Bài viết Mức sẵn lòng chi trả cho giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi - nghiên cứu điển hình ở Nam Định được nghiên cứu nhằm áp dụng phương pháp xác định mức sẵn lòng chi trả cho các sản phẩm, dịch vụ thủy lợi để định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thủy lợi.
Trang 1MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO GIÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ THỦY LỢI - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH Ở NAM ĐỊNH
Bùi Anh Tú
Trường Đại học Thủy lợi, email: buianhtu@wru.vn
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Các sản phẩm, dịch vụ khai thác từ công
trình thủy lợi khá phong phú, đa dạng phục vụ
sản xuất dưới nhiều hình thức khác nhau đều
liên quan trực tiếp đến “nước” Việc xác định
giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi phải tuân thủ
nguyên tắc “Nước là một hàng hoá kinh tế” và
đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng, áp
dụng các cơ chế xây dựng và thiết lập giá
nước trong hoạt động tưới và tiêu phục vụ sản
xuất nông nghiệp Theo đó, giá phải phản ánh
được đầy đủ các chi phí về tài nguyên cũng
như chi phí đầu tư, vận hành khai thác công
trình Cơ sở xây dựng giá sản phẩm dịch vụ
thủy lợi cơ bản vẫn dựa trên chi phí sản xuất
(giá thành) của đơn vị cung cấp dịch vụ
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm áp
dụng phương pháp xác định mức sẵn lòng chi
trả cho các sản phẩm, dịch vụ thủy lợi để
định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến mức
sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thủy lợi Kết quả
nghiên cứu tại tỉnh Nam Định sẽ giúp các nhà
nghiên cứu và nhà quản lý có cách tiếp cận
phù hợp nhằm đề xuất chính sách giá nước
hợp lý
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi
quy đa biến để định lượng về các yếu tố ảnh
hưởng đến mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ
thủy lợi
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phương pháp xác định mức sẵn lòng chi trả:
Phương pháp CVM là một phương pháp
giúp các nhà nghiên cứu xây dựng một thị
trường giả thuyết với cấu trúc và phương tiện thanh toán cho các hàng hóa công cộng hoặc
tư nhân (Guo et al., 2006) Phương pháp này đặt ra các tình huống giả định, giúp ước tính được mức sẵn lòng chi trả của người sử dụng hàng hóa đối với hàng hóa không tồn tại thị trường như nước tưới trong nông nghiệp (Onodipe, 2003) Để kết quả tính toán theo phương pháp CVM trở nên đáng tin cậy thì
có thể sử dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại hoặc gửi thư qua đường bưu điện Trong nghiên cứu về xác định giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi dựa trên mức sẵn lòng chi trả sẽ lựa chọn hình thức phỏng vấn trực tiếp, vì hai phương thức kia không thực sự hiệu quả
Tổng hợp và phân tích các công trình đã
có, nghiên cứu đưa ra các biến và ảnh hưởng
kỳ vọng tới mức sẵn lòng chi trả cho nước tưới trong bảng 1
Trong điều kiện biến phụ thuộc là biến liên tục thì mô hình kinh tế xác định mức sẵn lòng chi trả được sử dụng là phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS)
Qua đánh giá chung, 402 phiếu khảo sát thu về không có phiếu nào bị lỗi, bị hỏng Nghiên cứu tiến hành thống kê và phân tích
số liệu thu thập được bằng phần mềm SPSS
Hệ số Adjusted R Square tính toán dựa trên 402 quan sát là 0.538, điều này cho thấy
mô hình hồi quy tuyến tính này phù hợp với tập dữ liệu của mẫu ở mức 53,8%
Trang 2Bảng 1 Các biến và giả thiết mối quan hệ với mức sẵn lòng chi trả nước tưới
WTP Mức sẵn lòng chi trả của người sử dụng nước tưới
DTRuong Diện tích khu đất sản xuất nông nghiệp +
Thaido Thái độ của nông dân với việc sẵn sàng trả thêm tiền để duy trì
hệ thống thủy lợi nội đồng
+
Bảng 2 Đánh giá sự phù hợp của mô hình
Model R R Square Adjusted R Square Std Error of the Estimate Durbin-Watson F
Bảng 3 Kiểm định các hệ số hồi quy
Model
1
Trang 3Giá trị F = 43,419 với sig = 0.000 < 5%
Chứng tỏ R bình phương của tổng thể khác 0,
đồng nghĩa với việc mô hình hồi quy tuyến
tính xây dựng được phù hợp với tổng thể
nghiên cứu
Dựa trên kết quả đưa ra ở bảng 3, nhận
thấy biến TCTC, Thunhap không có tác
động đến biến phụ thuộc WTP Các biến còn
lại đều tác động có ý nghĩa thống kê đến
biến phụ thuộc, trong đó các biến KN, GD,
DTRuong, KCKenh, KCCho, Thaido có
mức độ ảnh hưởng cao hơn các yếu tố khác
trong mô hình nghiên cứu Hệ số VIF đều
nhỏ hơn 2, chứng tỏ không có hiện tượng đa
cộng tuyến Yếu tố thu nhập từ các lĩnh vực
phi nông nghiệp sẽ tác động tiêu cực tới mức
sẵn lòng chi trả của người nông dân Việc
phát triển du lịch thương mại, công nghiệp
sẽ khiến người dân chuyển dịch dần từ khu
vực nông nghiệp sang khu vực phi nông
nghiệp, dẫn đến tình trạng bỏ đất, bỏ ruộng
và hệ thống thủy lợi bị xuống cấp
Khoảng mức giá WTP mà hộ nông dân lựa
chọn nhiều nhất là mức 1 (dưới 5000 đồng)
với 50,2% lựa chọn
Hình 1 Mức giá người dân sẵn lòng chi trả
cho dịch vụ cung cấp nước tưới
Có 89 hộ nông dân không đồng ý trả thêm tiền, có 84 hộ sẵn sàng trả thêm mức từ 5.000 đến <10.000 chiếm tỉ lệ% tương ứng là 22,1%, 20,9%
4 KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã tìm ra mức giá mà nông dân sẵn sàng chi trả thêm để sử dụng nước tưới từ hệ thống thủy lợi Gần 80% người được phỏng vấn tại tỉnh Nam Định đồng ý chi trả thêm với mức giá được chấp nhận nhiều nhất là dưới 5000 đồng Ngoài ra xây dựng hàm hồi quy giữa biến WTP với các biến khác có liên quan cũng giúp xác định được ảnh hưởng của các yếu tố tới mức sẵn lòng chi trả của người nông dân tới nước tưới
để đưa ra chính sách hợp lý như thu phí thủy lợi nội đồng tăng lên và phân chia theo mức thu nhập của hộ, nguồn thu nhập chính của
hộ từ sản xuất nông nghiệp; tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức về giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi, bảo vệ công trình thủy lợi tới người hưởng lợi
5 TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Latinopoulos, P Z M (2001) Willingness to pay for irrigation water: A case study in Chalkidiki, Greece Aristotle
University of Thessaloniki, Greece
[2] Quốc hội Khóa XIV (2017) Luật Thủy lợi
số 08/2017/QH14