thu nhập của thuế TNCN Về lý thuyết, cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù có thu nhập tử bất kỳ nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau - tức là đều chịu thuế TNCN, thuế của cá nhân nhận được tử kinh doanh cũng không nằm ngoài phạm vi này Thêm vào đó, đánh thuế TNCN đối với thu nhập tử kinh doanh cũng công bằng hơn với các hộ kinh doanh nhỏ, giúp họ có thêm động lực làm việc Để thấy rõ hơn về vấn đề này, ta có thể xem xét ví dụ: Theo quy định trước đây, thu nhập của cá nhân kinh doanh chịu sự điều chỉnh của thuế TNDN, thuế suất chung bằng với thuế suất của các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn quy m ô kinh doanh của các cá nhân rất nhiều, tức là họ cũng phải đóng thuế 2 8 % trên tổng thu nhập kiếm được
Giả sử cá nhân A có thu nhập tử kinh doanh trong tháng 3 năm 2008 là 17.000.000 V N Đ , do phải đóng thuế theo mức thuế TNDN nên số thuế người
đó phải nộp là:
17.000.000 X 2 8 % = 4.760.000 (VNDD)
Trong khi đó, nếu thu nhập của cá nhân đó được đóng thuế TNCN (chịu
sự điều chỉnh của Pháp luật Thuế thu nhập đối với cá nhân có thu nhập cao) thay vì thuế TNDN thì sẽ được tính thuế theo biểu thuế lũy tiến tửng phần Biểu thuế lũy tiến tửng phần năm 2008 là:
Đào Thị Ngọc Mai 37 Nhật 3 K44F - KTDN
Trang 40Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Ngoại Thương
Bảng 3 Thuế suôi thuếTN áp dụng cho người Việt Nam có TN cao5
tế Các quốc gia trên thế giới như Pháp, Nhật đều đang đánh thuế TNCN trên thu nhập của các cá nhân kinh doanh, coi thu nhập của những cá nhân này cũng như thu nhập được phát sinh từ các nguồn khác của cá nhân
5 Pháp lẫnh thuế thu nhập dối với người có thu nhập cao