Đại hội đại biểu VI đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đấtnước, mở đầu cho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnhvực nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa,
Trang 1Câu hỏi tiểu luận: “Trình bày nội dung Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6(1986) của Đảng ? Liên hệ vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn Việt
Nam hiện nay.”
c
Sinh viên thực hiện: Lương Nhật Minh
Mã sinh viên:71DCMO22001 Lớp:71DCMO21
Khóa:71 Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Như Hồng.
HÀ NÔI – 2022
Trang 3Phần mở đầu
Đã hơn 20 năm kể từ Đại hội VI(15 – 18/6/1986) của Đảng, công cuộcxây dựng
và bảo vệ đất nước đã có sự chuyển biến rõ rệt, vượt qua tình trạngkhó khăn, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hóa - hiện đại hóa, thế vàlực được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao Nước ta không còn là mộtnước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển Nước ta từ quan liêu bao cấp đã trởthành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội đại biểu VI đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đấtnước, mở đầu cho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnhvực nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, xã hội… Việc gia nhập WTO là tháchthức nhưng cũng là cơ hội lớn để nước ta phát triển, nó cũng khẳng định đượcnhững thay đổi đúng hướng của Đảng mà Đại hội Đảng VI đã mở đầu cho côngcuộc đổi mới này.Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử to lớn của Đại hội VI với sựđổi mới
và phát triển của đất nước, em đã chọn đề tài “Đại hội Đại biểu VI củaĐảng – Đại hội đổi mới toàn diện đất nước” cho tiểu luận của mình Tiểu luậnsẽ phân tích rõ hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản cũng như ý nghĩa lịch sử củaĐại hội để làm rõ
sự tiến bộ, đúng đắn trong đường lối mà Đảng ta đã đề ra trongĐại hội, đồng thời nêu bật những tác động to lớn của đường lối đó trong côngcuộc đổi mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
.Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên tiểu luận của em vẫn còn nhiều thiếusót, hy vọng nhận được sự góp ý để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Trang 4A phần nội dung
1 hoàn cảnh lịch sử Đại hội đại biểu lần thứ 6
Đại hội VI của Đảng diễn ra giữa bối cảnh có nhiều chuyển biến trong tìnhhình thế giới và trong nước:
Thế giới:- Các nước đế quốc, đứng đầu là Mỹ đang tập trung tìm cách chốngphá
hệ thống xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.- Mặt khác, trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, cả Liên Xô và TrungQuốc đang lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, và họ đang bước vào cáicách, cải tổ với các hình thức và mức độ khác nhau, có nước thành công, cónước thất bại Bối cảnh đó cho Đảng ta những bài học để định hướng được conđường đổi mới đúng đắn nhất cho nước nhà
Trong nước:
- Đất nước đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội:sản xuất tăng chậm, nhiều chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm không đạtđược; tài nguyên bị lãng phí; phân phối lưu thông rối ren, nhiều người lao độngchưa có việc làm, hàng tiêu dùng không đủ, nhà ở và điều kiện vệ sinh thiếuthốn Những mất cân đối trongnền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sảnxuất của xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố, vai trò chủ đạo của kinh tế quốcdoanh bị suy yếu
.- Đời sống nhân dân nhất là công nhân viên chức, lực lượng vũ trang gặp nhiều khó khăn
Tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm; quầnchúng giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhànước Nhìn tổng quát, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu ổn định tình hìnhkinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
Nguyên nhân chủ quan của tình hình trên là những sai lầm nghiêm trọngvề chủ trương, chính sách lớn; về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện củaĐảng và của Nhà nước: Xác định mục tiêu và bước đi không sát thực tế nước ta,không coi trọngkhôi phục kinh tế làm nhiệm vụ cấp bách; nông nghiệp vẫn chưathực sự là mặt trậnhàng đầu; muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xãhội chủ nghĩa trong vòng năm năm; chưa biết kết hợp kế hoạch hoá với quan hệhàng hoá - tiền tệ; mắc sai lầm rất nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưuthông Những sai lầm nói
Trang 5trên chỉ là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chínhsách lớn về chỉ đạo chiến lược
và tổ chức thực hiện
Sai lầm của đợt tổng cải cách giá – lương - tiền cuối năm 1985 làm chokinh tế nước ta càng trở nên khó khăn (tháng 12/1986, giá bán lẻ hàng tăng84,53%)
Chúng ta không thực hiện được mục tiêu để ra là cơ bản ổn định tìnhhình kinh tế
xã hội, ổn định đời sống nhân dân Số người bị thiếu đói tăng, bộichi lớn Nền kinh
tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng Tình hình này làmcho trong Đảng và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, xoay quanhthực trạng của ba vấn
đề lớn: cơ cấu sản xuất, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ cấuquản lý kinh tế Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sốngcòn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển được tình thế, tạo ra sựchuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy là phải đổimới tư duy
Thực trạng đất nước lúc bấy giờ đặt ra một yêu cầu khách quan và bứcthiết là phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, phải có những quyết sách khoa học để ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, vượt ra khỏi khủng hoảng đểtiến lên
Trước tình hình đó, Đại hội Đại biểu lần thứ VI của Đảng đã được diễn ratừ ngày
15 đến ngày 18/12/1986 tại Hà Nội (Đại hội nội bộ từ ngày 05 đến14/12/1986) DựĐại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viêncả nước và 32 đoàn đại biểu của đảng và tổ chức quốc tế
2 nội dung cơ bản của Đại hội
a.Quá trình tìm tòi con đường đổi mới
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thực, nói rõ sự thật,Đại hội
đã đánh giá đúng mức những những thành tựu đạt được sau 10 năm xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Khẳng định những thành tựu, đồng thời đi sâu phân tíchnhững tồntại và nghiêm khắc tự phê bình và phê bình những sai lầm, khuyếtđiểm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong 10 năm (1976 – 1986).Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theotinh thần cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hoá sinh hoạtchính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội
b.Nội dung cơ bản của Đại hội:
− Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nướcdo cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng vềchủ trương,chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynhhướng tư tưởng
Trang 6chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế làbệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theonguyện vọng chủ quan,
là khuynh hướng buông lỏng quản lý kinh tế, xã hộị không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởngvừa tả khuynh vừa hữu khuynh
− Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học kinh nghiệm lớn:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng“lấy dân làm gốc”
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành độngtheo quy luật khách quan
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điềukiện mới
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một Đảng cầm quyền lãnhđạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
.Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những nămcòn lại của chặng đường đấu tranh là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội,tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá
xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo
.− Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện củaĐảng, Đại hội nêu rõ Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hếtlà tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cáchlãnh đạo và công tác.− Đại hội xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trongnhững năm còn lạicủa chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinhtế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh côngnghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo
Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho những năm còn lại củachặng đường đầu tiên là:
Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ
Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chútrọng ba chươngtrình kinh tế lớn là: lương thực - thực phẩm, hàngtiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi
đó là sự cụ thể hoá nội dung côngnghiệp hoá - hiện đại hoá trong chặng đường đầu của thời kỳ quáđộ Làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò
Trang 7chiphối, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trongsự liên kết chặt chẽ, dưới sự lãnh đạo của thành phần kinh tế xã hộichủ nghĩa Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc pháttriển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế
và tăng thu nhập cho ngườilao động
Xây dựng và hoàn thiện mọi bước quan hệ sản xuất mới phù hợp vớitính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xất
Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội,chống tiêu cực,
mở rộng dân chủ, giữ vững kỉ cương phép nước
Đảm bảo nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh
− Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinhtế - xã hội và đề
ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu:
Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư,
Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế Coi nềnkinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kì quá độ
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xoá bỏ cơchế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủnghĩa
Phát huy mạnh mẽ động lực của khoa học – kĩ thuật
. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.Trong hệ thống các giải pháp, Đại hội nhấn mạnh phải tập trung sứclực vào việc thực hiện được ba chiến lược chương trình, mục tiêu:
Trang 8nghĩ và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủnghĩa; bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hainước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới.
− Về huy động sức mạnh của quần chúng,
Đại hội xác định phải pháthuy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện khẩu hiệu “dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước làđiều kiện tất yếu bảo đảm huy động lực lượng to lớn của quần chúng.Đại hội thông qua bản Điều lệ Đảng (sửa đổi) và bầu ban chấp hành Trungương khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết Ban chấphành Trung ương Đảng bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viêndự khuyết Ban bí thư gồm 13 đồng chí Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầulàm Tổng bí thư của Đảng Đại hội VI của Đảng là Đại hội kế thừa và quyết tâmđổi mới, đoàn kết để tiến lên
3 ý nghĩa lịch sử của đại hội
Đại hội lần thứ 6 mở đầu cho công cuộc đổi mới tạo ra bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam
Đường lối đổi mới của đại hội lần thứ 6 đã thực sự đi vào cuộc sống , trở thành động lực thúc đẩy kinh tế nước ta phát tiển làm thay đổi bộ mặt của xã hội, mở đầu cho một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam
Sau đại hội đảng lần thứ 6, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm cụ thể hóa đường lối đổi mới , đưa đường lối đổi mới đi vào cuộc sống.Đường lối đổi mới của Đảng đã đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới
Đường lối đổi mới cùa Đảng thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ,năng động, sáng tạo
và bản lĩnh chính trị của Đảng
Trang 9
B phần liên hệ
1 vai trò
Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội Bởi vì, con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế – xã hội
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động diễn ra Thực vậy, tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người
và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của sức lao động
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người
Ngày nay, con người với trình độ khoa học – công nghệ cao là một thành tố quan trọng của lực lượng sản xuất cũng như trong công cuộc xây dựng đổi mới đất nước Các chính sách của Đảng và Nhà nước ta là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu chung của cách mạng Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào cần được chăm sóc để phát triển Đầu tư vào con người và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững
Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động Con người tồn tại phải được tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn, đồ mặc, nhà ở, học tập, phương tiện đi lại… Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng Như vậy, để tồn tại và phát triển con người bằng sức lao động của mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất tạo ra giá trị hàng hoá dịch vụ
Sự phát triển kinh tế – xã hội, suy cho cùng, là nhằm mục tiêu phục vụ con người làm cho cuộc sống mỗi người ngày càng tốt đẹp hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn
Từ lý luận và thực tiễn đã chứng minh có ba điều kiện cơ bản nhất để phát triển con người là: phải đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an toàn môi trường Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì vậy,
Trang 10giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quan hệ đến lao động, việc làm mà còn là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và cả bản thân người lao động Điều 13, Bộ Luật lao động Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [43, tr.42].
Nước ta đến nay vẫn còn 62 triệu người sống ở nông thôn, trong đó độ
tuổi lao động là 43,26 triệu người chiếm 75,18% lực lượng lao động, nguồn thu nhập chính là nông nghiệp Đặc điểm của lao động nông thôn là tăng nhanh, ít qua đào tạo,
đa dạng về lứa tuổi, sử dụng theo thời vụ, có nhiều cơ hội tìm việc làm nhưng giá tiền công lại rẻ, di chuyển lao động và một bộ phận lao động tự do
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã phát triển tương đối toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều vùng nông thôn biến thành đô thị, nhiều diện tích đất nông nghiệp biến thành các khu công nghiệp, đường giao thông, trung tâm thương mại và đất khu dân cư Tính chung, trong 10 năm 1995-2005 trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng 50 nghìn ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp Trong khi đó lao động nông nghiệp đã dư thừa trên 23% và số lượng cứ tăng dần với tốc độ 2%/năm Năm 2001, lao động nông thôn, nông nghiệp có 24,72 triệu người, chiếm 80% lao động nông thôn; năm 2005 tăng lên gần 27 triệu người Như vậy, trung bình mỗi năm lao động nông nghiệp tăng thêm khoảng 45 vạn người Trong khi
đó diện tích đất nông nghiệp lại giảm xuống kéo theo giảm việc làm cho nông dân Ruộng đất ít, lao động thừa, việc làm thiếu và thu nhập thấp, đời sống nông dân còn nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn và thành thị có xu hướng gia tăng Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để tạo việc làm mới cho lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
Khu vực nông thôn hiện có khoảng 24 triệu lao động Nhưng trên thực tế, ngườilao động chỉ sử dụng khoảng 80% thời gian làm việc; 20% thời gian còn lại (tươngđương với 4,8 triệu lao động) nhàn rỗi Theo dự báo, trong 5 năm tới, số lao động ởkhu vực nông thôn tăng thêm 5 triệu người, cùng với khoảng 2,5 triệu người mấtviệc do đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích trong quá trình đô thị hóa và CNH,
Trang 11HĐH; cộng với số lao động quy đổi do chưa sử dụng hết thời gian lao động, cảnước có tới 12,3 triệu người cần việc làm1 Như vậy, giải quyết việc làm cho cưdân nông thôn vốn là vấn đề xã hội bức xúc, trong 5 năm tới lại trở nên bức xúchơn Vấn đề này nếu không được giải quyết tốt sẽ cản trở đến sự phát triển KT-XHcủa đất nước, tác động trực tiếp đến việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội Bởi lẽ hiện nay, lao động nông thôn không chỉ chiếm tỷ trọng cao, cơ cấumất cân đối, mà còn hạn chế về tay nghề (có tới 72,5% chưa qua đào tạo)2 Do kinh
tế nông thôn về cơ bản là thuần nông, lao động theo thời vụ, ngành nghề phát triểnchậm, nên sau khi thu hoạch mùa màng, nhiều người không có việc làm, phần lớnphải đi tìm việc ở các đô thị và khu vực tập trung công nghiệp (có địa phương chỉcòn 20 - 30%, trong đó chủ yếu là người già và trẻ em)3 Tình trạng thiếu việc làm
ở nông thôn (nhất là trong thanh niên nông thôn) là một trong những nguyên nhânnảy sinh các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội mà cácthế lực xấu có thể lợi dụng chống phá Do số lượng thanh niên ở nông thôn ra các
đô thị và khu vực tập trung công nghiệp tìm việc làm tăng lên sẽ dẫn đến tình trạngdân số cơ học tăng nhanh và tăng cao, tạo nên sự quá tải, gây nên những bức xúc
về nhà ở, điều kiện sinh hoạt, làm nảy sinh nhiều tiêu cực ở các khu vực này Mặtkhác, do lực lượng lao động đi nơi khác tìm việc làm đã dẫn đến tình trạng các địaphương nông thôn gặp khó khăn trong quản lý và thực hiện các kế hoạch đối vớilực lượng dự bị động viên, dân quân, dân phòng, kể cả thanh niên trong độ tuổinghĩa vụ quân sự Tình hình đó không chỉ ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tếcủa các địa phương, làm cho việc huy động nguồn nhân lực theo yêu cầu của sựnghiệp củng cố quốc phòng không kịp thời, mà còn có tác động xấu đến việc giữgìn an ninh nông thôn ở mỗi địa phương và cả nước,v.v
3 giải pháp
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang là một đòi hỏi bức xúc, nhưng làmột bài toán khó có lời giải trọn vẹn Bài viết này xin đưa ra một số giải pháp cụthể sau:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước cần có chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh đào tạonghề cho lao động nông thôn, gắn đào tạo nghề với sử dụng lao động phù hợp Laođộng nông thôn thiếu việc làm do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là trình độvăn hóa thấp, lại không được đào tạo nghề nên lao động phổ thông là phổ biến Đã
có những doanh nghiệp sau khi thu hồi đất của nông dân, nhận lao động trẻ ở nôngthôn vào làm việc, nhưng chỉ một thời gian ngắn lại phải cắt hợp đồng, do lao độngnày không đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp Bởi vậy, việc đẩymạnh đào tạo nghề và đa dạng các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thônđang là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống và phải có sự tham gia của các cấp, cácngành, các lực lượng trong toàn xã hội Trước hết, chính quyền các cấp phải làmtốt công tác tuyên truyền, giáo dục để nhân dân các địa phương, nhất là lực lượng