1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật sinh học 10 trung học phổ thông văn ths lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)

103 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích Hợp Liên Môn Trong Dạy Học Chủ Đề Vi Sinh Vật - Sinh Học 10 Trung Học Phổ Thông
Tác giả Vũ Thế Hải
Người hướng dẫn PGS.TS. Mai Văn Hưng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Sư phạm Sinh học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lượng kiến thức mới được cập nhật ngày càng nhiều và nhanh, thời gian học tập ở trường lại có hạn nên do đó cần chuyển từ dạy học riêng rẽ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THẾ HẢI

TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ

VI SINH VẬT - SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THẾ HẢI

TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ

VI SINH VẬT - SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

(Bộ môn Sinh học)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI VĂN HƯNG

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp, bên cạnh

sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn, các thầy cô giáo, đồng nghiệp và người thân

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Hưng, người hướng dẫn khoa học, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình viết luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục

- Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thày cô giáo cùng các em học sinh trường THPT Hoa Lư A, THPT Trần Hưng Đạo đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện thành công kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi đề tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thế Hải

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.2.3 Dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp là tất yếu và cần thiết 9

CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ

2.1.3 Cấu trúc, nội dung từng bài trong phần Sinh học vi sinh vật lớp 10 THPT 18 2.1.4 Đánh giá về cấu trúc, nội dung phần Sinh học vi sinh vật bậc THPT 19

Trang 6

các tệ nạn xã hội, giáo dục bảo vệ môi trường có thể sử dụng để tích hợp

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3 Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài

5 Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 73

7 Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài

9 Bảng 3.9 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 2 75

11 Bảng 3.11 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm

13 Bảng 3.13 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 3 77

15 Bảng 3.15 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng

17 Bảng 3.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng của 3 bài kiểm tra 79

18 Bảng 3.18 Kết quả của 3 bài kiểm tra tính theo phương pháp

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 1.1 Biểu đồ khảo sát về việc GV sử dụng tích hợp liên

2 Hình 1.2 Biểu đồ khảo sát mức độ lồng ghép kiến thức của các

3 Hình 1.3 Biểu đồ khảo sát mức độ vận dụng quan điểm sƣ phạm

6 Hình 3.2 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 73

8 Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 75

10 Hình 3.6 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra lần 3 77

12 Hình 3.8 Biểu đồ phân loại tổng hợp kết quả học tập của 3 bài

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ nhu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công nghệ, tri thức của nhân loại đang gia tăng nhanh chóng Sự bùng nổ của khoa học và công nghệ thông tin đã tạo ra các phương tiện, phương pháp giao lưu mới, mở rộng khả năng học tập ở nhiều dạng thức khác nhau, phù hợp với năng lực và điều kiện từng

cá nhân Bên cạnh đó, xu thế hội nhập toàn cầu về kinh tế, giáo dục, khoa học và đời sống đòi hỏi phải có sự đổi mới, liên kết, hợp tác với nhau trong tất cả các mặt

Ở Việt Nam để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cần phải xây dựng nguồn nhân lực toàn diện về kĩ thuật và tri thức Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo sau 2015 đã định hướng

rõ ràng rằng: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.” [15]

Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ GD&ĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục khuyến khích giáo viên dạy học theo hướng tích hợp liên môn [15]

1.2 Xuất phát từ điều kiện học tập và ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn

Bản thân thế giới tự nhiên là một thể thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau, vì thế từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện các khoa học liên ngành, gian ngành hình thành nên những kiến thức đa ngành, liên ngành Xu hướng hiện nay của khoa học chính là tiếp tục phân hóa sâu song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng

Việc giảng dạy các môn khoa học tại trường học hiện nay cần phải phản ánh được chiều hướng phát triển của khoa học trên thế giới, không thể

Trang 10

giảng dạy các môn khoa học một cách riêng lẻ như trước Mặt khác, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lượng kiến thức mới được cập nhật ngày càng nhiều và nhanh, thời gian học tập ở trường lại có hạn nên do đó cần chuyển từ dạy học riêng rẽ sang dạy học tích hợp liên môn vừa giúp học sinh nắm kiến thức một cách toàn diện, nhiều chiều mà còn tiết kiệm được thời gian dạy học tại trường

1.3 Xuất phát từ đặc điểm của kiến thức phần ba: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông và thực trạng dạy học Sinh học 10 ở các trường THPT

Không có bất cứ ngành khoa học nào không có sự tích hợp tri thức của nhiều lĩnh vực Xu thế phát triển của khoa học là ngày càng phân hóa sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng mạnh Điều đó dẫn đến một tất yếu là không thể giảng dạy các khoa học như các lĩnh vực tri thức riêng lẻ

Sự phát triển của Sinh học cũng không nằm ngoài xu hướng đó Sinh học là ngành khoa học nghiên cứu sự sống, nhiệm vụ của Sinh học là tìm hiểu bản chất của các nguyên lý và các quá trình trong thế giới sống, khám phá các quy luật sinh học Bản chất của sự sống là tổng hợp của tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh của tự nhiên và xã hội, của giới vô cơ và hữu cơ, giữa con người và thiên nhiên, giữa các hiện tượng vật lý, hóa học, khí hậu, thổ nhưỡng,… Vì vậy, Sinh học

là môn khoa học có liên quan chặt chẽ với các môn khoa học khác như Vật lý, Hóa học, Địa lý,… Không những thế, Sinh học còn là bộ môn khoa học thực nghiệm Các kiến thức Sinh học được hình thành trên cơ sở các thí nghiệm, thực nghiệm của các nhà khoa học và thực tiễn lao động sản xuất cũng như quá trình đấu tranh với thiên nhiên của con người Con người lại sử dụng chính các kiến thức đã tích lũy được để phục vụ đời sống của mình (chăn nuôi, trồng trọt, y học, bảo vệ môi trường….) Do

đó, trong dạy học Sinh học cần đặt nó vào trong mối quan hệ tương tác với các ngành, các chuyên ngành khoa học khác

Ngày nay, trong sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là

sự phát triển của công nghệ thông tin, kiến thức Sinh học tăng rất nhanh theo thời gian và có nhiều sự đổi mới, cũng như sự xuất hiện của rất nhiều các phân ngành nhỏ mới

Trang 11

Các đặc trưng này đã chi phối việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống trở nên không còn phù hợp Nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh, rút ngắn thời gian dạy học thì việc sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học là một lựa chọn sáng suốt và dần trở thành một xu thế phổ biến

Từ các lý do nêu trên đã gợi cho người viết lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“Tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông theo hướng tích hợp liên môn nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh

3 Câu hỏi nghiên cứu

Trong giảng dạy chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông giáo viên nên thực hiện việc tích hợp liên môn như thế nào?

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông sẽ giúp nâng cao hiệu quả học tập của học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học

- Điều tra, khảo sát việc sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học nói chung và Sinh học vi sinh vật nói riêng của giáo viên

- Phân tích nội dung kiến thức phần ba: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông nhằm xác định các nội dung có thể sử dụng tích hợp liên môn

và các kiến thức Toán, Vật lý, Hóa học,… có liên quan

- Thiết kế chủ đề, các giáo án sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học chủ

đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài

6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

6.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học

6.2 Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung tích hợp liên môn trong dạy học

chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông

Trang 12

6.3 Nghiệm thể: Học sinh và giáo viên trường THPT Hoa Lư A, THPT Trần

Hưng Đạo - Ninh Bình tham gia các giờ dạy học chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông

7 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 trung học phổ thông

- Phạm vi thời gian: Năm học 2015 - 2016

- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vi các lớp 10 của 02 trường: THPT Hoa Lư A - Hoa Lư - Ninh Bình và THPT Trần Hưng Đạo - TP Ninh Bình - Ninh Bình

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học và các tài liệu liên quan đến tích hợp liên môn

8.2 Phương pháp điều tra, khảo sát: phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập thông tin, tìm hiểu thực tiễn sử dụng tích hợp liên môn của giáo viên trong dạy học Sinh học nói chung và trong dạy học nội dung về vi sinh vật nói riêng

8.3 Phương pháp thực nghiệm: sử dụng thực nghiệm sư phạm trên hai lớp đối chứng và thí nghiệm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài

9 Dự kiến đóng góp mới của đề tài

Đề tài hệ thống hóa được cơ sở lý luận của việc tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 Trung học phổ thông về lịch sử nghiên cứu, khái niệm, các nguyên tắc và ý nghĩa của việc sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học Xây dựng được quy trình tổ chức dạy học tích hợp liên môn từ

đó thiết kế được một số chủ đề và giáo án sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 Trung học phổ thông

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 Trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Lê Trọng Sơn (1999), với đề tài Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 phổ thông THCS Theo tác giả, giáo dục dân

số được lồng ghép vào môn Giải phẫu sinh lý người là thích hợp nhất cả về độ tuổi của học sinh cũng như nội dung môn học Ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa những tri thức giải phẫu con người và tri thức dân số, từ đó vận dụng quan điểm tích hợp để lồng ghép các kiến thức dân số cần thiết vào các bài học có liên quan Đó chính là bản chất của giáo dục tích hợp [17]

Trong đề tài Dạy học tích hợp, tác giả Trần Bá Hoành (2003), đưa ra một số khái niệm nền tảng về sư phạm tích hợp, các quan điểm và mục tiêu của sư phạm tích hợp, điều kiện và triển vọng để triển khai dạy học theo hướng tích hợp ở trường phổ thông tại Việt Nam [10]

Nguyễn Phúc Chỉnh và Trần Thị Mai Lan (2009), lại đề cập đến Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10) Việc tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường phổ thông sẽ đạt được mục tiêu kép vừa nâng cao chất lượng dạy học môn học, vừa góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp sau này Các tác giả đã nghiên cứu nội dung của phần Vi sinh vật lớp

Trang 14

10, từ đó đưa ra một số nguyên tắc và biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật [6]

Đối với các nhà trường sư phạm, việc vận dụng quan điểm sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình đào tạo giáo viên cũng đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của rất nhiều những nhà nghiên cứu Có thể kể ra một số tác giả với các công trình tiêu biểu như: Đinh Quang Báo (2003), với công trình Cơ sở lý luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm [1]; Lê Đức Ngọc (2005), với đề tài Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội - nhân văn và các môn công nghệ [14]; Nguyễn Đăng Trung (2003), Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm [18]

Như vậy, việc sử dụng kiến thức liên môn vào dạy học đã và đang thu hút sự quan tâm của không ít những nhà sư phạm ở Việt Nam Những tác phẩm đó đã góp phần khẳng định dạy học theo quan điểm sử dụng kiến thức liên môn là tất yếu và cần thiết trong nhà trường hiện nay

Có thể nói tích hợp liên môn là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp ở những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc Tiểu học và cấp THCS Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới được thực hiện ở các mức độ thấp như liên

hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề dạy học Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT Bài toán đang đặt ra trong lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp vào dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo của bộ môn

Trang 15

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Tổng quan dạy học tích hợp

Trào lưu sư phạm tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính Thông qua những hoạt động tích hợp, HS học cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác đã lĩnh hội một cách riêng rẽ với nhau để giải quyết một tình huống có vấn đề Khái niệm năng lực ở đây được hiểu là một khái niệm tích hợp bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động Theo ý nghĩa đó, năng lực được định nghĩa là sự tích hợp các kĩ năng (các hoạt động) tác động một cách thích hợp và tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra Năng lực này là một hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp, phối hợp các kiến thức

và kĩ năng, chứ không phải là sự tác động các kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung

Khoa sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau Tức là, dạy cho HS biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống

cụ thể, có ý nghĩa nhằm hình thành, phát triển năng lực học tập của HS Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau của các môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích hợp

Dạy học tích hợp liên môn thuộc về nội dung dạy học chứ không phải

là phương pháp dạy học Còn tại sao phải dạy học theo hướng tích hợp liên môn thì đó là do yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực HS, đòi hỏi

HS phải biết vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp liên môn

1.2.2 Khái niệm về dạy học tích hợp liên môn

Trang 16

Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là: “sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy”

Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được tiếp thu, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết vấn đề, tình huống

Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học Đã dạy học "tích hợp" thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp

Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau

Chủ đề tích hợp liên môn là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội Ví dụ: Kiến thức Vật lí và Công nghệ trong động cơ, máy phát điện; kiến thức Vật lí và Hóa học trong nguồn điện hóa

Trang 17

học; kiến thức Lịch sử và Địa lí trong chủ quyền biển, đảo; kiến thức Ngữ văn và Giáo dục Công dân trong giáo dục đạo đức, lối sống…

Các chủ đề tích hợp liên môn có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của học sinh được hình thành và phát triển Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn [3]

1.2.3 Dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp là tất yếu và cần thiết

Có thể nói đặc điểm của Sinh học hiện đại là lý do lớn nhất chi phối việc dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp Trong thời đại ngày nay, Sinh học có những đặc trưng sau đây:

- Sinh học tập trung nghiên cứu sự sống ở cấp vi mô và vĩ mô: cho đến thế

kỷ XVIII, Sinh học mới chỉ nghiên cứu các hệ trong (cơ thể, cơ quan) Ngày nay, Sinh học hướng vào nghiên cứu các hệ nhỏ (tế bào, phân tử) và các hệ lớn (loài, quần xã, hệ sinh thái, sinh quyển)

- Có sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các nguyên lý, phương pháp của nhiều ngành khoa học khác vào Sinh học Các phương pháp thực nghiệm

lý hóa giúp hiểu sâu vào cấu trúc tế bào của các tổ chức sống, cơ chế của quá trình sống ở cấp tế bào và phân tử làm cho Sinh học ngày càng trở thành khoa học chính xác, đưa Sinh học từ trình độ “thực nghiệm - phân tích” lên “tổng hợp - hệ thống” Nếu trước kia Sinh học phát triển dựa vào các phương pháp thuần túy sinh học thì ngày nay các phương pháp phi sinh học có vai trò to lớn, Sinh học ngày càng thu hút sự đóng góp rộng rãi của các nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác

- Cho đến nay, những thành tựu có ý nghĩa thực tiễn to lớn đều liên quan đến việc ứng dụng các nguyên lý và quá trình sinh học (các thành tựu về y học, nông nghiệp, xử lý chất thải, chọn giống vật nuôi, cây trồng và bảo vệ môi trường) Sinh

Trang 18

học hiện đại trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, phục vụ đắc lực không những cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp mà còn đối với công nghiệp, kỹ thuật đặc biệt là Y học

- Sinh học hiện đại đang phát triển với tốc độ rất nhanh, vừa phân hóa thành ngành nhỏ, vừa hình thành những lĩnh vực liên ngành, gian ngành Nếu

ở thế kỷ XIX trên thế giới bình quân có vài ngàn thông báo phát minh sinh học thì đến giữa thế kỷ XX con số đó là 10 vạn, đến năm 2000 con số đó là 1 triệu Chưa đầy 10 năm, khối lượng tri thức Sinh học đã tăng gấp đôi

Vì những đặc trưng như trên, việc dạy học Sinh học ở trường phổ thông không thể tách rời, cô lập với việc giảng dạy các môn khoa học khác hay thực tiễn đời sống Dạy học tích hợp liên môn là GV để HS nghiên cứu các hiện tượng, nguyên lý và các quá trình Sinh học trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác (toán, lý, hóa, ) Nhờ đó, HS sáng tỏ về bản chất các sự vật, hiện tượng Sinh học

Còn một lý do quan trọng nữa khiến cho việc dạy học Sinh học cần theo quan điểm tích hợp là do sự bùng nổ của các phương pháp thực nghiệm, Sinh học đã được phân chia thành các lĩnh vực nhỏ như Di truyền học, Sinh lý học, Sinh thái, Tế bào học và vì thế chương trình đào tạo cũng bị phân thành các mảng kiến thức tương đối tách rời nhau Kết quả là HS phải học một khối lượng kiến thức rất lớn nhưng chúng lại tách rời, cô lập nhau Xu hướng hiện nay trong dạy học Sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nói chung, người ta cố gắng trình bày cho HS thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực, không chỉ giữa Sinh học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khác nhau như Sinh học, Hóa học, Toán học, Vật lý…

1.2.4 Ưu điểm của việc dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn

Đối với học sinh, trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học

Trang 19

khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn

Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do: Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó; Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp Thế hệ giáo viên tương lai sẽ được đào tạo

về dạy học tích hợp, liên môn ngay trong quá trình đào tạo giáo viên ở các trường

sư phạm

1.2.5 Ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn

- Làm quá trình dạy học có ý nghĩa Tích hợp liên môn trong dạy học sẽ giúp người học vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp tư duy khoa học để giải quyết những tình huống trong đời sống thực tiễn

- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng Dạy học tích hợp liên môn còn giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu phải là những năng lực cơ bản cần cho người học vận dụng vào xử lý tình huống (trong học tập hoặc trong cuộc sống)

- Sử dụng kiến thức trong các tình huống cụ thể Qua việc tích hợp liên môn kiến thức trong bài dạy, người học được rèn luyện kĩ năng thu nhận và xử lý thông tin cũng như kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn đưa ra

Trang 20

- Tạo hứng thú học tập cho người học vì dạy học tích hợp liên môn chú trọng tập dượt cho người học áp dụng các kiến thức, kĩ năng học được vào trong các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống, có năng lực tự lập

- Cuối cùng dạy học tích hợp liên môn còn giúp người học xác lập mối liên

hệ giữa các khái niệm đã học (trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau)

A và THPT Trần Hưng Đạo và điều tra bằng phiếu trắc nghiệm khách quan với 75

GV môn Sinh học của 24 trường THPT công lập trong tỉnh Ninh Bình đã thu được kết quả như sau:

Câu 1: Trong giờ lên lớp, đồng chí sử dụng những phương pháp dạy học nào?

Câu trả lời thu được: Các phương pháp được phần lớn các giáo viên sử dụng là:

- Thuyết trình, giảng giải

Câu 2: Khi dạy một nội dung Sinh học có liên quan đến các nội dung của

các môn học khác như Toán, Vật lý, Hóa học thì các anh (chị) có đưa các kiến thức ngoài đó vào bài giảng của mình không?

Câu trả lời thu được:

- Thường xuyên: 17/72 = 23,6 %

- Thỉnh thoảng: 23/72 = 31,9 %

Trang 21

- Không bao giờ: 32/72 = 44,5 %

Hình 1.1 Biểu đồ khảo sát về việc GV sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học

Câu 3: Mức độ lồng ghép các kiến thức của các môn khác vào bài học là:

Câu trả lời thu được:

- Nói qua ở đầu bài học: 21/75 = 28,0%

- Giảng lại kiến thức đó trong bài học: 29/75 = 38,6%

- Yêu cầu học sinh đọc lại kiến thức đó từ tiết trước để chuẩn bị cho bài mới: 25/75 = 33,4%

Hình 1.2 Biểu đồ khảo sát mức độ lồng ghép kiến thức của các môn khác vào bài học

Câu 4: Đồng chí đã vận dụng quan điểm sư phạm tích hợp trong dạy học

Nói qua ở đầu bài học

Giảng lại kiến thức đó trong bài học

Yêu cầu học sinh đọc lại kiến thức đó từ tiết trước để chuẩn bị cho bài mới

Trang 22

Hình 1.3 Biểu đồ khảo sát mức độ vận dụng quan điểm sư phạm tích hợp trong

dạy học Sinh học

Câu 5: Quan điểm của anh (chị) về việc tích hợp kiến thức của các môn học

khác vào môn học của mình như thế nào?

Đa số các GV đều đồng ý rằng việc lồng ghép các kiến thức của các môn học khác vào môn học của mình (Sinh học) là cần thiết

Câu 6: Theo đồng chí thì cần phải làm thế nào để học sinh hứng thú với việc

- Tăng cường sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học

- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phù hợp với thực

tế của địa phương

Các kết quả thu được thông qua quá trình điều tra thực tiễn đã giúp chúng tôi đưa ra được một số kết luận như sau :

- Các phương pháp được sử dụng thường xuyên hiện tại chủ yếu vẫn là các phương pháp dạy học truyền thống, ít giúp phát huy được tính tích cực trong học tập của HS

- Việc sử dụng kiến thức liên môn học vào trong dạy học Sinh học nói chung

và chủ đề Vi sinh vật nói riêng chưa được các giáo viên thực sự chú trọng

Nguyên nhân của thực trạng trên là do: Do ảnh hưởng của lối dạy truyền thống, nên không thể trong thời gian ngắn mà có thể thay đổi được cách suy nghĩ

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Trang 23

cũng như phương pháp của GV Trong mỗi tiết dạy, GV chỉ tập trung vào truyền tải hết kiến thức SGK mà không dạy HS hiểu rõ bản chất của kiến thức, dẫn đến tình trạng HS chỉ hiểu được bề nổi của kiến thức mà không hiểu sâu xa được vấn đề cần hướng tới, không khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy tính tích cực chủ động của người học GV ít sử dụng tích hợp kiến thức liên môn trong quá trình dạy học vì công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức khi phải liên

hệ kiến thức của một bài với những bài khác, đồng thời sử dụng kiến thức của các môn học khác Số lượng GV sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Sinh học còn hạn chế cũng một phần do đa số giáo viên cho rằng việc dạy học theo quan điểm này chỉ phù hợp với các HS có mức độ nhận thức tốt như ở trường chuyên và lớp chọn, còn các HS khác năng lực nhận thức còn thấp, không đồng đều, nên khó

áp dụng được

- Tuy nhiên thông qua cuộc điều tra chúng tôi cũng nhận thấy các GV rất có

ý thức trong việc nghiên cứu đổi mới phương pháp, vận dụng quan điểm tích hợp liên môn vào dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục cũng như có những nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và hiệu quả của việc sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học nói chung

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương I, đề tài đã làm được một số việc như sau: Hệ thống hóa được

cơ sở lý luận của việc tích hợp liên môn trong dạy học Chúng tôi cũng đã tìm hiểu được về thực trạng sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học của giáo viên cũng như đưa ra được các nguyên nhân cho thực trạng trên Từ đó khẳng định việc tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học là tất yếu và cần thiết

Trang 24

CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ

VI SINH VẬT - SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Phân tích chương trình Sinh học 10 trung học phổ thông

2.1.1 Mục tiêu chương trình Sinh học 10

2.1.1.1 Về kiến thức

- HS có những hiểu biết phổ thông, cơ bản, hiện đại, thực tiễn về các cấp độ

tổ chức của sự sống: từ cấp phân tử, tế bào, cơ thể đến quần thể, quần xã, hệ sinh thái và sinh quyển

- HS có được một số kiến thức cơ bản về các quá trình sinh học ở các cấp tổ chức sống như chuyển hoá vật chất và năng lượng, sinh trưởng và phát triển, cảm ứng và vận động, sinh sản và di truyền (hiểu bản chất của hiện tượng, giải thích cơ chế của quá trình, nêu ảnh hưởng của môi trường, biết nguyên tắc ứng dụng vào thực tiễn)

- HS hình dung được sự phát triển liên tục của vật chất trên Trái Đất từ vô

cơ đến hữu cơ, từ sinh vật có cấu tạo đơn giản đến sinh vật có cấu tạo phức tạp, cho đến con người

2.1.1.2 Về kĩ năng

- Kĩ năng thực hành: tiếp tục phát triển kĩ năng quan sát, thí nghiệm, HS làm được các tiêu bản hiển vi, tiến hành quan sát dưới kính lúp, kính hiển vi quang học, biết bố trí một số thí nghiệm đơn giản để tìm hiểu nguyên nhân của một số hiện tượng, quá trình diễn ra trong cơ thể sống

- Kĩ năng tư duy: tiếp tục rèn luyện kĩ năng tư duy thực nghiệm – quy nạp, chú trọng phát triển tư duy lí luận (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa… đặc biệt là kĩ năng nhận biết, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống)

- Kĩ năng học tập: Tiếp tục phát triển kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ năng tự học, biết thu thập xử lí thông tin, lập bảng biểu sơ đồ, đồ thị; làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm; làm các báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, trước lớp

2.1.1.3 Về thái độ

Trang 25

- Củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận thức bản chất và tính quy luật của các hiện tượng sinh học

- Có ý thức vận dụng các tri thức, các kĩ năng học được vào cuộc sống, lao động và học tập

- Xây dựng ý thức tự giác và thói quen bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống, có thái độ và hành vi đúng đắn với chính sách của Đảng và Nhà nước về dân

số, sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS, vấn đề ma tuý và các tệ nạn xã hội

2.1.2 Cấu trúc của chương trình Sinh học 10

Nội dung chương trình Sinh học 10 THPT chia làm 3 phần:

- Phần I: Giới thiệu chung về thế giới sống: Gồm 2 bài đầu của sách giáo

khoa Giới thiệu các cấp tổ chức sống (tế bào → cơ thể → quần thể → quần xã →

hệ sinh thái → sinh quyển) và giới thiệu về 5 giới sinh vật (Giới Khởi sinh, Giới Nguyên sinh, Giới Nấm, Giới Thực vật và Giới Động vật)

- Phần II: Sinh học tế bào, gồm 4 chương:

+ Chương I: Thành phần hóa học của tế bào gồm 4 bài tiếp theo: Nghiên

cứu về thành phần, vai trò các chất vô cơ và hữu cơ đối với tế bào

+ Chương II: Cấu trúc của tế bào gồm 6 bài tiếp: Nghiên cứu về cấu trúc tế

bào nhân sơ, nhân thực; cấu trúc và chức năng của các bộ phận, các bào quan của tế bào; sự vận chuyển các chất qua màng sinh chất Cuối cùng là bài thực hành: Quan sát tế bào dưới kính hiển vi

+ Chương III: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào gồm 5 bài kế

tiếp: Nghiên cứu về chuyển hoá năng lượng; chuyển hoá vật chất – vai trò của enzim; các quá trình hô hấp và quang hợp Cuối cùng là bài thực hành: Một số thí nghiệm về enzim

+ Chương IV: Phân bào gồm 4 bài tiếp: Nghiên cứu về chu kì tế bào và các

hình thức phân bào ở tế bào nhân thực Cuối cùng là bài thực hành: Quan sát các kì phân bào qua tiêu bản, tranh ảnh hoặc đoạn phim

- Phần III: Sinh học vi sinh vật, gồm 3 chương:

+ Chương I: Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở vi sinh vật gồm 3 bài:

Nghiên cứu về khái niệm vi sinh vật, các hình thức dinh dưỡng của vi sinh vật Cuối cùng là bài thực hành: Ứng dụng lên men

Trang 26

+ Chương II: Sinh trưởng và sinh sản ở vi sinh vật gồm 4 bài tiếp theo:

Nghiên cứu về sự sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật; các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật Cuối cùng là bài thực hành: Quan sát một số vi sinh vật

+ Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm gồm 4 bài tiếp: Nghiên cứu về sự nhân lên của virut; Lợi ích và tác hại của virut; Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch

Như vậy, có thể nói, nội dung chương trình Sinh học 10 được cấu trúc hợp lí, phù hợp với lôgic tư duy của HS:

+ Phần 1 giới thiệu về các cấp độ của thế giới sống, từ đơn giản đến phức tạp Qua đó, khái quát hoá cho học sinh về sinh giới, tạo cho học sinh một nền tảng cơ bản để sẵn sàng thu thập và sắp xếp những kiến thức mới lên đó

+ Sau khi phác họa về cấu trúc của sinh giới, từ phần 2 trở đi, chương trình

đi theo một trật tự logic theo từng cấp tổ chức từ đơn giản đến phức tạp Cụ thể:

◦ Phần 2 nói về cấp độ phân tử - tế bào

◦ Phần 3 nói về cấp độ cơ thể đơn bào

◦ Các cấp độ cao hơn như cơ thể đa bào, quần thể, quần xã… sẽ tiếp tục học theo logic này ở lớp 11 và 12

2.1.3 Cấu trúc, nội dung từng bài trong phần Sinh học vi sinh vật lớp 10 THPT

Hầu hết các bài trong phần Sinh học vi sinh vật lớp 10 THPT đều được trình bày cả kênh chữ và kênh hình

* Kênh chữ bao gồm các nội dung:

- Tên bài học

- Nội dung bài học được trình bày theo các đề mục

- Đầu, giữa hoặc cuối mỗi mục thường có các lệnh, là các hoạt động cho học sinh làm việc được kí hiệu bởi 

- Phần tóm tắt những nội dung chính của bài học là những kiến thức học sinh phải ghi nhớ, lĩnh hội được trình bày trong khung chữ in nghiêng

- Phần củng cố và vận dụng kiến thức toàn bài được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài tập ở cuối bài có phân hóa trình độ học sinh

- Hầu hết các bài đều có phần kiến thức bổ sung ngắn gọn, súc tích qua mục

"Em có biết" giúp học sinh mở rộng kiến thức

Trang 27

2.1.4 Đánh giá về cấu trúc, nội dung phần Sinh học vi sinh vật bậc THPT

- Bố cục phần Sinh học vi sinh vật Trung học phổ thông so với các phần khác trong toàn cấp học cũng như bố cục các phần, chương, các bài về mặt tổng thể là tương đối hợp lí Phần Sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học phổ thông được xây dựng theo mạch nội dung như sau:

Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

↓ Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

↓ Virut và bệnh truyền nhiễm

Mạch nội dung trên hoàn toàn hợp lí Học sinh trước tiên phải tìm hiểu về các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong cơ thể để thấy rõ được sự vận động ở cấp độ phân tử, cũng như đảm bảo sự tồn tại của vi sinh vật Đặc biệt, học sinh hiểu rõ được mối quan hệ giưa chuyển hóa vật chất và năng lượng, mối quan hệ

về sự đồng hóa và dị hóa trong cơ thể vi sinh vật Nắm rõ được chuyển hóa vật chất

và năng lượng, học sính sẽ được biết quá trình ở cấp độ lớn hơn đó là cấp độ cơ thể

và đó là quá trình sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật Sự sinh trưởng và sinh sản gắn liền với quá trình xâm nhập vào vật chủ đối với các loại virut, đây cũng là quá trình gây bệnh truyền nhiễm đối với các cơ thể khác

Phần lớn các bài có cấu trúc gồm cả kênh hình và kênh chữ, phần củng cố cũng như hệ thống hoạt động (các lệnh) đã tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

2.2 Các nguyên tắc của sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học

- Tích hợp không được làm thay đổi đặc trưng của môn học Kiến thức được tích hợp phải có mối quan hệ logic chặt chẽ với Sinh học Điều đó có nghĩa là, người

Trang 28

dạy không được thay đổi tính đặc trưng của Sinh học, tránh việc biến bài dạy Sinh học thành bài giảng các môn khoa học khác, các kiến thức được tích hợp liên môn đưa vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phải có mối quan hệ logic chặt chẽ trong bài học

- Khai thác nội dung cần tích hợp liên môn một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng Theo nguyên tắc này, các kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải

có hệ thống, được sắp xếp hợp lý làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của học sinh không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính

- Phát huy cao độ các hoạt động nhận thức tích cực của học sinh Kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải đảm bảo tính vừa sức, có giá trị giúp người học hiểu bài hơn, và tạo được hứng thú cho người học, đảm bảo nguyên tắc vừa sức, trình bày đơn giản, ví dụ thực tế

2.3 Quy trình tổ chức dạy học tích hợp liên môn

2.3.1 Quy trình chung: gồm 5 bước

- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học

- Bước 2: Phân tích nội dung thành các yếu tố thành phần

- Bước 3: Xác định mối quan hệ giữa nội dung kiến thức nghiên cứu

Trang 29

tư duy phù hợp với nội dung bài học (phân tích, tổng hợp, xác lập quan hệ giữa các

sự kiện, nêu giả thuyết chứng minh )

Khi xác định mục tiêu bài học, giáo viên phải căn cứ vào những kiến thức đã

có của học sinh và trình độ năng lực của từng nhóm học sinh khác nhau (giỏi, khá, trung bình, kém) Làm như vậy, mỗi học sinh đều được tham gia vào quá trình dạy học một cách phù hợp nhất với khả năng trí tuệ của mình

Bước 2: Phân tích nội dung thành các yếu tố thành phần nghĩa là xác định rõ các nội dung trong một giới hạn kiến thức đang nghiên cứu Đó có thể là nội dung một mục, một phần trong bài hay cả một bài

Bước 3: Xác định mối quan hệ giữa nội dung kiến thức nghiên cứu với kiến thức môn học khác nghĩa là phân tích cơ sở của kiến thức dựa trên các kiến thức đã

có của người học với các môn khoa học khác

GV hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa, quan sát tranh ảnh, phân tích tài liệu tham khảo và các bảng biểu cho sẵn, làm thí nghiệm mô phỏng, đưa ra các câu hỏi định hướng giúp học sinh phân tích, xác định được tiêu chí

từ đó rút ra kiến thức trọng tâm, cơ bản và khắc sâu được kiến thức nghiên cứu

Bước 4: Xác định hình thức diễn đạt phù hợp nghĩa là chọn dạng diễn đạt là sơ

đồ, câu hỏi tham vấn chứa mâu thuẫn, quan sát hiện tượng chứa vấn đề cần nghiên cứu Dựa vào nội dung đã xác định ở bước 2, từ đó đưa ra cách diễn đạt hợp lý nhằm kích thích khả năng tư duy của học sinh, giúp các em chủ động tìm tòi giải quyết vấn đề

Bước 5: Sắp xếp, trình bày nội dung kiến thức xác định ở bước 1, sử dụng các kiến thức bộ môn, liên môn đã tìm hiểu ở bước 2, sử dụng ngôn ngữ diễn đạt đã thực hiện ở bước 3 để học sinh tìm tòi phát hiện kiến thức Từ đó học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, tự nhiên, sáng tạo

2.4 Các nội dung kiến thức sử dụng để tích hợp liên môn

Dạy học Sinh học theo hướng tích hợp liên môn là sự kết hợp các kiến thức của môn Sinh và các kiến thức khác có liên quan hình thành nên một nội dung thống nhất Từ cấu trúc như vậy, cần phải căn cứ vào nội dung bài học để lựa chọn các kiến thức tích hợp phù hợp, có liên quan và có hiệu quả cao trong việc truyền đạt kiến thức

Trang 30

đến HS Người dạy có thể tích hợp các kiến thức Toán, Lý, Hóa,… vào nội dung dạy học Sinh học

2.4.1 Các kiến thức Toán có thể sử dụng để tích hợp

Trong dạy học nội dung sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật, các kiến thức Toán sẽ được vận dụng để làm sáng tỏ khả năng sinh trưởng, sinh sản của vi sinh vật qua các con số, bài toán cụ thể

Đặc điểm về sinh trưởng của vi sinh vật:

Sinh trưởng và sinh sản là thuộc tính của mọi sinh vật Thông thường khi nói đến sinh trưởng là nói đến sự tăng kích thước của cá thể, còn nói đến sinh sản là nói đến sự tăng số lượng cá thể Tuy nhiên, trong vi sinh vật học, khi nói đến sinh trưởng là người ta ám chỉ đến sự tăng số lượng tế bào, chứ không phải tăng kích thước tế bào Khi nói rằng vi sinh vật sinh trưởng có nghĩa là chúng đang tăng số lượng tế bào để tạo ra một khuẩn lạc trong môi trường đặc, có thể nhìn thấy bằng mắt thường, bao gồm một lượng lớn các tế bào, hoặc đang tăng trưởng số lượng trong môi trường lỏng và sinh khối trong đó có thể cân, đo được Nghiên cứu sự sinh trưởng của vi sinh vật có nghĩa là nghiên cứu sự sinh trưởng của cả một tập hợp tế bào cùng nguồn gốc, chứ không phải là nghiên cứu sinh trưởng của từng tế bào riêng lẻ, như nghiên cứu cá thể động vật, thực vật [19]

Vi sinh vật sinh sản bằng cách phân đôi thành hai tế bào, rồi từ hai thành bốn, từ bốn thành tám Kiểu sinh trưởng này gọi là sinh trưởng theo cấp số nhân hay theo hàm số mũ, và có thể biểu hiện theo sơ đồ sau:

Số lượng tế bào sinh ra: 1  2  4  8  16  32  64 

Biểu hiện theo cấp số mũ: 20  21  22  23  24  25  26  2n(trong đó n là số thế hệ hay số lần phân chia)

Nếu trong một đơn vị thể tích lúc đầu có N0 tế bào thì sau n lần phân chia số

tế bào sẽ là: NN0.2n  logN logN0n.log 2

Trang 31

Ví dụ 1: Khi dạy nội dung sinh trưởng của vi sinh vật, để chứng minh cho khả

năng sinh trưởng mạnh của vi sinh vật, giáo viên có thể sử dụng bài toán sau:

Một vi khuẩn hình cầu có khối lượng khoảng 5.10-13 g, cứ 20 phút nhân đôi 1 lần Giả sử nó được nuôi trong các điều kiện sinh trưởng hoàn toàn tối ưu Hãy tính xem khoảng thời gian là bao lâu khối lượng do tế bào vi khuẩn này sinh ra sẽ đạt tới khối lượng của trái đất là 6 1027 gram (lấy log2 = 0,3)

10 6

Ví dụ 2: Khi dạy về sự sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong môi trường

nuôi cấy không liên tục Để hiểu rõ hơn sự sinh trưởng của quần thể vi khuẩn, giáo viên có thể sử dụng bài toán như sau:

Người ta cấy trực khuẩn Gram âm phân giải prôtêin mạnh Proteus vulgaris trên các môi trường dịch thể có thành phần như sau:

NH4Cl-1; K2HPO4-1; MgSO4.7H2O- 0,2; CaCl2- 0,01; H2O- 1 lít; các nguyên tố vi lượng Mn, Mo, Cu, Co, Zn, mỗi loại 2.10-6 – 2.10-5; Glucoz-5; Axit nicotinic-10-4;

Vào thời điểm nuôi cấy môi trường chứa No = 102 vi khuẩn/ml, pha cân bằng đạt được sau 6 giờ và vào lúc ấy môi trường chứa N = 106 vi khuẩn/ml Trong điều kiện nuôi cấy này độ dài thế hệ của vi khuẩn là 25 phút Hỏi Proteus vulgaris có phải trải qua pha lag không? Nếu có thì kéo dài bao lâu?

Trang 32

Lời giải:

Có phải trải qua pha tiềm phát (pha lag), được xác định :

n = (lg106 – lg102)/lg2 = 13,3

- Thời gian pha luỹ thừa là: 13,3 x 25 = 332,5 phút

=> thời gian của pha lag là: 360 – 332,5 = 27,5 phút

Ví dụ 3: Để giải thích khả năng trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản mạnh của

vi sinh vật GV sử dụng bài toán sau:

Giả sử, đường kính của 1 trứng cóc là 30µm và của 1cầu khuẩn là 2µm Tính diện tích bề mặt, thể tích của trứng cóc và cầu khuẩn So sánh tỉ lệ diện tích và thể tích (S/V) của trứng cóc và cầu khuẩn, từ đó rút ra kết luận

- Tỉ lệ S/V của cầu khuẩn là: 12,56 / 4,1867 ≈ 2,9999

=> Tỉ lệ S/V của cầu khuẩn so với trứng cóc là: 2,9999/0,2 ≈ 15l lần

Kết luận: Tỉ lệ S/V của cầu khuẩn lớn => Tốc độ trao đổi chất mạnh, sinh trưởng - Phát triển và sinh sản nhanh => Phân bố rộng

2.4.2 Các kiến thức Vật lí có thể sử dụng để tích hợp

Nội dung Vi sinh vật giới thiệu về các đặc trưng sống của cơ thể nhỏ bé mà mắt thường chúng ta không nhìn thấy được, đó là chuyển hóa vật chất và năng lượng, cảm ứng, sinh trưởng, phát triển, sinh sản Các đặc trưng này đều bao gồm các quá trình sinh lý trong của cơ thể vi sinh vật vì các vận động sinh học này có bản chất là

Trang 33

các quy luật vật lý của vật chất Như vậy, việc tích hợp các kiến thức Vật lý vào Sinh học sẽ làm sáng tỏ các kiến thức Sinh học, nâng cao hiệu quả dạy học phần sinh học

Vi sinh vật

* Tính thấm của tế bào

Là một hệ thống hở, tế bào luôn diễn ra quá trình trao đổi chất với môi trường ngoài Quá trình này chỉ có thể xảy ra nhờ khả năng của tế bào cho thấm hoặc giải phóng khí, nước, các chất hòa tan trong nước Khả năng đó của từng loại tế bào, mô thể hiện rất khác nhau và bị chi phối không chỉ bởi chức năng đặc trưng của chúng mà còn phụ thuộc vào trạng thái hoạt động của chúng Tính chất đặc biệt này của tế bào gọi là tính thấm của tế bào Tính thấm có vai trò quan trọng đối với quá trình trao đổi chất, phân bố các chất giữa tế bào và môi trường cũng như đối với bệnh lý và dược lý tế bào

Quá trình xâm nhập của các chất vào tế bào là một quá trình rất phức tạp Hiện nay, người ta thường phân biệt ba cách xâm nhập của vật chất vào tế bào Vận chuyển vật chất vào tế bào theo tổng gradient không hao tốn năng lượng gọi là vận chuyển, thụ động Vận chuyển vật chất vào tế bào ngược tổng gradient cần hao tốn năng lượng gọi là vận chuyển tích cực Ngoài ra ở một số tế bào, trong những giai đoạn hoạt động nhất định, do chức năng tích cực của màng tế bào, một số chất hòa tan trong nước, các loại protein và ngay cả các hạt bao gồm số phân tử khá lớn cũng có thể xâm nhập vào tế bào, quá trình thâm nhập này gọi là thực bào và ẩm bào

Một trong những cơ chế cơ bản của sự thâm nhập các chất vào tế bào là hiện tượng khuếch tán

Tốc độ khuếch tán được tính bằng biểu thức Fich: dm/dt = - DS(dC/dx)

Trong đó:

dm/dt: tốc độ khuếch tán (gam/giây) dC/dx: gradient nồng độ (gam/cm2) S : tiết diện ngang (cm2)

D : hệ số khuếch tán (cm2/giây)

Hệ số D là đặc trưng cho bản chất của chất khuếch tán

Tốc độ khuếch tán không những phụ thuộc vào bản chất của từng chất khuếch tán mà còn phụ thuộc vào chiều dày của màng Đối với các đối tượng

Trang 34

khác nhau, chiều dày của màng cũng khác nhau Việc xác định chiều dày của màng rất khó khăn nên phương trình Fich được thay thế bằng phương trình:

Màng tế bào có một đặc tính quan trọng là cho vật chất thấm qua có chọn lọc Đối với nhiều chất, màng tế bào chỉ cho thấm qua một chiều (bán thấm) Nhờ tính chất này mà giữa tế bào và môi trường tồn tại gradient nồng độ, đáp ứng nhu cầu sống của tế bào Chiều thấm của vật chất được quyết định bởi tính chất lí hóa của màng tế bào Tính thấm một chiều của màng tế bào không phải là bất biến mà có thể thay đổi Khi thay đổi tính chất lí hóa của môi trường có thể làm tăng hoặc giảm tính thấm của tế bào và mô đối với một vật chất nào đó, thậm chí thay đổi cả chiều thấm Khả năng thấm một chiều của tế bào chỉ tồn tại khi tế bào đang còn sống Khi tế bào

bị chết thì tính thấm chọn lọc của tế bào sẽ biến mất

* Thẩm thấu và áp suất thẩm thấu

Thẩm thấu là sự chuyển dịch của dung môi từ dung dịch có nồng độ thấp sang dung dịch có nồng độ cao hơn qua màng Quá trình thẩm thấu giữa hai dung dịch sẽ tiếp tục cho đến khi nồng độ của hai dung dịch bằng nhau Quá trình thẩm thấu là một đặc trưng rất quan trọng của các quá trình sinh học

Áp suất thẩm thấu là lực đẩy của các phân tử dung môi từ dung dịch có nồng

độ thấp đến dung dịch có nồng độ cao qua màng

Áp suất thẩm thấu của các dung dịch: Khi hai phần A và B của một bình được ngăn cách nhau bởi một màng bán thấm C (màng chỉ cho dung môi đi qua mà không cho các chất tan đi qua) Hai bên đều chứa cùng một dung dịch nhưng nồng độ khác nhau (CA>CB) Dung môi sẽ chuyển dời từ B sang A, tức là từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao hơn Kết quả làm cho mực nước của bên A cao hơn bên B

Trang 35

Cột nước dâng lên ấy tạo một áp suất thẩm thấu lên màng ngăn, đẩy dung môi trở lại bên B Tuy vậy trong thời gian đầu, dòng dung môi từ B sang A vẫn lớn hơn từ A sang B Dòng ấy chỉ cân bằng khi bên ngăn A tạo được một áp suất thẩm thấu Po nào

đó do mực nước dâng cao gây nên Po được gọi là áp suất thẩm thấu của dung dịch ngăn A

Ở nhiệt độ không đổi, áp suất thẩm thấu của dung dịch luôn tỉ lệ với nồng độ của chúng và được tính bằng biểu thức:

P = CRT

Trong đó: P: là áp suất thẩm thấu thường tính theo đơn vị atmôtphe-atm

R: là hằng số = 0,082

T: là nhiệt độ tuyệt đối = 273 + toC,

C là nồng độ dung dịch tính theo nồng độ phân tử (gam/lít)

Áp suất thẩm thấu phụ thuộc vào nồng độ các tiểu phần hòa tan (số lượng các phân tử hay ion) Vì vậy, hai dung dịch có cùng nồng độ nhưng dung dịch điện phân bao giờ cũng có áp suất thẩm thấu lớn hơn dung dịch không điện phân Biểu thức tổng quát sẽ là:

- Nếu hai hệ keo có cùng nồng độ, nhưng khác nhau về kích thước hạt

do quá trình keo tụ thì ở cùng một điều kiện nồng độ, áp suất thẩm thấu của chúng sẽ tỷ lệ nghịch với lũy thừa bậc 3 của bán kính phân tử, cho nên thay đổi kích thước của hạt không đáng kể cũng dẫn tới sự thay đổi của áp suất thẩm thấu

Đối với dung dịch thực hoặc dung dịch có nồng độ cao, thì giá trị của áp suất thẩm thấu được tính bằng:

P = CRT (1/M + BC)

Trang 36

M: trọng lượng phân tử (phân tử khối)

B: hằng số đặc trưng cho sự tương tác giữa các hạt với nhau

Áp suất thẩm thấu có thể được xác định bằng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng sử dụng phương pháp gián tiếp dễ dàng hơn Phương pháp này dựa trên nguyên tắc sự phụ thuộc giữa nồng độ của dung dịch với áp suất bão hòa trên bề mặt dung dịch

* Quang phổ của ánh sáng

Hình 2.1: Quang phổ của ánh sáng mặt trời

Ánh sáng mặt trời gồm nhiều tia sáng có bước sóng khác nhau Mức năng lượng trong lượng tử ánh sáng tùy thuộc vào độ dài bước sóng của tia sáng Các tia sáng khác nhau ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng, phát triển của sinh vật nói chung và vi sinh vật nói riêng

Ví dụ 4: Khi dạy nội dung ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng của vi

sinh vật giáo viên có thể sử dụng câu hỏi sau:

Vì sao có thể giữ thức ăn tương đối lâu trong tủ lạnh?

Lời giải: Ở ngăn giữ thực phẩm trong tủ lạnh thường có nhiệt độ 40C  10C

Ở nhiệt độ này các vi sinh vật bị ức chế nên nên thức ăn có thể giữ được tương đối lâu

Ví dụ 5: Khi dạy nội dung ảnh hưởng của pH đến sinh trưởng của vi sinh vật

giáo viên có thể sử dụng câu hỏi sau:

Trang 37

Vì sao, trong sữa chua hầu như không có vi sinh vật gây bệnh?

Lời giải: Trong sữa chua, vi khuẩn lăctic đã tạo ra môi trường axit (pH thấp)

ức chế hầu hết mọi vi khuẩn kí sinh gây bệnh vì những vi khuẩn này thường sống trong điều kiện pH trung tính

Ví dụ 6: Khi dạy nội dung ảnh hưởng của áp suất thẩm thấu đến sinh trưởng

của vi sinh vật giáo viên có thể sử dụng câu hỏi sau:

Vì sao sau khi rửa rau sống nên ngâm trong nước muối pha loãng 5-10 phút?

Lời giải:

Khi ngâm trong nước muối pha loãng, nồng độ chất tan trong nước cao hơn nồng độ chất tan trong tế bào (vi sinh vật) làm cho nước trong tế bào sẽ bị rút ra bên ngoài gây co nguyên sinh làm cho vi sinh vật không phân chia được Tuy nhiên, không được ngâm nước muối quá mặn hoặc ngâm quá lâu sẽ dẫn đến hỏng rau sống

2.4.3 Các kiến thức Hoá học có thể sử dụng để tích hợp

Trong chương trình Sinh học THPT, có nhiều kiến thức Sinh học cần được làm sáng tỏ bằng kiến thức hóa học Qua đó, người học không chỉ lí giải được bản chất của các nguyên lý và quá trình sinh học mà còn có thể vận dụng các nguyên lý

đó vào thực tiễn đời sống Ngoài ra trong một chừng mực nào đó việc tích hợp kiến thức hóa học còn giúp người học củng cố được kiến thức hóa có liên quan

Ví dụ 7: Khi dạy nội dung ảnh hưởng của chất hóa học đến sinh trưởng của

vi sinh vật giáo viên có thể sử dụng câu hỏi sau:

Vì sao sau khi rửa rau sống nên ngâm trong thuốc tím pha loãng 5-10 phút?

Lời giải:

Ngâm rau sống trong nước pha thuốc tím loãng có tác dụng diệt khuẩn vì thuốc tím có tác dụng oxi hoá rất mạnh

Ví dụ 8: Giáo viên sử dụng câu hỏi:

Vì sao lại cho thêm Clo vào nước máy?

Lời giải:

Clo là một chất oxy hóa mạnh, ở bất cứ dạng nào, nguyên chất hay hợp chất, khi clo tác dụng với nước cho các phân tử axit hypocloro (HClO), một hợp chất có năng lực khử trùng rất mạnh:

Cl2 + H2O  HClO + HCl

Trang 38

Ở dạng phân ly ta có :

Cl2 + H2O  2H+ + ClO- + Cl-

Cơ chế diệt khuẩn của Clo trải qua 2 giai đoạn Đầu tiên chất khử trùng khuếch tán xuyên qua lớp vỏ tế bào vi khuẩn, sau đó phản ứng với lớp men bên trong tế bào và phá hoại quá trình trao đổi chất dẫn đến sự phá hủy tế bào và do đó

vi khuẩn sẽ bị chết

Lượng Clo thêm vào phải theo một quy định an toàn, vừa đảm bảo tiệt trùng vừa không làm giảm mùi vị của nước, tuy nhiên trong một vài trường hợp lượng Clo dư có thể kết hợp với các hợp chất hữu cơ khác tạo nên chlorinated hydrocarbons, là các hợp chất ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Ví dụ 9: Giáo viên sử dụng câu hỏi:

Hãy kể tên những chất diệt khuẩn thường dùng trong bệnh viện, trường học

và gia đình Xà phòng có phải là chất diệt khuẩn không?

2.4.4 Các kiến thức các môn khoa học xã hội thể sử dụng để tích hợp

Trong bối cảnh hiện nay ngành giáo dục đang hướng tới việc đào tạo ra những con người toàn diện, hiểu biết về nhiều mặt do đó việc khai thác mối liên hệ giữa các bộ môn càng cần phải được phát huy Cần nhắc lại rằng sinh học không chỉ liên quan mật thiết với các bộ môn thuộc khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa

mà còn gắn bó với các bộ môn thuộc khoa học xã hội như Văn, Giáo dục công dân Vấn đề đặt ra là chúng ta cần khai thác mối liên hệ đó như thế nào, đảm bảo tính tích hợp trong quá trình dạy học ra làm sao để nâng cao hiệu quả của từng tiết dạy Qua thực tế giảng dạy ở đơn vị tôi thấy, nếu giáo viên biết kết hợp giữa kiến thức bộ môn với những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ thì bài học sẽ hay hơn, sinh động hơn rất nhiều Lý do giải thích cho vấn đề này đó là những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ ngoài việc ôn lại cho học sinh kiến thức văn học còn giúp học sinh giải thích những kinh nghiệm mà cha ông ta đã đúc kết qua nhiều thế hệ trên cơ sở

Trang 39

khoa học Hơn thế nữa đó lại là những vấn đề hết sức gần gũi với cuộc sống thường ngày của học sinh nên dễ tạo được cảm xúc, hứng thú để học tập

Ví dụ 10:

Giáo viên đặt câu hỏi: “Ăn chín uống sôi” có tác dụng gì?

Học sinh dễ dàng trả lời được rằng nó giúp hạn chế được tác hại của vi khuẩn, vi rút, trứng giun sán xâm nhập và cơ thể và đây cũng là một trong những biện pháp vệ sinh hệ tiêu hóa

Ví dụ 11: Khi dạy nội dung ảnh hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh trưởng

của vi sinh vật, giáo viên có thể sử dụng câu hỏi sau:

Em hãy giải thích ý nghĩa của câu ca dao:

"Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư"

Lời giải: Sát muối lên cá giúp tạo ra môi trường ưu trương, kìm hãm sự sinh

trưởng của các vi sinh vật giúp cá không bị ươn, giữ được tươi trong một thời gian nhất định

2.4.5 Các kiến thức về hướng nghiệp, giáo dục sức khoẻ, phòng chống các

tệ nạn xã hội, giáo dục bảo vệ môi trường có thể sử dụng để tích hợp

* Giáo dục hướng nghiệp: Khi dạy các nội dung của chủ đề Vi sinh vật

giáo viên cung cấp thêm những tri thức cần thiết làm cơ sở cho việc định hướng nghề nghiệp, bao gồm những tri thức về đường lối cách mạng chung và đường lối kinh tế của Đảng, về vấn đề tổ chức lại sản xuất và phân công lao động xã hội về tiềm năng và phương hướng khai thác các tiềm năng của đất nước, của địa phương;

về mục tiêu phương hướng kinh tế xã hội và địa phương Cung cấp những tri thức cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp tương lai Gây hứng thú nghề nghiệp, phát hiện hứng thú để tiếp tục bồi dưỡng về nghề nghiệp cho học sinh nhất là những em có năng khiếu tương ứng với hứng thú

Ví dụ 12: Khi dạy nội dung Hô hấp và lên men, ngoài kiến thức ở SGK thì

GV cần cung cấp cho HS một số kiến thức sau để tích hợp giáo dục hướng nghiệp:

Trang 40

- Nếu muốn theo ngành sản xuất rượu, bia, các loại nước giải khát, lên men làm nở bột mì, sản xuất glyxerin, ủ men thức ăn gia súc,…thì cần tìm hiểu các chủng giống VSV, cơ chế và điều kiện môi trường lên men etilic

- Nếu muốn theo ngành sản xuất axit lactic, chế biến sữa chua, ủ thức ăn cho gia súc thì cần tìm hiểu các chủng giống VSV, cơ chế và điều kiện môi trường lên men lactic

- Nếu muốn bảo quản hoa quả, thực phẩm và các quá trình muối dưa, ủ chua thức ăn trong chăn nuôi, ngành công nghiệp sản xuất các loại hoá chất như axeton, butanol, axit butyric…thì cần tìm hiểu các chủng giống VSV, cơ chế và điều kiện lên men butyric Hoặc muốn chế tạo phomat thì cần tìm hiểu cơ chế lên men propionic,

Ví dụ 13: Khi dạy nội dung Quá trình phân giải ở VSV, GV cần cung cấp

thêm cho HS các kiến thức sau để HS có thể giải thích được các hiện tượng tương

tự trong thực tiễn và có hứng thú với các ngành nghề có liên quan đến lĩnh vực này:

- VSV phân giải các loại thức ăn có kích thước lớn khiến chúng khó đi qua được thành và màng tế bào có trong xác động vật và xác thực vật, VSV phải tổng hợp và tiết vào môi trường các enzim tương ứng với chất cần phân giải để thuỷ phân thành các chất đơn giản hơn, có thể được vận chuyển vào tế bào

- Khi làm bánh mì, bánh bao người ta sử dụng nấm men, vì sao bánh lại xốp? (Lúc đầu, có quá trình sử dụng ôxi phân tử ở trong khối bột nên tạo ra những ổ CO2

và sinh khối, vitamin Chính các ổ CO2 được tạo ra trong quá trình phân giải bột mì

sẽ nở ra khi nướng bánh làm cho bánh xốp)

- Các quá trình muối chua rau quả, ủ chua thức ăn gia súc, sản xuất sữa chua,….Tạo lượng sinh khối vi khuẩn có ích, ức chế các vi khuẩn gây thối, gây chua, tạo hương vị thơm ngọt cho sản phẩm, chuyển rau quả về dạng “chín sinh học” do đó mà hiệu suất tiêu hoá cao

- Nhờ en zim prôteeaza của vi sinh vật mà prôtêin của cá, đậu tương được phân giải tạo ra các axit amin, dùng muối chiết chứa các axit amin này ta được các loại nước mắm, chấm => Giới thiệu về các ngành nghề truyền thống, các sản phẩm nổi tiếng của Việt Nam như: tương Bần, nước mắm Phú Quốc

Ngày đăng: 10/07/2022, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo (2003), “Cơ sở lí luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm”, Kỷ yếu 60 năm ngành sư phạm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm”, "Kỷ yếu 60 năm ngành sư phạm Việt Nam
Tác giả: Đinh Quang Báo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
2. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2006), Lí luận dạy học Sinh học phần đại cương. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Sinh học phần đại cương
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp liên môn lĩnh vực: Khoa học tự nhiên dành cho cán bộ quản lý và giáo viên Trung học phổ thông.Hà Nội, năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp liên môn lĩnh vực: Khoa học tự nhiên dành cho cán bộ quản lý và giáo viên Trung học phổ thông
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông môn Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông môn Sinh học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Sinh học lớp 10. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Sinh học lớp 10
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
6. Nguyễn Phúc Chỉnh, Trần Thị Mai Lan (2009), “Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10)”, tạp chí khoa học công nghệ, số 206, trang 44-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10)”
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh, Trần Thị Mai Lan
Năm: 2009
7. Nguyễn Phúc Chỉnh (2013), Lí luận dạy học Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2013
8. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty (2010). Sinh học 10. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty (2010). Sinh học 10 sách giáo viên.Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10 sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
10. Trần Bá Hoành (2003), “Dạy học tích hợp”, Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp”," Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
11. Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao (2000), Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Thanh Hùng (2006), “Tích hợp trong dạy học Ngữ Văn”, Tạp chí khoa học giáo dục - số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Ngữ Văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2006
13. Trần Văn Kiên (2006), Luyện tập trắc nghiệm Sinh học 10. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập trắc nghiệm Sinh học 10
Tác giả: Trần Văn Kiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
14. Lê Đức Ngọc (2005), “Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội - nhân văn và các môn công nghệ”, Kỷ yếu:“Mục tiêu đào tạo và Mô hình đại học sƣ phạm Việt Nam trong giai đoạn mới”, trang 72 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội - nhân văn và các môn công nghệ”," Kỷ yếu: “Mục tiêu đào tạo và Mô hình đại học sƣ phạm Việt Nam trong giai đoạn mới
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Năm: 2005
15. Lê Đức Ngọc (2014), “Phát triển chương trình đáp ứng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục”, Hiệp hội các trường Đại học, cao đẳng ngoài công lập, trung tâm kiểm định, đo lường và đánh giá chất lượng giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển chương trình đáp ứng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục”
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Năm: 2014
16. Trần Khánh Phương (2006), Thiết kế bài giảng Sinh học 10. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Sinh học 10
Tác giả: Trần Khánh Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2006
17. Lê Trọng Sơn (1999), “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 phổ thông THCS”, Nghiên cứu giáo dục số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 phổ thông THCS
Tác giả: Lê Trọng Sơn
Năm: 1999
18. Nguyễn Đăng Trung (2003), “Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm”, Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm”, "Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
19. Phạm Văn Ty (Chủ biên), Nguyễn Vĩnh Hà (2010). Tài liệu chuyên Sinh học trung học phổ thông Vi sinh vật học. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên Sinh học trung học phổ thông Vi sinh vật học
Tác giả: Phạm Văn Ty (Chủ biên), Nguyễn Vĩnh Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
20. Vũ Văn Vụ (Tổng chủ biên), Vũ Đức Lưu (Chủ biên), Nguyễn Như Hiền, Ngô Văn Hƣng, Nguyễn Đình Quyến, Trần Quý Thắng (2008), Sinh học 10 nâng cao. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10 nâng cao
Tác giả: Vũ Văn Vụ (Tổng chủ biên), Vũ Đức Lưu (Chủ biên), Nguyễn Như Hiền, Ngô Văn Hƣng, Nguyễn Đình Quyến, Trần Quý Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Biểu đồ khảo sát mức độ lồng ghép kiến thức của các môn khác vào bài học - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Hình 1.2. Biểu đồ khảo sát mức độ lồng ghép kiến thức của các môn khác vào bài học (Trang 21)
Hình 1.1. Biểu đồ khảo sát về việc GV sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Hình 1.1. Biểu đồ khảo sát về việc GV sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học (Trang 21)
Hình 1.3. Biểu đồ khảo sát mức độ vận dụng quan điểm sư phạm tích hợp trong - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Hình 1.3. Biểu đồ khảo sát mức độ vận dụng quan điểm sư phạm tích hợp trong (Trang 22)
Hình 2.1: Quang phổ của ánh sáng mặt trời - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Hình 2.1 Quang phổ của ánh sáng mặt trời (Trang 36)
Bảng thời gian phân chia, số lần phân chia và tổng số tế bào của quần thể tạo - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Bảng th ời gian phân chia, số lần phân chia và tổng số tế bào của quần thể tạo (Trang 46)
Hình  thức  sinh  sản  của  vi  sinh vật. - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
nh thức sinh sản của vi sinh vật (Trang 51)
Hình  thành  bào  tử  sinh sản, tổng hợp sắc - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
nh thành bào tử sinh sản, tổng hợp sắc (Trang 57)
Hình  ảnh  về  các  loại  virut   - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
nh ảnh về các loại virut  (Trang 60)
Hình  ảnh  của  các  loại  virut - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
nh ảnh của các loại virut (Trang 63)
HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÚC MỘT SỐ LOẠI VIRUT - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÚC MỘT SỐ LOẠI VIRUT (Trang 64)
Hình  trên  bảng  và  hình  30- - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
nh trên bảng và hình 30- (Trang 67)
Bảng 3.1. Các lớp thực nghiệm và đối chứng - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Bảng 3.1. Các lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 77)
Bảng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra lần 1 - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Bảng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra lần 1 (Trang 78)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 (Trang 79)
Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 1 - (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp liên môn trong dạy học chủ đề vi sinh vật   sinh học 10 trung học phổ thông  văn ths  lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (bộ môn sinh học)
Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 1 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w