1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp

107 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Đào Thị Thu Giang
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 14,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp

Trang 2

p • i

T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G KHOA Q U Ả N TRỊ KINH DOANH

C H U Y Ê N N G À N H KINH DOANH Q U Ố C T Ê

KHOA LUẬN TÓT NGHIẸP

(Dề tài:

Sự THAM GIA CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Lự 0Ĩ>ĩQị

Zũũỹ

Lớp : Anh 5 Khóa : 44 Giáo viên hướng dẫn : TS Đào Thị Thu Giang

H À NỘI - 05/2009

m

Trang 3

C H Ư Ơ N G Ì M Ộ T SỐ VẤN Đ Ể LÝ L U Â N cơ BẢN VỀ CHUÔI GIÁ

TRỊ T O À N CẦU V À N G À N H DỆT MAY THẾ GIỚI 4

1.1 Giới thiệu về chuỗi giá trạ và chuỗi giá trạ toàn cầu 4

1.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị 4

1.1.2.KMÌ niệm chuỗi giá trị toàn cầu 10

1.1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu 18

1.2.Chuỗi giá trạ và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp 21

1.3.Tổng quan về ngành Dệt may thế giới và chuỗi giá trạ toàn cầu ngành

dệt may 23

1.3.1 Lịch sử phát triển và vai trò của ngành Dệt may thế giới 23

1.3.2.Đặc điểm, tình hình phát triển hiện nay và dự đoán xu hướng phát

triển của chuỗi giá trị toàn cầu ngành Dệt may trong tương lai 28

C H Ư Ơ N G 2 P H Â N TÍCH V À Đ Á N H GIÁ sự P H Á T TRIỂN CỦA

N G À N H DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ T O À N CẦU

31 2.1.Thực trạng phát triển của ngành Dệt may Việt Nam 31

2.1.1.Tổng quan về ngành Dệt may Việt Nam 31

2.1.2.Đặc điểm chung của ngành Dệt may Việt Nam 42

2.1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành Dệt may Việt Nam 48

Trang 4

2.2.Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Dệt

may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 53

2.2.1.Sự tham gia của ngành Dệt may Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn

cầu 53 2.2.2.Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Dệt may Việt

Nam trong chuỗi giá tri toàn cầu 58

2.3 Đánh giá sự phát triển của ngành Dệt may Việt Nam trong chuỗi

giá trị toàn cầu 66

chuỗi giá trị toàn cầu 75

3.LI.Triển vọng phát triển và dự báo cho ngành Dệt may Việt Nam 75

3.1.2.Đinh hướng chiến lược phát triển ngành Dệt may Việt Nam trong

chuỗi giá tri toàn cầu 77

3.2.Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển ngành Dệt may Việt

Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 80

3.2.1.Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành Dệt may Việt

Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 80

3.2.2.Một số kiến nghị để thực hiện giải pháp 91

D A N H M Ụ C TÀI L I ớ U T H A M K H Ả O 96

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tên viết tát Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định Thương mại Viết Nam - Hoa Kỳ

UNCTAD United Nation Con/erence ôn

Trade&Development

Hội nghị LHQ về thương mại & phát triển

G A U General Agreement ôn Tariffs

& Trade

Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch

thế giới NAFTA Noríh America Free Trade

Agreement

Hiệp định Thương mại

tự do Bắc Mỹ

ASEAN Asociaứon South East Asia

Trang 6

V I T A S Vìetnam Textìle andApparel

C A M

Computer - aided Manufacturing

Phần mềm dùng trong chế tạo các thành phần vật mẫu

R & D Research and Development

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân biệt hai loại hình chuỗi giá trị: 17

Producer - driven and Buyer - driven chains 17

Bảng 1.2 So sánh ưu và nhược điểm khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.22

Bảng Ì.3 Lịch trình sát nhập Hiệp định ATC vào khung pháp lý của WTO 27

Bảng 2.1 Nhập khẩu quần áo của EU năm 2007 39 Bảng 2.2 Nhập khẩu quần áo của Nhật năm 2007 41

Bảng 2.3 Năng lực sản xuất dệt may Việt Nam 2008 44

Bảng 2.4 Phân loại doanh nghiệp Dệt may theo số lao động (2008) 45

Bảng 2.5 Phân tích SWOT của ngành Dệt may Việt Nam 51

Bảng 2.6 Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 2002 - 2008 58

Bảng 2.7 Thống kê xuất khẩu dệt may của Việt Nam qua các năm 2002-2008

61 Bảng 2.8 K i m ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam theo thị trưỉng 62

Bảng 2.9 K i m ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam theo mặt hàng 63

Bảng 3.1 Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam 1015-2020 77

Bảng 3.2 Mục tiêu của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn từ nay đến 2020

78 Bảng 3.3 Chỉ tiêu Chiến lược phát triển ngành dệt may 2015 - 2020 78

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình L I M ô hình 4 liên kết trong chuỗi giá tri giản đơn 7

Hình 1.2 Chuỗi giá tri đồ gỗ nội thất 8

Hình 1.3 M ô hình chuỗi giá trị kết hợp 9

Hình 1.4 Sơ đồ minh họa toàn cầu hóa dẫn tới hình thành chuỗi giá trị toàn cầu

12 Hình 2.1 Quy trình sản xuất sản phẩm dệt may 31

Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng Dệt may Việt Nam,

2008 37 Hình 2.3 Sơ đồ cơ cấu tữ chức ngành Dệt may Việt Nam 42

Hình 2.4 Sơ đồ chuỗi giá tri của hàng dệt may 53

Hình 2.5 Vị trí của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị

toàn cầu 57 Hình 2.6 M ố i quan hệ giữa vị trí của ngành Dệt may và Giá trị tăng thêm 57

Trang 9

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U l.Sự cần thiết của đề tài

Ở Việt Nam, Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành công nghiệp chủ lực

và là một ưong những ngành được chú trọng phát triển nhất khi nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nưóc Bởi Dệt may là một ngành công nghiệp có lịch sử phát triển lâu đời, có ầnh hưởng lổn đến nền kinh tế quốc dân và Việt Nam

có những ưu thế nhất định để phát triển ngành công nghiệp này

Trong tình hình hiện nay, toàn cầu hóa nền kinh tế đã và đang là x u thế tất yếu của thòi đại X u thế này có tác động đến tát cầ các quốc gia, các vùng lãnh thổ,

và đặc biệt là các nước đang phát triển Các m ố i liên kết và phụ thuộc lân nhau giữa các nước ngày càng ườ nén chặt chẽ, do đó các nước dù giàu hay nghèo, dù lớn hay nhỏ cũng phầi nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nếu như không muốn bị đánh bại trong cuộc chiến toàn cầu hóa của nền kinh tế Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giói (WTO) vào ngày 11/1/2007 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Các doanh nghiệp Việt Nam trẽn tất cầ các lĩnh vực, bên cạnh những cơ hội có được từ việc hội nhập, đang và tiếp tục phầi đối mặt với những thách thức rất lốn khi tham gia vào sân chơi chung của thế giới - đó lầ vấn để cạnh tranh Ngành Dệt may Việt Nam cũng vậy, với khoầng hơn 2.000 doanh nghiệp trong đó đa số có quy m ô vừa và nhỏ, với những hạn chế về khầ năng tài chính, trình độ công nghệ, tay nghề của đội ngũ lao động và trình độ quần lý, thì các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc cạnh tranh vói các tập đoàn dệt may lớn trên thế giới Tuy nhiên, cùng với các ngành kinh tế khác, ngành Dệt may Việt Nam cũng đang nỗ lực hết mình để hội nhập hiệu quầ và cầi thiện vị thế của mình trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Trước đòi hỏi bức thiết của quá tình hội nhập kinh tế, bất cứ một hướng đi nào giúp cho các Doanh nghiệp Dệt may Việt Nam vừa phát huy được nội lực vừa tận dụng được ầnh hưởng của ngoại lực để nâng cao sức manh trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành Dệt may, cần phầi được xem xét một cách nghiêm túc và sâu sắc Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là một ương những phương thức hữu hiệu giúp các Doanh nghiép Dệt may của

Trang 10

Việt Nam phát triển và khảng định vị thế của mình trên trường quốc tế Do đó việc nghiên cứu về chuỗi giá trị hàng dệt may thế giới và chuỗi giá trị của ngành Dệt may Việt Nam có một ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

Tác giả đã lựa chọn lĩnh vực dệt may làm để tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình bói vì Dột may và Thời trang là một trong những lĩnh vực m à tác giả rắt quan tâm và muốn được làm việc sau k h i ra trường Thông qua cơ hội được thực tập và làm việc cho một công ty thương mại có hoạt động kinh doanh về mảng dệt may - Itochu Corporation, và quá trình viết luận vãn tốt nghiệp, tác giả muốn đi sâu hơn để tìm hiểu và nắm bắt kiến thức về lĩnh vực, ngành nghề mình yêu thích

H i vọng rằng với những kiến thức và hiểu biết cơ bản có được sẽ giúp ích cho tác giả

sau k h i ra trường Vói đề tài khóa luận là: Sự tham gia của ngành Dệt may Việt

Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu: Thực trạng và giải pháp, tác giả có cơ hội tiếp

cận sâu hơn với lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu đã được giảng dạy trong bộ m ô n Quản trị chiến lược, có cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu về tình hình phát triển của ngành Dệt may Việt Nam đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền

k i n h tế Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới

2.Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp nhằm hướng đến những mục tiêu nghiên cứu cơ bản sau đây:

• Nghiên cứu nhằm làm rõ hơn lý luận về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu của ngành Dệt may thế giới

• Nghiên cứu tình hình của chuỗi giá trị hàng dệt may thế giới và d ự đoán

xu hướng phát triển

• Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị hàng dệt may

t h ế giới của các Doanh nghiệp Dệt may Việt Nam từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

3 Phạm vi nghiên cứu

Do năng lực có hạn, điều kiện về thời gian và khuôn khổ một luận vãn không

cho phép nên tác giả chỉ XÚI tập trung vào nghiên cứu tình hình phát triển của ngành

Dệt may Việt Nam với các số liệu từ năm 2000 cho đến nay, phạm vi nghiên cứu

Trang 11

của luận văn là tất cả các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam bao gồm: các Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Đ ể đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả đã sử dụng đồng thời các phương phấp: phân tích, tỏng hợp, thống kê, so sánh Bên cạnh đó khóa luận còn sử dụng các công cụ minh họa như bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ nhằm làm sáng tỏ hơn các vấn

đề nghiên cứu

5.NỘÌ dung của đề tài

Khóa luận gồm có 98 trang, 10 hình vẽ và 15 bảng Ngoài các phần m ỏ đầu; kết luận; mục lục; danh mục các từ viết tắt; danh mục bảng, hình vẽ; danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 3 chương:

• C H Ư Ơ N G 1 MỘT SỐ VÂN Đ Ể LÝ LUẬN cơ BẢN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU VÀ N G À N H DỆT MAY THẾ GIỚI

• C H Ư Ơ N G 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ sự PHÁT TRIỂN CỦA

N G À N H DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

• C H Ư Ơ N G 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỂ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN N G À N H DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

Đ ể hoàn thành tốt được khóa luận này, tác giả x i n chân thành biết ơn các Thầy C ô trong trường đã tận tình chỉ bảo và trang bị những kiến thức bỏ ích trong suốt những năm học tập và trưởng thành trong môi trường đại học với biết bao kỷ niệm đẹp Tác giả cũng x i n gửi l ờ i cảm ơn đến Trung tâm thư viện Trường Đ ạ i học Ngoại Thương đã tạo m ọ i điều kiện thuận lợi trong quá trình tác giả thu thập tài liệu

và nghiên cứu

Cuối cùng tác giả x i n bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo, TS Đ à o Thị Thu Giang, mặc dù rất bận rộn với việc giảng dạy, nghiên cứu và phải di công tác dài ngày, song cô vẫn dành nhiều thòi gian hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và chỉnh sửa

để tác giả có thể hoàn thành tốt khóa luận này

Trang 12

CHƯƠNG Ì MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN cơ BẢN VẾ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU VÀ NGÀNH DỆT MAY THÊ GIỚI

1.1 G i ớ i thiệu về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu

1.1.1.Khái niệm về chuỗi giá trị

a.Định nghĩa

Chuỗi giá trị là một khái niệm từ quản lý kinh doanh được Giáo sư Michael Porter - một học giả marketing nổi tiếng, đưa ra vào năm 1985 trong cuốn sách là một trong ba tác phẩm kinh điển1

của ông có tựa đề: "Competitive Advantage:

Creating and Sustaining Superior PerỊormance" - Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì hiệu quá Cuốn sách phân tích về lợi thế cụnh tranh k h i khảo sát kỹ các hệ

thống sản xuất thương mụi và dịch vụ dã đụt tới tầm ảnh hưởng rất lớn ở M ỹ và các quốc gia phát triển khác Theo Michael Porter2

, chuỗi giá trị gồm loàn bộ các hoạt

động gia tăng giá trị bắt dầu từ khâu cung cấp nguyên liệu đến sản xuất, chế biến, lưu kho hàng hóa, marketing và cung cấp dịch vụ hậu mãi M ô hình m à Michael

Porter đưa ra là chuỗi giá trị bao gồm hai mảng hoụt động là: hoụt động chính và hoụt động bổ trợ, trong đó, về cơ bản có 9 loụi hoụt động tụo ra giá trị ưong toàn chuỗi:

N h ó m hoụt động chính bao gồm 5 loụi hoụt động là:

> Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh;

> Vận hành, sản xuất - kinh doanh;

> Vận chuyển ra bên ngoài;

> Marketing và bán hàng;

> Cung cấp các dịch vụ liên quan

1 Giáo sư Michael E Porter được vinh danh là nhà tư tường chiến lược bậc thầy của thời dụi là một trong những bộ óc quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới Bộ 3 tác phẩm kinh điển của ổng là: Chiến lược canh tranh (Competitive Strategy), Lợi thế cụnh tranh (Competitive Advantage), và Lợi thế cụnh tranh quốc gia (Competitive Advantage of Quốc gia ) được xem như là sách gối đầu giường của giới quản tri kinh doanh và các nhà hoụch địch chính sách vĩ mổ trên khắp t h ế giới SUÔI gần ba thập niên qua

2 Nguyễn Phúc Hoàng (dịch) (2008), Lợi thế cụnh tranh: Tụo lập và duy trì thành tích vượt trội trong kinh doanh, NXB Trẻ - D Í Book, p.g.85-86

Trang 13

(Đây là nhóm tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm)

N h ó m hoạt động bổ trợ bao gồm 4 loại hoạt động là:

> Hạ tầng;

> Quản trị nhân lực;

> Công nghệ;

> M u a sắm;

(Các hoạt động bổ trợ xảy ra bên trong từng loại hoạt động chính)

Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị của Michael Porter dựa trên quan điụm về lợi thế cạnh tranh m à ở đó các hoạt động Logistics (cung ứng dịch vụ) có vai trò đặc biệt quan trọng Khái niệm chuỗi giá trị của Michael Porter tách biệt một công t y thành những hoạt động khác nhau, những chức năng, quy trình riêng biệt đại diện cho từng yếu tố tạo nên l ợ i thế cạnh tranh L ợ i thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân hoạt động m à còn ở cả m ố i liên kết giữa các hoạt động vói nhau, vói các hoạt động của nhà cung cấp, và cả các hoạt động của khách hàng nữa

Còn theo quan điụm của đồng tác giả cuốn: "A handbook for value chain

thì: chuỗi giá trị bao gồm

các hoạt động cần thiết để đưa sản phẩm dịch vụ từ ý tưởng thông qua khâu chế biến (bao gồm sự kết hợp các hoạt động chế biến vật lý với các dịch vụ cung ờng nguyên liệu cho hoạt động sản xuất), cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng và cuối cùng là công đoạn tái chế

So với quan điụm của M.Porter thì quan điụm của hai tác giả trên tiến bộ hơn

do đề cập đến kháu tái chế như một thành tố cấu thành đóng góp thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm Theo quan điụm phát triụn bền vững của các nhà kinh tế học, thì

sự phát triụn kinh tế của một quốc gia cần phải chú trọng đến văn đề bảo vệ môi trường, giữ gìn nguồn tài nguyên thiên nhiên, chăm lo, bảo tồn và phát triụn lợi ích cho thế hệ tương lai K h i các nguồn tài nguyên ngày càng trở nên hạn hẹp thì việc ứng dụng các công nghệ xử lý và tái chế sản phẩm cũ giúp gia tăng giá trị trong sản xuất cũng là một mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp

3 Raphael Kaplinsky and Mike Morris (2000), A handbook for value chaìn research, p.g.4

Trang 14

Cho đến nay vẫn còn nhiều ừanh cãi về một định nghĩa thống nhất cho chuỗi giá trị, các nhà nghiên cứu kinh tế k h i đứng từ các góc độ khác nhau lại đưa ra những định nghĩa khác nhau phản ánh nhiều mặt trong bản chất cùa chuỗi giá trị Vì thế để có được định nghĩa chính xác hơn cả, chúng ta nén xem xét chuỗi giá trị trong m ố i liên hệ vói phạm v i nghiên cứu Theo những nghiên cứu và tổng hợp cậa tác giả sau k h i đã tham khảo một số nguồn tài liệu khác nhau, tác giả x i n mạnh dạn

đưa ra đinh nghĩa sau: "Chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động mà doanh nghiệp và

người lao động cùng nhau thục hiện đế đưa một sản phẩm từ lý thuyết đến thực tế,

đó là các hoạt dộng như thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối, hỗ trợ sau bán hàng, Các hoạt động nằm trong chuỗi giá trị có thể do một doanh nghiệp đơn lọ thực hiện hoặc cũng có thể được phân chia giữa nhiều doanh nghiệp khác nhau sản phẩm do chuỗi giá trị tạo ra có thể là hàng hóa hay dịch vụ, được tạo ra trong phạm

vi một khu vực địa lý nhất định hoặc cũng có thể trải rộng giữa nhiều nơi trển thế giói"

Ngoài ra, có thể định nghĩa chuỗi giá trị đứng trên góc độ xem xét m ố i liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau, k h i đó chuỗi giá trị cũng có thể được định nghĩa

một liên minh giữa các doanh nghiệp liên kết dọc để đạt được những vị thế xứng

đáng hơn trên thương trường, hợp tác tạo ra giá trị và giảm chi phí Các doanh

nghiệp trong chuỗi giá trị độc lập về mặt pháp lý, nhưng trở nén phụ thuộc lẫn nhau

vì họ có những mục tiêu chung và hoạt động để đạt được mục tiêu đó H ọ cùng làm việc vói nhau trong một thời gian dài, cùng thảo luận và giải quyết vấn để sao cho đạt hiệu quả cao nhất M ố i quan hệ này nhiều k h i rất đơn giản, nhưng bền chặt hơn

cả những hợp đồng lâu dài và nhiều khi tạo nên những giá trị lớn hơn nhiều những gì

nó vốn có

b.Phân loại chuỗi giá trị

Có rất nhiều cách tiếp cận để phản chia các loại hình chuỗi giá trị khác nhau

Theo quan điểm cậa hai tác giả cuốn "A handbookỷor vaỉue chain research", hai

tác giả này phân biệt ba loại hình chuỗi giá trị đó là

> Chuỗi giá trị giản đơn

> Chuỗi giá trị mở rộng

Trang 15

> Chuỗi giá trị kết hợp

• Chuỗi giá trị giản đơn

Chuỗi giá trị giản đơn bao gồm các hoạt động trong các khâu cơ bản từ kháu

từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của sản phẩm, được minh họa bởi sơ đồ sau đây:

Tiêu Marketing

ệệ thố Tái chế

T Hình 1.1 M ô hình 4 liên kết trong chuỗi giá trị giản đơn

(Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2000,

A handbookỊor Value chain Research)

Từ m ô hình này chúng ta có thể thấy, không chỉ có hoạt động sản xuất tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi, m à sản xuất thực chất chỉ là một ừong số nhiều hoạt động khác nhau trong m ỗ i các liên kết của chuỗi thì đều tạo ra giá trị Mặc dù chuỗi giá trị được xem như là một chuỗi liên kết dọc, nhưng đa số các liên kết trong nội bộ chuỗi đều là những liên kết hai chiều Chẳng hạn như thiết k ế sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và marketing, và sản xuất, marketing đến lượt nó lại tác động ngược trở lại hoạt động thiết k ế trong chuỗi

• Chuỗi giá trị mở rộng

Trong thực tế, những công đoạn trong một dãy chuyền sản xuất, phân phối vô cùng phức tạp m à chuỗi giá trị giản đơn mới chỉ phản ánh được phần cốt lõi, chưa biểu hiện được sự liên kết phức tạp và đan xem lẫn nhau giữa các công đoạn Các nhà kinh tế cho rằng, để có được một sản phẩm phải xem xét đến cả những khâu đẩu nguồn và các hoạt động phân phối cho người mua trong và ngoài nước Chuỗi giá trị

mở rộng sẽ thể hiện chi tiết hóa các hoạt động và các khâu của chuỗi giá trị giản

Trang 16

đơn Mức độ chi tiết hóa càng cao thì sẽ càng thấy rõ thấy rõ nhiều bên tham gia

• Tái chế

Hình 1.2 Chuỗi giá trị đồ gồ nội thất

(Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2000,

A handbook for Vaìue chain Research, pg.5)

Chuỗi giá trị gỗ là một ví dụ điển hình của chuỗi giá trị mở rộng bởi vì các liên kết trong chuỗi giá trị gỗ được phát triển bắt đầu từ hoạt động gieo hạt, cung cấp hóa chất, bơm nước để ưồng rừng, sau đó gỗ được khai thác và đưa về xưởng làm nguyên liẩu cho các nhà máy sản xuất đồ nội thất Doanh nghiẩp sử dụng m á y móc, các chất liẩu phụ trợ như keo dính, sơn để làm ra các sản phẩm gỗ nội thất theo

Trang 17

yêu cầu của thị trường và khách hàng đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới Tùy thuộc vào m ỗ i thị trường thì đồ gỗ được phân phối qua các khâu trung gian khác nhau trước k h i đến tay người tiêu dùng

• Chuỗi giá trị kết hợp

Chuỗi giá trị kết hợp là sự m ó c nối các chuỗi giá trị giản đơn khác nhau có liên quan vói nhau Trong chuỗi giá trị kết hợp, một công đoạn có thể không chỉ làm gia tăng giá trị trong chuỗi m à còn đóng góp giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị khác

Ví dữ sản phẩm của ngành Dệt không chỉ làm tăng giá trị cho ngành Dệt m à còn tham gia vào chuỗi giá trị của ngành May nữa Chuỗi giá trị của ngành sản xuất giấy, khai khoáng và ngành sản xuất đồ gỗ đều sử dững nguyên liệu của ngành lâm nghiệp M ố i liên kết giữa các ngành vốn rất chặt chẽ và ngày càng có xu hướng gắn kết hơn nữa cùng vói nhu cầu tìm kiếm các nguồn nguyên liệu, phữ liệu m ớ i làm cho mạng lưới chuỗi giá trị ngày càng trở nên phức tạp Sự thay đổi một mắt xích trong chuỗi này có thể gây ảnh huống lớn đến một chuỗi giá trị khác

Các cổ đông t r o n g

(Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2000,

A handbook for Vaìue chain Research)

Trang 18

Ngoài ra, trong cuốn "A handbook for Value chain Research", xấc giả còn đề

cập đến một cách phân chia chuỗi giá trị theo quan điểm của Gereffĩ4

Theo Gereffi thì chuỗi giá trị bao gồm hai loại hình đó là: Chuỗi giá trị do nhà sản xuất chi phối

(Producer - driven chain) và Chuỗi giá trị do người mua chi phối (Buyer - driven chain) (Hai kiểu chuỗi giá trị này sẽ được đề cập chi tiết trong mục: 1.1.2 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu.)

c.Nâng cấp chuỗi giá trị

Để nâng cấp chuỗi giá trị may mặc có 2 hình thức:

• Thứ nhất, nâng cấp theo hưựng khai thác sâu, công ty cung cấp sản

xuất sản phẩm theo thiết kế dặc biệt của người mua và sản phẩm được bán dưựi nhãn hiệu của người mua, công ty cung cấp hâu như có rất ít quyền lực trong việc phân

phối, hình thức này gọi là hình thức Sản xuất theo tiêu chuẩn khách hàng (Original

Equipment Manu/acturing - OEM), tiến xa hơn nữa là hình thức sản xuất thiết kế

gốc (Own Design Manufacturing - ODM)

• Thứ hai, nâng cấp chuỗi theo hưựng chuyển tiếp, nhà sản xuất cải tiến

sản phẩm được thiết kế đầu tiên trong OEM, ODM và sau đó bán sản phẩm dưựi nhãn hiệu của họ, hình thức này được gọi là hình thức sản xuất nhãn hiệu gốc

(Original brandname manu/acturing - OBM) Như vậy, các công ty đang đẩy vai

trò OEM, ODM tiến gần tói OBM bằng cách tích hợp các thế mạnh sản xuất vói thiết kế và bán hàng vựi nhãn hàng hoa do chính họ sở hữu Ngành Dệt may của rất nhiều nưốc nhiều nưực trong đó có Việt Nam cũng đang định hưựng theo phương thức này Việc nâng cấp có thể được tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau nữa, như phát triển năng lực thầu trọn vẹn, tích hợp dọc, đa dạng hoa mạng lưựi xuất khẩu, hoặc dịch chuyển tựi khâu thiết kế và marketing Tuy nhiên, chính sự linh động và thích nghi trong thay đổi điều kiện kinh tế và chính sách, mói thực sự là cần thiết cho cạnh tranh bền vững

1.12.Khái niệm chuỗi gùi trị toàn cầu

a.Định nghĩa

Trưực đây, sản xuất thường diễn ra ở một nơi nhất định Các doanh nghiệp sản xuất đồng thời thực hiện cả chức năng thiết kế và marketing Một số doanh

4 (GereBĩ, 1999b)

Trang 19

nghiệp l ớ n có nhiều nhà m á y có thể thực hiện khâu thiết k ế và marketing tại trụ

sờ chính, tuy nhiên thì khâu sản xuất phải được tiến hành tại cùng một địa điểm duy nhất từ khâu đẩu tiên cho tới khâu cuối cùng để hoàn thiện sản phẩm Các doanh nghiệp đặt nhà m á y sản xuất cỉa họ ở nước ngoài cũng chỉ tiến hành toàn

bộ quá trình sản xuất tại một nơi Chỉ đến khoảng giữa những năm 70, k h i m à các công ty Đ a quốc phát triển muốn thống trị thị trường toàn cầu, đã tận dụng l ợ i t h ế lao động d ồ i dào ỏ các quốc gia đang phát triển để thamg gia vào những công đoạn cần nhiều lao động Cùng v ớ i sự phát triển mạnh mẽ cỉa Giao thông vận tải,

T r u y ề n thông và Công nghệ, các công ty Đ a quốc gia này hoàn toàn có thể chia nhỏ sản xuất, đồng nghĩa là một sản phẩm hoàn thiện g i ờ đây có thể được làm bởi sự liên kết sản xuất giữa nhiều nơi khác nhau5

N h ư vậy, chuỗi giá trị toàn cầu là chuỗi giá trị m à ở đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, marketing sản phẩm giòi đây được phân chia giữa các doanh nghiệp tại các nước khác nhau Nếu như chuỗi giá trị là toàn bộ các hoạt động giúp đưa một sản phẩm từ lý thuyết đến thực tiễn, đến tay người tiêu dùng cuối cùng thì chuỗi giá trị toàn cầu nhấn mạnh đến yếu t ố toàn cầu cỉa một chuỗi giá trị giản đơn Toàn cầu đó được thể hiện ở chỗ các hoạt động sản xuất k i n h doanh diễn ra ở rất nhiều nước khác nhau, hoặc các k h u vực địa lý khác nhau nhưng cũng có thể được chỉ định trước là bắt buộc phải được làm ra ở một số nơi cụ thể theo yêu cầu Ví dụ, hãng bán lẻ cỉa M ỹ ký hợp đổng v ớ i nhà cung ứng vải cỉa Trung Quốc, với yêu cầu các nhà cung cấp

Trung Quốc giao hàng cho một nhà sản xuất ở Srilanka sản phẩm hoàn thiện sẽ

được giao trực tiếp cho các hãng bán lẻ cỉa Mỹ Chúng ta hoàn toàn có thể nhận biết rõ ràng đâu là chuỗi giá trị cỉa một địa phương, một quốc gia hay một k h u vực Tất cả các chuỗi giá trị này về cơ bản cũng tương tự với chuỗi giá trị toàn cầu chỉ khác nhau về giới hạn địa lý m à thói

Chuỗi giá trị toàn cầu thường được nhận biết bởi sự tham gia cỉa từng khu vực, từng quốc gia và thông qua chuỗi giá trị cỉa một sản phẩm M ỗ i một khu vực, một quốc gia sẽ có những đóng góp đặc trưng nhất định vào chuỗi giá trị, cụ thể:

> Từng khu vực có những đặc trưng riêng k h i tham gia vào chuỗi giá trị, chẳng

5 Dorothy McCormick and Hubert Schmitz, November 2001, Manuaỉ for vaìue chain research ôn

homeworkers ìn the Garment ỉndustry, pg 17-20

Trang 20

hạn như, khu vực của khối các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đóng Nam A (ASEAN), Liên minh Châu  u (EU), Hiệp định Thương mại tự do Bắc M ỹ (NAFTA)

> M ỗ i quốc gia cũng có những giá trị đặc trưng khi tham gia, đóng góp vào giá trị chung của toàn cầu Chẳng hạn, nói đến trồng và cung cỏp nguyên liệu cà phê là

t h ế giới nghĩ ngay đến Braxin và Việt Nam, nói đến thứ "gia vị vua " là thế giới nghĩ ngay đến hồ tiêu Việt Nam, nói đến chế tạo ô tô thì không thể bỏ qua một loạt các quốc gia lớn như Mỹ, Thụy Điển, Đức, Nhật Bản với các hãng lớn có thương hiệu như: Ford, Volvo, Mercedes, Toyota

> Đ ố i với một sản phẩm cụ thể, chuỗi giá trị thường được xác định từ khâu đầu tiên đến khâu cuối, trước khi đến tay người tiêu dùng Chẳng hạn, từ khâu nghiên

cứu triển khai (Research & Development - R&D), mẫu m ã (design), chế tạo các bộ

phận linh kiện, lắp rắp, khai thác thị trường, tiếp thị và đến khâu cuối cùng là chiến lược thương hiệu Chuỗi giá trị toàn cầu đối với m ỗ i sản phẩm có thể được hiểu là, mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm một xâu chuỗi các mắt xích với nhiều giá trị kết nối tạo nên Trong đó, các mắt xích tạo nên giá trị cuối cùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, lãnh thổ hoặc một sản phẩm thuần túy ra đời tại một địa phương cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu

Liên kết trong chuỗi giá trị toàn cầu là hệ quả tỏt yếu của quá trình toàn cầu hóa nền

k i n h tế thế giới ị sơ đồ minh họa):

hội & Ị ] giá trị

toàn phân

công lao động

cầu

quốc tế (chu vén

Hình 1.4 Sơ đồ minh họa toàn cầu hóa dẫn tới hình thành chuỗi giá trị toàn cáu

Trang 21

Thật vậy, toàn cẩu hóa là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất (LLSX) vói tính chất xã hội hóa sản xuất phát triển ỏ một trình độ cao vượt ra khỏi khuôn khổ đã ư ở nên quá chật hẹp của một quốc gia C.Mác và Ph Ăng-ghen từ thế

kỷ thỹ X I X đã d ự báo: "Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới " 6

R õ ràng,

đây là một x u thế tất yếu, m à động lực và tiền đề của sự phát triển không ngừng của

L L S X là những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Sự phát triển không ngừng của L L S X đã dẫn đến sự phân công lao động xã hội trong nội bộ một nền

k i n h t ế quốc dân và phân công lao động diễn ra trên phạm vi quốc tế K h i L L S X đạt đến trình độ xã hội hóa sản xuất toàn cầu, biến các quốc gia thành những bộ phận hợp thành của toàn bộ quá trinh sản xuất của nhân loại Ngày nay, một quốc gia rất khó phát triển nếu đỹng ngoài quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có sự phân công lao động quốc tế Năng lực tồn tại và sự chọn lựa cách thỹc hòa nhập vào

hệ thống phân công lao động quốc tế và thị trường thế giới trở thành vấn đề "sinh tử" đối vói các nền kinh tế quốc dân riêng lẻ và cả các doanh nghiệp - chủ thể sản xuất của các lĩnh vực khác nhau Nói đến phân công lao động quốc tế là nói đến một hệ thống các quan hệ tồn tại khách quan giữa các chủ thể sản xuất vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của một quốc gia, mang tính chuyên m ô n hóa toàn cầu, trong đó các nước

và các chủ thể kinh tế tham gia đều phải tuân thủ các quy luật khách quan M ọ i hành động đi ngược lại với quá trình đó đều phản tiến bộ và không mang lại hiệu quả cao

Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng chính là quá trình tham gia phân công lao động quốc tế Quá trình đó bao giờ cũng có sự chọn lọc và đào thải mạnh

mẽ Vì thế, không phải ngẫu nhiên m à các Công ty xuyên quốc gia (TNCs

-Transnational Corporations) lại có nhiều lợi thế trong việc chớp lấy những khâu tạo

ra nhiều giá trị gia tăng hơn các công ty nhỏ; những quốc gia nghèo và chậm phát triển hay những quốc gia dư thừa lao động thường phải chấp nhận vị trí gia công sản phẩm cho các quốc gia công nghiệp phát triển; các nước còn ít vốn, công nghệ kém phát triển phải nhận khâu lắp ráp Điều đó chỹng tỏ rằng các quốc gia, các doanh nghiệp trên thế giới k h i tham gia vào chuỗi giá trị toàn câu sẽ đạt được mục tiêu lợi nhuận và có được vị thế trên thương trường quốc tế

6

C M á c và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, N X B Chính trị quốc gia, H à Nội, 1995, t4, ữ.598

Trang 22

N ế u như trước đây, phân công lao động quốc tế được phát triển phần lớn là thông qua hình thức chiến ữanh thôn tính lãnh thổ để chia lại thế giới, bành chuông ảnh hường chính trị, vì suy cho cùng thì thực chất của các cuộc chiến tranh này chính là mậc đích m ở rông thị trường tiêu thậ, tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu cho

sản xuất Sau này, theo học thuyết "biên giới mềm", mậc đích "thôn tính" của các

nước mạnh sẽ đạt được bằng một cách khác, đó là vận dậng các quy luật kinh tế của

thị truồng Mệnh đề "hàng hóa vươn tới đâu, biên giới quốc gia vươn tới đó" đã xuất

hiện trong giới lý luận kinh tế thế giói Biên giói giữa các quốc gia giờ đây không chỉ là biên giói đất liền, biên giới biển, biên giói trên không m à còn là biên giới của hàng hóa và văn hóa Các cường quốc sử dậng lý thuyết này để bành trướng biên giói và tầm ảnh hưởng của mình bằng cách mở rộng thị trường hàng hóa - dịch vậ mang dậm hàm lượng văn hóa ra các nước khấc Còn các nước đang phát triển như Việt Nam cẩn phải ý thức rất rõ điều này để đảm bảo được chủ quyền trong bối cảnh toàn cầu hóa7

và phi quan thuế ) đang lùi dần để nhường chỗ cho các quan hệ thương mại tự do, ít nhất là trong số 152 thành viên của WTO, và hàng loạt quốc gia khác đang trên đường đàm phán để gia nhập tổ chức này Đ ó là chưa kể những hiệp định tự do thương mại song phương muôn hình, muôn vẻ đang hiện hữu trên thế giới Đây cũng chính là x u t h ế tất yếu của thế giới hiện đại, các quốc gia không thể "co cậm" để bảo vệ l ợ i ích của mình dưới các lý do như tự vệ để bảo hộ sản xuất trong nước và cho dù có tìm m ọ i cách để thực hiện các chính sách bảo hộ thì vẫn phải chịu những tác động mang tính hai mặt Đ ó là, không ít các ngành hàng được bảo hộ một thời gian đã rơi vào tình trạng tật hậu xa hơn về công nghệ do chậm đổi mới và tiếp cận

Đặng Lé Nguyên V ũ - Tổng giám đốc Công ty cà phê Trung Nguyên, 'Tư duy mới về thương mại",

hnp://vietnanmet.vn/vanhoimoi/2006/03/546859/

Trang 23

với những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến H ơ n nữa, bảo hộ sẽ triệt tiêu động lực đổi m ớ i và sự mất mát lớn nhất có lẽ ở chỗ ngành hàng đó đang bị nằm ngoài chuỗi giá trị toàn cầu

Nói tóm lồi, chuỗi giá trị toàn cẩu là tập hợp gồm nhiều công đoồn khác nhau làm gia tăng giá trị của một ngành sản xuất nhất định, trong đó có doanh nghiệp của các quốc gia tham gia bằng cách chuyên m ô n hóa theo công đoồn Các hoồt động có thể do một doanh nghiệp tự thực hiện hoặc được chia cho nhiều doanh nghiệp trong phồm v i một hoặc nhiều khu vực địa lý Chuỗi giá trị toàn cầu xét một cách cơ bản

nhất có ba phân khúc: Nghiên cứu & phát triển - sở hữu trí tuệ; sản xuất; Xây

dựng thương hiệu và Thương mại Trong đó, hai phân khúc đầu và cuối tồo ra

nhiều giá trị gia tăng hơn hẳn phàn khúc giữa Đ ó là các phân khúc m à các cường quốc đang nắm giữ và bỏ lồi phân khúc phải làm nhiều nhưng không tồo ra nhiều giá trị cho các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, các quốc gia hàng đầu t h ế giới cũng là những quốc gia sở hữu những thương hiệu, những tập đoàn bán lẻ hàng đầu và nắm g i ữ háu hết các bằng phát m i n h sáng c h ế của thế giới Dòng chảy giá trị gia tăng toàn cầu theo đó chỉ có thể chảy một chiều từ các quốc gia nghèo lên các quốc gia giàu chứ không có chiều ngược lồi Nếu các nước đang phát triển như Việt Nam không lựa chọn mục tiêu sống còn là phải vươn lên cồnh tranh ở hai phân khúc tồo giá trị gia tăng cao nói trên thì khoảng cách v ớ i các nước phát triển sẽ ngày một xa hơn

b.Các loại hình của chuỗi giá trị toàn cầu

Xem xét theo quan điểm của Gary G e r e f f i8

- Giáo sư xã hội học (Đồi học Duke, USA), thì có hai kiểu chuỗi giá trị chính, đó là: chuỗi giá trị do nhà sản

xuất chi phối (Producer - driven chain) và chuỗi giá trị do người mua chi phối

(Buyer - driven chain) Chuỗi giá trị do nhà sản xuất chi phối thường có quy m ô

lớn, xuyên quốc gia và nhà sản xuất đóng một vai trò trung tâm trong mồng lưới sản xuất Chuỗi giá trị do người mua chi phối có đặc trưng là nặng về thâm dụng vốn và công nghệ Trong k h i đó, chuỗi giá trị do người mua chi phối thì các nhà bán lẻ, các hãng tiếp thị và những nhà sản xuất có thương hiệu đóng vai trò then

8 Gereffi, G and Olga Memedovic (2003) "The global apparel value chian: Whal Prospects for Uppgrading by Deveỉoping Countries" UNIDO, Vienna 2004, pp 6-10

Trang 24

chốt trong việc thiết lập mạng lưới sản xuất tập trung trong một số các quốc gia xuất khẩu thường là các nước đang và chậm phát triển Theo x u hướng hiện nay thì các công ty thường tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa bằng việc thiết lập hai mạng lưới k i n h tế toàn cầu này:

• Chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối (Producer - driren)

Các công ty có quy m ô lớn như các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và các công ty đa quốc gia (MNCs) đóng vai trò chủ đạo trong việc điều phối mạng lưới sản xuất trong chuỗi giá trị toàn cầu, đợng thòi họ cũng là những tác nhân kinh tế quan trọng trong việc tìm kiếm lợi nhuận và kiểm soát các liên kết yếu hơn gợm những nhà cung cấp nguyên liệu thô, cung cấp linh kiện, máy móc và các liên kết manh gợm các hãng phân phối và bán lẻ

Các ngành công nghiệp điển hình áp dụng hình thức này là ô tô, máy bay, máy tính, ngành công nghiệp nặng và sản xuất chất bán dẫn L ợ i nhuận thu được chủ yếu dựa vào quy m ô sản xuất, doanh số và việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến của thế giới để đạt được những giá trị vô hình và những khoản lợi nhuận khổng lợ

• Chuỗi giá trị do người mua chi phối (Buyer - driven)

Tác nhân kinh tế quan trọng và điền hình trong chuỗi giá trị do người mua chi phối là các Tập đoàn bán lẻ, các hãng tiếp thị, các hãng sản xuất trực tiếp và gián tiếp Những chủ thể này đóng vai trò chủ đạo trong việc thiết lập nén mạng lưới sản xuất phi tập trung ở nhiều nước xuất khẩu đặc biệt là các nước đang phát triển, do các nước này thường theo đuổi chiến lược đẩy manh sản xuất hướng vào xuất khẩu nên nhiều ngành công nghiệp của những quốc gia này đòi hỏi nhiều lao động, nhất

là các ngành sản xuất hàng tiêu dùng công nghiệp như ngành may mặc, da giầy, đợ chơi, thủ công mỹ nghệ, và điện tử gia dụng Các nhà cung cấp phụ ở các nước đang

và chậm phát triển đảm nhận khâu hoàn thiện sản phẩm cho những người mua nước ngoài, họ phải cam kết sản xuất theo thiết kế, yêu cầu kỹ thuật của các hãng bán lẻ các nhà sản xuất gián tiếp lớn trên thế giới

Các tập đoàn bán lẻ điển hình trên thế giới đang áp dụng m ô hình sản xuất và kinh doanh này phải kể đến như Wal-Mart, Sears, JC Penny, một số hãng sản xuất giầy thể thao n ổ i tiếng như Nike, Reebook, và các công ty sản xuất hàng may mặc thời trang như L i z Clainborne, Gap and The Limited Inc., Các hãng này chủ yếu đảm

Trang 25

nhận khâu thiết k ế thời ưang và tìm kiếm thị trường tiêu thụ m à không trực tiếp tham gia vào khâu sản xuất Vì vậy họ thường được gọi là những nhà sản xuất không

có nhà máy L ợ i nhuận thu được từ những ngành sản xuất này là do việc kết hợp giữa các khâu gia tăng giá trị như nghiên cứu phát triển, thiết kế, bán hàng, marketing và dịch vụ tài chính L ợ i nhuận là mục tiêu lớn nhất trong chuỗi giá trị toàn cởu và chúng tạo ra rào cản vô hình cho những công ty nào mói tham gia vào thị trường Chuỗi giá trị do người mua chi phối hình thành hệ thống cấc nhà m á y ở phạm v i rộng và có khả năng cạnh tranh cao vói rất ít rào cản thương mại Những công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm có nhãn hiệu có thể kiểm soát một cách đáng kể thời điểm, địa điểm, cách thức sản xuất đối với các nhà cung cấp Vì vậy các nhà sản xuất lớn có thể kiểm soát chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối tại một công đoạn sản xuất nào đó

Chuỗi giá trị hàng dệt may thuộc chuỗi giá trị do người mua chi phối do đặc trưng của ngành Dệt May là sử dụng rất nhiều lao động Bảng so sánh hai loại hình chuỗi giá trị sau đây sẽ phởn nào khái quát lên được những nét đặc trưng nhất của mỗi loại hình:

Bảng 1.1 Phân biệt hai loại hình chuỗi giá trị:

Producer - driven and Buyer - driven chains

C h u ỗ i giá trị do người sản xuất chi p h ố i

C h u ỗ i giá trị do người

m u a c h i p h ố i Người c h i phối t r o n g

không

May mặc, Da giày, Đ ồ chơi

Trang 26

Hàng tiêu dùng lâu bền Hàng trung gian

trưng Liên kết theo chiều dọc Liên kết theo chiều ngang

(Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2000,

A handbookỷor Vaỉue chain Research)

1.1.3.CÚC yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cẩu

a.Yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội

Sự ổn định hay bất ổn của yếu tố chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế, và do đó tác động đến chuệi giá trị toàn cầu Chính trị ổn định làm nền tảng và tiền đề cho tăng trưởng kinh tế, ngược lại bất ổn về chính trị sẽ dẫn đến khủng hoảng, và suy thoái Trong chuệi giá trị toàn câu, m ệ i quốc gia, m ệ i doanh nghiệp là những mắt xích quan trọng tạo nên sự liên kết và phát triển trong chuệi

N ế u như một trong những mắt xích ấy không làm tốt hoặc bị cản trở tham gia vào hoạt động trong chuệi giá trị do những nguyên nhân khách quan như nhân tố chính trị thì toàn bộ chuệi giá trị sẽ bị ảnh huống Đặc biệt là vai trò của các bên tham gia trong chuệi giá trị là các mắt xích quan trọng, chi phối như M ỹ chẳng hạn, thì những biến động của nền kinh tế M ỹ hay tình hình chính trị tại quốc gia này khiến cho cả thế giới phải dè chừng và lo ngại đến tầm ảnh hưởng lan rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, nhất là các nước có quan hệ thương mại vói M ỹ trên diện rộng

b.Sựphát triển về khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Không thể phủ nhận yếu tố khoa học, kỹ thuật và cóng nghệ có ảnh hưởng tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển của chuệi giá trị toàn cầu, trong đó tác

động điển hình nhất phải kể đến là yếu tố Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT

- Information and Communication Technology) Luận văn xin được tập trung vào

phân tích ảnh hưởng của I C T đến chuệi giá trị toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển tham gia vào chuệi giá trị toàn cầu:

Trang 27

> I C T có một vai trò quan trọng trong việc đưa các nước đang phát triển hội nhập vào kỷ nguyên mới C ơ hội sẽ m ở ra cho các nước này bằng việc áp dụng công nghệ thông tin và viễn thông để mở rộng việc tham gia vào chuỗi giá trị (chứ không chỉ dừng lối ở công đoốn sản xuất và chế biến giản đơn) Có rất nhiều công ty ở các quốc gia đang phát triển và trên thế giói đã đốt được thành công từ việc ứng dụng những tiến

bộ của công nghệ thông tin và truyền thông vào các hoốt động tốo ra giá trị cao hơn như thiết k ế và logistics (cung ứng dịch vụ) hay thâm nhập vào thị trường ngách

> Việc ứng dụng I C T nhanh chóng là một lựa chọn ưu tiên của cấc nhà sản xuất

ở các quốc gia đang phát triển muốn cốnh tranh một cách toàn diện trẽn thị trường

toàn cầu, nơi m à giá cả và thời gian đáp ứng (speed - to - market) là các yếu tố quyết

định Việc sử dụng ICT thích hợp vào từng phân khúc trong chuỗi giá trị sẽ giúp cho các công t y đốt được m ô hình sản xuất "just in time" (còn được gọi là phương pháp

sản xuất tinh gọn hay phương pháp sản xuất không tồn kho - đúng sản phẩm vói đúng số lượng tối đúng nơi và vào đúng thời điểm), mang lối hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp Điều này lối phụ thuộc vào dòng lưu chuyển thông tin có chính xác và đảm bảo về thời gian hay không, từ khâu gia công nguyên vật liệu thô và quá trình sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Lượng thông tin là khổng l ổ vì vậy cần thiết phải biết cách thu nhập, chọn lọc, chế biến và sử dụng thông tin để đốt được hiệu quả làm tăng giá trị Tuy nhiên, ICT luôn không ngừng phát triển, vì vậy các nhà cung cấp ở các nước đang phát triển cần thiết phải nhận thức được việc đầu tư vào công nghệ thông tin và truyền thông sẽ không chỉ là giải quyết vấn đề kinh tế trước mắt, bởi việc mua và ứng dụng I C T vào sản xuất kinh doanh có thể chưa ngay lập tức mang lối l ợ i nhuận háy giành được khách hàng mói cũng như g i ữ chân khách hàng cũ, m à bên cốnh đó một yếu tố rất quan trọng để đốt được hiệu quả kinh doanh mong muốn đó là cần phải xem xét công nghệ ứng dụng có thích hợp nhất và nó có vai trò như thế nào trong việc đốt được mục tiêu của doanh nghiệp

> Dòng chảy thông tin đang liên kết các yếu tố trong chuỗi lối với nhau và I C T chính là cầu nối và phương tiện để đốt được hiệu quả chia sẻ thông tin M ộ t công nghệ phù hợp sẽ có khả năng cho phép nhà sản xuất cải thiện hoốt động kinh doanh, gia tăng hiệu quả sản xuất và nâng cao tính cốnh tranh, đốt được yêu cầu rút ngắn

Trang 28

thời gian hoàn thành một quá trình sản xuất Trong phạm v i một doanh nghiệp, I C T cung cấp một cơ chế theo dõi đồng bộ theo đó, quá trình của một đơn đặt hàng diễn

ra thông qua dây chuyền sản xuất sẽ đáp ứng được đúng thời hạn từ đó giúp giải quyết nguy cơ tắc nghẽn trong chuỗi và cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động Sau đây là một sị ví dụ ứng dụng thực tế của I C T vào việc cải tiến sự phát triển của chuỗi giá trị: Đ ầ u tiên phải kể đến là một phần mềm vô cùng hữu ích, đó là

H ệ thịng Hoạch định nguồn nhân lực doanh nghiệp (ERP - Enterprise Resource

Planning) tích hợp với các đơn hàng gia công, gia công nguyên liệu thô, sản xuất,

xử lý đơn hàng và dịch vụ logistics Khách hàng được cung cấp một biên bản tin cậy ghi lại tiến trinh giao hàng do đó cũng mang lại hiệu quả sản xuất cao M ộ t phần

m ề m khác giúp duy trì sự liên lạc thông tin giữa các nhà cung cấp và khách hàng

được hỗ trợ bởi hệ thịng thông tin điện tử thông qua m ô hình EDI - Electronic Data

Iníerchange, còn gọi là Hệ thịng trao đổi d ữ liệu điện tử hay là thực hiện trên một

hệ thịng trên nền web linh hoạt hơn Các d ữ liệu như đơn đặt hàng sẽ dễ dàng được tạo lập trực tuyến, giúp giảm thiểu chi phí và tránh được nhiều lỗi Các đơn hàng bổ sung, kiểm tra giá, hỏi giá, và kiểm ưa xem hàng hóa có sân hay không v.v tất cả đều được tiến hành thông qua hệ thịng EDI Điều này cho phép khách hàng có thể

tự mình tìm hiểu thông tin, không phải chờ đợi nhà cung cấp ở một khu vực xa xôi nào đó cung cấp những thông tin cần thiết cho họ, và hơn hết các đơn hàng được thực hiện vào bất cứ thòi gian nào trong ngày và trong tuần

Tuy nhiên thì địi với các nhà cung cấp ở các nước đang phát triển thì thường phải địi mặt với khó khăn trong việc lựa chọn và triển khai một hệ thịng ICT thật sự hiệu quả H ọ cần phải xem xét rất nhiều các yếu tị để đưa ra được quyết định đúng đắn và thực hiện một chiến lược ICT thành công, Chẳng hạn như tại một nhà máy ở Cháu Phi, thì việc kết nịi mạng Internet có thể mất hàng giờ để download về được một tài liệu điện tử chi tiết phục vụ cho công việc sản xuất kinh doanh, sẽ là một sự lãng phí rất lớn và doanh nghiệp đó có thể đã để bị mất đi nhiều cơ hội sinh lời khác

b Hội nhập quốc tể thúc dẩy tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chuỗi giá trị toàn cầu cho phép các công đoạn trong chuỗi đặt tại những địa điểm (quịc gia) có khả năng đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất V a i trò then chịt của chuỗi giá trị toàn cầu thường là Tập đoàn đa quịc gia (MNCs) do tính

Trang 29

chất hoạt động xuyên biên giói và khả năng thu hút hợp tác, thương mại và đầu tư quốc tế của những Tập đoàn dạng này V ớ i chi phí nhân công cũng như các dịch vụ

hỗ trợ tại các nước phát triển đều rất cao, nên xuất hiện x u hướng các MNCs ngày

càng sờ dụng nguồn lực bên ngoài chính quốc (Outsourcing) Trong b ố i cảnh đó,

nếu có một môi trường đầu tư hấp dẫn và nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ

có chất lượng tốt, thì khả năng tiếp thu và phát triển công nghệ cao phục vụ công cuộc hiện đại hoa nền kinh tế của một nước đang phát triển là hoàn toàn có thể trở thành hiện thực Điều này có nghĩa là nhiều doanh nghiệp tại các nước đang phát triển có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu theo hình thức "xuất khẩu tại chỗ" Đ ế n nay, nhiều công trình nghiên cứu kinh tế đã đi đến kết luận là: L ợ i ích k h i trở thành một bộ phận m à chuỗi giá trị toàn cầu đem lại có thể gấp 10 - 20 lần nếu chỉ do quá trình tự do hoa thương mại đem lại cho doanh nghiệp hay cho quốc gia

Đ ố i với các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển, trở thành một bộ phận của chuỗi giá trị toàn cầu là một yếu tố rất quan trọng để tiếp cận được công nghệ cao Trước tình hình đó, để quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là chủ động và hiệu quả, thì các nước đang phát triển phải có các chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp trờ thành một bộ phận của chuỗi T ó m lại, H ộ i nhập kinh tế hiệu quả sẽ thúc đẩy quá trình tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, và k h i các doanh nghiệp, các quốc gia xây dựng được các chiến lược tốt nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh quốc tế trên nền tảng

sờ dụng những điều kiện thuận lợi của địa phương, giảm chi phí vận tải, liên lạc, đồng thòi tăng đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai, phát triển công nghệ (R&D), khai thác xu thế tự do hoa thương mại, đầu tư và các dòng lưu chuyển vốn thì chứng tỏ doanh nghiệp và các quốc gia đó đang hội nhập hiệu quả vào nền kinh

tế t h ế giói, đem lại những lợi ích to lớn cho mình

1.2.Chuỗi giá trị và lợi t h ế cạnh t r a n h của doanh nghiệp

Theo Michael Porter9, lợi thế canh tranh có thể được tạo ra từ rất nhiều các hoạt động trong nội bộ một doanh nghiệp: thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối,

hỗ trợ sau bán hàng M ỗ i một hoạt động đều có thể tạo ra nền tảng cho sự khác biệt hóa từ đó hình thành nên lợi thế cạnh trạnh riêng cho doanh nghiệp Việc thiết lập

9 Michael E.Porter (1985), Competitive Advantage - Creating and Sustaining Superior PerỊormance, pg

33,34

Trang 30

một hệ thống cách thức phân tích m ọ i hoạt dộng của doanh nghiệp, xem chúng tương tác với nhau như thế nào, có một ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu các nguồn của l ợ i thế cạnh tranh Chuỗi giá trị chính là một trong những phương tiện để đạt được L ợ i thế cạnh tranh cho doanh nghiệp M ộ t doanh nghiệp có được l ợ i

t h ế cạnh tranh bằng việc thực hiện các khâu trong chuỗi giá trị tốt hơn với chi phí rở hơn đối thủ cạnh tranh

Chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động khác nhau, những chức năng, quy trình riêng biệt đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp L ợ i

t h ế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân hoạt động m à còn ờ cả m ố i liên kết giữa các hoạt động vói nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp, và cả các hoạt động của khách hàng nữa Phản tích chuỗi giá trị cho chúng ta một bức tranh sinh động về việc tạo ra giá trị gia tăng của doanh nghiệp Việc xem xét, nghiên cứu chuỗi giá trị

sẽ giúp cho doanh nghiệp tìm ra điểm manh, yếu và vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu, để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững

So sánh ưu và nhược điểm của việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, cho thấy những thách thức nhất định m à từng doanh nghiệp, từng quốc gia phải đối mặt Song cùng với xu thế toàn cầu hóa, việc hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng chính là một x u thế tắt yếu của thòi đại, trong đó các doanh nghiệp, các quốc gia không có lựa chọn là tham gia hay không m à bát kỳ các bên tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu là do đòi hỏi tất yếu của quá trình sản xuất toàn cầu hóa và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp

Bảng 1.2 So sánh ưu và nhược điểm khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cảu

Ư u điểm Nhược điểm

• Giảm tính phức tạp của trao đổi

• Giảm giá thành cải thiên chất lượng

• Giảm thời gian tìm kiếm người cung ứng

• Tăng cường sự ổn định, đảm bảo đúng tiến độ

• Chia sở thông tin và sự tin cậy giữa các bên tham gia

• Tăng cường chất lượng

• Phát sinh chi phí mới

• Cấu trúc phân chia lợi ích kiểu mới

Trang 31

O.Tổng quan về ngành Dệt may thế giới và chuỗi giá trị toàn cầu của ngành Dệt may

1.3.1.Lịch sử phát triển và vai trò của ngành Dệt may thế giới

Ăn và mặc là hai nhu cầu cơ bản nhất của con người Trong những nước nghèo, nơi mà đa số người dân còn vất vả với những nhu cầu cơ bản nhất, nông nghiệp và ngành Dệt may chính là hai khu vực kinh tế hàng đầu Và trong các nước công nghệ phát triển, hai ngành này tuy đã trở thành thợ yếu, với những tỷ lệ khiêm tốn ưén dân số lao động và tổng sản lượng quốc gia, song vẫn giữ vị trí quan trọng trong tâm lý công chúng Do đó, tuy không được công luận chú ý đến bằng nông nghiệp, ngành Dệt may vẫn là một đề tài quan trọng trong các quan hệ ngoại thương

và thương thuyết về thương mại quốc tế từ nhiều năm nay

• Quá trình phát triển của ngành Dệt may trong xã hội

Dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người, bắt nguồn từ việc đan lát các thợ cỏ cây làm thành nguyên liệu Theo các nhà khảo cổ

thì sợi lanh ựlax) là nguyên liệu dệt may đầu tiên của con người Sau đó sợi len xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà (Mésopotamia) và sợi bông (cotton) ở ven sông Indus (Ân

Độ) Trong thời kỳ cổ đại, may dệt cũng tuy thuộc vào thổ nhưỡng và sinh hoạt kinh tế: các dân tộc sống về chăn nuôi dùng len (Lưỡng Hà, Trung Đông và Trung Á), vải

lanh phổ biến tại Ai Cập và miền Trung Mỹ, vải bông tại Ân Độ và lụa (tơ tắm) tại

Trung Quốc Các dân tộc Inca, Maya, Tolteca, v.v tại Châu Mỹ thì dùng các sợi

chuối (abaca) và sợi thùa (sisal) Theo Kinh Thi của Khổng Tử, tơ tằm được tình cờ

phát hiện vào năm 2640 trước Cóng nguyên Sau khi vua Phục Hy, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở thành một ngành phồn thịnh, một trong những hàng hoa đầu tiên trao đổi giữa Phương Đông và Phương Tây Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc là nước duy nhất sản xuất và

xuất khẩu lụa và tơ tằm Con Đường Tơ Lụa (Silk Route), còn được truyền tụng đến

ngày nay, không chỉ là địa bàn của các nhà buôn mà còn mở đường cho các luồng giao lưu văn hoa, nghệ thuật, tôn giáo, và cả các cuộc viễn chinh binh biến Tuy các

kỹ thuật may dệt đã mau chóng đạt mợc độ tinh vi, có khi thành cả nghệ thuật, nhưng trong suốt 5 ngàn năm, con người vẫn chỉ dùng các nguyên liệu tự nhiên, lấy

Trang 32

từ cây cỏ như các sợi bông, sợi đay (jute), sợi gai dầu (hemp), sợi lanh, hay từ thực

vật như da, sợi len, tơ tằm, v.v Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản phẩm quý, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quí tặc, thượng lưu, còn đại đa

số dân chúng chỉ mặc vải thô Mãi đến giữa thế kỷ 18, với cuặc cách mạng kỹ nghệ diễn ra ở nước A n h và sự ra đời của các máy dệt cơ khí hoa, chạy bằng hơi nước

(steam loom), ngành Dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở thành mặt kỹ

nghệ V à phải đợi đến năm 1884, mặt nguôi Pháp là bá tước Hilaừe Bernigaud de Chardonnet m ớ i phát minh ra mặt cách chế tạo tơ nhân tạo Chardonnet được coi

như cha đẻ của kỹ nghệ sợi hoa học (chemical ýibres) là từ gọi chung cho các sợi nhân tạo (man-made fibres) và sợi tổng hợp (synthetic fibres) Mục đích của ông k h i

tìm cách làm tơ nhân tạo là để bình dân hoa vải vóc, để bất cứ ai cũng có thể có được những bặ quần áo lụa là m à k h i ấy mói chỉ dành cho mặt thiểu số

Sản phẩm của ngành Dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng quen thuặc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, rèm, thảm, v.v m à còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt khác Vì thế có thể hiểu tại sao ngành Dệt may đã đi liền vói sự phát triển của các nước công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiên thừa hưởng những phát minh kỹ thuật vừa là đặng cơ chuyển biến cả nền kinh tế từ thủ công sang công nghiệp trong thời kỳ cách mạng kỹ nghệ Điều này cũng giải thích tại sao các nước công nghiệp vẫn quyết tâm bảo vệ ngành Dệt may nặi địa trước sự canh tranh của các nưốc nghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xảy dựng ngành này thành trọng điểm của chiến lược phát triển V à tại sao đó cũng là mặt trong những m ố i tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trong quan hệ thương mại giữa các nước giàu và nghèo

• Thương mại toàn cầu vê Dệt may

Ngay từ những năm đầu của hệ thống thương mại đa phương, đánh dấu bằng

sự ra đời của tổ chức G A T T (Hiệp định chung về Thuế quan & Mậu dịch - General

Agreement ôn Tarịffs & Trade), năm 1947, tiền thân của Tổ chức Thương mại thế

giới (WTO), ngành Dệt may dã là mặt vẫn đề khúc mắc trong các vòng thương thuyết nhằm tự do hoa các luồng thương mại Trong vòng 40 năm, ngành này không được điều tiết bởi các qui tắc chung áp dụng cho mậu dịch hàng hoa m à bởi các chế

đặ riêng, đó là: các Hiệp định ngắn hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi (Short Term

Trang 33

Arrangement regarding International Trade in Cotton textiỉes - STA), 1961, Hiệp

định dài hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi (Long Term Arrangement regarding

ỉnternational Trade in Cotton textiles - LTA), 1962-1973, và Hiệp định Đ a sợi (Arrangement regarding ỉnternational Trade in Textiles, thường gọi tắt là Multifibre Arrangement - MFA), 1974-1994 T ừ năm 1995, ngành Dệt may được điều tiết bởi

Hiệp định về Hàng Dệt may (Agreement ôn Textiles and Clothing - ATC), một trong những hiệp định được ký kết sau vòng thương thảo Uruguay Round, thay thế cho

hiệp định M F A và quy đinh những biện pháp chuyển tiếp nhằm đưa toàn bộ ngành Dệt may vào khung pháp lý chung cỉa WTO

Cũng như hai hiệp định STA và LTA, hiệp định M F A cho phép áp đặt hoặc duy tò hạn ngạch, vói điểu kiện phải gia tăng 6 % một năm Vì M F A đi ngược lại hai quy tắc căn bản cỉa G A T T là không phân biệt đối xử, và nằm ngoài khung pháp lý chung nên tuy được quản lý bởi GATT, nhưng chỉ áp dụng cho các nước liên quan chứ không áp dụng cho toàn thể các nước thành viên M F A được gia hạn 4 lẩn, năm

1977, 1981, 1986 và 1991, sau k h i dược thương thuyết lại và m ỗ i lần đều kèm theo nhiều điều lệ mới Trong những năm cuối, tham gia M F A có 8 nước phát triển (nước nhập khẩu) là: Áo, Canada, Cộng đồng kinh tế châu  u EEC, Mỹ, Phần Lan, Nhật, Thụy Sĩ và Na Uy, và 36 nước đang phát triển, vói tư cách nước xuất khẩu Trong 8 nước nhập khẩu này, chỉ có Nhật và Thụy Sĩ là hai nước không áp dụng hạn ngạch Trong 21 năm thi hành, từ 1974 đến 1994, M F A thực ra là công cụ cỉa các nước

giàu ngăn chặn nhập khẩu từ các nước nghèo hơn là "mở rộng thương mại, giảm

các hàng rào mậu dịch và dần dẩn tụ do hoa mậu dịch quốc tế về hàng dệt may, cùng lúc điều tiết sự phát triển của luồng thương mại này và tránh các hậu quả

cơ sở song phương, thường xuyên xem xét lại, và tỷ lệ gia tăng thường thấp hơn con

số 6 % qui định trong MFA M F A khuyến khích nước nhập khẩu và xuất khẩu ký kết các thỏa thuận song phương trong đó yêu cầu cấc nước xuất khẩu hạn chế xuất khẩu tất cả hoặc một số những sản phẩm dệt may nhất định K h i ký kết những hiệp định song phương này, các nước phải tuân thỉ chặt chẽ những quy định cỉa M F A về:

Trang 34

> Quy định các hạn ngạch và chủng loại;

> Mức độ hạn chế và;

> Thực hiện những quy định về tỷ lệ tăng mức độ xuất khẩu hàng năm, tiếp tục

thực hiện những hạn ngạch chưa sử dụng của năm trước; và để lại một phẩn hạn

ngạch của năm hiện tại để thực hiện vào năm sau

Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC) được ký kết cùng với đa sậ các hiệp định khác

của WTO tại Vòng đàm phán Uruguay ATC thay thế cho MFA để quản lý thương

mại quậc tế ưong lĩnh vực hảng dệt may Đây là hiệp định duy nhất của WTO có

điều khoản tự huy Theo quy định được ghi trong hiệp định, nó sẽ hết hiệu lực kể từ

ngày 1/1/2005, và thương mại hàng dệt may sẽ quay về áp dụng theo các quy định

chung của GATT 1994 Điều đó có nghĩa là sẽ chấm dứt chế độ hạn ngạch đậi với

hàng dệt may và các nước nhập khẩu không còn có thể có các biện pháp phân biệt

đậi xử đậi vói hàng dệt may của các nước xuất khẩu khác nhau Hiệp định ATC có

những điểm chính sau đây:

> Phạm vi rộng vì bao gồm sợi, vải, thành phẩm (made-up articles) và quần áo,

tức là hầu hết ngành may dệt, chỉ loại trừ các nguyên liệu thô,

> Một lịch trình sát nhập dần dẩn những mặt hàng ấy vào khuôn khổ các điều

lệ của Hiệp ước GATT 1994, và song song,

> Một lịch trình tự do hoa qua đó các hạn ngạch được gia tăng theo từng giai

đoạn cho đến khi được bãi bỏ,

> Một cơ cấu phòng chậng tạm thời đặc định (specific transitional saỊeguard)

cho trường hợp các ngành sản xuất nội địa có thể bị tổn hại trong thòi gian

quá độ, và,

> Một Cơ quan Giám sát Hàng dệt (Textiles MonitoringBody -TMB) được thành

lập để đảm bảo là mọi qui định được tuân thủ TMB có nhiệm vụ báo cáo

hoạt đồng và tiến triển của các lịch trình lên Hội đồng mậu dịch hàng hoa

(Council Ịor Trade in Goods -CTG), là bộ phận của WTO kiểm soát sự thi

hành Hiệp ưóc ATC Khác với hiệp định MFA, các tranh chấp không thuộc

thẩm quyền của TTVIB mà phải đưa lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp

(Dispute Settỉement Body - DSB)

Trang 35

Hạn ngạch ban đầu của một nước thành viên được áp dụng theo hạn ngạch

m à nước đó đặt ra tại thời điểm ngày 31/12/1994 Hiệp định quy định tỷ lệ hàng dệt may phải đưa vào áp dụng quy định chung của G A T T 1994 tại m ỗ i bước nêu trên

N ế u trong số đó có các mặt hàng dệt may đang áp dụng hạn ngạch thì hạn ngạch phải bị d ự bỏ Những tỷ lệ này được quy định dựa theo mức trao đổi thương m ạ i hàng dệt may của nước nhập khẩu vào năm 1990 Hiệp định cũng quy định rằng khối lượng nhập khẩu cho phép theo hạn ngạch phải được tăng lên m ỗ i n ă m theo một tỷ lệ nhất định, và qua m ỗ i bước, tỷ lệ này cũng phải tăng lên Tỷ lệ tăng lên đó được xấc định dựa trên một công thức tính với giá trị là tốc độ tăng nhập khẩu qua các năm áp dụng Thỏa thuận Đ a sợi ( M F A ) là 6% Sát nhập vào khuôn khổ G A T T hay vào khung pháp lý của W T O chi có nghĩa đơn giản là bãi bỏ hạn ngạch, để hàng may dệt không còn là biệt lệ trong luật W T O nữa Lịch trình sát nhập được ấn định như sau:

Bảng 1.3 Lịch trình sát nhập Hiệp định A T C vào khung pháp lý của W T O

Giai đoạn Kỳ hạn Tỉ lệ sát nhập tối thiểu (tính trên khối

lượng nhập n ă m 1990) Giai đoạnl 1/1/1995 1 6 % (còn lại 8 4 % )

Giai đoạn2 1/1/1998 1 7 % (còn lại 6 7 % )

Giai đoạn3 1/1/2002 1 8 % (còn lại 4 9 % )

Giai đoạn4 1/1/2005 1 0 0 %

(Nguồn: Văn phòng WTO)

Sau khoảng thời gian 10 năm từ ngày 1/1/2005, không nước nào được sử dụng những hạn chế đối vói hàng nhập dệt may, trừ k h i họ có thể chứng minh rằng những biện pháp này phù hợp vói những điều khoản của Hiệp định về Các biện pháp

tự vệ Nói cách khác, một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dật những hạn chế sau k h i

họ có thể chứng minh được, qua quá tình điều tra rằng sự gia tăng hàng nhập khẩu chính là nguyên nhân gây ra những tổn hại nghiêm trọng đến ngành Dệt may trong nước H ơ n nữa, những hạn chế này sẽ phải được áp dụng cho hàng nhập khẩu từ tất

cả các nguồn, không phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu từ một hoặc hai nước nào như trong trường hợp các hạn chế của Hiệp định Đ a sợi - MFA

Trang 36

1.3.2.ĐỘC điểm, tình hình phát triển hiện nay và dự đoán xu hướng phát triển của chuỗi giá trị toàn cầu ngành Dệt may trong tương lai

a.Dặc điểm của chuỗi giá trị hàng dệt may thế giới

Xét theo chuỗi giá trị toàn cầu thì Dệt may là một ngành có chuỗi giá trị "dẫn

dạo bởi người mua", có đặc trưng là thâm dụng lao động và các nhà bán lẻ, các hãng

tiếp thị và sản xuất có thương hiệu đóng vai trò quyết định trong toàn bộ chuỗi

Chuỗi giá trị may mặc được tạo ra từ 5 phần chính:

> Cung cấp nguyên liệu thô bao gồm sợi tự nhiên và nhân tạo;

> Cung ứng các linh kiện như chở, vải thường được sản xuất từ các công ty

dệt;

>• Mạng lưới sản xuất được cấu thành từ các xưởng may bao gồm gia công

trong nước và ngoài nước;

> Kênh xuất khẩu được hình thành từ các trung gian thương mại;

> Mạng lưới marketing ở cấp độ bán lẻ

Trong đó phần lớn l ợ i nhuận đều thuộc về các nhà bán lẻ Hiện nay, các nhà

bán lẻ trên toàn cầu đang bị thống trị bởi các tổ chức bán lẻ lớn với sự phát tiền các

bộ phận chuyên m ó n hoa sâu sắc về sản phẩm và về giá cả M ộ t trong những đặc

điểm nổi bật của chuỗi giá trị ngành Dệt may toàn cầu hiện nay là những m ố i liên

kết với các công ty lớn có ý nghĩa quan trọng nhất trong ngành Các Công ty này có

sức manh chi phối đến các thành viên khác trong chuỗi H ọ không cẩn phải có sự

liên kết dọc theo cách truyền thống vói các nhà sản xuất, ngay cả việc không cần

phải tạo ra thành phẩm m à các công ty đó có thể ở bất kỳ một vị trí nào của khu vực

sản xuất Các công ty này còn kiểm soát các nguồn chính như thiết k ế sản phẩm, các

công nghệ mới, thương hiệu hoặc nhu cầu của người tiêu dùng Việc kiểm soát và

chi phối các hoạt động này tạo ra l ợ i nhuận lớn nhất ương ngành Dệt may toàn cầu

Các doanh nghiệp may ở các nước đang phát triển thường chở tiến hành sản xuất

theo phương thức gia công: cắt - may - hoàn thiện (Cút - Make - Trim - CMT) là chủ

yếu Theo phương thức này, khách hàng nước ngoài cung cấp cho các doanh nghiệp

may mặc toàn bộ nguyên phụ liệu, mẫu thiết kế, các doanh nghiệp Dệt may chở tiến

hành các công đoạn cắt - may - hoàn thiện và một vài công đoạn nhỏ sau sản xuất

Sản phẩm hoàn thành được các khách hàng nước ngoài bao tiêu toàn bộ

Trang 37

b.Tình hình phát triển hiện nay và dự đoán xu hướng của chuỗi giá trị hàng dệt may

Ngành sản xuất Dệt may đã có từ lâu đòi, nhưng kể từ những năm 50 trở đi, ngành công nghiệp dệt may mới thực sự phát triển mạnh mẽ và bắt đầu trải qua những bước chuyển dịch quan trọng ảnh huống đến dòng lưu chuyển thương mại trên phạm vi toàn cầu

> Xu hướng dầu tiên đó là vào thòi gian từ những năm 50 đến những năm

60, kim ngạch nhập khộu hàng Dệt may của Nhật Bản gia tăng mạnh mẽ dẫn đến hoạt động sản xuất hàng dệt may thế giới tập trung tại Bắc Mỹ và Tây Âu đã chuyển dịch sang Nhật Bản

> Từ những năm 70 đến đầu những năm 80, sản xuất hàng dệt may thế giới lại chuyển dịch từ Nhật Bản sang Hồng Rông, Đài Loan và Hàn Quốc, kể từ đó kim ngạch xuất khộu hàng dệt may thế giới lại tập trung vào các quốc gia này

> Xu hướng tiếp theo diễn ra vào cuối những năm 80 đầu những năm 90, chuỗi giá trị hàng dệt may thế giói lại có sự thay đổi căn bản khi hoạt động sản xuất hàng dệt may lại dịch chuyển từ Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc sang Trung Quốc

và một số các quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philipin, Srilanka Trong thòi gian những năm 90, các nhà xuất khộu hàng may mặc Nam Á và Châu Mỹ La tinh trở thành những nhà cung cấp sản phộm dệt may mới của thế giói

> Trong chuỗi giá trị của hàng dệt may thế giói, hoạt động phân phối được thực hiện bởi các hãng bán lẻ, và những hãng này ngày càng có vai trò chi phối đến chuỗi giá trị do chiếm lĩnh được sức mạnh thị trường quốc tế Không chi liên kết chặt chẽ với nhau, các hãng bán lẻ này còn liên kết, hợp tác với các nhà sản xuất, cung cấp

ở tại các nước có chi phí thấp, do đó xu hướng kiểm soát thị trường chuyển dần từ các nhà sản xuất sang các hãng bấn lẻ, điển hình ờ Mỹ với tên tuổi của 5 hãng bán lẻ nổi tiếng là: Wal-mart, Sears, Kmart, Dayton Hudton, JC Penny chiếm tói 6 5 % doanh số bán hàng may mặc Ở Châu Âu, các hãng bán lẻ ở các nước cũng khá phát triển và có thế đứng trên thị trường may mặc như ở Đức, Anh, Pháp, Ý Tuy nhiên thì vai trò cũng như sự chi phối của hãng bán lẻ đã dần sụt giảm vào giữa thập niên 80, đặc biệt

Trang 38

là ở Nhật, khi m à người tiêu dùng coi trọng giá cả hơn thì vai trò chủ đạo của các cửa hàng thòi trang lớn đã không còn nữa, thay vào đó là sự gia tăng nhanh chóng của các cửa hàng bán lẻ với giá thấp hơn Trong đó nổi lên là hàng may mạc của Trung Quốc với số lượng khổng lể được ữao đổi trên khắp thế giới

Trong tình hình hiện nay, trên "bản để" dệt may thế giói lại xuất hiện dòng lưu chuyển thương mại hàng dệt may mới Rõ nét nhất là sự bùng nổ xuất khẩu, chiếm lĩnh thị phần của Trung Quốc, Ấn Đ ộ và một số nước đang phát triển khác

Do tính chất của toàn cầu hóa, và tự do hóa thương mại, kể từ thời điểm 1/1/2005 Hiệp định ATC hết hiệu lực, thương mại toàn cầu của ngành dệt may không còn có những hàng rào thuế quan và phi thuế quan gáy cản trở trong việc buôn bán xuất nhập khẩu mặt hàng này giữa các nước Dòng lưu chuyển hàng dệt may hướng về những thị trường cạnh tranh với những công ty có sức cạnh tranh cao hơn xét cả vẻ

-số lượng, chất lượng, giá cả, chi phí vận chuyển và phân phối Hàng dệt may giá rẻ hơn từ các nhà cung cấp Trung Quốc lên ngôi Trung Quốc đã trỏ thành quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu hàng dệt may trẽn thế giới Xuất khẩu dệt may của Trung Quốc đã bùng nổ do các nhà sản xuất của Trung Quốc có khả năng sản xuất sản phẩm may mặc có chất lượng tốt với mức giá rẻ hơn Xuất khẩu hàng may mặc của Trung Quốc đã tăng tói mức mà Mỹ và EU lại phải áp đặt hạn chế đối với hàng dệt may Trung Quốc từ 1/2006 và hết hạn vào cuối năm 2007 Tuy nhiên thì điều này chứng tỏ rằng Mỹ và EU đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng và tự do cạnh tranh Ngoài ra, sự tăng cường các biện pháp bảo hộ thương mại của các nước nhập khẩu lớn đã gây khó khăn nhất dinh, tạo tâm lý lo ngại cho các nước xuất khẩu ở châu Á

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ sự PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUÔI GIÁ TRI TOÀN CÀU

2.1.Thực trạng phát triển của ngành Dệt may Việt Nam

2.1.1.Tổng quan vế ngành Dệt may Việt Nam

Ngành Dệt may của Việt Nam là một trong những ngành rất được chú trọng phát triển k h i Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước V ớ i những ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành Dệt may để vờa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vờa giải quyết được việc làm cho một số lượng lốn lao động ưong nước

Ngành Dệt may, bản thân tên gọi đó đã nói lén được hai ngành chính là

"ngành Dệt" và "ngành May" trong ngành Dệt may Việt Nam T ờ "dệt may" là một

tờ ghép thuần Việt, được cấu tạo bời hai tờ đơn là "dệt" và "may", chỉ hoạt động dệt vải tờ sợi và may quần áo tờ vải N h ư vậy, khái niệm ngành Dệt may là để chỉ một ngành sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người là các loại vải, quần áo, các đồ dùng bằng vải Trong thực tiễn ngành công nghiệp Dệt may thuộc lĩnh vực Công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động đặc biệt là lao động nữ Quy trình sản xuất trong ngành Dệt may bao gồm các khâu: kéo sợi, dệt vải, nhuộm in và hoàn tất vải được minh họa theo sơ đồ sau đây:

Sản xuất Sợi

Sợi tự nhiên

Sợi nhân tạo

Xe sợi Dệt vải Hoàn tất sản phẩm Tỉa bông Dệt thoi hay Sản phẩm may mạc Chải tho đét kim ị s Đồ dùng sinh hoạt Chải kỹ Sản phẩm cho ngành Kéo sợi Nhuộm nghề khác

Nhuộm Hoàn tất vải

Hình 2.1 Quy trình sản xuất sản phẩm dệt may

Trang 40

Trong đó, kéo sợi là quá tình sản xuất sợi từ các nguyên liệu thó khác nhau , những mảnh sợi riêng lẻ được xoắn lại với nhau để tạo thành sợi dài và chắc Dệt vải

gồm có dệt truyền thống và dệt kim Dệt vải truyền thống là hoạt động sử dụng khung cửu hay máy dệt kéo căng và đẩnh vẩ các sợi để đan các sợi theo chiều dọc và ngang vuông góc vói nhau tạo thành tấm vải Dệt k i m là hoạt động dùng k i m để

móc các sợi với nhau tạo thành tấm vải hoặc sản phẩm may mặc cuối cùng Nhuộm

in và hoàn tất là hoạt động xử lý vải thô (được dệt từ các sợi đơn sắc m à u trắng)

bằng hóa chất và bột m à u (thường được tạo ra từ than đá và sản phẩm hóa dầu), tạo cho vải những hoa văn hay độ bóng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về thẩm mỹ

Hai ngành công nghiệp "dệt" và "may" có m ố i quan hệ khăng khít được ví như hai anh em bói sự phát triển của ngành này là tiền đề, động lực để phát triển ngành kia Vai trò chủ yếu của ngành Dệt là sản xuất ra vải vóc phục vụ cho ngành May, còn sự phát triển của ngành May tạo ra thẩ trường tiêu thụ cho ngành Dệt Sự phát triển đồng đều của hai ngành này có ý nghĩa sống còn đối với ngành công nghiệp Dệt may nói chung Trong quá trình phát triển ngành Dệt may Việt Nam đã trải qua các mốc lẩch sử quan trọng sau đây:

a.Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO (11/1/2007)

Người dân Việt Nam từ lâu đã có truyền thống trồng dâu, nuôi tằm, xe bông, kéo sợi, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng về thêu thùa, dệt lụa như: lụa H à Đông, Vạn Phúc, Bảo Lộc Bên cạnh đó, V i ệ t Nam được thiên nhiên ưu đãi có khí hậu phù hợp với việc nuôi trồng nguyên liệu thô của ngành Dệt may như trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm Bởi vậy m à ngành Dệt may trở thành một ngành nghề truyền thống, lâu đời và có vai trò quan trọng trong nền

k i n h t ế đất nước

• Trong thời kỳ đấu tranh chống Pháp, Mỹ, một quốc gia vốn đã nghèo và lạc hậu lại trực tiếp chẩu ảnh hưởng khốc liệt của chiến tranh, không có điều kiện phát triển kinh tế, m ọ i người dân Việt Nam lúc bấy giờ một lòng đoàn kết, kiên cường đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho Tổ Quốc Kể từ năm 1954, sau k h i miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước đã bắt tay vào chăm lo cho

Ngày đăng: 25/02/2014, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.PGS.TS. Lê Vãn Tân - Chủ nhiệm bộ môn Quản trị doanh nghiệp (2000), Giáo trình Quản trị Chiến lược, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Chiến lược
Tác giả: PGS.TS. Lê Vãn Tân - Chủ nhiệm bộ môn Quản trị doanh nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2000
4. Quang Hùng, (2005), Tiếng anh chuyên ngành Dệt & May, Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng anh chuyên ngành Dệt & May
Tác giả: Quang Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải
Năm: 2005
5. Tổng cục Thống kê _ Niên giám Thống kê - (các năm 2004, 2005, 2006, 2007) NXB Thống kê 2005, 2006, 2007, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005, 2006, 2007, 2008
7. Nguyễn Vũ Minh Phương - Lớp Nhật 4 - K44G - KT&KDQT, Trường Đại Học Ngoại Thương, (6/2008), Thực trạng và giải pháp nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với hàng may mặc, LV.02987, Thư viện Trường Đ H Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với hàng may mặc
Tác giả: Nguyễn Vũ Minh Phương
Nhà XB: Trường Đại Học Ngoại Thương
Năm: 2008
8.TS. Nguyễn Ngọc Sơn (6/2008), Dệt may Việt Nam thửi kỳ hậu WTO: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Tạp chí số 11 (Số 427) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dệt may Việt Nam thửi kỳ hậu WTO: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo
9.ĐỖ Tuyết Khanh, Ngành Dệt may sau 2004: viễn tượng vã thử thách, Tạp chí Nghiên cứu & Thảo luận, Số 2 - tháng 7/2004,(http://www.tapchithoidai.org/200402_DTKhanh.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Dệt may sau 2004: viễn tượng vã thử thách
Tác giả: ĐỖ Tuyết Khanh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu & Thảo luận
Năm: 2004
3.ThS. Ngô Tân - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nang, Liên kết - Giải pháp cơ bản để nâng cấp ngành Dệt may Việt Nam Khác
6. Nhóm thực hiện: Vũ Ngọc Lan, Phan Lê Nga, Lê Thị Thu Phong, Nguyễn Việt ThỖng - Phòng Nghiên cứu-Phân tích, Công ty cổ phân chứng khoán Phố Wall (WSS) (7/2008), Báo cáo phân tích ngành Dệt May Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  M ô hình 4 liên kết trong chuỗi giá trị giản đơn  T - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 1.1. M ô hình 4 liên kết trong chuỗi giá trị giản đơn T (Trang 15)
Hình 1.2. Chuỗi giá trị đồ gồ nội thất - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 1.2. Chuỗi giá trị đồ gồ nội thất (Trang 16)
Hình 1.3.  M ô hình chuỗi giá trị k ế t hợp - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 1.3. M ô hình chuỗi giá trị k ế t hợp (Trang 17)
Hình 1.4. Sơ đồ minh họa toàn cầu hóa dẫn tới hình thành chuỗi giá trị toàn cáu - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 1.4. Sơ đồ minh họa toàn cầu hóa dẫn tới hình thành chuỗi giá trị toàn cáu (Trang 20)
Bảng 1.1. Phân biệt hai loại hình chuỗi giá trị: - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 1.1. Phân biệt hai loại hình chuỗi giá trị: (Trang 25)
Bảng 1.2. So sánh ưu và nhược điểm khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cảu - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 1.2. So sánh ưu và nhược điểm khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cảu (Trang 30)
Hình 2.1. Quy trình sản xuất sản phẩm dệt may - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 2.1. Quy trình sản xuất sản phẩm dệt may (Trang 39)
Hình 2.2. Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng Dệt may Việt Nam, - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 2.2. Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng Dệt may Việt Nam, (Trang 45)
Bảng 2.1. Nhập khẩu quần áo của EU năm 2007 - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1. Nhập khẩu quần áo của EU năm 2007 (Trang 47)
Bảng 2.2. Nhập khẩu quần áo của Nhật  n ă m 2007 - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2. Nhập khẩu quần áo của Nhật n ă m 2007 (Trang 49)
Bảng 2.3. Năng lực sản xuất dệt may Việt Nam 2008 - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3. Năng lực sản xuất dệt may Việt Nam 2008 (Trang 52)
Bảng 2.5. Phân tích SWOT của ngành Dệt may Việt Nam - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5. Phân tích SWOT của ngành Dệt may Việt Nam (Trang 59)
Hình 2.5. VỊ trí của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 2.5. VỊ trí của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu (Trang 65)
Hình 2.6.  M ố i quan hệ g i ũ a vị trí của ngành Dệt may và Giá trị tăng thêm - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Hình 2.6. M ố i quan hệ g i ũ a vị trí của ngành Dệt may và Giá trị tăng thêm (Trang 65)
Bảng 2.9.  K i m ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam theo mặt hàng - Sự tham gia của Mỹ vào ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9. K i m ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam theo mặt hàng (Trang 71)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w