1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Bộ 5 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021-2022 có đáp án trường THPT Trần Văn Giàu

32 257 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia
Trường học Trường thpt Trần Văn Giàu
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại đề thi
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tính dân tộc trong văn học là một khái niệm thuộc phạm trù tư tưởng thẩm mĩ chỉ mối liên hệ khăng khít giữa văn học và dân tộc, thể hiện qua những đặc điểm độc đáo, tương đối bền vững [r]

Trang 1

TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN GIÀU

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA

MÔN NGỮ VĂN

NĂM HỌC 2021-2022 Thời gian làm bài: 120 phút

ta có khuynh hướng cho rằng hạnh phúc chỉ có mặt trong tương lai Chúng ta luôn luôn mong đợi những điều tốt đẹp hơn, những điều kiện tốt để làm cho ta hạnh phúc Chúng ta bỏ qua những gì đang xảy ra trước mắt Chúng ta cố gắng đi tìm những gì làm cho ta cảm thấy vững vàng hơn, an toàn hơn Nhưng chúng ta cũng thường xuyên lo sợ về những gì tương lai sẽ đem tới Chúng ta lo mất việc làm, mất của cải,

và những người ta thường Vậy nên chúng ta cứ chờ đợi cái giây phút huyền diệu kia, vào một thời điểm nào đó sau này, khi mà mọi chuyện xảy ra đúng như ý ta mong muốn Nhưng đời sống chỉ có trong giây phút hiện tại Bụt dạy: “Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là những giây phút duy nhất mà ta có.”

Khi bạn trở về với lúc này và ở đây, bạn sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt Thực tập chánh niệm là thực tập trở về với hiện tại, lúc này và ở đây, để có thể tiếp xúc sâu sắc với chúng

ta, với đời sống Chúng ta phải tập để có thể làm được chuyện này Dù cho ta thông minh và hiểu biết ngay, chúng ta cũng cần được huấn luyện mới sống được như thế Chúng ta phải luyện tập để thấy được rằng các điều kiện của hạnh phúc đã có mặt tại đây rồi

(Không diệt, không sinh, đừng sợ hãi, Thích Nhất Hạnh, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2019, tr 64)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 2 Theo tác giả, khi nào con người không thể thưởng thức được đời sống?

Câu 3 Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến: Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là

những giây phút duy nhất mà ta có?

Trang 2

Câu 4 Anh/Chị có đồng tình với quan điểm: Khi bạn trở về với lúc này và ở đây, bạn sẽ nhận diện được

rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt không? Tại sao?

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

- Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tạo tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem

Tràng chỉ vâng Tràng vàng rất ngoan ngoãn Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại Niều cháo lõng bỏng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhăn

Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ!

- Chúng mày đợi tu nhá Tao có cái này hay lắm cơ

Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bung ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười:

- Chè đây - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ

Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng, Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:

- Cảm đầy mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cán mà ăn đấy

Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng Mặt hắn chun ngay lại, miếng cảm đắng chát và nghẹn bố trong cổ Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người

(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo Dục, 2009, tr.31)

Phân tích đoạn văn trên; từ đó, nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhà văn Kim Lân

Trang 3

-HẾT -

ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1

I ĐỌC – HIỂU

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2 Theo tác giả, con người không thể thưởng thức đời sống nếu dùng nhiều thì giờ để lo âu về những

gì đã xảy ra hôm qua hoặc sẽ xảy ra ngày mai

Câu 3 Ý nghĩa của câu: Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là những giây phút duy

nhất mà ta có

- Thời gian luôn chảy trôi không ngừng, quá khứ là những gì đã qua không thể lấy lại, tương lai là những điều còn ở phía trước không thể nắm bắt chỉ có hiện tại thuộc về chúng ta Vì thế, con người có thể vui vẻ, thỏa mãn ngay trong cuộc sống hiện tại khi mà bằng lòng với những gì đang có

Câu 4 Học sinh nêu quan điểm (đồng tình không đồng tình vừa đồng tình vừa không đồng tình) và lí giải

Sau đây là một gợi ý:

- Tôi đồng tình với quan điểm trên

- Bởi vì: Khi trở về với hiện tại, con người sẽ nhận thức được đầy đủ những gì mình có không nuối tiếc quá khứ hay mơ mộng, lo sợ tương lai Biết đủ biết bằng lòng với những gì đang có chính là điều kiện để

có được hạnh phúc

II LÀM VĂN

Câu 1 Viết một đoạn văn về sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

- Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tồng-phân – hợp, móc xích hoặc song hành

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày c Triển khai vấn

đề nghị luận

- Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày

Có thể theo hướng

Trang 4

- Trân trọng cuộc sống mỗi ngày là việc mỗi chúng ta biết trân trong thời gian, sử dụng thời gian hợp lí vào những việc có ích; biết nắm bắt, tận hưởng những phút giây, những khoảnh khắc đẹp đẽ của cuộc sống, biết yêu đời, gạt bỏ những muộn phiền lại phía sau

- Thời gian một đi không trở lại, cuộc sống luôn đổi thay nếu không trân trọng cuộc sống mỗi ngày, con người sẽ luôn sống trong tâm trạng tiếc nuối vì những gì đã qua, đã bỏ lỡ

- Trân trọng cuộc sống giúp cho chúng ta nhìn cuộc đời bằng lăng kính, bằng góc nhìn tươi vui khiến ta có động lực để làm mọi việc dễ dàng hơn

- Nếu trong xã hội, con người ai cũng biết trân trọng cuộc sống, sống tận hưởng mọi khoảnh khắc, chúng

ta sẽ có một cuộc

đấu đá

d Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt e Sáng tạo Thể hiện sâu sắc về vấn

đề nghị luận; có cách diễn đạt mới

me

Câu 2 Phân tích một đoạn trích của “Vợ nhặt” Từ đó nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí của Kim Lân

a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề

b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích một đoạn trích của “Vợ nhặt”, nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí của Kim Lân

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, bảo đảm các yêu cầu sau:

*Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân, tác phẩm và đoạn trích

* Phân tích đoạn văn - Bữa cơm ngày đói thảm hại

Trang 5

- Kim Lân miêu tả chân thực, cụ thể bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ để cho người đọc cảm nhận được tình cảnh khốn cùng của gia đình bà trong nạn đói

- Không khí bữa cơm rất vui vẻ, đầm ấm, mọi người đều ăn rất ngon lành

+ Cả nhà đều ăn ngon lành

+ Bà cụ Tứ kể toàn chuyện vui, chuyện sung sướng Chính những câu chuyện ấy như những ngọn gió đông mát lành, như những tia nắng mùa xuân ấm áp để cho mầm xanh hi vọng trong các con bà được cứng cáp vươn lên

+ Bà khuyên bảo các con làm ăn “Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có đàn gà cho mà xem” Lời

lẽ mộc mạc, chân chất nhưng giọng kể thì đầy ắp sinh khí, niềm vui tươi, sự hi vọng vào một tương lai tươi sáng Người mẹ ấy, | khuyên các con nuôi gà theo tư duy rất “nông dân” nhưng cực kì thiết thực Tư duy

ấy xuất phát từ tư tưởng lạc quan của người nông dân trong bài Mười cái trứng: “Chở than phận khó ai ơi/Còn da lông mọc còn chồi nảy cây.”

+ Tràng vâng rất ngoan ngoãn

+ Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế

- Chi tiết nồi chè khoán hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp của tình mẫu tử thiết tha, cảm động:

+Vốn là người từng trải lại là người cầm tay hòm chìa khóa > bà cụ Tứ hiều con người ta dễ nhận ra cái đói, dễ đối mặt nhau trong bữa ăn

+ Để kéo dài niềm vui cho các con, bà cụ Tứ đã chuẩn bị một nồi chè khoán rất công phu Bà gọi nó bằng một cái tên mĩ miều “chè | khoán”; bí mật, hứa hẹn: Chúng mày đợi u nhá Tao có cái này hay | lắm cơ, cách chạy: lật đật, lễ mễ: cách rao, mời chào: “Chè khoán Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.”

- Thứ thức ăn tầm thường dùng cho gia súc nhưng qua bàn tay, giọng điệu, cử chỉ của bà cụ Tứ đã trở thành món ăn đặc biệt Bà đã nêm gia vị của tình mẫu tử => bà chính là biểu tượng của tình người tình mẫu tử

- Chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần tạo nên giá trị nhân đạo cao cả

- Cách ăn của Trang và thị

+ Mặc dù là món cháo cám rất khó ăn, thị vẫn và điềm nhiên cách ứng xử rất tế nhị, văn hóa

+ Khi ăn cháo cám họ cố tránh nhìn mặt nhau

Trang 6

- Trong hoàn cảnh đói khát, trước tấm lòng cao đẹp của người mẹ, Tràng và thị đã tinh tế hơn, trưởng thành hơn Đây là chi tiết rất nhỏ nhưng được Kim Lân miêu tả rất tinh tế Ranh giới giữa người và vật rất mong manh, nhưng tình yêu thương đã giúp họ có cách ăn, cách ứng xử rất Người

=> Để tạo nên thành công của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung, tác giả đã tạo nên một tình huống truyện độc đáo, éo le; xây dựng đối thoại sinh động, hấp dẫn, ngôn ngữ quê kiểng nhưng sử dụng rất đắc địa, đặc biệt là miêu tả tâm lí nhân vật rất sắc sảo Điều đặc sắc nhất của đoạn trích là tác giả đã miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế, ông đã miêu tả bằng sự hiểu biết của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng

Trong đoạn văn, Kim Lân đã miêu tả hoàn cảnh rất thảm hại của bữa cơm đón nàng dâu mới Mặc dù cái đói khát tối sầm đang bủa vây gia đình bà cụ Tứ, nhưng bà vẫn tìm cho mình lí do, niềm tin để vươn lên trên cái đói, cái thảm đạm để mà vui, mà hi vọng Đoạn văn đã góp phần làm nổi bật tư tưởng chủ đề của truyện -> tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm

* Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân

- Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo để phát hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân vật

- Với năng lực phân tích tâm lí tinh tế, ngôn ngữ chọn lọc và lựa chọn những chi tiết đặc sắc, Kim Lân đã diễn tả đúng tâm lí của những con người khốn khổ, tội nghiệp trong nạn đói

Có thể khẳng định chính tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân đã góp phần tạo nên thành công cho

“Vợ nhặt” cũng như góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo của nhà văn

d Chính tả, ngữ pháp Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

Trang 7

Đôi khi thất vọng sẽ đến Điều này xảy ra cho tất cả mọi người Ta cố gắng hết sức, trung thành với giấc

mơ và theo đuổi lý tưởng Thế mà chẳng có gì xảy ra Hoặc dường như là vậy Nhưng mọi lựa chọn đều giá trị Mọi bước đi đều quan trọng Cuộc sống vẫn diễn ra theo cách của nó, không phải theo cách của

ta Hãy kiên nhẫn Tin tưởng Hãy giống như người thợ cắt đá, đều đặn từng nhịp, ngày qua ngày: Cuối cùng, một nhát cắt duy nhất sẽ phá vỡ tảng đá và lộ ra viên kim cương Người tràn đầy nhiệt huyết và tận tâm với việc mình làm không bao giờ bị chối bỏ Sự thật là thế

Steve Martin cho tôi một ý tưởng sâu sắc “Hãy giỏi đến mức người ta không thể ngó lơ bạn.” Chuyên gia quản trị Peter Drucker cũng nhận xét gần như vậy khi cho rằng: “Hoặc giỏi hoặc ra rìa.” Hãy áp dụng triết lý này trong công việc Trong gia đình Trong cộng đồng Trong thế giới của bạn Hãy can đảm trình diễn năng khiếu để chúng mang lại những phần thưởng tuyệt vời

(Hoặc giỏi hoặc ra rìa, trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma,Nxb Trẻ, 2018, tr14)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 2: Theo tác giả, cuộc sống ru đãi với những ai?

Câu 3: Anh/ chị, hiểu như thế nào về câu nói: Nếu bạn thực hiện bất cứ công việc nào một cách tuyệt vời,

luôn luôn tìm kiếm sự vượt trội, luôn ở vị trí xuất sắc, bạn không thể vuột mất chiến thắng cuối cùng

Câu 4: Anh chị có đồng tình với triết lí "Hoặc giỏi hoặc ra rìa" không? Vì sao?

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 Viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về sự chi phối của đồng tiền trong cuộc sống

hiện đại hôm nay

Câu 2 Cảm nhận vẻ đẹp thi trung hữu hoạ trong đoạn thơ dưới đây:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Trang 8

Nhà ai Pha luông mưa xa khơi

(Tây Tiến - Quang Dũng)

-HẾT -

ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2

I ĐỌC – HIỂU

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

Câu 2 Theo tác giả, cuộc sống ru đãi với những ai tận lực

Câu 3 Câu nói: Nếu bạn thực hiện bất cứ công việc nào một cách tuyệt vời, luôn luôn tìm kiếm sự vượt

trội, luôn ở vị trí xuất sắc, bạn không thể vuột mất chiến thắng cuối cùng có thể hiểu:

+ Khi nỗ lực thực hiện bất cứ công việc nào bằng sự đam mê, sự vượt trội thì kết quả nhận được là vị trí xuất sắc nhất trong những người xuất sắc

+ Khi là người xuất sắc nhất, cơ hội và thành công luôn đứng về phía chúng ta

+ Chiến thắng chỉ đến và dành cho những ai biết cố gắng, nỗ lực hết mình (Thí sinh có cách lí giải khác, hoặc cách diễn đạt khác hợp lí vẫn được điểm tối đa) Thí sinh bày tỏ quan điểm riêng là đồng ý hay không đồng ý và lí giải Có thể theo hướng:

- Đồng ý với triết lí "Hoặc giỏi hoặc ra rìa" Vì:

+Khi bạn giỏi, bạn có trình độ cao, bạn sẽ được mọi người khâm phục, khen ngợi, cơ hội dễ dàng đến với bạn

+ Ngược lại, nếu bạn không giỏi, không có trình độ cao, hay tay nghề xuất sắc bạn sẽ hiếm khi hoặc không bao giờ được nhắc tới

+ Đây là triết lí hay, khuyên con người nên cố gắng phấn đấu để trở thành người giỏi, người có tay nghề,

có học vấn được người khác kính trọng, ngưỡng mộ

Trang 9

+ Thể hiện được quan điểm cá nhân, đảm bảo được tính nhân văn trong bài viết

+ Triển khai vấn đề thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, trình tự hợp lí, lập luận chặt chẽ; sử dụng phù hợp các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng

- Hình thức:

+ Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận;

+ Đoạn văn mạch lạc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết;

+ Lời văn có cá tính và cảm xúc;

+ Không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Bài làm tham khảo:

Bạn có biết câu chuyện về chàng thanh niên vài ba năm truớc, để có tiền mua điện thoại Iphone đã bán một quả thận để có tiền? Điên rồ ư? Nhưng đó có thể là quyết định của không chỉ một người trong xã hội này Bởi, từ lâu, tiền đã có sức mạnh chi phối con người Trước tiên, cần hiểu rằng, tiền là vật ngang giá, được dùng để trao đổi hàng hóa trong xã hội Bản thân đồng tiền giấy không có giá trị sử dụng Nhưng nó lại là một tờ giấy rất mạnh Có tiền là có được những giá trị vật chất trong xã hội, từ những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống đến những dịch vụ đẳng cấp Tiền còn cho ta quyền lực và địa vị, người có tiền thường được xã hội tôn trọng và cuộc sống có tiền là cuộc sống đáng mơ ước của nhiều người Vì sao ư? Vì xã hội hiện đại thiên về tính dịch vụ, đồng tiền mang đến giá trị vật chất và dịch vụ nên nó trở thành thước đo cho vị thế con người Một bộ phận không nhỏ người trong xã hội chạy theo lối sống thực dụng, quan điểm “có tiền là

có hạnh phúc”, đẩy vị thế đồng tiền lên tối đa, khiến mọi suy nghĩ, hành vi của họ bị chi phối bởi đồng tiền Những người này sẵn sàng đánh đổi nhân cách, liêm sỉ để có tiền, như ta thấy tràn lan những kẻ câu viu (view) bằng tin giả, ảnh nóng để có tiền Bàn luận ra, đúng là tiền có thể mua được nhiều thứ, rất đáng quý, đặc biệt khi là kết quả của lao động, mang lại niềm vui cho cuộc sống Nhưng tiền không phải vạn năng, ta không được đánh đồng giá trị tiền bạc và hạnh phúc Tiền không mua được sức khỏe, không đổi được thời gian, không mang lại tri thức Bởi vậy, ta cần có cái nhìn tích cực, coi đồng tiền là một phần giá trị của cuộc sống hiện đại, nhưng không để nó dẫn dắt suy nghĩ và cuộc sống cá nhân

Câu 2

Yêu cầu chung:

Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kỹ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản Bài viết phải

có bố cục rõ ràng, đầy đủ; văn viết có cảm xúc, thể hiện khả năng phân tích, cảm thụ

Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Trang 10

Bài làm mẫu:

Một nhà phê bình đã từng quả quyết rằng nếu xét muời tác giả tiêu biểu thời kháng chiến chống Pháp, sẽ không có Quang Dũng, nhưng nếu xét mười thi phẩm xuất sắc nhất của thời bom lửa ấy thì không thể

không có Tây Tiến Quả là như vậy, Tây Tiến như bức tượng đài sừng sững thách thức cả khốc liệt của

chiến tranh, sự tàn phá của thời gian để ngày càng toả sáng trong kho tàng văn chương đất Việt Đặc biệt không thể không nhắc đến bút pháp thi trung hữu hoạ - sức tạo hình, điêu khắc ngôn từ của người nghệ sĩ Quang Dũng, đặc biệt trong những vần thơ dưới đây:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thảm thắm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Quang Dũng nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, nhà thơ của những vần thơ lãng mạn, bay bổng, đậm nét hào hoa Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dấu ấn không thế phai mờ trong tâm hồn dân tộc

Đó là điểm hội tụ của muôn triệu tấm lòng yêu nước, môi trường thử thách tinh thần chiến đấu ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta Cuộc kháng chiến còn làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp mà đẹp nhất

là hình ảnh người lính Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực

lượng đông đảo đủ mọi tầng lóp thanh niên từ khắp phố phường Hà Nội Có nhiều thanh niên học sinh thuộc tầng lóp trí thức tiểu tư sản vừa rời trang sách nhà trường để tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc Tất cả những con người ấy ra đi với lí tưởng chung của dân tộc là chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do của

Tổ quốc Họ ra đi không hẹn ngày trở về chiến đấu với mục đích “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.” Tư tưởng ấy là hào khí của cả một thế hệ, đã từng được phản ánh trong một bài hát thời đó:

“Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi, Nào có xá chi đâu ngày trở về.”

Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanh niên trí thức ngày hôm qua

có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường, chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn

Trang 11

quân Tây Tiến, thấp thoáng xuất hiện một khuôn mặt: Quang Dũng, tác giả của bài thơ Như bao thanh niên trí thức của Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia nhập đoàn quân Tây Tiến với một niềm say mê của tuổi trẻ và một chút lãng mạn của những người thanh niên “nho sĩ quý tộc” ảnh hưởng trong

Chinh phụ ngâm:

“Dã nhà đeo bức chiến bào”

hay

“Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.”

Cũng chính vì thế mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hi sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng Vào Tây Tiến, Quang Dũng cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này và sau đó chuyển sang đơn vị khác Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về những người đồng đội, nhớ về những tháng ngày chiến đấu gian nan nhưng hào hùng, nhớ đơn vị cũ, nhớ những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng đi qua

Quang Dũng không chỉ là nhà thơ, ông còn là hoạ sĩ, là nhạc sĩ, cho nên những vần thơ của ông đậm tính nhạc, tính hoạ Thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua tổ chức ngôn

từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm Thi trung hữu họa: trong thơ có hoạ (có tranh, có cảnh), tức là nói đến đặc trưng của thơ trữ tình là giàu hình ảnh, giàu tính chất tạo hình, đọc thơ mà tưởng thấy cả khung cảnh hiện ra ở trước mắt

Tính hoạ được tạo nên trong nỗi nhớ chơi vơi, nỗi nhớ chông chênh giữa hai bờ thực ảo:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết, ngọt ngào Tác giả gọi tên đơn vị Tây Tiến, gọi tên con sông vùng Tây Bắc: sông Mã mà thân thiết, dạt dào cảm tình như gọi tên những người thân thương trong cuộc đời mình Phải chăng trung đoàn Tây Tiến, núi rừng Tây Bắc gần gũi, thân thương với tác giả và khi xa thì Tây Bắc, Tây Tiến trở thành một “mảnh tâm hồn” của tác giả “Nhớ chơi vơi gợi lên dài rộng về không gian, gợi nên cái xa cách về thời gian Nhớ chơi vơi! Hai tiếng "chơi vơi" dùng ở đây thật là đắc địa, diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất nặng và mênh mang đầy ắp Cái tâm trạng nhớ ấy ta đã bắt gặp không chỉ một lần trong ca dao:

“Ra về nhớ bạn chơi vơi”

hoặc:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

Trang 12

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.”

Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trưng thêm cho nỗi nhớ chơi vơi của mình, thật là chi tiết đắt giá! Nhưng tất cả đã lùi về quá khứ Quang Dũng cất lên tiếng gọi như sự níu kéo mọi ký ức quay trở lại

Tính hoạ được gợi lên qua những địa danh và thời tiết khắt nghiệt xứ sở miền Tây:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

“Sài Khao, Mường Lát” là hai địa danh được nhắc đến Những cái tên như có sức tạo hình, nó gợi những nơi chốn hoang sơ, thưa vắng, heo hút Những cái tên như những địa chỉ in hằn dấu chân người lính Và cũng chính nơi hoang vu đó, ký ức đập về màn sương lạnh trắng phủ kín lối đi, che lấp cả đoàn quân mỏi mệt Sương bồng bềnh, giá buốt làm trơn ướt những con đường, làm tê lạnh da người Mỗi địa danh đều gợi lên trong người đọc về hình ảnh của một xứ lạ, phương xa; nếu ta chỉ thử thay Sài Khao bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy tan biến ngay

Một hình ảnh rất gợi là: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Đêm hơi là đêm đẫm hơi sương, là đêm lạnh Tiếp tục gợi sự khắc nghiệt của khí hậu Nhưng từ “hoa về”, lại đem đến nhiều cách hiểu Có thể hiểu hoa theo nghĩa thực, những bông hoa rừng nở, mùi hương quyện trong đêm hơi Nhưng cũng có thể hiểu, khi chiến sĩ hành quân đêm, những bó đuốc họ mang, giống như những bông hoa lửa, phá đi giá lạnh và đêm tối

Tính hoạ được thể hiện đặc sắc qua hình ảnh những con dốc Tây Tiến:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đất nước ta với đặc điểm địa hình 3/4 là núi đồi, nhưng qua những lời thơ đậm chất tạo hình của Quang Dũng, tưởng chừng như bao dãy đồi, ngọn núi đều đã “đổ bộ” hết lên vùng miền Tây này, phủ đặc trên những cung đường của binh đoàn Tây Tiến Điệp từ "dốc" vừa gợi sự liên tiếp, chồng chất của những con dốc, dốc này chưa qua dốc khác đã phủ hiện trước mặt Hơn thế nữa những từ láy đi kèm còn gợi cả cái khốc liệt của những con dốc “Khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” vẽ cho ta một hình dung về sự hoang

sơ, kỳ vĩ, xa xôi, trúc trắc, mấp mô, hun hút rợn người Nhưng đặc biệt hơn, bằng thủ pháp đối lập, sự kinh hoàng, hiểm trở của những con dốc nơi đây mới hiện lên đầy đủ: “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”

Trang 13

Đó là một sự gãy gập đột ngột, bất ngờ Không hề thoai thoải dễ đi như những vùng miền khác, dốc nơi này dựng cao chót vót, nổi lên, vươn lên thẳng đứng chạm cả mây trời Nhưng khi chạm đỉnh dốc rồi, sa chân bước hụt có thể rơi ngay xuống chân dốc sâu thăm thẳm Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của mỗi vùng rừng biên ải Đọc đoạn thơ, chưa cần suy ngẫm nội dung bên trong, chúng ta đã có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũng miêu tả Kết cấu đoạn thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khểnh

Nếu câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” tới 5 thanh trắc trong 1 câu thơ đã tạo nên được những liên tưởng thật kỳ thú, rợn ngợp, kích thích, thì câu thơ: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” lại lập lại cân bình, câu thơ được dệt bởi những thanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời Nhịp thơ cũng chậm lại, âm điệu nhẹ nhàng như phút nghỉ chân hiếm hoi của người lính Trong màn mưa rừng, tất cả nhạt nhòa, bao mệt nhọc cũng tan biến, chỉ còn lại cảnh bồng bềnh, thi vị

Quang Dũng không chỉ được biết đến với tư cách là một nhà thơ, ông là một nghệ sĩ đa tài, có thể vẽ tranh

và sáng tác nhạc Cho nên, chính tài năng nhiều mặt đó đã bổ trợ tương hỗ nhau, để Quang Dũng dựng tạc nên những nét vẽ thật ấn tượng về thiên nhiên miền Tây Có nhà phê bình đã từng cho rằng, những vần thơ viết về dốc Tây Tiến là những vần thơ tuyệt bút, có lẽ bởi tính hoạ đậm nét đã làm nên điểm sáng cho cả bài thơ, làm nên ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc

Tây Tiến là bài thơ đặc sắc nhất góp phần đưa tên tuổi Quang Dũng lên một tầm cao mới của nghệ thuật

Với ngòi bút tài hoa, lãng mạn của mình Quang Dũng đã xây dựng thành công hình tượng người lính vừa

bi tráng vừa tài hoa, hình tượng thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ dữ dội mà nên thơ nên hoạ Những kết hợp

tương khắc đó làm nên một Tây Tiến lạ và lệch, có sức sống lâu bền trong trái tim bạn đọc dù bao thế hệ

Sự tương tác giả dối với người khác sẽ là mầm họa lớn nhất khiến cho bạn tự trách mình và trách người,

nó cũng là mầm mống tạo ra những giông bão cả phía bên trong và bên ngoài của han

Trang 14

Sự đối nhân xử thế rất quan trọng Nhưng bạn bắt buộc phải hiểu được chính mình, giao tiếp với chính mình, thì lúc đó hạn mới hiểu và tương tác lành mạnh với người khác

Biết được bản thân cần gì, bạn mới biết được người khác cần gì Điều này sẽ giúp ích cho hành trình xuất phát lại từ đầu của sự nghiệp cũng như sự điều chỉnh lại trong gia đình, tất cả đều bắt đầu từ việc bạn buộc phải hiểu được chính mình!

(Lư Tô Vỹ, Con không ngốc, con chỉ thông minh theo một cách khác, NXB Dân trí)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 2: Theo tác gia, trên thế giới có quá nhiều loại sách nào và còn thiếu loại sách nào?

Câu 3: Theo anh/ chị vì sao tác giả lại cho rằng: Biết được bản thân cần gì, bạn mới biết được người khác

cần gì ?

Câu 4: Anh/ chị hãy rút ra thông điệp ý nghĩa từ đoạn trích trên?

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về bản thân cần chấp nhận sự thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống ?

Câu 2: (5,0 điểm)

Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài hai lần miêu tả nhân vật Mị ở nhà thống lí Pá Tra:

Lần thứ nhất “… Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến

Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa… Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày

Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi…”

Trang 15

Lần thứ hai “… Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng… Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi…

Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách…”

(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài; Ngữ văn 12, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2015)

Phân tích nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật này

-HẾT -

ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3

I ĐỌC - HIỂU

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

Câu 2 Theo tác gia, trên thế giới này có quá nhiều sách dạy con người tương tác và giao tiếp nhưng lại

thiếu loại sách dạy chúng ta làm thế nào để đối thoại với chính mình

Câu 3 Tác giả cho rằng, biết được bản thân cần gì, bạn mới biết được người khác cần gì vì phải hiểu rõ

nhu cầu của bản thân mới đủ sâu sắc để hiểu được nhu cầu của người khác Không hiểu rõ bản thân mình cần gì sẽ khó có được sự cảm thông để hiểu nhu cầu của người khác

(Thí sinh có cách lí giải khác, hoặc cách diễn đạt khác| hợp lí vẫn được điểm tối đa)

Câu 4 Thí sinh chỉ ra thông điệp ý nghĩa và lí giải Có thể tham khảo:

- Thông điệp ý nghĩa: Làm thế nào để đối thoại với chính mình Bởi vì từ biết đối thoại với chính mình mới hiểu được mình để có cách ứng xử và hành động hợp lí

II LÀM VĂN

Câu 1 Từ nội dung đoạn trích phần Đọc-hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về bản thân cần chấp nhận

sự thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Học sinh có thể trình bày đoạn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành Viết sai hình thức đoạn văn trừ 0,25 điểm

Trang 16

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Con người cần chấp nhận thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống

c Triển khai vấn đề nghị luận:

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ: Con người cần chấp nhận thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống Có thể theo hướng sau:

* Giải thích

- Thất bại: là hỏng việc, là không đạt được kết quả, mục đích như dự định; Thành công: là đạt được kế hoạch mục tiêu mình đã đề ra ban đầu

- Trong hành trình để đi đến thành công không tránh khỏi những vấp ngã, thất bại Nhưng quan trọng nhất

ta phải suy nghĩ tích cực về thất bại thì mới có thể thành công

*Bàn luận :

Thái độ của chúng ta trước thất bại:

- Chúng ta cần có suy nghĩ tích cực về thất bại Coi thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân

- Cần bình tĩnh để tìm hiểu nguyên nhân của sự thất bại Rút ra bài học từ những thất bại đã qua để tiếp tục thực hiện công việc và ước mơ của mình

- Dám đối mặt chấp nhận thất bại, không né tránh sự thật, cũng không đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh

- Biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, không chán nản và lùi bước trước thất bại

- Phê phán những con người sống thụ động, tiêu cực, dễ đầu hàng số phận, khi thất bại thì gục ngã hay luôn

đổ thừa cho hoàn cảnh

Ngày đăng: 10/07/2022, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm