Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ MỸ HẠNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MÔN MỸ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ MỸ HẠNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MÔN MỸ THUẬT
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thúy Hồng
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động trải nghiệm
sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật” đến nay
tôi đã hoàn thành xong luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, chuyên viên trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Hội đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu luận văn này
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu, các giáo viên phụ huynh học sinh của trường Trung học cơ sở Ngũ Hiệp đã hợp tác và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong xuốt thời gian điều tra thực trạng tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Thúy Hồng đã chỉ bảo tận
tình, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng song khó tránh khỏi những thiếu xót Kính mong được sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo và ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2018
Tác giả
Lê Thị Mỹ Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các sơ đồ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MÔN MỸ THUẬT 7
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 7
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 14
1.2.1 Quản lý giáo dục 14
1.2.2 Trải nghiệm sáng tạo 18
1.2.3 Giáo dục trải nghiệm sáng tạo 21 1.2.4 Giáo dục trung học cơ sở và giáo dục mỹ thuật ở bậc THCS 22
1.3 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật 24
1.3.1 Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường THCS 24
1.3.2 Nội dung hoạt động trải nhiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở 25
1.3.3 Phương pháp giáo dục trải nhiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở 27
1.3.4 Kỹ thuật giáo dục trải nhiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở 30
1.3.5 Hình thức giao dục trải nhiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở 35 1.3.6 Cơ sở vật chất và điều kiện thực hiện hoạt động trải nghiệm
Trang 6sáng tạo 36
1.3.7 Các yêu cầu của quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo 37
1.4 Quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật 42
1.4.1.Lập kế hoạch 42
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo hoạt động trải nghiệm sáng tạo 43
1.4.3 Quản lý kiểm tra, đánh giá 52
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinhTHCS thông qua GD MT 53
Tiểu kết chương 1 54
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MÔN MỸ THUẬT 56
2.1 Khái quát chung về mẫu khảo sát 56
2.1.1.Vài nét về trường về trường THCS trên địa bàn huyện Thanh trì 56
2.1.2 Vài nét về tâm sinh lý học sinh THCS 58
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 59
2.2.1 Mục đích khảo sát 59
2.2.2 Nội dung khảo sát 60
2.2.3 Đối tượng khảo sát 60
2.2.4 Thời gian khảo sát 61
2.3 Thực trạng giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua môn mỹ thuật tại một số trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Trì 61
2.3.1.Thực trạng nhận thức 61
2.3.2 Thực trạng giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua dạy môn mỹ thuật tại một số trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Trì Hà Nội 63
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua môn mỹ thuật tại bốn trường THCS 68
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch 68
2.4.2 Thực trạng tổ chức 70
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo 71
Trang 72.4.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá 72
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng 73
2.6 Kết quả thực trạng và những hạn chế nguyên nhân 73
2.6.1 Những kết quả đạt được 73
2.6.2 Những hạn chế cơ bản 74
Tiểu kết chương 2 75
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIÁO DỤC TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA MÔN MỸ THUẬT 76
3.1 Nguyên tắc đề xuất 76
3.2 Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua môn mỹ thuật 81
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao năng lực giáo viên mỹ thuật trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua tích hợp liên môn 81
3.2.2 Biện pháp2: Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, học liệu phục vụ thông hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh THCS qua môn mỹ thuật 83
3.2.3 Biện pháp 3: Phân phối chương trình phù hợp dạy học tích hợp liên môn 84
3.2.4 Biện pháp 4: Điều chỉnh tăng cường giờ học hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua môn Mỹ Thuật 85
3.2.5 Biện pháp 5:Huy động sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường trong tổ chức các hoạt động giáo dục TNST thông qua môn mỹ thuật ở các trường THCS 88
3.2.6 Biện pháp 6: Thường xuyên, định kỳ tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá các HĐGD TNST thông qua môn mỹ thuật 90
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 92
3.4 Khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 93
Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Khuyến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Thống kê trình độ đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ của
CBQL các trường THCS năm học 2016 – 2017 57 Bảng 2.2 Kết quả khảo sát nhận thức của GV và học sinh trường
Trung học cơ sở Ngũ Hiệp về trải nghiệm sáng tạo 62
Bảng 2.3 Thực trạng giáo dục kỹ năng cho học sinh thông qua giáo
dục trải nghiệm sáng tạo 63 Bảng 2.4 Ý kiến của GV hình thức GD đã được sử dụng để giáo dục
trải nghiệm sáng tạo cho học sinh 64 Bảng 2.5 Mức độ thực hiện hoạt động của giáo dục trải nghiệm sáng
tạo cho học sinh hiện nay 65 Bảng 2.6 Cơ sở vận dụng các phương pháp giáo dục trải nghiệm
sáng tạo cho học sinh 66 Bảng 2.7 Mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục trải nghiệm
sáng tạo cho học sinh 66 Bảng 2.8 Thực trạng lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục trải
nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua môn mỹ thuật 68 Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 94 Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 95
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1 Thực trang nhận thức của CBQL về hoạt động TNST 61
Sơ đồ 2.2 Mức độ thực hiện hoạt động của giáo dục trải nghiệm sáng
tạo cho học sinh hiện nay 65
Sơ đồ 2.3 Mức độ biết và sử dụng các biện pháp hoạt động trải
nghiệm sáng tạo cho học sinh 67
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý giáo dục TNST
cho học sinh 93
Sơ đồ 3.2 Mức độ tương quan giữa tính cần thiết và khả thi của các
giải pháp 96
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luật giáo dục năm 2005 xác định rõ mục tiêu giáo dục: “Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người
công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của ĐCSVN về
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định quan điểm chỉ đạo “Phát triển GD
và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội
Nghị quyết số 88/2014/QH 13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK GD phổ thông đã đề cập: “Mục tiêu GD phổ thông là tập trung trí tuệ thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát triển và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức lối sống, ngoại ngữ tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích khả năng học tập xuốt đời” “Tiếp tục đổi mới phương pháp GD theo hướng: Phát triển năng lực và phẩm chất người học; Phát huy tính tích cức, chủ động sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập, đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; GD ở nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội
Trang 11Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ
thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là
những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô,
đối tượng và số lượng,… để HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm”
Thông qua hoạt động TNST học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm Có thể
kể ra một số hình thức hoạt động TNST: Hình thức có tính khám phá (thực địa, thực tế, tham quan, cắm trại); hình thức có tính triển khai (dự án và nghiên cứu khoa học, hội thảo, câu lạc bộ); hình thức có tính trình diễn (diễn đàn, giao lưu, sân khấu hóa); hình thức có tính cống hiến, tuân thủ (thực hành lao động việc nhà, việc trường, hoạt động xã hội - tình nguyện)
Giáo dục thẩm mỹ, giúp học sinh người học có kiến thức và kỹ năng cơ bản về cái đẹp và biết vận dụng sáng tạo những hiểu biết về cái đẹp vào cuộc sống học tập, sinh hoạt hàng ngày, hay nói cách khác là giáo dục Mỹ thuật hướng tới hình thành và phát triển năng lực thẩm mỹ cho học sinh – là những người có nhiệm vụ sáng tạo văn hóa - Văn hóa là nền tảng, là bản sắc dân tộc
và là cầu nối với cộng đồng thế giới Học sinh được học, tiếp cận và sáng tạo văn hóa thông qua các cách thể hiện tạo hình khác nhau, trên các chất liệu khác nhau, cách biểu đạt khác nhau… và ở nhiều không gian khác nhau
Theo đó, giáo dục Mỹ thuật kích thích hình thành, phát triển các năng lực cá nhân của học sinh (năng lực nhận thức; năng lực kỹ năng và kỹ thuật; năng lực biểu đạt; năng lực giao tiếp; năng lực đánh giá) Đồng thời, bồi dưỡng, giáo dục nhân cách và các phẩm chất đạo đức, hành vi, lối sống theo chuẩn mực trong đời sống văn hóa xã hội của dân tộc và quốc tế
Trang 12Trên thực tế môn Mỹ Thuật là môn học chưa thực sự được quan tâm cũng như chưa khai thác những thế mạnh tích cực mà môn này mang lại Để
có thể mang đến một cái nhìn mới, cách tiếp cận mới về giáo dục trải nghiệm sáng tạo thông qua môn Mỹ thuật Trước hết đòi hỏi chúng ta cần phải có một bước đột phá mới, một bước tiến mới về quản lý giáo dục Chính vì vậy tôi
chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học
sinh Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật” Điều đó góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học trong nhà trường và phát triên năng lực trải nghiệm từ thực tiễn của học sinh thực hiện công cuộc đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động TNST cho HS THCS thông qua môn mỹ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện hiện nay Cùng với đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THCS trên địa bàn huyện Thanh Trì
3 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giáo dục trải nhiệm sáng tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục trải nhiệm sáng tạo cho học sinh Trung học
cơ sở thông qua môn Mỹ thuật
4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Làm thế nào để học sinh Trung học cơ sở được trải nghiệm
sáng tạo thông qua môn Mỹ thuật của trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay?
Câu hỏi 2: Thực tiễn hoạt động trải nghiệm cho học sinh Trung học cơ sở
thông qua môn mỹ thuật hiện nay có những thuận lợi khó khăn gì?
Trang 13Câu hỏi 3: Từ góc độ quản lý giáo dục, để quản lý, hoạt động trải
nghiệm cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật, hiệu trưởng
các trường THCS trên địa bàn cần có những biện pháp như thế nào?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hiệu quả công tác quản lý giáo dục trải nhiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật sẽ được nâng cao nếu như tìm được ra những biện pháp quản lý có tác động tích cực đến việc tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Mỹ thuật cũng như phát triển toàn diện cho học sinh đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh thông qua môn Mỹ thuật tại trường THCS
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý dạy hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật
- Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi cua các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật
7 Phạm vi nghiên cứu
Quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở bốn
trường Trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu việc quản lý giáo dục trải
nghiệm sáng tạo của cán bộ quản lý tại một số trường Trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội
Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Vì điều kiện không cho phép trên diện
rộng nên nghiên cứu được thực hiện tại bốn trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Trang 148 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin bằng việc
theo dõi trực tiếp những trải nghiệm của người học thông qua việc tổ chức hoạt động của giáo viên từ đó đánh giá được tác động của việc quản lý tới hoạt động giáo dục trải nghiệm
Phương pháp phỏng vấn: là phương pháp thu thập thông tin thông qua
hình thức giao tiếp trực tiếp mà trong đó người phỏng vấn đã chuẩn bị trước nội dung các thông tin cần khai thác nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong cuộc phỏng vấn;
Phương pháp khảo sát thực tế: là các phương pháp trực tiếp tác động
vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của đối tượng đó, giúp người nghiên cứu thu thập thông tin hoặc làm nảy sinh các ý tưởng nghiên cứu và đề xuất sáng tạo;
Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: là phương pháp mà nhà
nghiên cứu sẽ thông qua các sản phẩm mà đối tượng được nghiên cứu (học sinh, giáo viên, cán bộ giáo dục,…) tạo ra như bài làm, bài chấm vở ghi, bài soạn, sổ sách, nhật ký, các sáng tạo văn học nghệ thuật, sản phẩm lao động, học tập,… để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của con người và hoạt động tạo ra các sản phẩm đó;
Phương pháp điều tra bằng Anket Phương pháp anket là phương pháp
thu thập thông tin gián tiếp dựa trên bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến được thiết kế sẵn) ;
Phương pháp chuyên gia: Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí
tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có chuyên môn sâu để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đề tài
Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý luận, khung lý thuyết về
quản lý giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở
Trang 15Về mặt thực tiễn: Công trình nghiên cứu đã đưa ra được bức tranh thực
trạng về công tác quản lý giáo dục trải nghiệm sang tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật, đánh giá được thực trạng quản lý giáo dục trải nghiệm sang tạo cho học sinh thông qua môn mỹ thuật tại một số trường THCS trên địa bàn huyện Thanh trì từ đó đề xuất được hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà trường đối với việc quản lý hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo của học sinh nói chung và giáo dục trải nghiệm sáng tạo của học sinh thông qua môn mỹ thuật nói riêng
11 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nhiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nhiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn Mỹ thuật
Chương 3: Đề xuất giải pháp giáo dụctrải nghiệm sáng tạo cho học sinh thông qua môn mỹ thuật
Trang 16mở rộng vốn hiểu biết của mình và xây dựng một xã hội văn minh như ngày nay Ta có thể khẳng định: kỹ năng sống của con người đã được hình thành khi xã hội loài người được hình thành Ngày nay con người ngày càng phát triển thì kỹ năng sống cũng được mở rộng Kỹ năng sống không còn chỉ là bản năng sống mà còn là khả năng thích ứng với cuộc sống Mỗi chế độ xã hội có tư tưởng giáo dục trụ cột phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong xã hội Ta có thể nhận thấy ở thể chế xã hội nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của giáo dục là nhằm phát triển toàn diện nhân cách của người theo chuẩn mực mà xã hội đó qui định
Sự Phát triển toàn diện nhân cách của người được giáo dục theo chuẩn mực của xã hội đó qui định Sự phát triển toàn diện nhân cách bao gồm sự phát triển về thể chất (thể lực, thể hình, thể năng), tâm trí (trí tuệ, tình cảm) và năng lực thực tiễn (Theo C Mác - Ph Ăng-ghen đó là kỹ năng xã hội, theo UNESCO gọi là KNS) Để đạt được mục tiêu đó, người học (học sinh) phải là chủ thể của quá trình nhận thức và quá trình tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách Vì vậy mà việc giáo dục TNST không chỉ diễn ra trong một môn học ở trên lớp, trong một trường hợp cụ thể mà còn phải được thực hiện ở nhiều môn học, ở ngoài lớp, ngoài nhà trường theo phương thức kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội thông qua các hình thức hoạt động TNST trong môi trường giáo dục Các kiến thức của các môn học được lồng ghép
Trang 17thông qua môn mỹ thuật ở THCS áp dụng vào thực tiễn cuộc sống để đáp ứng được những nhu cầu của xã hội trong thời điểm hiện nay
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Thế kỷ XX, nhà khoa học, nhà giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey
đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục qua tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục Với triết
lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm Ông cũng chỉ ra rằng, kinh nghiệm cho thấy, nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn Kolb (1984) cũng đưa ra được lý thuyết trong đó khẳng định học là một quá trình mà kiến thức của người học được có được thôn qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; ông cũng cho thấy bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm sáng tạo
Tác giả Diane TillMan trong cuốn những giá trị sống cho tuổi trẻ (NXB
TP Hồ Chí Minh).-2009 Theo đó, chúng ta cần hiểu mình đang hướng dẫn về giá trị, giúp khơi dậy những giá trị cốt lõi đã có ở HS chứ không phải là chỉ dạy, bảo ban Đặc biệt HS ở độ tuổi vị thành niên đôi khi tỏ ra chống đối lại những điều giáo viên nói với chúng Không phải chúng bất kính với thầy cô, nhưng ở độ tuổi này điều đó thật khó tránh khỏi Tuy nhiên chúng có thể tự tìm tòi khám phá các giá trị dưới sự dẫn dắt và hỗ trợ của người điều phối, hướng dẫn các hoạt động giá trị Ngoài ra, một phần không thể thiếu của chương trình giáo dục giá trị sống là việc tạo lập bầu không khí dựa trên các giá trị để học sinh cảm thấy an toàn, có giá trị, được yêu thương, thấu hiểu và được tôn trọng Nhiều nghiên cứu giáo dục cho thấy nếu HS mang nỗi sợ hãi hay căng thẳng, não bộ sẽ rất khó tiếp nhận thông tin Còn khi HS cảm thấy
an toàn, thoải mái, chúng có thể tiếp thu được nhiều hơn GD giá trị sống thông qua môn mỹ thuật HS có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân Điều đó đang xem là
Trang 18trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hi vọng đạt được qua việc trải nghiệm sáng tạo dạy môn mỹ thuật góp phần nâng cao giá trị sống, kỹ năng sống cho HS
Tổ chức văn hóa và khoa học GD liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất
cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền được hưởng lợi từ một nên giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người
và học để khẳng định mình GD hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lý xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân.”
Hội nghị giáo dục thế giới họp tại Dakar- thủ đô senegan tháng 4 năm
2004 đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người – gọi tắt là kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu Trong đó, mục tiêu 3 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận và các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp
Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 – 30/3/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “ Tất
cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hòa hợp và hợp tác”
Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách Học sinh đi học không chỉ để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khỏe, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa
Trang 19mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,… tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển
Từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey với tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn Kolb (1984) cũng đưa ra một lí thuyết về học từ trải nghiệm Theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm
Một số quan niệm khác của các học giả quốc tế cho rằng giáo dục trải nghiệm coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáo dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập (Sakofs, 1995); học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục (Joplin, 1995)
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam vấn đề quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho thế hệ trẻ
đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm đến nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn về cả nghiên cứu tâm lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục nước nhà
Với Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo dục thiếu nhi Trong bài “1-6” ký tên C.B đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 1-6-9995, Bác đã đề ra nội dung giáo dục toàn diện đối với học sinh bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục Bác đã đưa quan điểm giáo dục thiếu nhi đó
Trang 20là: “Trong quá trình giáo dục thiếu nhi phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng và trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học” Bác yêu cầu: “ Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn” Với nguyên lý giáo dục “ Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”, Bác đã từng nói: “ Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện” và “Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được” Trong xu thế hội nhập, nhiệm vụ giáo dục của các nước là đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội Nói cách khác là đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nhiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống
Ở Việt Nam, mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được qui định tại Điều
27- Luật giáo dục 2005[8] như sau: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhận, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Với nhiều năm nghiên cứu PGS.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần.[18] Trong đó, trang bị cho học sinh sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại Những kết quả nghiên cứu trên
đã được ứng dụng vào việc xây dựng chương trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của môn giáo dục công dân, triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nước
Trang 21Tác giả Đỗ Ngọc Thống [17 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh
nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Góc
Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới – tác giả Lê Huy , Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm
sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học – tác giả Nguyễn Thị Thu
Hoài7 Trong bài nghiên cứu có nhan đề Mục tiêu năng lực, nội dung
chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo tác giả
Đinh Thị Kim Thoa 16 đã chỉ ra để phát triển chương trình HĐTNST cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa, Trần văn Tính, Vũ
Phương Liên trong cuốn sách “giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học
sinh trung học phổ thông” đã chỉ ra kỹ năng sống là công cụ và phương tiện
để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống Đây là những tiền đề đưa công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.[10]
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc Đặng Hoàng Minh, Đinh Thị Kim Thoa, 2010” Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở : Tài liệu dùng cho giáo viên THCS” trình bày đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh học sinh THCS, vấn đề giáo dục giá trị sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh học sinh THCS, một số trò chơi giáo dục TNST cho học sinh học sinh THCS [13]
Tác giả Trần Anh Tuấn, 2012 “Đưa giáo dục kĩ năng sống vào các
trường sư phạm: nhu cầu xã hội, mô hình và lộ trình triển khai” đã bàn về
Trang 22việc đưa giáo dục kỹ năng sống vào chương trình đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm, đồng thời đưa ra những phân tích về nhu cầu xã hội; mô hình giáo dục kĩ năng sống trong các trường sư phạm và đề xuất về lộ trình thực hiện cho việc đưa giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường sư phạm[14]
Tác giả Hồ Thị Hồng Vân, 2016, “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
ở Trường Quốc tế Hà Nội và bài học kinh nghiệm khi xây dựng chương trình hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo ở Việt Nam” đã đề cập tới hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp các em được trải nghiệm sáng tạo tại Trường Quốc
tế Hà Nội; một số bài học kinh nghiệm trong hoạt động giáo dục TNST ở Trường Quốc tế Hà Nội;[20]
Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu đề tài giáo dục kỹ năng sống, các đề tài chủ yếu phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề TNST, hoặc một số đề tài đã nghiên cứu tương đối đầy đủ nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo Qua quá trình nhiều năm giảng dạy môn mỹ thuật tôi thấy rằng những kiến thức kinh nghiệm dạy mỹ thuật mang lại cho học sinh nhiều điều bổ ích và lý thú Những kiến thức đó gắn liền với cuộc sống và có thể giải quyết được những vấn đề cần thiết, vấn đề khó trong cuộc sống các em có thể vận dụng để giải quyết những vấn đề đó Ngoài ra qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thì chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn này Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: quản lý hoạt động trải nhiệm sáng tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật
Qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy trong giai đoạn hội nhập quốc tế việc giáo dục TNST cho học sinh đang được các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu quan tâm Học sinh cần được giáo dục TNST để có thể tự phát triển và hòa nhập có chọn lọc trong hình thành nhân cách Các công trình nghiên cứu cũng đã đưa ra được hệ thống các khái niệm cơ bản và tùy từng nội dung nghiên cứu, các công trình
đã đưa ra được các hệ thống lý luận liên quan
Trang 23Tuy nhiên, việc nghiên cứu về TNST nói chung thì nhiều trong khi đó các công trình nghiên cứu về trải nghiệm sáng tạo còn hạn chế, đặc biệt trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật là chưa có nghiên cứu nào Trong khi đó, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của mỗi môn học thực sự hữu ích và dễ dàng giúp người học vừa tiếp thu kiến thức vừa được trải nghiệm về thực tế và hấp thụ kiến thức hiệu quả
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Mọi hoạt động của xã hội đều cần quản
lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô
Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải về khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt Xuất phát từ những góc độ khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau
về quản lý, các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản
lý như sau:
Theo F.W Taylor (1856-1915): Là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” tiếp cận dưới góc độ kinh tế- kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Theo Henrry Fayol (1841-1925): là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý
từ thời kỳ cận hiện đại tới nay, ông quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm các khâu: Lập kế hoạch,tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát
Trang 24các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
Theo J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn mạnh tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản
lý là một quá trình do một người hay nhiều ngưới thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: “Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa ra cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung”
Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ
là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng đúng đắn nhưng mỗi quan điểm lại phản ánh một khía cạnh khác nhau của quản lý Nhưng nhìn chung thì chúng ta đều thấy; quản lý thực chất cũng là một hành
vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai
là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: Quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được những yếu tố đó, là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong một môi trường, điều kiện nhất định nào đó, bên cạnh đó trong định nghĩa về quản lý còn đề cập đến bản chất của quản lý là theo đuổi năng suất và hiệu quả
Trang 25Như vậy có thể thấy quản lý là một hoạt động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống quản lý giáo dục đạt kết quả mong muốn hiệu quả nhất Quản lý hoạt động giáo dục hiểu theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
QLGD là những tác động có hệ thống, có khoa học, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, là quá trình dạy và học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục
Quản lý giáo dục mang tính khoa học nghệ thuật giúp cho người lãnh đạo vận dụng lý luận vào quá trình quản lý một cách linh hoạt không cứng nhắc không tùy tiện lấy biện pháp tôn trọng động viên giáo dục cán bộ giáo viên và giáo dục học sinh; nhằm phát huy tối đa những thế mạnh, sở trường của con người giúp con người phát triển lành mạnh toàn diện
Quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng gồm 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá trong đó:
Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là việc hoạch định các công việc cần làm một cách có khoa học, đây là chức năng đầu tiên của khoa học quản lý giúp cho việc thực hiện mục tiêu được xuyên suốt Bản kế hoạch bao gồm mục tiêu, nội dung, tiến độ, bước đi, điều kiện thực hiện, địa điểm, thời gian thực để thực hiện các công việc liên quan
Lập kế hoạch là thiết kế từng bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực Việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà quản lý giáo dục có kế hoạch khả năng ứng phó với sự bất định và sự thay đổi và cho phép nhà quản lý tập trung chú
Trang 26ý vào các mục tiêu và tìm cách tốt nhất, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức để đạt được mục tiêu và giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra trong quá trình thực hiện
Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục
Chức năng tổ chức của quản lý giáo dục là xây dựng cơ cấu, phương thức
và quyền hạn hoạt động của từng bộ phận quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành
và sức mạnh của tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lý
Chức năng điều khiển chỉ đạo thực hiện
Chức năng này thể hiện năng lực của nhà quản lí Sau khi lập kế hoạch
và tổ chức thực hiện, nhà quản lý phải điều khiển cho kế hoạch đó được thực hiện đúng kế hoạch đáp ứng mục tiêu đã đề ra Nhà quản lý điều khiển hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định
Chức năng kiểm tra
Chức năng kiểm tra là chức năng không thể thiếu trong quản lý, là công
cụ của nhà quản lý Không có kiểm tra thì hoạt động quản lý giảm giá trị Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý
Kiểm tra là một quá trình thường xuyên để phát hiện những sai phạm nhằm điều chỉnh, xử lí Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược điểm, nguyên nhân Qua kiểm tra người quản lí cũng thấy được sự phù hợp giữa thực tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra
1.2.2 Trải nghiệm sáng tạo
Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy
trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người
Trang 27khác và với môi trường của mình [22] Quan niệm này mang tính khái quát
nhưng chưa thể hiện ngay các kỹ năng cụ thể, mặc dù khi phân tích sâu thì
thấy tương đối gần với nội hàm kỹ năng sống theo quan niệm của UNESCO
Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn mạnh thêm
kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ Quan niệm của UNICEF nhấn mạnh rằng kỹ năng không hình thành và tồn tại một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ Kỹ năng mà một người có được (ví dụ về nội dung thương lượng) Việc đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích với thái độ có tác động mạnh mẽ đến kỹ năng (Ví dụ, thái độ kì thị khó làm cho một người thực hiện tốt kỹ năng biết biểu hiện sự tôn trọng với người khác)
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy TNST bao gồm một loạt các
kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của trải nghiệm sáng tạo là tự rút kinh nghiệm từ thực tế, tự quản lý bản thân
và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, từ những trải nghiệm trong thực tiễn con người hình thành nên những kỹ năng sống có khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả
năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
+ Kỹ năng sống không phải tự nhiên có được mà hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện TNST trong cuộc sống Qúa trình hình thành kỹ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
+ Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội Kỹ năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân, kỹ năng sống mang tính xã hội vì kỹ năng sống phụ thuộc vào các giai đoạn và phát triển lịch sử
xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và dân hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc
Trải nghiệm, theo quan điểm của nhà triết học người Nga Soloviev V.S,
“là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ
Trang 28năng Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” Theo Platon K.K nhận định,
“trải nghiệm cũng như sự tích lũy của hiểu biết và năng lực (cá nhân, nhóm) hình thành trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục, trong đó tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, khả năng và thói quen
Sáng tạo, hay còn gọi là năng lực sáng tạo thường được sử dụng đồng
nghĩa với sự biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới,… “Sáng tạo là một tổ hợp các năng lực cho phép con người tạo ra cái mới (sản phẩm, hành động hay những giải pháp mới) độc đáo, thích hợp, có ý nghĩa đối với sự phát triển của
cá nhân (sáng tạo trên bình diện cá nhân)
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của Kolb (1984) để tìm hiểu về HĐTNST: Theo đó, để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình thành năng lực (phẩm chất) thì người học phải trải nghiệm HĐTNST là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hoá
thành năng lực.[16] Trải nghiệm sáng tạo là giáo dục cách sống tích cực trong
xã hội hiện đại theo yêu cầu xã hội hiện đại đặt ra, có liên quan đến việc làm, sức khỏe đến vấn đề xung đột và bạo lực của cá nhân, cộng đồng và xã hội
1.2.3 Giáo dục trải nghiệm sáng tạo
Giáo dục trải nghiệm sáng tạo là quá trình hình thành, rèn luyện hoặc thay đổi các hành vi của các em theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức có giá trị thái độ kỹ năng phù hợp đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống hiện đại
Giáo dục trải nghiệm sáng tạo được hiểu là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của người giáo viên, từng cá nhân học sinh
Trang 29được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học và được ứng dụng nhiều môn để giáo dục cho học sinh
Giáo dục trải nghiệm sáng tạo không gọi là môn học mà là được xem là hoạt động giáo dục tích hợp liên môn có mục đích nhằm tăng cường hoạt động trải nghiệm cho học sinh Môn học được tạo nên bởi một hoặc một vài lĩnh vực khoa học nên nội dung của nó được cấu trúc chặt chẽ còn hoạt động giáo dục sử dụng tích hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều lĩnh vực, nhiều môn
học (liên môn) để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình
Chúng ta có thể nhận thấy trong một chương trình giáo dục của bất kỳ quốc gia nào cũng bao gồm nội dung dạy học (các môn học) và nội dung giáo dục (các hoạt động giáo dục) Các môn học thực hiện giảng dạy những lĩnh vực có tính khoa học, chủ yếu nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh còn các hoạt động giáo dục là những hoạt động nhằm phát triển những phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống hay là năng lực tâm lý xã hội giúp con người có thể thích nghi, thích ứng với xã hội, làm chủ bản thân, biết sống tích cực và hạnh phúc Đây là những mặt vô cùng quan trọng để tạo nên cuộc sống có ý nghĩa của mỗi cá nhân
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đánh giá cao các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của người học, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể Đây là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo phải đa dạng, linh hoạt, học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính
Trang 30Như vậy giáo dục trải nghiệm sáng tạo không phải là nói cho người học biết thế nào là đúng thế nào là sai mà là giúp người học nâng cao được năng lực để tự lựa chọn các giải pháp khác nhau ứng phó với các tình huống trong thực tế cuộc sống Vì vậy giáo dục cần gần gũi với cuộc sống và ngay trong cuộc sống, tất cả các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc chép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ có vai trò cung cấp thông tin mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn Giáo dục trải nhiệm sáng tạo nhấn mạnh đến việc học sinh phải có ý thức về giá trị bản thân hay quí trọng bản thân, đó chính là nền tảng cho sự phát triển một nhân cách lành mạnh và sự tự tin Việc học trong giáo dục kỹ năng sống là sự phát huy nội lực, học vui bằng hoạt động, bằng sáng tạo trong tinh thần thoải mái tối đa Giáo dục trải nghiệm sáng tạo nhằm rèn luyện một số kỹ năng sau cho người học:
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp Kỹ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc
Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa
và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn
Kỹ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân.Tuy nhiên, có những tình huống có thể gây căng
Trang 31thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại
Khi bị căng thẳng mỗi người có tâm trạng, cảm xúc khác nhau:cũng có khi là những cảm xúc tích cực nhưng thường là những cảm xúc tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người Ở một mức độ nào đó, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với căng thẳng thì đó
có thể là một tác động tích cực, tạo sức ép buộc cá nhân đó phải tập trung vào công việc của mình bứt phá thành công Nhưng mặt khác, sự căng thẳng còn
có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu căng thẳng đó quá lớn, kéo dài và không giải tỏa nổi
Khi bị căng thẳng, tùy từng tình huống, mỗi người có thể có cách ứng phó khác nhau Cách ứng phó tích cực hay tiêu cực khi căng thẳng phụ thuộc vào cách suy nghĩ tích cực hay tiêu cực của cá nhân trong tình huống đó
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi
bị căng thẳng Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu cao quá so với đều kiện và khả năng của bản thân…
Kỹ năng giao tiếp và lắng nghe tích cực
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết
Trang 32Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng làm hại gây tổn thương cho người khác Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình – nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống Kỹ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc Kỹ năng thể hiện sự cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kỹ năng tự nhận thức vàkỹ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc
Kỹ năng thương lượng:
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích đồng thời có thảo luận để đạt được một số điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó
Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kĩ năng giao tiếp như lắng nghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và
Trang 33giải quyết mẫu thuẫn Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả, giả quyết mẫu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho tất cả các bên
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn:
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng thường bắt nguồn từ sự khác nhau về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa,… Mâu thuẫn thường có ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các bên Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn Mỗi người có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái
độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên
và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình Yêu cầu trước hết của kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất
Kỹ năng hợp tác
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm
Kỹ năng tư duy phê phán:
Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề,sự vật,hiện tượng…xảy ra
Kỹ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết định, những tình huống phù hợp Nhất là trong xã hội hiên đại
Trang 34ngày nay, khi mà con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn của cuộc sống, luôn phải xử lý nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…thì kỹ năng tư duy phê phán càng trở nên quan trọng đối với mỗi cá nhân
Kỹ năng quản lý thời gian
Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định Kỹ năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực công việc
Kỹ năng tìm kiểm và xử lý thông tin
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thế có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
Giáo dục trải nghiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường THCS đặc biệt chú trọng và hình thành các kỹ năng trên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
1.2.4 Giáo dục trung học cơ sở (THCS) và giáo dục mỹ thuật ở bậc THCS
1.2.4.1 Giáo dục Trung học cơ sở
Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động (Luật giáo dục 2005, Điều 27, điểm 3)[8] Mục tiêu chung của giáo dục toàn diện cho học sinh THCS
Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển năng lực cần thiết ở người học,trong đó các kỹ năng là một thành phần quan trọng để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước Học sinh không chỉ cần có kiến thức , mà còn phải biết
Trang 35làm, biết hành động phù hợp trong những tình huống, hoàn cảnh của cuộc sống Mục tiêu giáo dục của nước ta thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỳ XXI: Học để biết, học để làm, học để khẳng định và học để cùng chung sống (Delor 1996).[5]
1.2.4.2 Giáo dục mỹ thuật ở bậc THCS
Trong hệ thống các môn học hiện nay, môn MT ở bậc Trung học cơ sở cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng cơ bản, cách sử dụng ngôn ngữ tạo hình (đường nét, hình mảng, hình khối, màu sắc , bố cục, không gian….) Thông qua hoạt động trải nghiệm, học sinh biểu đạt thái độ, cảm xúc, trí tưởng tượng của bản thân, nhận biết cái đẹp, sáng tạo ra sản phẩm có tính thẩm mỹ và đánh giá được sản phẩm tác phẩm mỹ thuật Trong quá trình hoạt động mỹ thuật, học sinh vận dụng được những hiểu biết về cái đẹp trong học tập, sinh hoạt trong cuộc sống hang ngày, góp phần vào mục tiêu giáo dục diện của chương trình GD phổ thông [1]
Chương trình giáo dục mỹ thuật hiện nay theo hướng theo hướng phát triển năng lực Giáo viện vận dụng những kiến thức vào thực tiễn dạy học hiệu quả và thiết thực
Giáo dục mỹ thuật hiện nay trong nhà trường học sinh đã làm quen và sử dụng được những vật liệu, công cụ cách thức tạo hình khác nhau phù hợp với nội dung chủ đề, ý nghĩa với cách phát triển ngôn ngữ mỹ thuật của học sinh với mỗi năng lực của mỗi cá nhân Thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ,HS sẽ tích lũy được những kinh nghiệm và những kiến thức cơ bản về tạo hình để vận dụng linh hoạt những kiến thức trong cuộc sộng khi cần thiết Phương pháp dạy MT lấy học sinh làm trung tâm, kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, phát triển năng lực cho học sinh một cách toàn diện Cùng với phát triển năng lực học sinh cũng phát triển được kỹ năng sống, kinh nghiệm cá nhân và khả năng giải quyết vấn đề.[13]
1.3 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật
Trang 361.3.1 Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường THCS
Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động (Luật giáo dục 2005, Điều 27, điểm 3)[8]; Mục tiêu chung của giáo dục toàn diện cho học sinh THCS
Nhiệm vụ của công tác giáo dục hoạt động trải nhiệm sáng tạo thông qua môn Mỹ thuật
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, giáo dục nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam thông qua việc ứng dụng tích hợp liên môn tăng cường khả năng trải nghiệm thực tế của học sinh Cụ thể như sau:
Thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: Thực tế cho thấy, có khoảng
cách nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng Ví dụ: có những người là luật sư, công an,… có hiểu biết rất rõ
về pháp luật nhưng vẫn vi phạm pháp luật,…đó chính là vì họ đã thiếu KNS
Có thế nói KNS chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khắn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn
đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình
Việc thiếu KNS của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn
đề xã hội như: mại dâm, cờ bạc, nghiện hút,…Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống
xã hội và giảm các vấn đề xã hội
Trang 37Thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông: Đảng ta đã xác định con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, cần phải có những con người lao động mới phát triển toàn diện, do đó cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, trong Luật giáo dục năm 2005
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Giáo dục KNS cho học sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông
Mục tiêu giáo dục trải nghiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở là GD cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, thay đổi nhận thức và hình thành các hành vi theo tích cực, hình thành các kỹ năng
Tạo cơ hội kiểm nghiệm những tri thức đã học, kích thích tư duy cho
Trang 38Trong quá trình tham gia vào hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo, học sinh được có cơ hội thực hành những phần kiến thức đã chiếm lĩnh được trong quá trình học tập tại mỗi môn học, bên cạnh đó với quá trình thực hành, học sinh được có cơ hội kiểm nghiệm lại những tri thức đã học, kích thích khả năng tư duy tự do để phát triển cá nhân…
Nâng cao hiểu biết, rèn kỹ năng thực hành:
Kiến thức được học trên lớp thông qua mỗi môn học là kiến thức mà học sinh có được thụ động qua việc truyền đạt của giáo viên nhưng để nâng cao hiểu biết, hiểu sâu, hiểu rõ về phần tri thức đó học sinh được rèn luyện kỹ
năng thực hành trong quá trình trải nghiệm thực tế
Giáo dục kỹ năng sống:
Nhìn nhận giáo dục trải nghiệm sáng tạo là hoạt động mà dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được trực tiếp tham gia vào các hoạt động khác nhau của nhà trường và ngoài xã hội với tư cách là chủ thể nhằm phát huy tiềm năng cá nhân, phát triển nhân cách từ đó mà hình thành được kỹ năng sống hay nói cách khác chính là giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động
trải nghiệm sáng tạo
Cập nhật tin tức kinh tế văn hóa xã hội
Khi tham gia vào hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được đóng vai trò chủ thể trong các hoạt động của nhà trường cũng như của xã hội Với vai trò này, học sinh phải phát huy hết khả năng của mình để làm chủ hoạt động do vậy cần có kiến thức về kinh tế, văn hóa, xã hội để bổ sung kinh nghiệm phát huy vai trò chủ thể trong các tình huống của mình
Giáo dục học sinh kỷ luật làm việc tập thể
Tham giả trại nghiệm sáng tạo trong các hoạt động giáo dục được thiết
kế học sinh được làm chủ các tình huống giao tiếp, các hoạt động tập thể trong nhà trường cũng như ngoài xã hội với các tình huống giao tiếp thực tế, các hoạt động tương tác tập thể do vậy học sinh được giáo dục kỷ luật làm
việc tập thể, tuân thủ theo các yêu cầu của tập thể
Trang 391.3.3 Phương pháp giáo dục trải nhiệm sáng tạo thông qua môn mỹ thuật
ở trường Trung học cơ sở
PPDH là cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu bài học.Giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua môn mỹ thuật có nhiều phương pháp, mỗi phương pháp có những tác động tích cực riêng phù hợp với việc kết hợp môn mỹ thuật trong giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
1 Phương pháp quan sát: giáo viên tổ chức cho học sinh sử dụng các giác
quan để tri giác có mục đích đối với các đôí tượng trong tự nhiên và xã hội mà không có sự can thiệp vào các quá trình diễn biến của các hiện tượng hoặc sự vật đó Với phương pháp này, dưới sự định hướng của giáo
viên, học sinh sẽ quan sát sự vật hiện tượng với mục tiêu cụ thể
2 Phương pháp trực quan: Với phương pháp này, giáo viên sử dụng
tranh ảnh hay video clip ,thăm quan bảo tàng để phục vụ nội dung và mục tiêu của bài dạy, thông qua chúng người giáo viên dễ dàng truyền đạt vấn đề tới học sinh hơn và người học sinh cũng dễ tiếp nhận kiến thức hơn , hiểu sâu hơn, nhớ chính xác hơn
3 Phương pháp hỏi đáp đàm thoại: là phương pháp trong đó người dạy
tổ chức đối thoại, trao đổi ý kiến, đưa ra tình huống có vấn đề để người học giải quyết vấn đề thông qua việc trao đổi ý kiến, tranh luận nhóm, thông qua đó người học được củng cố, bổ sung kiến thứ mới và cách giải quyết vấn đề mới Trong giáo dục hoạt động trải nghiệm thông qua môn mỹ thuật thì tình huống có vấn đề đây là các nội dung yêu cầu trong mỹ thuật về phối cảnh, về chủ đề… bắt buộc học sinh phải đưa ra các ý tưởng về tranh vẽ và cùng tranh luận
4 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề: Với phương pháp này, giáo
viên sẽ đưa ra các tình huống có vấn đề liên quan tới chủ đề giáo dục trải nghiệm sáng tạo yêu cầu học sinh thể hiện ý tưởng qua tranh vẽ Với
Trang 40phương pháp này, học sinh được thể hiên ý tưởng giải quyết vấn đề của mình thông qua hình ảnh, tư duy nghệ thuật về ý tưởng mà học sinh
thoát ý qua tranh vẽ giúp học sinh giải quyết vấn đề một cách thoải mái
5 Phương pháp liên kết học sinh với tác phẩm: Lột tả một tác phẩm qua
tư duy sáng tạo thể hiện dưới một tác phẩm nghệ thuật của học sinh học
mỹ thuật
6 Phương pháp luyện tập thực hành: Với bất cứ bài vẽ nào thì phương
pháp này đều được áp dụng sau khi học sinh đã nắm được các kiến thức một lý thuyết Phương pháp này giúp học sinh vận dụng kiến thức và thể hiện được kỹ năng của mình thông qua thực hành Mục tiêu của môn mỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm được kỹ năng kỹ xảo thể hiện qua bức vẽ và học sinh chỉ có được kỹ năng kỹ xảo thông qua thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên Với phương pháp này, học sinh thể hiện hết khả năng tình cảm của mình vào bức vẽ sinh động sáng tạo
hơn.[13]
Các phương pháp trên có tác động tích cực phù hợp với việc giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS thông qua môn Mỹ thuật có những năng lực sau:
Năng lực tự học: là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách chủ
động; Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nền nếp; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè,…trong học tập
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: là khả năng nhận diện vấn đề,
thiết lập không gian vấn đề, xác định được các phương pháp khác nhau từ đó lựa chọn và đánh giá được cách giải quyết vấn đề làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh cần thiết