Việc xác định đúng các lỗi chính tả học sinh thường mắc phải sẽ giúp giáo viên có các biện pháp giúp học sinh sửa lỗi, hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, cũng như các b
Trang 11
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến : Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng với giáo viên dạy học sinh lớp 3 trong trường tiểu học
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Nhuần Nam (nữ): Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 08/05/1987
Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học An Sơn
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Giáo viên dạy lớp 3, có trình độ đào tạo đạt chuẩn; học sinh học chương trình 35 tuần
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2014-2015
Trang 22
TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Ở bậc tiểu, phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng, được bố trí thành một phân môn độc lập Phân môn Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực Trong quá trình giảng dạy phân môn Chính tả, tôi nhận thấy còn rất nhiều học sinh viết sai chính tả, chữ viết thiếu dấu thanh, chưa đúng kĩ thuật, chưa cẩn thận Tình trạng này vẫn còn khá phổ biến không chỉ ở lớp tôi giảng dạy mà ở hầu hết các lớp trong khối Trước tình trạng đó, tôi cảm thấy vô cùng lo lắng và trăn trở : Làm thế nào để các em viết đúng, viết đẹp chính tả? Sau một thời gian tìm tòi tài liệu, học hỏi kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp, tôi đã thực hành tìm ra một số biện pháp giúp học sinh của mình khắc phục tình trạng này
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
Để khắc phục được tình trạng viết sai chính tả cho học sinh lớp 3 , tôi cần tìm hiểu nguyên nhân, phân loại đối tượng, nghiên cứu các biện pháp và thường xuyên động viên, khuyến khích các em tự tin, hứng thú học tập Bên cạnh đó, tôi còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả Tiếng Việt
Trong năm học 2014-2015, tôi đã tiến hành áp dụng , lựa chọn và đi sâu vào nghiên cứu một số biện pháp rèn cho học sinh viết đúng chính tả cũng như tính cẩn thận, tính thẩm mĩ với sáng kiến là : "Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3." Đối tượng áp dụng sáng kiến là học sinh lớp 3 học chương trình 2 buổi/ngày
3 Nội dung sáng kiến
Xác định việc hình thành các kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức
là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao, trong quá trình giảng dạy , tôi đã điều tra nguyên nhân, phân loại đối tượng Việc xác định đúng các lỗi chính tả học sinh thường mắc phải sẽ giúp giáo viên có các biện pháp giúp học sinh sửa lỗi, hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, cũng như các biện
pháp đổi mới trong dạy - học Chính tả
Trang 33
Qua các biện pháp rèn đọc, luyện nghe, cung cấp các quy tắc chính tả, cách phân tích ngôn ngữ, các trò chơi học tập, tôi nhận thấy các em đã nắm chắc luật chính tả, các kiến thức ngữ âm Bản thân các em có ý thức hơn khi viết bài (đọc trước bài nhiều lần, biết tự tìm từ khó để so sánh với những
từ dễ lẫn, soát lỗi chính xác,…) nên bài viết ít mắc lỗi chính tả, nhất là ở bài Tập làm văn Lớp có nhiều học sinh viết đúng - viết đẹp Giờ dạy chính tả của giáo viên nhẹ nhàng hơn, học sinh thích học phân môn này hơn
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Áp dụng sáng kiến trong giảng dạy, tôi thấy người giáo viên dễ dàng hơn trong việc kiểm soát học sinh viết chính tả, có biện pháp riêng cụ thể cho từng trường hợp học sinh Giờ học chính tả cũng trở nên nhẹ nhàng hơn đối với học sinh
Khẳng định được sự thành công của sáng kiến, tôi lại tiến hành cho học sinh làm bài khảo sát thì thấy bài viết giảm bớt lỗi chính tả, chữ viết sạch
sẽ, rõ ràng, khá đúng kĩ thuật
5 Đề xuất và kiến nghị để thực hiện áp dụng và mở rộng sáng kiến
Đối với các cấp quản lý cần bổ sung, mua sắm thêm nhiều tài liệu để
giúp giáo viên và học sinh tham khảo ; tạo điều kiện, quan tâm hơn nữa trong việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tổ chức các chuyên đề, cuộc thảo luận về phương pháp dạy học chính tả nói chung và việc sửa lỗi chính tả cho học sinh nói riêng để giáo viên có thêm các giải pháp tích cực,
hiệu quả trong việc sửa lỗi cho học sinh
Sáng kiến này còn mang tính chủ quan, không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp tham gia của các đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được áp dụng rộng rãi
Trang 4Có thể dạy Chính tả theo hai cách : có ý thức và không có ý thức
+ Cách không có ý thức : ( phương pháp máy móc, cơ giới )
Dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, dựa trên sự lặp lại không cần biết lí do, quy luật của hành động Phương pháp này củng cố trí nhớ một cách máy móc, không thúc đẩy sự phát triển của tư duy
+ Cách có ý thức : ( phương pháp dạy học có tính tự giác )
Bắt đầu từ việc nhận thức quy tắc, mẹo luật chính tả Trên cơ sở đó tiến hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả Việc hình thành các kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức
Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao
2 Cơ sở thực tiễn
Đặc trưng của môn Chính tả là luyện tập thực hành dựa trên những nguyên tắc mang tính rập khuôn (học sinh phải nhớ máy móc và vận dụng) Vì vậy, giáo dục tính chuyên cần, chịu khó cho học sinh là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện chuyên đề này
Phân môn Chính tả là phân môn công cụ Học sinh luyện viết chính
tả không phải chỉ để học tốt phân môn chính tả mà còn để phục vụ cho việc học các môn học khác Dạy chính tả mang tính lâu dài, liên tục
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung Nhưng việc “viết đúng chính tả” trong học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp tôi
Trang 5Học sinh nhìn – viết ( tập chép) hoặc nghe – viết một đoạn hay một bài
có độ dài trên dưới 60 chữ (tiếng) Phần lớn các bài chính tả này được trích từ bài tập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc
Dạng 2 : Chính tả âm, vần :
Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần dễ
viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c /k, g/gh, ng/ngh, i/y,…) hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương ( l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi, an/ang, ac/ at, dấu hỏi, dấu ngã, … )
Các bài tập luyện viết những tiếng dễ viết sai do cách phát âm địa phương bao giờ cũng là loại bài tập lựa chọn, dành cho một vùng phương ngữ nhất định Giáo viên sẽ căn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của mỗi lớp hoặc mỗi học sinh mà chọn bài tập thích hợp cho các em
Nhìn chung phần lớn các bài viết đều có số lượng chữ viết tương đối phù hợp với học sinh lớp 3 Sau mỗi bài viết đều có phần luyện tập để rèn luyện, củng cố cho học sinh viết đúng chính tả
Trang 66
+ l / n : hoa lở (hoa nở) , làng tiên (nàng tiên) ,
+ g / gh: đua ge (đua ghe), gi bài (ghi bài) ,
Học sinh còn nhầm lẫn hai thanh hỏi và thanh ngã
Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sữa lỗi (từ đúng: sửa lỗi ), …
3.3 Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây: + ai/ay/ây: máy bây (máy bay),
+ ao/au/âu: lâu bàn ghế (lau bàn ghế),
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe),
+ iu/êu/ iêu: kì dịu (kì diệu),
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm),
+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp),
+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng),
+ ưi/ ươi: trái bửi (trái bưởi); khung cưỡi (khung cửi),
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu),
3.4 Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các (đất cát),
+ an/ang: cái bàng (cái bàn),
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo) ,
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng) ,
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu) ,
+ ân/âng: vân lời (vâng lời),
+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt),
Trang 77
+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật),
+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha) ,
+ uôn/uông: mong muống (mong muốn),
+ uôt/uôc: suốc đời (suốt đời),
3.5 Lỗi viết hoa:
Đây cũng là loại lỗi phổ biến trong các bài viết của các em Đa số các em đều mắc lỗi này Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:
Dạng 1 : Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh
Ví dụ : Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3 - T1,
tr.20)
- Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá
Học sinh viết: “Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”
Dạng 2 : Viết hoa tùy tiện
Ví dụ: Nghe – viết: Người mẹ (TV3 - Tập 1), tr.30
- Câu: "Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả"
Học sinh lại viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm
được tất cả”
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác
như: Trình bày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là “mền”; “miền Nam” lại viết “miềm Nam”)
Sau khi kiểm tra vở viết của các em, tôi tiến hành cho học sinh viết bài
chính tả Cậu bé thông minh ( từ Hôm sau đến để xẻ thịt chim.), kết quả thu
được như sau :
Trang 88
Qua bảng thống kê, tôi thấy học sinh còn mắc lỗi chính tả nhiều và cơ bản đó là : lỗi khi viết các phụ âm đầu và lỗi về cấu trúc âm tiết, cụ thể là viết phần vần và dấu thanh Tuy nhiên, lỗi chủ yếu mà học sinh hay mắc phải đó là lỗi về viết âm đầu, đặc biệt là âm l/n Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các
em còn hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên, tôi nhận thấy học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới, chưa nắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa hiểu rõ nghĩa của
từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả
Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:
+ Lỗi do các em phát âm lẫn lộn âm đầu l - n , s - x, ch - tr, nên không
phân biệt được khi viết
+ Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh)
+ Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, …) + Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn, …)
+ Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (gh, ngh chỉ ghép với e, ê, i )
4 Một số biện pháp thực hiện
Trước tình hình học sinh lớp viết còn sai nhiều lỗi chính tả, tôi đã áp dụng một số biện pháp khắc phục như sau:
4.1 Luyện đọc đúng, giải nghĩa từ - Hướng dẫn cách viết
Để dạy đúng phân môn Chính tả thì điều đầu tiên là người giáo viên phải phát âm đúng và viết đúng các chữ của tiếng Việt
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải phát âm đúng và chú ý luyện phát âm cho HS để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối
Để làm được điều này, giáo viên phải đặt phân môn Chính tả nằm trong mối quan hệ với các phân môn khác của môn Tiếng Việt đặc biệt là Tập đọc , Luyện từ và câu, Tập làm văn,… Nếu thấy học sinh phát âm sai, giáo viên cần
Trang 9Song song với việc luyện đọc, giáo viên cần dành nhiều thời gian để hướng dẫn học sinh nghe đọc, nghe nói để học sinh dần dần có được k
năng phân biệt cách phát âm
Việc phát âm không chỉ được thực hiện trong giờ Tập đọc mà phải phải thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các giờ học không kể các phân môn của Tiếng Việt hay Toán Trong các giờ Tập đọc, giáo viên phải
dành thời gian sửa lỗi phát âm cho học sinh đặc biệt là các phụ âm l và n; tr và ch; s và x, Cùng với việc hướng dẫn phát âm một cách cụ thể, tỉ mỉ, giáo viên
cần chú ý gọi các học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp) để các em được thực hành luyện tập nhiều Thêm nữa, việc giáo viên phát âm mẫu cho các em này phát âm theo thì cả lớp cũng được luyện tập, tự sửa lỗi Việc luyện tập phát âm cho học sinh không chỉ tiến hành trong các giờ học chính khóa mà cả trong các giờ học tự chọn, giáo viên có thể đưa ra các câu, các
“bài thơ chính tả” cho học sinh luyện tập phát âm, đồng thời luyện tập viết đúng chính tả theo hướng “vui mà học” như:
- Chỉ có n :
Cô nàng ăn nói nết na
Nấu nướng, bếp núc việc nhà siêng năng
Nuôi con nặng nhọc bao năm
Nghề nông, việc nước đều chăm hơn người
- Chỉ có l :
Học sinh nhớ lấy làm lòng
Tới lui, lo lắng, lời trong tiếng ngoài
Trang 1010
Hiền lành là lợi, em ơi!
Láo lếu, liều lĩnh mọi người coi khinh
- Có cả l và n :
Lúa nếp là lúa nếp làng
Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng
Muốn viết đúng, học sinh không chỉ phát âm đúng mà còn phải hiểu nghĩa của từ Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ
và câu, Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh Giáo viên chú giải từ mới ở phân môn Tập đọc kết hợp đặt câu Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ
Để giúp học sinh có thể giải nghĩa một cách nhanh chóng, chính xác, giáo viên nên hướng dẫn học sinh sử dụng từ điển chính tả Cuốn từ điển dành cho học sinh Tiểu học có kích thước nhỏ gọn, thuận tiện cho các em mang tới lớp
Ví dụ : Dạy Chính tả (Nghe – viết): Người mẹ (TV3 – Tập 1, tr.30)
Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khó khăn, hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất
Học sinh đọc “dành” nhưng viết “giành” Giáo viên giúp học sinh hiểu
nghĩa: giành là tranh giành, giành phần hơn về mình còn dành là để dành
(dành dụm, dỗ dành)
Không những đọc đúng mà còn phải viết đúng, đẹp, trình bày đúng quy cách hiện hành do Bộ Giáo dục quy định Vì vậy khi hướng dẫn học sinh viết chính tả, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ cách trình bày từng dạng bài viết
+ Hướng dẫn viết chữ đầu câu ta phải viết như thế nào?( Viết hoa chữ cái đầu tiếng )
+ Danh từ riêng phải viết như thế nào?( Viết hoa )
Trang 1111
Tùy từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng cho đúng với quy tắc
+ Sau dấu câu phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu câu)
+ Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào? (Viết thụt vào một ô
li chữ đầu bài và sau khi hết một đoạn so với lề vở)
+ Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào? Bài thơ có 4,5 tiếng thì các chữ đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau (các chữ đầu dòng thơ phải viết thẳng hàng )
+ Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô li so với lề vở Dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế cho đến hết bài thơ Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa
4.2 Phân tích, so sánh
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ
Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1,
tr.4
Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịt chim”.Trước khi viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một số tiếng dễ lẫn lộn như:
+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại)
+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra , còn sẻ là chim sẻ, san sẻ
Dạy bài: Nghe – viết: Ông ngoại - (TV3 - Tập 1, tr.34) – Chép đoạn 3
Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, …trong đời đi học của tôi sau này”
Khi viết tiếng “lặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Lặng = L + ăng + thanh nặng
- Lặn = L + ăn + thanh nặng
Trang 1212
So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “lặng” có âm cuối là “ng” còn tiếng
“lặn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ cách phát âm và cách viết sẽ không viết sai
4.3 Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả
Ngay từ lớp Một, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như các âm đầu : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g, ng không kết hợp được với : e, ê, i Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau:
4.3.1 Phân biệt âm đầu s/x :
Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói, sư tử,…)
4.3.2 Phân biệt âm đầu tr/ch :
Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột, châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…)
4.3.3 Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy) :
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã
Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi
+ Huyền - Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
+ Sắc - Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,… + Hỏi - Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau: