Tháng mười em gặt anh đưa cơm chiềụ Tháng năm cho chí tháng mười Năm mười hai tháng em ngồi em suy: Vụ chiêm em cấy lúa đi Vụ mùa, lúa dé, sớm thì ba trăng, Thú quê, rau cá đã từng Gạo n
Trang 1Những bài ca dao truyền miệng hay nhất
Trang 2Nhọc nhằn chẳng muốn ăn khoai Luộc một nồi bộng, lựa hai củ sùng
Nhọc nhằn nỏ muốn ăn khoai
Nấu một nồi bộng, lựa hai củ sùng Đánh một tiếng tùng
Của sùng cũng hết
Nhỏ còn thơ dại biết chi
Lớn thì đi học, học thì phải siêng Theo đòi cũng thể bút nghiêng Thua em kém chị cũng nên hổ mình
Trang 3Chơi cùng đứa dại nên người dại Kết với người khôn học nết khôn Sống nới đẳng thấp, thành đẳng thấp Muốn đen gần mực, đỏ gần son!
Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần,
Mai anh học xạ
Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên cái bút thật là của em
Quả cau nho nho cái vỏ vân vân Nay anh học gần, Mai anh học xa Lấy nhau từ thuở mười ba
Đến năm mười tám thiếp đà năm con
Ra đường người nghĩ còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng
Quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân ()
Trang 4Nay anh học gần, mai anh học xa
Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên cái bút thật là của em
Quý hồ nhiều lúa là tiên
Rõ ràng phú túc, bình yên cả nhà
Bốn mùa xuân lại thu qua
Muốn cho thóc lúa đầy nhà hán sương
Bước sang hạ giá thu tàn
Thu thu tiền hoạch, giầu sang Thạch Sùng Quý nhân dùng kẻ anh hùng
Rắp toan muốn hỏi nhà nông ê hề
Thật là chân chỉ thú quê
Chuyên cần học nghiệp, học nghề đoan trang Gặp thời là được thọ khang
Tam đa ngũ phúc, rõ ràng trời cho!
Rắp toan cỡi ngựa ra về
Chàng đề câu đối thiếp đề câu thơ
Mải vui ngồi chốn đám cờ
Trang 5Tưởng nhân duyên ấy bao giờ cho quên Chàng về giữ việc bút nghiên
Đừng tham nhan sắc mà quên học hành Một mai chiếm được khoa danh
Trước là rạng nghiệp sau mình vinh thân
Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưụ Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừạ
Rủ nhau đi học i o
Mỗi ngày một chữ, con bò cũng thông
Thân anh khó nhọc trăm phần
Sáng đi ruộng lúa, tối nằm ruộng dưa Vội đi quên cả cơm trưa
Vội về quên cả trời mưa ướt đầu
Thấy anh ăn học Sài Gòn
Trang 6Tôi đây xin hỏi trăng tròn mấy đêm
Anh đứng giữa trời không dám nói thêm
Trăng rằm mười sáu hai đêm trăng tròn
Xem bài đọc thêm: Chơ Saigòn
Tiếng anh ăn học cựu trào ()
Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên
- Nắm đầu thì khổ
Nắm cổ lại không nên
Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ
Vậy anh cứ "bớ làng là hơn"
Câu đố nầy dựa vào quan điểm "nam nữ thụ thụ bất tương thân"
Tháng giêng lúa mới chia vè
Tháng tư lúa đã đỏ hoe đầy đồng
Chị em đi sắp gánh gồng
Đòn càn tay hái ta cùng ra đị
Khó nghèo cấy mướn gặt thuê
Lấy công đổi của chớ hề luy aị
Tháng hai cho chí tháng mười
Năm mười hai tháng em ngồi em suy
Vụ chiêm em cấy lúa đi
Trang 7Vụ mùa lúa ré, sớm thì ba giăng
Tháng mười em gặt anh đưa cơm chiềụ
Tháng năm cho chí tháng mười
Năm mười hai tháng em ngồi em suy:
Vụ chiêm em cấy lúa đi
Vụ mùa, lúa dé, sớm thì ba trăng,
Thú quê, rau cá đã từng
Gạo ngon, cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan
Khuyên chàng học tạp cho ngoan kẻo mà
Thầy đi học đạo làm chi
Tương chao có biết hơn gì hay không ?
Trang 8Thú quê rau cá đã từng
Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan
Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà
Con ăn con ngủ cho no
Con lẫ con chửng con bò con đi
Ngày sau con học con thi
Mẹ mong con đỗ mẹ thì nhờ con
Tiếng anh nho sĩ học trò
Sao anh cạn dạ không dò ý em
Trai thì đi học đỗ ba khoa liền
Khoa trước thì đỗ khôi nguyên
Khoa sau tiến sĩ đỗ liền ba khoa
Vinh qui bái tổ về nhà
Ăn mừng hai họ đủ ba tháng chày
Hàng phủ, hàng huyện đông tây
Rủ mừng quan trạng tới ngày hiển vinh
Trang 9Trách lòng em bậu đãi đưa
Gạt anh dãi nắng dầm mưa nhọc nhằn
Trên trời có đám mây vàng
Bên sông nước chảy có nàng quay tơ
Nàng buồn nàng bỏ quay tơ
Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành
Nàng buồn nàng bỏ cửi canh
Chàng buồn chàng bỏ học hành chàng đi
Triều đình còn chuộng thi thư
Khuyên anh đèn sách sớm trưa học hành May nhờ phận có công danh
Mà anh phú quý, ấy mình vẻ vang
Khuyên đừng trai gái loang toàng
Khuyên đừng chè rượu nữa mang tiếng người Cũng đừng cờ bạc đua chơi
Sao cho sự nghiệp ra người trượng phu
Làm sao nên tiếng danh nho
Trang 10Thần trung, tử hiếu để cho vang lừng!
Trời mưa cho ướt lá riềng
Mua giấy mua bút mua nghiên học hành
Chàng về em gửi đôi chanh
Trái chín nhuộm áo, trái xanh gội đầu
Văn chương (Thông ngôn) phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong
Ngày ngày vác cuốc thăm đồng
Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong
Nay mai lúa tốt đầy đồng
Gặt về đập sảy bõ công cấy cày
Một yêu mặt trắng má tròn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa Năm yêu mảnh áo ngắn tà
Trang 11Sáu yêu quần trắng là đà gót sen
Bảy yêu vóc liễu dịu mềm
Tám yêu giọng nói vừa hiền vừa vui
Chín yêu học thức hơn người
Mười yêu, yêu cả đức tài hình dong!
Tại Sài Gòn vào năm , trong truyện dài bằng thơ Lời Tâm Sự của Thuần Phong đăng trên tạp chí Cùng Bạn, cũng có một bài thơ giễu nhẹ các cô tân thời:
Xin chàng kinh sử học hành
Để em cày cấy cửi canh kịp người
Mai sau xiêm áo thảnh thơi
Ơn trời lộc nước đời đời hiển vinh
Em thì canh cửi việc nhà
Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng
Trước là vinh hiển tổ đường
Bõ công đèn sách lưu hương con nhà
Rước vinh quy về nhà bái tổ
Ngả trâu bò làm lễ tế vua
Họ hàng ăn uống say sưa
Trang 12Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè
Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai
Trời làm tháng sáu giá chân
Tháng một nằm trần nóng đổ mồ hôi
Con chuột kéo cày lồi lồi
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong
Vườn rộng thì thả rau rong
Ao sâu giữa đồng vãi cải làm dưa
Con bò đi tắm ban trưa
Một đàn con vịt cày bừa ruông nương
Con voi nằm ở gầm giường
Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn
Chuồn chuồn thấy cám liền ăn
Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua
Trời mưa cho mối bắt gà
Thòng đong con cấn đuổi cò lao xao
Lươn nằm cho trúm bò vào (*)
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống cắn chuột trong bồ
Trang 13Lá lúa lá mạ đuổi vồ chân trâu
Chim chích cắn cổ diều hâu
Gà con tha qua biết đâu mà lần
Cầy cáo thì đuổi chó săn
Một đàn con chuột đuổi ăn con mèo Trúm: Ống tre bẫy lươn
Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi!
Khế chết khế lại mọc chồi
Để sung mọc nhĩ để hồi đeo hoa (*) Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy anh hay chữ để mà cậy trong
Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào áo ấy cho chồng đi thi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm trường học vậy thì nơi nao Hỏi thăm đến ngõ thì vào
Tay cắp thúng gạo miệng chào thưa anh Trong thì mặc áo đào xanh
Ngoài thì bươm bướm bay quanh dập dìu
Trang 14Gỗ cây sung mọc nấm tai mèo; (Bác mẹ là cha mẹ)
Vịt nằm bờ mía rỉa lông
Cám cảnh thương chồng ăn học đường xa
Dốt đến đâu học lâu cũng biết
Lợi đâu không biết lại thiệt vào thân
Hơn nhau tấm áo manh quần
Thả ra mình trần ai cũng như ai
Thứ nhất Ba Gia Thứ hai Tú Xuất
Tráo trưng lưng bát ngồi mát bát đầy
Khéo miệng mà chả khéo tay
Đẽo cày ra cuốc còn hay nỏ mồm
Hai người đứng đầu về châm biếm chuyên trêu chọc giới quan quyền và người đời
Trang 15Chưa học bò đã lo học chạy
Vén mây mù mới thấy trời xanh
Gươm linh sứt cán còn trành (*)
Bình hương dẫu vỡ mẻ sành còn thơm
Learn to creep before you leap Trành là chắn tay ở cán gươm
Trượt vỏ dưa vỏ dừa phải tránh (phải trợt)
Học khôn đi lính học tính đi buôn
Chữ rằng: "Họa phúc vô mô"
Tìm giầu thì dễ tìm khôn khó tìm
The scalded dog fears cold water OR: Once bitten, twice shy, OR: Many men many minds
Trên trời có cái cầu vồng
Kẻ Chợ Cầu Muống Kẻ Đông Cầu Dền
Vua (Việc) trên đền cầu tiền cầu bạc
Các lái buôn cầu nước cầu non
Đôi ta cầu của cầu con
Con đẹp giống mẹ con dòn giống cha
Con gái dệt cửi trong nhà
Trang 16Con trai đi học đỗ ba khoa liền
Con lớn thì đỗ trạng nguyên
Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba
Vinh quy bái tổ về nhà (*)
Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy (*)
Vốn em chỉ có "Thâm Chầy"
Anh cho "Tắc lái" cho đầy quan năm
Buôn trầu đếm cuốn bán trăm
Mưa dầm gió bấc, em nằm em lo
Thi đậu vua ban võng lọng về quê ăn mừng; Nuôi thầy là ngày xưa trường học chưa phổ biến, cha mẹ phải rước thầy về nuôi trong nhà để dạy con học hành; Tắc lái là tiến lóng của lái buôn trâu bò chỉ ba tiền, quan hai
Ai về Phú Lộc gửi lời
Thư nầy một bức nhắn người tri âm
Mối tơ chín khúc ruột tằm
Khi tháng tháng đợi khi năm năm chờ
Vì tình ai lẽ làm lơ
Cắm sào quyết chí đợi chờ bến xuân
Ước sao chỉ Tấn tơ Tần (*)
Trang 17"Sắc cầm hòa hợp" lựa vần "quan thư" (*)
Đôi bên ý hiệp lòng ưa
Đắp đền công thiếp lại vừa lòng anh
Thiếp thời tần tảo cửi canh
Chàng thì nấu sử xôi kinh kịp thì (*)
Một mai chúa mở khoa thi (*)
Bảng vàng chói lọi có đề tên anh ()
Tấn Tần: hai nước ở đời Xuân Thu bên Trung-quốc Kẻ Tấn người Tần: mỗi người một xứ khác nhau; Trong Kinh Thi có câu: "Quan quan thư cưu" là như đôi chim thư cưu luôn luôn đi cặp đi đôi; Nấu sử xôi kinh là lo học hành để đạt công danh; Xem Đại Việt Sử Thi Đặi Việt Sử Thi () Có bản khác: Ấy là đề diệp tinh kỳ từ đây,
Ai ơi nghe thiếp lời này
Trăm trâu trăm bó cỏ
Trâu đứng ăn năm
Trâu nằm ăn ba
Nghé hoa ba con ăn một (*)
Câu đố toán học - Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con
Trang 18Xin anh đi học cho ngoan
Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài
Quan tiền dài em ngắt làm đôi
Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già
Vui đâu bằng hội đề danh
Nghề nào bằng nghiệp học hành là hơn
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy xuôi
Phu nhân thì có công nuôi
Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban ơn
Mừng nay thái vũ xuân hồi
Miệng dâng câu hát, hoan bồi cuọc vui!
Mã nhật tượng điền xe liền pháo cách (*)
Vô sư vô sách bất trách qủy thần (*)
Mua lầm chớ bácn chẳng lầm
Nết na con gái tiếng tăm thầy đồ
Mã nhật… những cách đi con cờ tướng; Bất trach Nếu không có sach , không có thầy để học thì sơ xuất qủy thần cũng không trách
Trang 19Ông đồng ông chổi Hàng kẹo mạch nha Nào bà hàng quế
Nổi lên cho chóng
Chuông kêu trống gióng Cũng bước vào mà Bước lên giường cao Thấy gà mái ấp
Bước xuống giường thấp Thấy con rồng chầu Bước ra đàng sau
Thấy nhà mới lợp
Trâu ông còn buộc
Trang 20Ngựa ông còn cầm
Ông sống một trăm
Mười lăm tuổi lẻ
Ai về anh dặn lời này
Phượng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng
Song le còn chút ngại ngùng
Biết rằng thầy mẹ thương cùng cho chăng?
Nẻo xa thấp thoáng bóng trăng
Cũng mong nhờ gió cát đằng (*) đưa dây
Quảng Hàn cách mấy lần mây
Để cho duyên hiệp đấy đây cho gần
Cát đằng: loài dây leo phải bám vào những cây to khác Trong văn học cổ thường dùng cát đằng để chỉ sự phụ thuộc, lẽ mọn () Quảng Han:nghìa gốc là rộng và lạnh, theo Long thành lục, vua Đường Minh Hoàng, nhân đêm rằm tháng tám, được nhà thuật sĩ làm phép lạ đưa lên mặt trăng chơi, thấy cửa vào cung trăng có biển đề "Quảng hàn thanh hư chi phủ" (cái phủ trống rỗng, trong suốt, lạnh và rộng) do đó Quảng Hàn, Cung Quảng Hàn, Cung Quảng, Cung Han,v.v` đều dùng để chỉ mặt trăng
Trang 21Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi
Ách giữa đàng quàng vào cổ
Tự nhiên chuốc lấy cái khó nhọc của người
Ăn hóc học nên
Ăn vóc học hay
Ăn vóc học nên
Bạch diện thư sinh
Người học trò yếu ớt trói gà không chặt Bán tôm bán cá
Trang 22Đức tính hàm hồ, thiếu học thức
Cách vật trí tri
Chia tách sự vật ra rồi dùng trí suy luận để biết , phân tích đối tượng sự vật rồi dùng trí thức để tìm biết ra nguyên lý của nó, nghiên cứu của sách đại học là muốn trị quốc thì phải tề gia , tề gia thì phải tu thân , tu thân thì phải chỉnh tâm , chỉnh tâm thì phải thành ý , và sau cùng muốn thành ý , thì phải trí tri , mà muốn trí tri tất phải cách vật
Ấu bất học lão hà vi
Nhỏ mà không học, thì lớn lên không làm được trò trống gì
Ấu nhi học tráng nhi hành
Bác cổ học viện
Trường chuyên khảo về cổ học
Bất hiếu hữu tam
Có ba điều bất hiếu : - không vâng lời cha mẹ không lo học hành Không có con để nối dòng
Bất học vô thuật
Trang 23Không học thì không thông thạo sự việc
Bảy mươi còn học bảy mốt
Bảy mươi học bảy mốt
Cầm gậy chọc trời
Càng học càng thấy dốt
Chẳng hẹn mà gặp chẳng rắp mà nên
Có bản khác: Chẳng học mà hay chẳng rắp mà nên
Chẳng học mà hay chẳng cày mà biết
Chọc bát cơm đơm bát cháo
Chọc cứt không nên lỗ
Chọc gậy bánh xe
Trang 24Chọc gậy xuống nước
Chọc trời khuấy nước
Chồng học trò vợ con hát
Chưa học (Chưa tập) bò đã lo học (lo tập) chạy
Chưa học làm xã đã hay ăn bớt
Chưa làm xã đã học ăn bớt
Có học mới biết có đi mới đến
Con học thóc vay
Con không học thóc không vay
Con lên ba cả nhà học nói
Trang 25Con nhà giàu học giỏi đẹp trai
Con ơi học lấy nghề bà
Đại Nam hải nhai lão thơ sanh tánh Phan chi cữu
Linh cữu của người học trò già họ Phan ở ven biển của nước Ðại Nam
Đâm bị thóc thọc bị gạo
Hay học thì sáng hay làm thì tối
Đi bữa chợ học mớ khôn
Đi học thầy đánh đi gánh đau vai
Đi một buổi chợ học được mớ khôn
Đi một đàng học một sàng khôn
Trang 26Đi một ngày đàng học một sàng khôn
Hăm hăm hở hở nhọc thở hết hăm
Học ăn học nói
Học ăn học nói học gói học mở
Học chẳng biết chữ cua chữ cò
Nói những chữ như rồng như rắn
Học chẳng hay cày chẳng biết
Học chẳng hay thi may thì đỗ
Học chọc bát cơm đơm chẳng kịp
Học hay cày biết
Học khôn đi lính học tính đi buôn
Trang 27Học mặc tài, thi mặc phận
Học một biết mười
Học nhiên hậu tri bắt túc
Học như bất sư học hữu Học thầy không tày học bạn Học như gà đá vách
Học như quốc kêu mùa hè
Học sư bất như học hữu Học thày không tày học bạn Học tài thi phận
Học thành danh lập
Học thầy không tầy học bạn
Trang 29Lấy que thọc đít
Người bảy mươi học người bảy mốt
Người khôn nhọc lo đứa dại ăn no lại nằm
Người không học như ngọc không mài