Khái niệm Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụđược chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá giao dịch thôngthường trên thị tr
Trang 1MỤC LỤC MỤC LỤC 1
CHƯƠNG I: CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 2
1 Khái niệm, bản chất của chuyển giá trong họat động ĐTQT 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Vì sao có sự chuyển giá 2
2 Các hình thức Chuyển giá: 4
2.1 Hình thức “chuyển giá” trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư quốc tế: 4
2.2 Hình thức “chuyển giá” trong giai đoạn triển khai dự án: 5
3 Tác động của việc Chuyển Giá 7
3.1 Vai trò: 7
3.2 Hậu quả: 8
4 Kinh nghiệm chống chuyển giá của một số nước trên thế giới 9
4.1 Kinh nghiệm chống Chuyển giá của Hoa Kỳ 10
4.2 Kinh nghiệm chống chuyển giá của Trung Quốc 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM 14 2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI tại Việt Nam 14
2.2 Hoạt động chuyển giá của các Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 17
2.2.1 Khái quát chung 17
2.2.2 Các quy định, quy chế liên quan đến kiểm soát chuyển giá 18
2.2.3 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại các doanh nghiệp FDI 19
2.2.4 Một số hình thức chuyển nhượng giá xảy ra ở Việt Nam : 20
2.2.5 Một số ví dụ điển hình 22
2.2.6 Hệ quả của việc Chuyển giá trong đầu tư quốc tế: 24
2.2.6.1 Ảnh hưởng tiêu cực 24
2.2.6.2 Ảnh hưởng tích cực 26
CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM27 3.1 Giải pháp ở hệ thống thuế 27
3.2 Tăng cường hiệu quả trong bộ phận quản lý và chính sách 28
3.2.1 Xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh 28
3.2.2 Gói giải pháp từ chính sách kinh tế và môi trường vĩ mô 30
3.2.3 Áp dụng các biện pháp hành chính và chế tài 31
3.3 Thông qua các nguồn tài trợ 32
3.4 Xây dựng tỷ suất sinh lợi bình quân ngành 32
Trang 2CHƯƠNG I: CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
1 Khái niệm, bản chất của chuyển giá trong họat động ĐTQT
1.1 Khái niệm
Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ)được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá giao dịch thôngthường trên thị trường (giá thị trường), nhằm tối thiểu hoá tổng số thuế phải nộp củadoanh nghiệp trên toàn cầu (Thông tư 66/TT-BTC ngày 22/04/2010 của Bộ Tàichính)
Một số khái niệm khác:
Chuyển giá là một hoạt động mang tính chất chủ quan, cố ý của các tập đoàn đaquốc gia nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp bằng cách định giá mua sản phẩm,nguyên vật liệu giữa các công ty trong cùng 1 tập đoàn, không theo giá thị trường
nhằm thu được lợi nhuận cao nhất (Võ ThanhThu & Ngô Thị Ngọc Huyền (2011), Kỹ Thuật Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài)
Đặc điểm của Chuyển giá:
Giá cả mua bán giữa các công ty con của một tập đoàn, và giá cả của sản phẩmtập đoàn đó không được quyết định bởi thị trường mà do các nhà quản lý củaMNC đề ra
Các công ty chuyển giá với nhau có quan hệ cộng sinh đặc biệt về quyền lợi và
tổ chức
Định giá chuyển giao là việc sử dụng phương pháp để xác định giá cả chuyểngiao nội bộ của các MNCs
1.2 Vì sao có sự chuyển giá
a Nguyên nhân khách quan:
- Toàn cầu hóa đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ, gây sức ép đến cácnước phải mở cửa nền kinh tế để dòng chảy của hàng hóa và vốn đầu tư được tự do lưuthông thuận lợi, điều này làm cho các công ty đa quốc gia dễ dàng hơn trong việc xâydựng các công ty con ở nước ngoài, đây là một điều kiện quan trọng để các MNC thựchiện “chuyển giá”
Trang 3- Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránhkhỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữucủa các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu Vì vậy, chênh lệch mức độ điều tiết thuếgiữa các quốc gia hoàn toàn có thể xảy ra và dựa vào sự khác biệt này mà các công ty
đa quốc gia xây dựng chiến lược “chuyển giá”
Ví Dụ:
+ Singapore đã hạ thuế suất thuế TNDN từ 20% xuống còn 19%, Philippingiảm từ 35% xuống 30% Gần đây nhất, Trung Quốc đã giảm thuế từ 33% xuống còn25% để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài
+ "Thiên đường thuế", bao gồm Liechtenstein, Monaco, Andorra vàSwitzerland Đó là những quốc gia có mức thuế suất thấp hơn các nước khác, hấp dẫncác công ty nước ngoài đến đặt trụ sở
- Cơ chế hạch toán và kế toán, kiểm toán giữa các nước có những điểm khácbiệt cũng là chỗ hở để cho hoạt động “chuyển giá” phát triển
- Sự không chuyển đổi được hoặc chuyển đổi khó khăn của đồng tiền khi tiếnhành đầu tư ở nước ngoài, thêm vào đó lạm phát, chính sách tài chính, thuế bất ổn…
đã kích thích các công ty đa quốc gia khi đầu tư ra nước ngoài tìm mọi cách chuyển lợinhuận về nước, trong đó có cách thực hiện “chuyển giá” trong kinh doanh
- Một số nước, trong đó có Việt Nam từ năm 2005 về trước, duy trì thuế chuyểnlợi nhuận ra nước ngoài với mức thuế bình quân là 5%, khiến các công ty đa quốc giatìm mọi cách “né” loại thuế này, trong đó có cách “chuyển giá” khi giao dịch với công
ty mẹ
- Kiểm soát hoạt động “chuyển giá” rất khó, vì hoạt động của các công ty quốc
tế vượt ra ngoài kiểm soát của một quốc gia Trong khi đó, sự phối hợp giữa các cơquan Chính phủ của các nước chưa chặt chẽ khiến cho hoạt động “chuyển giá” của cáccông ty đa quốc gia có điều kiện thuận lợi phát triển
b Nguyên nhân chủ quan
- Cơ chế chính sách chống chuyển giá ở nhiều nước chưa hoàn thiện, đặc biệt ởcác nước đang và kém phát triển Điều này khiến việc kiểm soát và trừng trị xác đánghiện tượng chuyển giá của các công ty quốc tế bị hạn chế
- Trình độ điều hành tài chính doanh nghiệp của các công ty đa quốc gia rất cao
Trang 4“chuyển giá” một cách tinh vi Trong khi đó, thông thường ở các nước tiếp nhận đầu
tư, trình độ của cán bộ quản lý nhà nước về tài chính đối với các công ty quốc tế cònnhiều hạn chế
- Công tác kiểm toán, kế toán còn nhiều hạn chế nên khó phát hiện “chuyểngiá” trong hoạt động đầu tư quốc tế
- Một nguyên nhân quan trọng nữa là do chiến lược thôn tính của các công ty đaquốc gia đặc biệt khi thâm nhập vào các thị trường mà ở những nước đó luật lệ kinhdoanh chưa đầy đủ hoặc không phù hợp với thông lệ quốc tế (luật chống độc quyền,luật chống cạnh tranh không lành mạnh…) Thông qua hoạt động “chuyển giá”, bênphía nước ngoài dần “thôn tính” đối tác trong liên doanh hoặc nhờ sự trợ giúp củacông ty mẹ về tài chính mà làm phá sản các công ty nội địa ở cùng ngành hàng
2 Các hình thức Chuyển giá:
2.1 Hình thức “chuyển giá” trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư quốc tế:
a Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao trị giá tài sản góp vốn:
- Đầu tư dưới dạng liên doanh: việc nâng giá trị tài sản đóng góp sẽ làm cho
phần vốn góp của bên phía cố ý nâng giá trị góp vốn tăng, nhờ đó sự chi phối trong cácquyết định liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh sẽ gia tăng và mức lời đượcchia cũng tăng (vì lời được chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn pháp định) Ngoài ra,khi dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn
- Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài: việc nâng giá trị tài sản
góp vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tácđộng làm tăng chi phí đầu vào Việc tăng mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủđầu tư:
+ Mau hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư
+ Giảm mức thuế TNDN phải đóng góp cho nước tiếp nhận đầu tư
Ví dụ: khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thìmỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm
100 USD; và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% như hiện nay, Nhànước sẽ thấp thu 25 USD
b Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá tài sản vô hình:
Trang 5- Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó,lợi dụng việc này mà các MNC chủ ý thổi phồng phần góp vốn bằng thương hiệu,công thức pha chế, chuyển giao công nghệ… nhằm tăng phần vốn góp của mình lên.
- Một số trường hợp phía góp vốn bằng tài sản vô hình có xuất trình giấy chứngnhận của công ty kiểm toán nhưng độ tin cậy của các giấy chứng nhận này rất khókiểm định
2.2 Hình thức “chuyển giá” trong giai đoạn triển khai dự án:
Đây là giai đoạn dự án đã đi vào hoạt động kinh doanh, các tập đoàn đa quốcgia thường sử dụng các hình thức “chuyển giá” sau:
a Nhập khẩu nguyên phụ liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài hoặc từ công ty đối tác trong liên doanh với giá cao:
Đây là hình thức chuyển một phần lợi nhuận ra nước ngoài thông qua việcthanh toán tiền hàng nhập khẩu Ngoài ra, việc mua hàng nhập khẩu với giá đắt làmchi phí sản xuất tăng, dẫn tới lợi nhuận chịu thuế TNDN giảm
b Làm quảng cáo ở nước ngoài với chi phí cao:
- Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm các phim quảng cáo do cáccông ty nước ngoài thực hiện, trong nhiều trường hợp các công ty quảng cáo cũng làcác công ty con trong cùng một tập đoàn
- Trong trường hợp trả chi phí làm quảng cáo ở nước ngoài cũng là một hìnhthức chuyển lợi nhuận cho tập đoàn ở nước ngoài Chi phí quảng cáo cao cũng làmtăng chi phí kinh doanh, làm giảm lợi nhuận chịu thuế TNDN của các công ty có vốnFDI, làm thất thu thuế của các nước tiếp nhận vốn đầu tư
c Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý:
- Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia.Một số đối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quảmang lại thấp Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu
- Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài racòn phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý Ở một
số trường hợp cũng có hiện tượng thực hiện chuyển giá ở khâu này (khi công ty cungcấp nguồn nhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn)
Trang 6- Một số trường hợp còn thực hiện “chuyển giá” thông qua hình thức đào tạo ởnước ngoài như: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ (tunghiệp sinh) với chi phí cao Việc chuyển tiền về công ty mẹ với mức cao để tổ chứchuấn luyện đào tạo cũng là một dạng chuyển giá.
- Một hình thúc “chuyển giá” nữa của công ty có vốn FDI là trả lương, chi phícho chuyên gia tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ Loại hình tư vấn rất khó xác định
số lượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp, nên lợi dụng điều này nhiềucông ty có vốn FDI thực hiện hành vi “chuyển giá” mà thực chất là chuyển lợi nhuận
về nước dưới danh nghĩa là “phí” dịch vụ tư vấn
d Thực hiện “chuyển giá” thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hoá:
- Khi thuế nhập khẩu ở nước tiếp nhận đầu tư (nơi có công ty con) cao thì công
ty mẹ ở nước ngoài bán nguyên liệu, hàng hóa cho công ty con với giá thấp nhằm giúpcông ty con tránh nộp thuế nhập khẩu nhiều Trong trường hợp này công ty mẹ sẽ tăngcường hoạt động tư vấn, huấn luyện, giúp hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp lại hoặcmua lại sản phẩm với giá thấp…
- Đối với các hàng hóa nhập khẩu mà thuế suất thấp thì công ty ký hợp đồngnhập khẩu với giá cao nhằm nâng chi phí từ đó tránh thuế TNDN
e Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ:
- Bằng hình thức này các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lýnhư dùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tưdài hạn (không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu) nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chínhlên cao như chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay… và chuyển một phần lợi nhuận
về nước dưới dạng lãi vay và chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế TNDN, tránh lỗ
do chênh lệch tỷ giá về sau
f Chuyển giá thông qua hoạt động tài trợ:
- Đây là hình thức chuyển giá thường xuất hiện ở các dự án ODA Lợi dụng sự
ưu tiên cung cấp thiết bị, máy móc, dịch vụ tư vấn cho nước được tài trợ vốn, nhiềunhà cung cấp ở nước tài trợ nâng giá thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ lêncao… đẩy giá đầu tư lên cao có lợi cho nhà nước tài trợ
Trang 7Trên thực tế, các hình thức chuyển giá quốc tế rất đa dạng, phong phú Do đó,tuỳ vào hoàn cảnh kinh doanh khác nhau mà các MNC sử dụng các biện pháp khácnhau để thực hiện chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu.
3 Tác động của việc Chuyển Giá
3.1 Vai trò:
a Đối với các tập đoàn đa quốc gia:
- Kích thích các MNC mở ra nhiều công ty ở nước ngoài để chiếm lĩnh thịtrường và lợi thế của các quốc gia khác; đồng thời phân tán rủi ro ngoài mục tiêuchuyển giá để tối đa hóa các khoản lợi nhuận thu được
- Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản hữu hình và vô hình của tập đoàn bằngcách định giá cao khi chuyển các nguồn vốn này ra nước ngoài để đầu tư
- Kích thích các MNC đa dạng hóa ngành nghề phục vụ cho hoạt động “chuyểngiá” như: tư vấn; huấn luyện, đào tạo; cung cấp bao bì; công ty in ấn; công ty may mặc(cung cấp trang phục cho các công ty thành viên); công ty quản lý…
-Ngoài ra để đảm bảo giá trị đồng tiền mà MNCs kiếm được ở những nước cótình hình chính trị hay lạm phát cao
- Vai trò lớn nhất của hoạt động chuyển giá nhằm tối thiểu hóa các khoản thuế
mà các tập đoàn phải nộp, để tối đa hóa lợi nhuận thu được
b Đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư (nơi có công ty mẹ của các tập đoàn đa quốc gia):
- Thông qua hành vi “chuyển giá”, các công ty con ở nước ngoài chuyển lợinhuận; doanh thu về nước (của công ty mẹ) dưới các hình thức như: mua giá cao đốivới hàng hóa, nguyên vật liệu; trả chi phí đơn vị tư vấn, cung cấp quản trị, nguồn nhânlực… Điều này làm cho nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó gópphần cải thiện các cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế
- Nếu hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về “hình thức” thì cũng tác động tốthơn đến hiệu quả kinh tế - xã hội như: đóng góp nhiều thuế hơn cho Nhà nước, tácđộng tốt đến tăng trưởng GDP của nước xuất khẩu vốn đầu tư
Trang 8c Đối với nước tiếp nhận đầu tư (nơi có các công ty con của các tập đoàn đa quốc gia):
Khi có hoạt động “chuyển giá” ngược: lợi nhuận từ công ty mẹ chuyển sang cáccông ty con dưới hình thức trả chi phí mua hàng cao… (do nước thu hút đầu tư có mứcthuế thấp) làm tăng thu nhập ngoại cho nước tiếp nhận vốn
Ở một số nước lại là thiên đường cho các doanh nghiệp thành lập công ty vàphát triển do thuế thấp hoặc do quản lý chuyển giá ở những nơi này khá thông thoángviệc này là một thực tế và đã giúp cho nước tiếp nhận đầu tư thu được nhiều khoảnkhác thuế như là: các loại phí thành lập doanh nghiệp, phí duy trì doanh nghiệp, phíngân hàng… Làm tăng nguồn vốn ngoại tệ, tăng trưởng kinh tế
3.2 Hậu quả:
a Đối với các tập đoàn đa quốc gia:
- Hậu quả của hoạt động “chuyển giá” đối với chủ đầu tư (MNC) là nếu hành
vi chuyển giá bị phát hiện thì các MNC sẽ bị thực hiện chế tài phạt về hoạt độngchuyển giá tuỳ theo mức độ vi phạm và theo quy định về chống “chuyển giá” của từngquốc gia Hình thức phạt có thể là phần trăm áp dụng trên số thuế phải nộp hoặc phạtchuyển giá bằng mức thuế bổ sung cho những điều chỉnh vượt ngoài phạm vi mụctiêu, phạt trên số thuế trốn tránh được
- Kết quả hạch toán của từng công ty con của tập đoàn không phản ánh thựcchất kết quả hoạt động kinh doanh, cho nên từng công ty thiếu cơ sở thực tiễn tin cậy
để xây dựng chiến lược kinh doanh cho chính mình
- Phân tích hoạt động tài chính của tập đoàn phức tạp vì chính sách thuế, chi phícủa từng nước thay đổi dẫn tới chiến lược “chuyển giá” của công ty thay đổi
b Đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư (nơi có công ty mẹ của các tập đoàn đa quốc gia):
Khi các khoản thuế VAT, thuế TNDN, thuế nhập khẩu ở nước xuất khẩu vốncao hơn ở nước nhập khẩu vốn, nếu không xét đến các yếu tố khác thì nước được lợihơn là nước quy định mức các loại thuế thấp Cụ thể việc nâng giá chuyển giao từcông ty con sang công ty mẹ, lợi nhuận được núp bóng dưới các hình thức nâng giánguyên vật liệu, trả phí đơn vị, tư vấn… sẽ chạy từ công ty mẹ ra nước ngoài sang cáccông ty con vì nơi đây có mức thuế thấp Hình thức này làm cho nước có nhà đầu tư
Trang 9xuất khẩu vốn thất thu một khoản thuế do hoạt động “chuyển giá” của các MNC gâyra.
c Đối với nước tiếp nhận đầu tư (nơi có các công ty con của các tập đoàn đa quốc gia):
- Trong một số trường hợp, công ty mẹ bán giá nguyên liệu rẻ, hỗ trợ tiền quảngcáo, chi phí tiếp thị… cho các công ty con, để các công ty con ở nước ngoài này sảnxuất sản phẩm với giá thành thấp, nhờ đó mà chiếm lĩnh thị trường, loại đối thủ cạnhtranh là những nhà sản xuất nội địa cùng ngành hàng ra khỏi thị trường Và khi đã độcquyền thì các công ty con mới nâng giá lên cao đạt được lợi nhuận siêu ngạch, lúc bấygiờ công ty mẹ mới nâng giá nguyên vật liệu đầu vào lên cao để chuyển lợi nhuận vềnước
- Mặt khác, khi các MNC bán hàng hóa, nguyên liệu, dịch vụ với giá cao cho cáccông ty con ở nước ngoài, khiến lượng ngoại tệ thực chất là tiền lời của các công tycon được chuyển về công ty mẹ, làm cho lượng ngoại tệ (vốn) rời khỏi quốc gia tiếpnhận vốn đầu tư, tác động xấu đến hoạt động vĩ mô của quốc gia tiếp nhận đầu tư
Tóm lại, hoạt động “chuyển giá” của các công ty đa quốc gia trong nhiều trường hợp làm cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh yếu bị phá sản, tác động tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu tư.
Nhiều nhà kinh tế trên thế giới nghiên cứu nghiêm túc hiện tượng “chuyển giá” trong đầu tư quốc tế đã đưa ra kết luận: tác động tiêu cực lớn hơn, nhiều hơn so với lợi ích do chuyển giá mang lại cho nước xuất khẩu vốn, lẫn nước nhập khẩu vốn Vì vậy, chính phủ các nước đã và đang tìm các giải pháp chống “chuyển giá” trong đầu
tư quốc tế.
4 Kinh nghiệm chống chuyển giá của một số nước trên thế giới.
Như ta đã biết, hiện tượng chống “chuyển giá” đã xuất hiện từ lâu trên thế giới – khicác công ty đa quốc gia hình thành mạng lưới trên toàn cầu Tuy nhiên, luật chốngchuyển giá chỉ xuất hiện khoảng hơn một thập kỉ trở lại đây mà thôi
Dựa vào các cơ sở phân tích như trên, ta đi tóm lược lại một số nguyên nhân dẫn đếnhiện tượng Chống chuyển giá như sau:
Một là, tác hại của thủ thuật chuyển giá không chỉ là ngân sách nhà nước bịmất đi một khoản thuế lớn, mà hàng năm chúng ta còn phải cân đối một lượng
Trang 10ngoại tệ không nhỏ cho việc nhập về những máy móc, nguyên liệu cao hơn giátrị thực của nó.
Hai là, nguy hiểm hơn, nó còn tạo ra một mội trường kinh doanh cạnh tranhkhông lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước
Ba là, khi tình trạng thua lỗ ảo kéo dài, trong liên doanh bị kiệt sức và rút vốn,nhường sân cho đối tác là những dẫn dắt cho tình trạng thôn tính của nhữngdoanh nghiệp nước ngoài, cá lớn nuốt cá bé
Chính vì vậy, luật chống chuyển giá ra đời trong hơn một thập kỉ trở lại đây phần nàohướng dẫn và kiểm soát hiện tượng chuyển giá của các tập đoàn đa quốc gia Tuykhông mang tính triệt để nhưng góp phần giảm thiểu lượng vốn thất thoát ra nướcngoài của các quốc gia trên thế giới
Dưới đây, ta đi nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước điển hình trên thế giới
để từ đó có những đánh giá và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong giai đoạn pháttriển hội nhập
4.1 Kinh nghiệm chống Chuyển giá của Hoa Kỳ
Năm 1998, Hoa Kỳ ban hành đạo luật IRS ( Internal Revenue Service) section 482 dựatrên nguyên tắc giá thị trường đề làm cơ sở xác định giá chuyển giao giữa các MNC’s
4.1.1 Định nghĩa định giá chuyển giao:
Là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyểngiao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận bởi cácquốc gia mà có các công ty con của công ty MNC đang hoạt động
Việc xác định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị của các công tythành viên trong MNC’s, nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hoặc thấp hơn giá thịtrường thì xảy ra hoạt động chuyển giao
Do vậy, nguyên tắc giá thị trường là cơ sở rất quan trọng cho việc xác định giá cảchuyển giao giữa công ty mẹ, công ty con
4.1.2 Các phương pháp định giá chuyển gia trong IRS section 482:
Phương pháp tự do có thề so sánh được (Comparable Uncontroller Price –
CUP): phương pháp này dựa vào đơn giá sản phẩm, được áp dụng trong trườnghợp giao dịch độc lập có điều kiện tương đương với giao dịch liện kết Tuynhiên, khi đi vào thực tế thì phương pháp này lại không phát huy được hiệu quảkhi xác định giá chuyển giao của các tài sản hữu hình, vì công ty phải xuất trình
Trang 11rất nhiều tài liệu mà những tài liệu này rất khó để kiểm chứng tính trung thựccủa nó
Phương pháp giá bán lại (Resales Price Method): phương pháp này áp dụng
trong trường hợp không có giao dịch mua tương đương, không có thêm côngđoạn gia công, lắp ráp làm tăng giá trị hàng hóa
Phương pháp chi phí vốn cộng thêm ( Cost plus Method): Phương pháp này
được lựa chọn khi giao dịch liện kết thuộc khâu sản xuất khép kín để bán chocác bên liên kết hoặc cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra cho bên liên kết.Hai phương pháp giá bán lại và chi phí vốn cộng thêm được sử dụng rất rộngrãi ở Mỹ vì doanh nghiệp dễ xuất trình các tài liệu khi được đòi hỏi và cũngkhông quá phức tạp khi thu thập các thông tin và tài liệu
Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Slipt Method): Phương pháp này cho
phép tính ra thu nhập thuần trước thuế, là cơ sở để tính thuế thu nhập doanhnghiệp Phương pháp này ở Mỹ là dễ ứng dụng nhất và ít tốn kém nhất nhưng
độ tin cậy của nó thì không cao
Phương pháp chiết tách lợi nhuận có thể so sánh được ( The Comparable Profit
Method): Các bên liên kết cùng thực hiện một giao dịch liên kết tổng hợp.Được mệnh danh là cường quốc số 1 về kinh tế của thế giới, những kinh nghiệm vềChống Chuyển giá của Hoa Kỳ tạo ra tiền đề cũng như cơ sở để các nước áp dụng vàotình hình thực tế của đất nước Từ bài học ấy, có thể rút ra được là:
Phải hoàn thiện các văn bản pháp luật nhằm đặt ra cơ sở pháp lý cho việc pháthiện ra và phạt hiện tượng chuyển giá
Tùy vào từng trường hợp mà áp dụng các phương pháp định giá chuyển giaophù hợp, có thể kết hợp nhiều phương pháp để xác định hiện tượng chuyển giá.Coi trọng công tác lưu trữ tài liệu tài chính của các công ty đa quốc gia để theodõi một cách có hệ thống Song song đó, tuyển chọn, đào tạo về nghiệp vụ vàtrình độ nhân viên thuế của các cơ quan quản lý để có nghiệp vụ giỏi, đối thoạivới các đại diện tài chính của các công ty đa quốc gia nhằm phát hiện ra mộtcách thuyết phục các hành vi chuyển giá của các công ty này
4.2 Kinh nghiệm chống chuyển giá của Trung Quốc
Trang 12Tiếp theo, ta đi nghiên cứu thêm kinh nghiệm về Chống chuyển giá của mộtnước ở châu Á để có cái nhìn cận cảnh và dựa trên nhiều điểm tương đồng về hoàncảnh lịch sử, địa lý vói Việt Nam Và đất nước chúng ta quan tâm ở đây là TrungQuốc Lựa chọn này dựa trên mấy cơ sở tiêu biểu như sau:
Trung Quốc và Việt Nam cùng là nước Á Đông Có rất nhiều năm có cùng thể chế,chính sách giống nhau, cùng có xuất phát điểm như nhau là đi theo con đường pháttriển XHCN, và hiện nay thì đang trong quá trình phát triển theo nền kinh tế thị trườngvới sự tham gia điều tiết và quản lý kinh tế của nhà nước
Năm 1998, Trung Quốc cũng đã xây dựng luật chống chuyển giá dựa theo hướng dẫncủa OECD, cũng lấy nguyên tắc giá thị trường là cơ sở để xác định giá chuyển giaotương tự như Hoa Kỳ Tuy nhiên, luật chống chuyển giá của Trung Quốc có một sốđiểm khác biệt như sau:
Thứ nhất, Cơ chế hạch toán thuề đối với các nhà đầu tư nước ngoài khôngthống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc Điều này có nghĩa là sao? Nghĩa
là Chính phủ Trung quốc sẽ xem xét, vùng nào cần đầu tư mạnh thu hút nhiềuvốn FDI để phát triển thì sẽ có rất nhiều chính sách ưu đãi về thuế cho các nhàđầu tư nước ngoài, chẵng hạn như những vùng Tứ Xuyên và các tỉnh phía TâyTrung quốc, ngược lại họ sẽ thắt chặt quản lý ở những thành phố có sự đầu tưFDI ồ ạt, như ở Bắc Kinh, Thượng Hải…Như vậy, họ sẽ có thể vừa thu hútđược FDI, mà vẫn có thể vừa điều tiết được nó và vẫn kiểm soát được tình hình
“Chuyển giá”
Thứ hai, ngoài việc sử dụng các phương pháp định giá chuyển giao để chống
“Chuyển giá” người ta còn sử dụng đồng thời cả thuế giá trị gia tăng, thuế thunhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu…để hạn chế hoạt động chuyển giá của cácMNC’s
Thứ ba, theo nghiên cứu mới nhất của KPMG cũng có đề cập rằng, thuận lợitrong công tác chống chuyển giá của Trung Quốc là việc được hỗ trợ các phầnmềm, máy tính…để lưu trữ các dữ liệu phục vụ cho việc theo dõi, giám định,phát hiện các hành vi chuyển giá chẳng những của các MNC’s mà còn có cả cáccông ty nội địa
Trang 13Thứ tư, Cơ quan thuế Trung quốc áp dụng phương pháp định giá chuyển giao làphương pháp chiết tách lợi nhuận, tính ra thu nhập thuần của doanh nghiệpnhằm phát hiện ra hiên tượng “chuyển giá”.
Thứ năm, Trung Quốc thực hiện kiểm toán mang tính bắt buộc và thườngxuyên, các đối tượng có khả năng vi phạm “Chuyển giá” Do vậy, phần nào hạnchế được tình trạng chuyển giá tràn lan như những năm của thập kỉ trước
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA
DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI tại Việt Nam
2.1.1 Giai đoạn 1998-2003
Trang 14Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1996: Đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện mởcửa thu hút, kêu gọi đầu tư Năm 1988 cũng là năm đầu tiên thực hiện luật đầu tưnước ngoài, ngay năm 1988 chúng ta đã thu hút được 37 dự án đăng ký với số vốn
là 371,8 triệu USD Sau hai năm thì số dự án được cấp phép hoạt động đã lên tới 107
dự án với tổng số vốn là 839 triệu USD, tốc độ tăng thu hút vốn tăng cao và quy môvốn trung bình đạt 8,42 triệu USD/dự án Đồng thời trong gia đoạn (1991- 1995) luậtđầu tư sửa đổi kịp thời (2 lần vào năm 1990 và1992) đã bổ sung và tăng cườngchính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài một cách hiệu quả Trong giai đoạn này,chính phủ đồng thời quyết định thành lập một loạt các khu công nghiệp tại các địaphương cũng đã tạo ra được một lực hút mạnh đối với FDI Kết quả đạt được là số
dự án được cấp phép đã đạt 6,24 lần tổng vốn đăng ký và gấp 9,3 lần so với thời kỳhai năm đầu 1988 và 1989 Đồng thời trong giai đoạn này thì tổng vốn FDI cũngđạt đỉnh điểm tại năm 1996 với con số là 8 497,3 triệu USD
Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2003: Tháng 7 năm 1997 xảy ra cuộc khủnghoảng kinh tế trong khu vực, các nước chịu tác động lớn nhất của cuộc khủnghoảng này là Thái Lan, Philippines, Indonesia và Malaysia… Nước ta lại nằm ngoài
“tâm bão”, đây chính là thời cơ cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế khi mà cácnước trong khu vực phải đang đối đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế
2.1.2 Giai đoạn 2004-2010
Đây là giai đoạn phục hồi và tăng tốc một cách nhanh chóng của việcthu hút vốn FDI Sau khi cơn bão tài chính qua đi, kinh tế của các nước Châu Á đãvực dậy và phát triển nhanh chóng Nền kinh tế Việt Nam cũng không là ngoại lệ.Việt Nam và Trung Quốc trở thành những quốc gia có sức hút mạnh đối với đầu tưtrực tiếp nước ngoài, và luôn nằm trong danh sách các quốc gia dẫn đầu thu hútFDI Năm 2006, Luật Đầu Tư và Luật Doanh Nghiệp mới ra đời đánh dấu một bướcngoặc mới và một bước tiến quan trọng trên lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế tronglĩnh vực luật pháp Chính phủ đã phân cấp cho chính quyền tỉnh, thành phố việcthẩm định và cấp phép Việc này đã tạo ra sự chủ động trong việc quản lý nguồnvốn FDI tại các địa phương và quan trọng hơn là tạo ra một cuộc thi đua giữa các địaphương thực hiện việc cải cách hành chính thông thoáng, tạo ra điều kiện tốt cho môitrường đầu tư Từ đó tăng cường việc thu hút đầu tư và tạo cho các nhà đầu tư cảmthấy thuận tiện Kết quả của việc cải cách hành chính của các địa phương cho ta kết
Trang 15quả hết sức khả quan là năm 2006 đạt mức thu hút vốn 10,2 tỷ USD vượt qua mức
kỷ lục năm 1996
Theo công bố của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thu hút đầu
tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 21/12/2010 đạt 18,6 tỷ USD, bằng 82,2%cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn đăng ký của 969 dự án được cấp phép mới đạt 17,2
tỷ USD (Giảm 16,1% về số dự án; tăng 2,5% về số vốn so với năm trước); vốn đăng
ký bổ sung của 269 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 1,4 tỷ USD Vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2010 ước tính đạt 11 tỷ USD, tăng 10% sovới năm 2009, trong đó giá trị giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài đạt 8 tỷ USD
Top các ngành thu hút FDI lớn nhất năm 2010:
Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài TPHCM năm 2010 (Nguồn: Cục thống kê TPHCM)
2.1.3 Năm 2011
Cục Đầu tư nước ngoài vừa công bố tình hình hút vốn đầu tư nước ngoài tháng 11 năm 2011 và 11 tháng đầu năm.12,7 tỷ USD là tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 11 tháng đầu năm 2011 (tính đến 20/11/2011)
Trang 16Hồng Kông đứng đầu danh sách đối tác cấp vốn FDI cho Việt Nam Tổng vốnFDI khu hành chính này “rót” vào Việt Nam 11 tháng đầu năm đạt hơn 3,09 tỷ USD,chiếm 24% tổng hút vốn Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc là 3 quốc gia cấp vốn FDIcho Việt Nam đạt trên 1 tỷ USD trong 11 tháng.
Trang 17Tổng hợp cả số vốn đăng ký mới và tăng thêm, trong 11 tháng năm 2011, cảnước đã thu hút được gần 12,7 tỷ USD vốn FDI, bằng 84% so với cùng kỳ So với chỉtiêu thu hút 20 tỷ USD vốn đăng ký trong năm nay, kết quả như trên cho thấy thực tếthu hút FDI đã khó khăn hơn rất nhiều so với dự kiến Nhưng điểm rất đáng chú ý làthu hút vốn FDI có sự dịch chuyển sang lĩnh vực chế biến, chế tạo, thay vì bất độngsản như năm trước
2.2 Hoạt động chuyển giá của các Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
2.2.1 Khái quát chung
Hơn 20 năm mở cửa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã cónhữngđóng góp đáng kể vào thành tích xuất khẩu, giải quyết việc làm cho người laođộng và hiện đang trở thành đầu tàu tăng trưởng về giá trị sản xuất của ngành côngnghiệp Tuy nhiên, đóng góp của khu vực kinh tế này cho ngân sách quốc gia lại kháchẳn
Sản phẩm của khu vực FDI thường được chia làm ba loại: Thứ nhất là sản phẩmtrung gian Thứ hai là sản phẩm cuối cùng nhưng được tiêu thụ ở thị trường nướcngoàitheo đơn đặt hàng của công ty mẹ Thứ ba là các sản phẩm được tiêu thụ trongnước.Với loại sản phẩm thứ nhất, các doanh nghiệp FDI thực chất là một công xưởngvớinguyên vật liệu chính được nhập khẩu, toàn bộ giá trị của sản phẩm được xuất khẩu
để đi qua các công đoạn tiếp theo, từ đó mới hình thành giá bán Như vậy, về thực chấttoàn bộ hoạt động của loại doanh nghiệp này hầu như không hạch toán lợi nhuận ViệtNam không những không thu được đồng thuế giá trị gia tăng nào mà ngược lại các