1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung sinh học động vật, sinh học lớp 11, trung học phổ thông ths giáo dục học 60 14 10

131 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Và Sử Dụng Câu Hỏi Trắc Nghiệm Khách Quan Trong Dạy Học Nội Dung “Sinh Học Động Vật”, Sinh Học Lớp 11, Trung Học Phổ Thông
Tác giả Phan Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Ngô Văn Hưng
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Sư Phạm Sinh Học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ đặc điểm phần sinh học động vật Là một giáo viên đã nhiều năm, trực tiếp tham gia giảng dạy phần sinh học động vật – sinh học 11 ở trường phổ thông, tôi thấy với các nội du

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHAN THANH HUYỀN

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG “SINH HỌC ĐỘNG VẬT”, SINH HỌC LỚP 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHAN THANH HUYỀN

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG “SINH HỌC ĐỘNG VẬT”,

SINH HỌC LỚP 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

Danh mục hình, sơ đồ iv

Mở đầu 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

5 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 5

1.1.1 Tổng quan về câu hỏi trắc nghiệm khách quan 5

1.1.2 Khái niệm về câu hỏi trắc nghiệm khách quan 9

1.1.3 Phân loại các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 10

1.1.4 Vai trò của câu hỏi TNQK 11

1.1.5 Trắc nghiệm được sử dụng như một phương pháp dạy học 15

1.1.6 Đặc điểm về mục tiêu và nội dung chương trình sinh học động vật sinh học 11

18 1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24

1.2.1 Thực trạng dạy học sinh học động vật trong nhà trường THPT hiện nay 24

1.2.2.Nguyên nhân của thực trạng dạy học phần sinh học động vật – sinh học lớp 11 THPT

32

Trang 5

Chương 2: QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI

TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN

SINH HỌC ĐỘNG VẬT

33 2.1 Qui trình thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học phần sinh học động vật

33 2.1.1 Nguyên tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trọng dạy học sinh học

33 2.1.2 Các bước thiết lập câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong các nội dung 36

2.1.3 Xây dựng bản trọng số cần trắc nghiệm trong SGK phần sinh học động vật – sinh học 11

44 2.1.4 Nội dung bộ câu hỏi TNKQ 50

2.2 Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để dạy học phần sinh học 52 2.2.1 Sử dụng câu hỏi dạng MCQ vào dạy học nội dung kiến thức mới 52 2.2.2 Một số ví dụ cụ thể khi dạy phần sinh học động vật 57

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84

3.1 Mục đích thực nghiệm 84

3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 84

3.2.1 Nội dung thực nghiệm 84

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 84

3.3 Xử lý số liệu 86

3.3.1 Phân tích kết quả định tính 86

3.3.2 Phân tích kết quả định lượng 86

Trang 6

3.4 Kết quả thực nghiệm 87

3.4.1 Đánh giá định tính 90

3.4.2 Đánh giá định lƣợng 91

3.4.3 Kết luận chung về TNSP 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 102

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Cấu trúc nội dung chương trình sinh học động vật 19

Bảng1.2 Mục tiêu chương trình sinh học động vật 21

Bảng 1.3 Kết quả điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên 24

Bảng 1.4 Kết quả điều tra tình hình sử dụng SGK trong dạy học phần SHĐV

25 Bảng 1.5 Kết quả khảo sát phương pháp học tập của HS 27

Bảng 1.6 Kết quả điều tra việc sử dụng CH TNKQ trong các khâu của quá trình dạy học

31 Bảng 2.1 Trọng số chung cho phần sinh học động vật 45

Bảng 2.2 Trọng số chi tiết cho các chương mục trong chương trình SHĐV trong học kỳ I

47 Bảng 2.3 Độ khó và độ phân biệt của các câu hỏi trong bài trắc nghiệm

51 Bảng 3.1 Các bài dạy thực nghiệm 85

Bảng 3.2 Tần suất điểm kiểm các bài kiểm tra trong TN 92

Bảng 3.3 Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN 93

Bảng 3.4 Kiểm định X điểm kiểm tra trong TN 94

Bảng 3.5 Phân tích phương sai điểm kiểm tra trong TN 95

Bảng 3.6 Tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN 96

Bảng 3.7 Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra sau TN 97

Trang 8

Bảng 3.8 Kiểm định X điểm kiểm tra sau TN 98 Bảng 3.9 Phân tích phương sai điểm kiểm tra sau TN 99

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

Trang

Hình 3.1 Khoảng biến thiên nhƣ nhau nhƣng sự biến thiên khác nhau 90

Hình 3.2 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN 92

Hình 3.3 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN 93

Hình 3.4 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN 96

Hình 3.5 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra sau TN 97

Sơ đồ 2.1 Logic bên trong của quá trình sƣ phạm sử dụng MCQ trong dạy nội dung kiến thức mới trong SGK

57

Trang 10

đó có thể giúp HS phát triển tư duy trong nghiên cứu kiến thức mới

Hơn nữa, giáo viên hiện nay còn hạn chế trong việc tìm tòi những câu hỏi trắc nghiệm khách quan để sử dụng phù hợp cho từng bài học cụ thể của mình Việc sử dụng một cách máy móc cách câu hỏi trắc nghiệm khách quan vào bài giảng của giáo viên vẫn chưa đem lại những lợi ích cụ thể, thậm chí còn làm bài giảng của giáo viên kém hiệu quả, và học sinh khó tiếp thu kiến thức

1.2 Xuất phát từ đặc điểm phần sinh học động vật

Là một giáo viên đã nhiều năm, trực tiếp tham gia giảng dạy phần sinh học động vật – sinh học 11 ở trường phổ thông, tôi thấy với các nội dung trong phần sinh học động vật – sinh học 11 sách giáo khoa đã đề cập tới hệ thống các câu hỏi tự luận giúp GV truyền tải kiến thức tới HS, bên cạch đó GV có thể bổ sung câu hỏi TNKQ để GV giúp HS khai thác kiến thức hiệu quả nhất Với mục tiêu, tìm ra phương pháp để truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách hiệu quả nhất, bằng cách tìm hiểu về các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và sử dụng nó linh hoạt trong từng bài giảng, tôi muốn đưa ra một hệ thống câu hỏi, giúp giáo viên truyền tải kiến thức, và học sinh lĩnh hội kiến thức trong phần sinh học động vật – sinh học 11giúp quá trình dạy và học có kết quả cao

Trang 11

1.3 Xuất phát từ đặc điểm câu hỏi TNKQ

HS đã được quen với cách GV sử dụng nhưng câu hỏi tự luận trong dạy học bài mới, hầu như câu hỏi TNKQ chỉ được sử dụng trong kiểm tra đánh giá Với đặc điểm của câu hỏi TNKQ là đã có sẵn đáp án, là một dạng câu hỏi mà học sinh có thể đưa ra câu trả lời với thời gian nhanh chóng, và dễ dàng huy động kiến thức của tập thể Như vậy trong dạy học, ngoài việc đưa ra những câu hỏi tự luận, bên cạnh đó

GV có thể ra những câu hỏi TNKQ để làm phong phú hơn cho bài giảng của mình

1.4 Xuất phát từ đặc điểm tâm lí học sinh lớp 11

Đối với HS THPT nói chung và HS lớp 11 nói riêng, trong độ tuổi này các

em luôn muốn được tìm tòi những kiến thức mới, các em luôn muốn GV thường xuyên thay đổi những phương pháp dạy học, muốn được va chạm và được tìm hiểu kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau Vậy dựa vào đặc điểm luôn tò mò và thích đổi mới của HS, GV bên cạnh việc sử dụng hệ thống câu hỏi tự luận có thể

GV đưa vào những câu hỏi TNKQ có thể làm tăng tính tò mò, giúp HS tập trung tư duy tìm hiểu những kiến thức mới từ những câu hỏi TNKQ này

Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi chọn lựa đề tài nghiên cứu: “Thiết

kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung “sinh học động vật”, sinh học lớp11, trung học phổ thông”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đổi mới PPDH phần SHĐV 11- sinh học lớp 11 bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy trình thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học phần sinh động vật – sinh 11

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học nội dung sinh học 11 SHĐV của giáo viên, học sinh trường

THPT Kim Sơn B, THPT Kim Sơn C, tỉnh Ninh Bình

- Giáo viên dạy học phần sinh học động vật – sinh học lớp 11, ở một số trường

THPT trên địa bàn huyện Kim Sơn– tỉnh Ninh Bình

Trang 12

- Học sinh lớp 11, ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Kim Sơn – Tỉnh Ninh Bình

3.3 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian thực hiện đề tài: tháng 4/2012 – 12/2012

4 Giả thuyết nghiên cứu

Vận dụng lí thuyết câu hỏi TNKQ trong dạy học phần sinh học động vật – Sinh học 11 góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học phần sinh học động vật – sinh học 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về lý thuyết câu hỏi trắc nghiệm khách quan, xây dựng quy trình soạn thảo bài 15: tiêu hóa ở động vật, bài 16: tiêu hóa ở động vật (tiếp theo), bài 17: hô hấp ở động vật, bài 18: tuần hoàn máu, bài 19: tuần hoàn máu (tiếp theo) có sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Chỉ ra những nội dung trong phần sinh học động vật 11 có thể dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho các phần nội dung trong dạy học phần sinh học động vật

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của các phương án đã

đề ra qua đó khẳng định tính khả thi của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu về lí thuyết cách xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Các công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan trực tiếp đến câu hỏi trắc nghiệm khách quanvà việc đổi mới phương pháp dạy học

- Sử dụng phương pháp chuyên gia để phỏng vấn những người đã thực hiện xây dựng những bộ câu hỏi trắc nghiệm, những người đã trực tiếp thiết kế

và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học và giáo viên, học sinh, những người có liên quan trong hoạt động dạy và học các nội dung phần SHĐV sinh học 11

Trang 13

- Nghiên cứu các nội dung kiến thức trong sách giáo khoa sinh học 11 phần SHĐV có thể dạy bằng hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm khách quan

6.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm dạy học ở nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng

để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của việc sử dụng câu hỏi TNKQ và trong dạy học phần SHĐV – Sinh học 11

- Đối với lớp thực nghiệm: Tiến hành giảng dạy theo giáo án đã soạn có

sử dụng câu hỏiTNKQ

- Đối với lớp đối chứng: Tiến hành giảng dạy bình thường

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Các số liệu thu được trong thực nghiệm sư phạm được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số đặc trưng mang tính khách quan

7 Những đóng góp mới của luận văn

Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan là công cụ bước đầu giúp giáo viên thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để dạy học phần SHĐV nhằm tích cực hóa hoạt động của người học

Sử dụng một cách linh hoạt bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học phần sinh học động vật sẽ góp phần tạo nên một phương pháp dạy học tích cực giúp giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh đạt hiệu quả cao

Đề tài còn đề xuất quy trình soạn bài giảng có sử dụng câu hỏi TNKQ,

và vận dụng câu hỏi TNKQ trong quá trình dạy học phần SHĐV Sinh học 11

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Thiết kế và sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học môn sinh học động vật – Sinh học 11

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Vào thế kỉ 17-18, khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên được

áp dụng ở khoa Vật lí – Tâm lí của trường Đại Học LEIPZING (Đức) năm

1879 Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập Prancis Galton vận dụng nguyên tắc của Darwin trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (Origin of species – 1859) về sự khác nhau giữa các loài, vào khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính chất tâm lí và sinh lí liên quan đến yếu tố di truyền Nhằm chọn lọc những người có thể làm cha mẹ tốt, Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con người liên quan đến trí tuệ.[30]

Năm 1916, hai nhà tâm lí học là Alfred Binet (người Pháp) và Lewis Terman (người Mỹ) đã kết hợp để đưa ra một bài trắc nghiệm nhằm xác định trí thông minh (chỉ số IQ) Bài trắc nghiệm này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, vì nó tỏ ra là một công cụ hữu hiệu hơn bất kì một phương pháp nào khác để phân biệt trí tuệ của trẻ em ở các trường học Giữa thế kỉ 20, cùng với những ứng dụng rộng rãi của công nghệ tin học, người ta đã kết hợp cài đặt các chương trình, xử lí kết quả trên diện rộng, nhờ đó phương pháp TNKQ đã được coi là phương pháp khoa học và hiện đại trong kiểm tra đánh giá

TNKQ hiện nay rất phổ biến trong các trường học ở các nước Âu Mỹ Có rất nhiều nghiên cứu về kĩ thuật đo lường trong giáo dục bằng TNKQ, nhiều nghiên cứu kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ, ưu và nhược điểm của chúng, đánh giá chính xác kết quả học tập kết hợp xử lí trên máy tính các số liệu về xây dựng và sử dụng nhanh chóng TNKQ, Popham, Glaer… nghiên cứu ưu

Trang 15

điểm của trắc nghiệm, tiêu chí, nguyên tắc, thủ tục, kĩ thuật xây dựng loại câu hỏi trắc nghiệm này, tính toán độ giá trị, độ tin cậy của câu hỏi trắc nghiệm, bài trắc nghiệm, giải thích các điểm số của bài trắc nghiệm Nhiều công trình nghiên cứu đo lường, đánh giá kết quả học tập đã công bố như: Erwin, Hopkins, Stanley… Các tác giả này đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm

Ở nhiều cuộc thi Olympic Sinh Học có sử dụng câu hỏi TNKQ để đo mức độ tư duy của HS, đã được sự hưởng ứng của đông đảo các nước tham gia

và tỏ ra có nhiều ưu điểm trong khâu chấm bài, làm bài vì các HS dự thi đa số bất đồng về ngôn ngữ

bị nhưng lí luận cơ bản cho việc thực thi phương pháp này ở các trường học Năm 1971 Giáo sư Trần Bá Hoành công bố “Dùng phương pháp Test để kiểm tra nhân thức của HS về một số khái niệm trong chương trình sinh học đại cương lớp 9” Năm 1996 – 1997, ông đã đề cập nhiều lần đến TNKQ trong các tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dưỡng dạy sách giáo khoa lớp 12 cải cách giáo dục môn sinh học”, “Đổi mới phương pháp dạy học, nội dung chương trình sách giáo khoa” Ông đã nhiều lần soạn thảo bộ câu hỏi với

ba phương án chọn nhằm giúp giáo viên có ngân hàng câu hỏi, giúp HS ôn tập, củng cố kiến thức.[10]

Trang 16

Tháng 2/1994, Bộ GD –ĐT theo hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá, đã phối hợp với viện công nghệ Hoàng gia Melbourne của Australia, tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại thành phố Hồ Chí Minh - Huế - Hà Nội Nội dung hội thảo đã trang bị cho nhiều cán bộ giảng dạy đại học những lý luận cơ bản về việc thực thi phương pháp này Năm 1994 – 1995, với sự tài trợ của Liên hiệp quốc, Đại học Tổng hợp

Hà Nội cũng đã mở những lớp dài hạn bồi dưỡng về phương pháp xây dựng câu hỏi TNKQ và việc sử dụng nó trong giảng dạy

Vào những năm này, PGS.TS Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ để kiểm tra hiệu quả của việc giảng dạy tích cực ở trường phổ thông” và “chuyên đề câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học” đã khẳng định được tác dụng lớn lao của TNKQ trong đánh giá kết quả học tập.[26]

Và gần đây nhất, TS.Ngô Văn Hưng đã biên soạn “tài liệu bồi dưỡng cán

bộ quản lí và giáo viên về biên soạn đề kiển tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn sinh – cấp THPT” đã nhấn mạnh được vai trò của câu hỏi TNKQ trong quá trình dạy học.[11]

Từ năm 1996 – 2000, nhiều luận văn thạc sĩ như: Nguyễn Thị Kim Giang, Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Kỳ Loan - dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Đình Trung – đã xây dựng được bộ câu hỏi TNKQ dùng cho sinh viên đại học

và cao đẳng trong cả nước Tác giả Nguyễn Thanh Mỹ cũng xây dựng được hệ thống TNKQ dạng MCQ dùng cho chương trình sinh học 10 THPT dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đình Trung và TS Lê Văn Trực Với sự hướng dẫn của

GS Trần Bá Hoành, tác giả Dương Thị Thu Hiền cũng đã xây dựng được luận văn “Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn (MCQ) để

tổ chức dạy – học kiến thức mới phần di truyền học, sinh học 12 ban cơ bản – trung học phổ thông” đã góp phần xây dựng thêm hệ thống câu hỏi TNKQ để giúp GV trong quá trình dạy học.[7]

Trang 17

Từ năm 2000 – 2003, PGS.TS Lê Đình Trung và PGS.TS.Trịnh Nguyên Giao đã chủ biên nhiều cuốn sách dùng cho ôn thi học sinh giỏi, ôn thi THPT, Cao Đẳng, Đại Học theo hướng TNKQ như: “1111 câu hỏi trắc nghiệm sinh học”, “Tuyển tập sinh học 1000 câu hỏi và bài tập”, “Chuyên đề luyện thi đại học”

* Ở miền Nam

Phương pháp TNKQ được sử dụng sớm hơn so với miền bắc, nó được áp dụng rải rác trong các trường học từ năm 1950 Từ năm 1956 đến năm 1960 trong các trường học đã sử dụng rộng rãi hình thức TNKQ ở bậc trung học, sớm nhất là trong Sinh học Năm 1963, “Trắc nghiệm Vạn vật lớp 12” của Lê Quang Nghĩa được xuất bản năm 1964; “Phương pháp học và thi vạn vật lớp 12” của Phùng Văn Hướng được xuất bản Năm 1969, Dương Thiêu Tống đã giảng dạy “Trắc nghiệm thành quả học tập” cho các lớp Cao học và Tiến sĩ giáo dục tại ĐHSP Sài Gòn Như vậy, khoa học TNKQ chính thức được đưa vào chương trình đào tạo GV và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ, Nhà khảo thí (Trực thuộc bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên phát hành đề thi TNKQ trong các kì thi cho các trường trung học Năm 1974,

kì thi tú tài toàn phần đã được thi bằng TNKQ, sau năm 1975 một số trường vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên hay không nên áp dụng TNKQ trong thi cử

Tại trường Đại học Huế vào năm 1993 đã đồng loạt triển khai việc soạn thảo bộ ngân hàng câu hỏi Test cho từng chuyên ngành, đồng thời có các nghiên cứu cho sự định chuẩn các câu hỏi bằng phương pháp hiện đại Người đóng góp tích cực cho lĩnh vực này là GS.Nguyễn Phụng Hoàng (ĐH

Sư phạm Huế)

Từ năm 1995 đến nay, GS.TS Đặng Ứng Vân đứng đầu nhóm các nhà khoa học thuộc trung tâm đảm bảo chất lượng và nghiên cứu phát triển giáo dục đã xây dựng hệ thống câu hỏi MCQ dùng trong kiểm tra, đánh giá kết quả

Trang 18

của sinh viên ở các trường Đại học, Cao đẳng Sinh viên trực tiếp làm bài trên máy và biết kết quả ngay sau khi làm bài xong

1.1.2 Khái niệm về câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

1.1.2.1 Khái niệm về câu hỏi

Theo quan điểm logic thì Aristot là người đầu tiên phân tích câu hỏi, ông cho rằng : “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó có chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết “câu hỏi đó là bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành hoạt động tái hiện, có thể trả lời miệng, trả lời viết hoặc có thể kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm”

Khái niệm câu hỏi cũng còn được diễn đạt dưới dạng khác nhau như : Câu hỏi là dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một nhu cầu, một đòi hỏi, hay một mệnh lệnh cần được giải quyết

Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng, nghĩa là sẽ được giải quyết, nó chứa đựng cả hai yếu tố, sự có mặt của cái chưa rõ cần được giải quyết và điều đã biết liên quan đến điều cần tìm

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng về dấu hiệu bản chất của các câu hỏi đều được các tác giả nêu ra đó là: Xuất hiện điều chưa rõ cần được giải quyết từ điều đã biết Trong đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉ nêu ra thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người

1.1.2.2 Khái niệm về trắc nghiệm

Theo chữ Hán: “Trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét, xác nhận

Theo GS.TS Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay

so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”

Theo GS Trần Bá Hoành: “Test: có thể tạm dịch là phương pháp trắc nghiệm, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ

Trang 19

của học sinh (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh thuộc một chương trình nhất định

Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định

Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực vào một khóa học

Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm : Trắc nghiệm tự luận (essay) và trắc nghiệm khách quan (objective test)

1.1.2.3 Khái niệm về trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm

1.1.3 Phân loại các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan: bài trắc nghiệm được gọi là trắc nghiệm khách quan chủ yếu bởi vì hệ thống chấm và cho điểm là khách quan chứ không phải chủ quan như đối với bài trắc nghiệm tự luận

Trắc nghiệm khắc quan có thể chia làm bốn loại:

- Loại điền vào chỗ trống hay cần câu trả lời ngắn (điền khuyết): Trong loại này, thí sinh viết câu trả lời khoảng một đến tám hay mười chữ, các câu trả lời thường thuộc loại đòi hỏi trí nhớ Tuy nhiên, trong trường hợp toán hay khoa học tự nhiên, câu trả lời có thể đòi hỏi óc suy luận hay sáng kiến

- Loại đúng sai: Trong loại này, thí sinh đọc những câu phát biểu và phán đoán xem nội dung hay hình thức của câu ấy đúng hay sai Loại câu hỏi này phù hợp nhất cho việc khảo sát trí nhớ những sự kiện, hay nhận biết các sự kiện

- Loại ghép đôi (hay xứng hợp): Trong loại này, thí sinh tìm cách ghép mỗi từ hay câu trả lời trong một cột với một từ hay câu xếp trong cột khác Số câu hoặc từ trong cột thứ nhất có thể ít thua, bằng, hay nhiều hơn các câu hoặc

Trang 20

từ trong cột thứ hai Các câu hỏi loại này mang nhiều tính chất của loại câu hỏi

có nhiều câu trả lời để lựa chọn, MCQ, mô tả sau đây

- Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để chọn, MCQ Loại này gồm một câu phát biểu cơ bản, gọi là câu dẫn, hay câu hỏi, đi với nhiều câu trả lời để thí sinh lựa chọn khi làm bài Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống nhau, gồm một từ, một cụn từ, hay một câu hỏi hoàn chính.Thí sinh phải chọn một câu trả lời đúng hay hợp lý nhất.Đây là loại trắc nhiệm khách quan thông dụng nhất Các câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí nhớ mức hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp, hay ngay cả khả năng đoán đoán cao hơn Mỗi dạng câu hỏi TNKQ thường được sử dụng thích hợp trong quá trình đánh giá kết quả học tập của môn Sinh học

- Loại điển vào chỗ trống hay cần câu trả lời ngắn (điền khuyết): thích hợp với lớp dưới

- Loại đúng sai: Hạn chế, thích hơp cho kiểm tra vấn đáp nhanh Thường

sử dụng khi không tìm được đủ phương án cho nhiều lựa chọn

- Loại ghép đôi (hay xứng hợp): thích hợp cho các kiến thức về cấu tạo phù hợp với chức năng, thích hợp với kiểm tra nhận biết kiến thức cơ bản sau khi học xong 2 chương, 1 chủ đề

- Nhiều lựa chọn: có thể sử dụng cho mọi hình kiểm tra, đánh giá Rất thích hợp cho việc đánh giá để phân loại

Như vậy, trong bốn dạng câu hỏi TNKQ thì dạng câu hỏi nhiều lựa còn được áp dụng nhiều nhất trong kiểm tra đánh giá đối tượng học sinh THPT, nên dạng câu hỏi TNKQ sẽ được sử dụng chủ yếu trong dạy học nội dung các bài sinh học

1.1.4 Vai trò của câu hỏi TNQK

Trắc nghiệm là phương pháp để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (HS) như chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu … hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ sảo, thái độ của HS

Trang 21

TNKQ là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo câu trả lời Loại câu hỏi này nhằm cung cấp cho HS một phần hay tất cả thông tin hoặc điền thêm một vài từ, loại này còn gọi là câu hỏi đóng

* TNKQ là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học

Bộ câu hỏi TNKQ được xây dựng dựa trên các mục tiêu dạy học cụ thể Do đó

bộ câu hỏi như một hình mẫu mà qua đó có thể thực hiện được các mục tiêu dạy học Khi học sinh được trắc nghiệm tiếp cận với những yêu cầu có trong nội dung câu hỏi TNKQ, họ phải sử dụng các thao tác tu duy, phân tích, so sánh, tổng hợp

… cùng với những kiến thức đã có để tìm ra phương án đúng Để tìm được câu trả lời đúng HS không chỉ nắm kiến thức mà cần phải hiểu rõ vấn đề Nhất là đối với câu hỏi TNKQ –MCQ có khả năng gây nên những thắc mắc, những khó khắn trong tư duy, kích thích học sinh có nhu cầu hiểu biết để giải quyết yêu cầu của câu hỏi Từ đó, không chỉ hình thành được kiến thức mới cho người học mà còn rèn luyện cho họ năng lực tư duy, óc suy đoán nhanh nhậy

Hình thành kiến thức cho học sinh ở khâu nghiên cứu tài liệu mới có vai trò quan trọng quá trình dạy học, song kiến thức của học sinh có trở nên vững chắc hay không lại nhờ vào khâu ôn tập, củng cố và hoàn thiện, nâng cao Sử dụng câu hỏi TNKQ là biện pháp có hiệu quả để tổ chức các hoạt động đó

Bộ câu hỏi được soạn thảo dựa vào các mục tiêu dạy học, phủ kín và phân

bố số lượng câu hỏi theo mức độ quan trọng của từng mục tiêu, nên người học

có thể coi việc trả lời bộ câu hỏi như kế hoạch chi tiết cho quá trình học

Việc giải quyết các câu hỏi theo hệ thống các câu hỏi là điều kiện để cho người đọc rà soát, ôn lại kiến thức mà mình đã học Như vậy sẽ củng cố lại những kiến thức cơ bản trong 1 thời gian ngắn Mặt khác khi gặp những câu hỏi khó họ phải huy động tìm lời giải đáp, giúp cho người học vừa ôn lại kiến thức, vừa nâng cao được trình độ

Trong quá trình dạy học TNKQ được sử dụng như một phương tiện để truyền tải kiến thức, khi đó việc dùng câu hỏi MCQ để tổ chức HS nghiên cứu tài liệu mới được GV hướng dẫn qua phiếu học tập Nội dung của phiếu chính

Trang 22

là nội dung hoạt động học tập của HS Thông qua việc hoàn thành các yêu cầu nhất định trong phiếu một cách độc lập hay có sự trợ giúp của giáo viên mà HS lĩnh hội được một lượng kiến thức tương ứng

* TNKQ là một phương tiện hữu ích trong việc rèn luyện các kỹ năng cho HS

Để hoàn thành được các yêu cầu do TNKQ đưa ra học sinh phải huy động hầu như tất cả các kỹ năng hành động, thao tác tư duy: Quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán, suy luận, khái quát hoá, cụ thể hoá, hệ thống hoá … Vì vậy sử dụng TNKQ trong quá trình dạy học sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản

* TNKQ phát huy tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học tự nghiên cứu cho HS

Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh có thể sử dụng TNKQ giao cho mỗi cá nhân hoặc nhóm HS hoàn thành, bắt buộc HS phải chủ động tìm tòi kiến thức Vì vậy, tích cực chủ động, sáng tạo của HS được nâng lên

Mặt khác mỗi TNKQ có thể dùng trong nhiều khâu của quá trình tự học như nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, kiểm tra đánh giá dưới nhiều hình thức như các lớp hoặc ở nhà có thể cần sự giúp đỡ của giáo viên hoặc không

Do vậy TNKQ còn phát huy được khả năng tự học tự nghiên của HS

Tóm lại, TNKQ thường được thiết kế dưới dạng một câu hỏi nhỏ có nhiều phương án trả lời Vì vậy, ưu thế của TNKQ là xác định ngay được một đơn vị nội dung kiến thức thoả mãn một nhiệm vụ học tập nào đó do GV đưa ra Với TNKQ một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn trong các phương án trả lời của MCQ.TNKQ có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học

* TNKQ đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học, làm cơ sở cho việc uốn nắn, chỉnh sửa những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của người học

Sử dụng TNKQ trong dạy học, giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được động lực học tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành TNKQ, thông qua báo cáo kết quả cá nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn

Trang 23

những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của học sinh Do đó TNKQ đã trở thành phương tiện giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò – trò đó là mối liên hệ thường xuyên liên tục

Như vậy TNKQ trong dạy học là một công cụ để KT – ĐG nhằm cung cấp thông tin phản hồi ngược ngoài và ngược trong quá trình dạy học; qua đó phát triển ra những lệch lạc, khiếm khuyết trong quá trình dạy và học từ đó có kế hoạch uốn nắn kịp thời

Với người dạy, sử dụng trắc nghiệm đảm bảo thông tin ngược để điều chỉnh phương pháp, nội dung cho phù hợp; nắm bắt được trình độ người học để quyết định nên bắt đầu từ đâu, tìm ra khó khắn để phù giúp đỡ người học, tổng kết để thấy đạt mục tiêu hay chưa, có nên cải tiến phương pháp dạy hay không

và cải tiến theo hướng nào, trắc nghiệm nâng được hiệu quả giảng dạy

Với người học, sử dụng trắc nghiệm có thể tăng cường tinh thần trách nhiệm trong học tập, học tập trở nên nghiêm túc

* TNKQ là một biện pháp hữu hiệu trong việc hướng dẫn học sinh tự học

Vấn đề tự học là rất cần thiết đối với mỗi học sinh do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng, mà những kiến thức trên lớp do thầy cô cung cấp không thể đáp ứng được Trong quá trình tự học thì câu hỏi TNKQ là bộ công cụ rất hiệu quả Học sinh có thể tự đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tự đánh giá bằng câu hỏi TNKQ sau đó đối chiếu với đáp án Điều này rất hữu ích giúp HS tự hình thành kiến thức cho mình

Đối với hoạt động tự học TNKQ là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ HS trong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức Nó có tác dụng định hướng cho HS cần nắm bắt nội dung phần này như thế nào? Nội dung nào là nội dung trọng tâm?

Mối liên hệ ngược

Mối liên hệ ngược Mối liên hệ ngược

Mục tiêu

đào tạo

Trình độ xuất phát của học sinh

Nghiên cứu tài liệu mới

Kiểm tra đánh giá kết quả học

Trang 24

Với vai trò đó nó đã giúp đỡ người thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học Làm cho chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao nhất là trong xu thế hiện nay việc tự học trở nên rất quan trọng

1.1.5 Trắc nghiệm được sử dụng như một phương pháp dạy học

Trong dạy học trắc nghiệm kết quả học tập chủ yếu bằng câu hỏi

* Một số quan niệm về câu hỏi

- Socrat (469 – 299 tr.CN) khẳng định phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua tranh luận, toạ đàm, luận chiến Ông đã đề ra 4 yếu tố có liên quan đến câu hỏi: Mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, xác định cho người đối thoại làm theo cái phổ biến

- Aritot (284 -322 tr CN) là người đầu tiên phân tích khái niệm câu hỏi dưới góc góc độ logic, ông cho rằng: “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng

cả cái biết và cái chưa biết” Câu hỏi là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, HS phải tiến hành hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hay kiểm tra thực hành hoặc xác minh bằng trắc nghiệm

- Đecac (1596 – 1650) quan niệm: Không có câu hỏi thì không có tư duy và cho rằng nội hàm của câu hỏi phải chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết, muốn trả lời được câu hỏi tức là phải đi tìm cái chưa biết dựa vào cái đã biết Như vậy khi chủ thể nhận thức xác định được cái mình chưa biết và cái đã biết thì mới đặt ra được câu hỏi và khi đó câu hỏi mới có giá trị về mặt nhận thức

- John Dewey, năm 1933 phát ngôn: “Biết đặt câu hỏi tốt là điều kiện cốt lõi để dạy học tốt”

- GS TS Đinh Quang Báo trong bài tập giảng chuyên đề cao học khoá 11 khoa Sinh – KTNN, ĐHSP HN1, 2002 cho rằng “câu hỏi là tri thức hay là sự biết về một điều mà ta chưa biết”

Từ sự ra đời của các quan niện khác nhau về CH như trên, ta có thể thấy được dấu hiệu bản chất của CH là “từ điều đã biết xuất hiện điều chưa rõ, điều cần tìm” Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết đã thúc đẩy sự hiểu biết, khám phá của con người.CH cũng là một khái niệm rộng vì nó đòi hỏi câu

Trang 25

trả lời với một thông tin khác nhau, tính chất thông tin và thái độ, trạng thái tâm lý của người trả lời đối với thông tin đó cũng hoàn toàn khác nhau Nó có thể mới, có thể không mới đối với người trả lời nên hoạt động tìm câu trả lời nên hoạt động tìm câu trả lời sẽ rất khác nhau: từ hoạt động tái hiện đến hoạt động tìm tòi sáng tạo

Có thể ví câu hỏi như cán cân để phân định giữa 2 khả năng biết nhiều

và biết ít hay giữa cái đã biết và cái chưa biết có thể nhận thức Nếu gọi x là trị

số giữa cái biết và chưa biết trong khi xây dựng câu hỏi thì x= biết/chưa biết

Ta thấy có 3 khả năng xảy ra đối với x:

 Thứ nhất là x << 1 tức là người được hỏi biết rất ít về điều được hỏi thì câu hỏi này là quá khó đối với người được hỏi Do đó họ có thể không trả lời được hoạt không muốn trả lời

 Thứ hai là x >> 1 tức là người được hỏi biết rất rõ câu trả lời khi thao tác với câu hỏi thì câu hỏi đó sẽ không gây được một xúc cảm tâm lí nào và do đó không kích thích được người học tư duy

 Thứ ba là x sấp xỉ bằng 1 tức là cái đã biết của người học không đủ để tìm cái chưa biết do đó đòi hỏi họ phải thao tác với câu hỏi và tài liệu học tập để tìm ra cái chưa biết hàm chứa trong câu hỏi Việc tìm ra cái chưa biết này chính là người học đã lĩnh hội được tri thức mới

Như vậy xác định được trị số giữa cái đã biết và cái chưa biết trong khi xây dựng câu hỏi giúp GV có thể biết trình độ nhận thức của từng đối tượng HS, từ đó

đề ra các câu hỏi mang trị số hợp lí và sử dụng hợp lí trong khâu dạy bài mới

* Quan hệ giữa câu hỏi tự luận (CHTL) và câu hỏi TNKQ

Theo chúng tôi, quan hệ giữa CHTL và câu hỏi TNKQ là quan hệ bao hàm trong đó CHTL bao hàm câu hỏi TNKQ.CHTL dạng khái quát tổng hợp

mà thực chất là tập hợp của nhiều câu hỏi ngắn Mỗi câu hỏi ngắn đó có thể tương đương với một câu dẫn của MCQ với câu trả lời là phương án chọn, các câu nhiễu là câu hỏi trả lời chưa chính xác hoặc câu sai Theo đây, ta có thể viết câu dẫn của câu hỏi TNKQ bằng cách lấy chính câu hỏi trả lời ngắn đó sửa

Trang 26

chữa thành câu dẫn còn các câu trả lời dùng để xác định phương án chọn và câu nhiễu.Nguồn phương án nhiễu là rất phong phú khi phân tích câu trả lời của học sinh cho câu hỏi tự luận

Như trên phân tích thì thực chất của việc phân tích trí thức cũng có liên quan với logic này, việc xác định quan hệ giữa 2 loại câu hỏi này giúp cho GV

có thể vận dụng nó vào trong các khâu của quá trình dạy học đặc biệt là khâu dạy bài mới Trong một đơn vị kiến thức, những tri thức khó lường thường mang tính bao quát và có thể khó đối với những người học Nhiệm vụ của GV

là giúp HS nắm được nội dụng tri thức mới một cách dễ dàng và hiệu quả nhất trong một thời gian hạn định Khi này người GV phải biết chia nhỏ những tri thức khó mang tính bao quát thành những tri thức nhỏ hơn mà việc lĩnh hội nó được qui về việc HS thưc hiện được một hoạt động nhận thức nhỏ hơn Đối với những tri thức không thể chia nhỏ hơn được nữa ( đơn vị nhận thức ) thì ta sử dụng phương pháp bán thực nghiệm để chia nhỏ câu hỏi tức là sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để chia nhỏ câu hỏi

Ta có thể minh hoạ mối quan hệ giữa CHTL và câu hỏi TNKQ theo sơ đồ:

1 CHTL = n (câu hỏi với câu trả lời ngắn) = m (câu hỏi TNKQ) Trong đó m ≥n

Từ mối quan hệ này mà trong quá trình dạy học GV phải biết sử dụng kết hợp

cả 2 loại câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQ để tích cực hoá hoạt động nhận thức cho HS, đặc biệt là hoạt động tự học có hướng dẫn hay không có hướng dẫn

Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ trong khâu dạy kiến thức mới của quá trình dạy học

* Sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học kiến thức mới

Sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học nội dung mới được xem như là một phương pháp dạy học Bản chất của phương pháp này kích thích, định hướng hoạt động tìm tòi kiến thức của HS bằng hoạt động lựa chọn, phế phán, lập luận tính đúng, sai của các phương án lựa chọn Như vậy, ở đây HS không chỉ lập luận để tìm cái đúng mà còn phải lập luận, phê phán cho cái sai có thể trong thực tế nhận thức Hiệu quả phương pháp sử dụng câu hỏi TNKQ dạng

Trang 27

MCQ vào dạy kiến thức mới phụ thuộc vào kĩ thuật triển khai, vào chất lượng của câu hỏi TNKQ dạng MCQ

- Về mặt kỹ thuật: GV cần xác định số lượng câu hỏi TNKQ tương thích với từng đơn vị nội dung sao cho khi trả lời câu hỏi đó HS thông hiểu kiến thức; Sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ kết hợp với tổ chức HS tự lực nghiên cứu SGK để lập luận việc lựa chọn câu trả lời.Việc tìm câu trả lời là tự lực của cá nhân HS, nhưng trình bày lập luận lựa chọn câu trả lời tốt nhất là tổ chức theo nhóm nhỏ Với những yêu cầu kĩ thuật đó việc sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ trở thành phương pháp “ dùng cái sai” để dạy “cái đúng”, loại trừ được sự đoán mò theo cơ chế “may rủi” và phát triển năng lực phê phán, lập luận theo HS

- Về chất lượng câu hỏi TNKQ dạng MCQ được quyết định bởi nhiều yếu tố như: chất lượng câu dẫn, số lượng và chất lượng các phương án lựa chọn, đặc biệt các phương án nhiễu Câu dẫn phải chứa đựng điều chưa biết, tức kiến thức mới mà HS phải học Các phương án nhiễu phải là cái sai “có lí”, cáo sai thường gặp phải trong thực tiễn dạy học Như vậy cái sai phải có một logic nào

đó liên quan tới cái đúng

Do tính chất của câu hỏi TNKQ là dạng câu hỏi đóng, câu trả lời thường được giới hạn trong một số phương án định sẵn nên có rất ít người sử dụng TNKQ vào dạy kiến thức mới Việc sử dụng TNKQ chủ yếu được GV áp dụng trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giá, một số ít sử dụng trong khâu bài ôn tập; HS áp dụng để tự kiểm tra, đánh giá hoặc tìm kiếm thông tin trong quá trình tự học.Việc sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học kiến thức mới được đề cập trong câu trình nghiên cứu của Dương Thị Thu Hiền, 2009 [7]; Nguyễn Đình Huy, 2007 tuy nhiên dương Thị Thu Hiền lại sử dụng cho đối tượng là Học sinh THPT nhưng lại áp dụng vào phần di truyền học sinh học lớp

12, còn Nguyễn Đình Huy đề cập đến đối tượng là Học sinh THPT nhưng lại áp dụng vào dạy học phần Vi sinh vật học sinh học 10, chưa có công trình nào nghiên cứu sử dụng TNKQ như là một phương pháp dạy học kiến thức mới

1.1.6 Đặc điểm về mục tiêu và nội dung chương trình sinh học động vật sinh học 11

Trang 28

Để xây dựng bộ câu hỏi TNKQ có giá trị sử dụng trong các khâu của quá trình dạy học thì việc đầu tiên mà giáo viên phải làm là phân tích được cấu trúc nội dung của bài học, xác định được nội dung cơ bản và trọng tâm của bài học Giáo viên phải phân chia được nội dung cơ bản, trọng tâm ra các đơn vị kiến thức Tiến hành lập dàn ý học theo cấu trúc hợp lý Chúng là tổ hợp chứa đựng những ý cơ bản của bài hoc Mỗi đề mục chứa đựng một nội dung và có giới hạn tương đối với các đề mục khác, trong đó mối quan hệ giữa các đề mục cũng phải được chú ý, đặc biệt là quan hệ giữa các mục lớn với các mục nhỏ, kết hợp với việc tách ra các ý chính và thiết lập mối quan hệ giữa các ý chính rồi tiếp tục phân

chia nội dung thành từng phần nhỏ, thành các đơn vị kiến thức

Trong chương trình sinh học lớp 11, phần sinh học động vật gồm 23 bài trong đó có 19 bài lý thuyết, 3 bài thực hành, 1 bài ôn tập Phần kiến thức này bao gồm các nội dung cơ bản của nội dung sinh học động vật như là: chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật, cảm ứng ở động vật, sinh trưởng và phát triển ở động vật và sinh sản ở động vật

Cấu trúc nội dung của phần sinh học động vật trong sinh học lớp 11 ban

cơ bản năm dàn trải trong tất cả các chương của chương trình sinh học lớp 11và được bố trí như sau:

1.1.6.1 Cấu trúc nội dung chương trình sinh học động vật- sinh học 11

Bảng 1.1 Cấu trúc nội dung chương trình sinh học động vật

B Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật

Bài 15 Bài 16 Bài 17 Bài18 Bài 19 Bài 21 Bài 22

Tiêu hóa ở động vật Tiêu hóa ở động vật (tiếp theo)

Hô hấp ở động vật Tuần hoàn máu Tuần hoàn máu (tiếp theo) Thực hành: Đo một số chỉ tiêu sinh lý ở người

Ôn tập chương I

Trang 29

B Cảm ứng ở động vật

Bài 26 Bài 27 Bài 28 Bài 29 Bài 30 Bài 31 Bài 32 Bài 33

Cảm ứng ở động vật Cảm ứng ở động vật (tiếp theo) Điện thế nghỉ

Điện thế hoạt động và sự lan truyền xung thần kinh Truyền tin qua xináp

Tập tính của động vật Tập tính của động vật (tiếp theo) Thực hành: Xem phim về tập tính của động vật

Chương III SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN

B Sinh trưởng và phát triển ở động vật

Bài 37 Bài 38

Bài 39

Bài 40

Sinh trưởng và phát triển ở động vật Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật

Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật (tiếp theo)

Thực hành : Xem phim về sinh trưởng và phát triển ở động vật

Sinh sản vô tính ở động vật Sinh sản hữu tính ở động vật

Cơ chế điều hòa sinh sản Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người

Qua nghiên cứu và phân tích nội dung chương trình sinh học động vật, tôi thấy đây là một nội dung kiến thức khó và trừu tượng, như vậy đối với giáo viên chỉ sử dụng các biện pháp dạy học thông thường như thuyết trình, vấn đáp, trực quan thì giáo viên không thể truyền đạt đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức Do đó với kiến thức này đòi hỏi giáo viên có những biện pháp dạy học mới để truyền tải nội dung bài học một cách hiệu quả nhất Hiện

Trang 30

nay, câu hỏi trắc nghiệm đã được sử dụng nhiều trong kiểm tra đánh giá, nhưng đối với quá trình dạy học vẫn còn hạn chế Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao vai trò chủ động của HS ở đây là một yêu cầu hết sức thiết thực Dạy học bằng cách sử dụng câu hỏi TNKQ là một trong các phương pháp này, nó không những giúp HS chủ động giành lấy kiến thức mới mà còn là một trong những phương tiện hữu ích để HS có thể dựa vào đó

mà tự học, tự nghiên cứu từng đơn vị kiến thức trên cơ sở đó hệ thống hóa kiến thức

1.1.6.2 Nghiên cứu mục tiêu chương trình sinh học động vật, mục tiêu bài học sinh học

Bảng1.2 Mục tiêu chương trình sinh học động vật

- Nêu những đặc điểm thích nghi trong cấu tạo và chức năng

của các cơ quan hô hấp ở các nhóm động vật khác nhau trong những điều kiện sống khác nhau

- Nêu được những đặc điểm thích nghi của hệ tuần hoàn ở các

nhóm động vật khác nhau

Kĩ năng :

Thực hành được một thí nghiệm đơn giản về tiêu hoá

Thực hành được một thí nghiệm đơn giản về hô hấp

Thực hành được một số thí nghiệm về tuần hoàn

CẢM

Kiến thức :

- Phân biệt được đặc điểm cảm ứng của động vật so với

Trang 31

- Nêu được khái niệm tập tính của động vật

- Phân biệt được tập tính bẩm sinh và tập tính thứ sinh (học được trong đời sống cá thể)

- Nêu các dạng tập tính chủ yếu ở động vật (săn bắt mồi, tự vệ, sinh sản )

- Trình bày được ảnh hưởng của hoocmôn đối với sự sinh trưởng

và phát triển ở động vật có xương sống và không có xương sống

- Nêu được cơ chế điều hoà sinh trưởng và phát triển

- Nêu được nguyên nhân gây ra một số bệnh do rối loạn nội tiết phổ biến

- Nêu được các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của động vật

- Trình bày được khả năng điều khiển sinh trưởng và phát triển ở

Trang 32

động vật và người (cải tạo vật nuôi, cải thiện dân số và kế hoạch hoá gia đình)

Kĩ năng :

Thực hành quan sát sinh trưởng và phát triển, Sưu tầm tài liệu về

các bệnh do rối loạn về sinh lí ở người

- Trình bày được các khái niệm về sinh sản vô tính ở động vật

- Nêu được các hình thức sinh sản vô tính ở động vật

- Phân biệt được sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận của cơ thể

- Mô tả được nguyên tắc nuôi cấy mô và nhân bản vô tính (nuôi

mô sống, cấy mô tách rời vào cơ thể, nhân bản vô tính ở động vật)

- Nêu được khái niệm về sinh sản hữu tính ở động vật

- Phân biệt được các hình thức sinh sản hữu tính ở động vật (đẻ trứng, đẻ con)

- Nêu và phân biệt được chiều hướng tiến hoá trong sinh sản hữu tính ở động vật (thụ tinh ngoài, thụ tinh trong, đẻ trứng, đẻ con)

- Trình bày được cơ chế điều hoà sinh sản

- Nêu rõ những khả năng tự điều tiết quá trình sinh sản ở động vật và ở người

- Nêu được khái niệm tăng sinh ở động vật

- Phân biệt được điều khiển số con và điều khiển giới tính của đàn con ở động vật

+ Nêu được vai trò của thụ tinh nhân tạo

+ Mô tả được nguyên tắc nuôi cấy phôi

- Nêu được khái quát các vấn đề về dân số và chất lượng cuộc sống

Kĩ năng :

Ứng dụng các thành tựu nuôi cấy mô vào thực tiễn sản xuất và

đời sống

Trang 33

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng dạy học sinh học động vật trong nhà trường THPT hiện nay

Để tìm hiểu thực trạng của việc dạy học SHĐV ở trường THPT hiện nay chúng tôi đã tiến hành dự giờ trao đổi với GV, thao khảo các giáo án của

GV, sử dụng phiếu điều tra (phụ lục II) với GV và HS của năm trường THPT với 50 GV thuộc địa bàn huyện Kim Sơn, 200 HS thuộc 2 trường THPT Kim Sơn B và THPT Kim Sơn C thuộc huyện Kim Sơn Chúng tôi tiến hành khảo sát 4 nội dung chủ yếu

- Khảo sát phương pháp giảng dạy của GV

- Khảo sát tình hình sử dụng SGK trong dạy học SHĐV

- Khảo sát thái độ phương pháp học tập của HS khi học phần sinh học động vật

- Khảo sát về việc sử dụng câu hỏi TNKQ trong các khâu của quá trình dạy học

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Qua kết quả thống kê chúng tôi nhận thấy phương pháp dạy học hỏi đáp

là phương pháp dạy học truyền thống mà các GV vấn sử dụng thường xuyên

Trang 34

nhất Các phương pháp dạy học mới như phương pháp thí nghiệm thực hành và phương pháp sử dụng phim hình động hầu như không được các GV sử dụng khi lên lớp Phương pháp sử dụng câu hỏi TNKQ để dạy học đã được một số

GV sử dụng nhưng số lượng còn ít và ít được sự chú ý của đại đa số GV

Bảng 1.4 Kết quả điều tra tình hình sử dụng SGK trong dạy học phần SHĐV

Mức độ sử dụng

Các chỉ tiêu

Thường xuyên

Thỉnh thoảng Hiếm khi

Không sử dụng

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

xử lý thông tin,phân tích dữ liệu,sơ đồ, hình

vẽ, trả lời câu hỏi bài tập để lĩnh hội kiến thức mới

Trang 35

Qua bảng 1.4 ta thấy GV chỉ thường xuyên sử dụng SGK để hướng dẫn

HS học bài cũ hoàn thành các câu hỏi bài tập trong SGK tự đọc trước bài mới Rất hiếm khi các thầy cô chuẩn bị một hệ thống câu hỏi để hướng dẫn HS tự nghiên cứu trước nội dung bài mới Trên lớp, SGK chủ yếu được sử dụng để

HS đọc, nhớ lại những kiến thức cũ, tóm tắt nội dung SGK, tự học những nội dung kiến thức đơn giản, ghi nhớ định nghĩa, khái niệm, sự kiện, số liệu SGK chưa được GV yêu cầu HS sử lý thông tin như phân tích tư liệu, biểu đồ, đồ thị, trả lời các câu hỏi do GV thiết kế theo ý đồ dạy học

Qua khảo sát thực trạng dạy học sinh học ở trường phổ thông chúng tôi nhận thấy: sự đổi mới phương pháp dạy học của GV THPT còn rất chậm, các phương pháp dạy học hiện đại vẫn chưa được GV tiếp cận nhiều, đặc biệt GV chưa xây dựng được bộ câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng như một công cụ trong dạy học kiến thức mới Do đó chưa pháp huy được khả năng tự học của học sinh

1.2.1.2 Thực trạng của học sinh

Bảng 3: Kết quả điều tra về học tập của HS chúng tôi tiến hành trao đổi với HS các trường THPT thuộc huyện Kim Sơn kết hợp trao đổi với GV dạy sinh học của các trường này, chúng tôi nhận thấy : Đa số các em không thích môn sinh vì cho rằng môn này khó hiểu và không nằm trong khối thi mà các

Trang 36

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát phương pháp học tập của HS

Mức độ sử dụng

Các chỉ tiêu

Thường xuyên

Thỉnh thoảng Hiếm khi

Không sử dụng

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

tự đọc trước nội dung bài học ngay cả khi không có nội dung hướng dẫn

tài đọc thêm tài liệu có liên quan, ngoài SGK

học thuộc bài

cũ để chuẩn

bị cho kiểm tra miệng, kiểm tra viết

tự đọc trước bài,tìm các mối liên quan giữa bài cũ và bài mới

Trang 37

có liên quan đến bài học nhƣ thế nào

đọc lại bài phòng khi bị gọi lên bảng

thầy(cô) đọc cho chép là tốt nhất

đƣợc tái hiện lại các kiến thức cũ có liên quan để

từ đó tự mình khám phá kiến thức mới thông qua các hoạt động

sử dụng những câu hỏi học thuộc

kiểm tra những kiến thức trong

Trang 38

Qua bảng điều tra trên ta thấy:

- Để chuẩn bị cho việc học một bài học mới, các em thường học thuộc bài cũ

để chuẩn bị kiểm tra miệng, rất ít khi chuẩn bị bài mới bằng cách đọc trước các tài liệu liên quan tới bài mới, nhất là các em có tham khảo thêm các tài liệu liên quan tới bài học

- Khi thầy cô giáo dạy một bài học mới, hầu như các em chỉ thích đọc chép, các em đã quen với phương pháp học truyền thống nên cách học này rất thụ động Thầy cô đưa ra câu hỏi tìm hiểu và chuẩn bị bài mới thì đa số học sinh đều suy nghĩ, nghiên cứu SGK để tìm lời giải cho câu hỏi của GV Nhưng lượng các em xung phong lên bảng trả lời không nhiều do phần lớn các em đều

sợ sai không dám phát biểu Trong các hoạt động nhóm thì chỉ có một số HS tích cực trong nhóm hoạt động tìm hiểu kiến thức, còn đa số các HS khác đều thụ động ngồi chờ bạn làm và GV giải đáp, những HS này có sức ỳ rất lớn Điều này chứng tỏ đa số các em vẫn còn thụ động trong cách học

- Do cách học thụ động này, nên khi kiểm tra, hầu hết các em chỉ thích nhưng câu hỏi mang tính chất học thuộc và ở những bài mới học Còn những câu hỏi liên quan tới kiến thức tự nhiên thì các em bỏ qua không làm, hoặc có làm thì

bài vừa học liên quan đến

cả kiến thức

cũ và các kiến thức sắp học

kiểm tra những kiến thức trong bài, vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng tự nhiên

Trang 39

ít em có đáp án chính xác Với cách kiểm tra này, thì ngay cả khi kiểm tra miệng ở lớp, và khi kiểm tra 15 phút hay 45 phút, câu hỏi GV cho HS chỉ là các câu hỏi ở mức độ tái hiện lại, hoặc vận dụng nhưng kiến thức này ở mức

độ đơn giản

Với cách học này, thì HS sẽ khó hứng thú khi học môn sinh học Vậy, nếu thầy cô giáo không hướng dẫn trước hoặc giao câu hỏi bài tập định hướng HS đọc SGK trước khi lên lớp thì HS sẽ không chuẩn bị trước hoặc cũng sẽ cho qua Còn nếu thầy cô giao nhiệm vụ cụ thể trên lớp định hướng HS nghiên cứu trước SGK thì HS sẽ có ý thức chuẩn bị Việc HS tìm đọc thêm các tài liệu tham khảo ngoài SGK lại là một công việc hiếm hoi ở hầu hết các HS Các HS chỉ quan tâm học môn sinh khi biết trước là chuẩn bị kiểm tra, hoặc khi chưa có điểm miệng, vậy em nào đã có điểm miệng từ đầu học kì thì không phải học thêm môn này cho tới khi kiểm tra Như vậy, cách học đối phó này của HS sẽ không đem lại hiệu quả tốt được, điểm số vì vậy cũng không phản ánh thực chất kết quả học tập của HS Hệ quả kéo theo của việc này là làm cho chính nhưng

HS đó dần dần sẽ trở nên có sức ỳ khá lớn, thiếu tự tin, ngại giao tiếp

1.2.1.3 Điều tra thực trạng của việc sử dụng câu hỏi TNKQ trong các khâu của quá trình dạy học

Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực tế tình hình sử dụng câu hỏi TNKQ trong các khâu của quá trình dạy học, đặc biệt trong khâu dạy kiến thức mới ở bộ môn sinh học ở các trường THPT năm 2012-2013 Qua gặp gỡ và trao đổi với 50 GV của các trường thuộc địa bàn huyện Kim Sơn và bằng quan sát sư phạm, dự giờ trao đổi với GV, phát phiếu điều tra Kết quả được trình bày ở bảng 1.6

Trang 40

Bảng 1.6 Kết quả điều tra việc sử dụng CH TNKQ trong các khâu của quá

không thường xuyên

Không

sử dụng

thường xuyên

không thường xuyên

GV sở dĩ còn ít sử dụng câu hỏi TNKQ do:

- Việc biên soạn câu hỏi TNKQ khó, đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm, khả năng và mất nhiều thời gian để biên soạn bộ câu hỏi đảm bảo có những câu hỏi hay, đảm bảo độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt…

- Chưa có ngân hàng câu hỏi TNKQ đúng và hoàn chỉnh cho sách sinh mới cải cách để sử dụng trong dạy học

- Trong khâu dạy học kiến thức mới thì việc sử dụng câu hỏi TNKQ so với các GV và do đó cũng chưa có qui định cụ thể để áp dụng phương pháp này

Ngày đăng: 10/07/2022, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo - Nguyễn Đức Thành (2003), Lí luận dạy học sinh học - phần đại cương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học sinh học - phần đại cương
Tác giả: Đinh Quang Báo - Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
2. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Trung ướng 2 khóa VIII, ngày 24/12/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ướng 2 khóa VIII
3. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1998
4. Nguyễn Thành Đạt (Chủ biên) (2007), Sinh học 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 11
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Nguyễn Thành Đạt (chủ biên) (2010), Sinh học 11(SGV), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 11(SGV)
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
6. Trịnh Hữu Hằng, Sinh lý học người và động vật (2007), NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học người và động vật
Tác giả: Trịnh Hữu Hằng, Sinh lý học người và động vật
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2007
8. Nguyễn Nhƣ Hiền, Trịnh Xuân Hậu (2004), Tế bào học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế bào học
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Hiền, Trịnh Xuân Hậu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Trần Bá Hoành - Trịnh Nguyên Giao (2009), Đại cương phương pháp dạy học Sinh học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương phương pháp dạy học Sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành - Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
10. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, nội dung chương trình, sách giáo khoa, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, nội dung chương trình, sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2006
11. Ngô Văn Hƣng ( chủ biên) Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn sinh – cấp THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn sinh – cấp THPT
13. Ngô Văn Hƣng (chủ biên) (2010), Bài tập sinh học 11, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập sinh học 11
Tác giả: Ngô Văn Hƣng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2010
14. Nguyễn Thế Hƣng (2007), “Phương pháp phân tích nội dung sách giáo khoa để thiết kế bài giảng sinh học”, Tạp chí Giáo dục, (160), Tr 30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp phân tích nội dung sách giáo khoa để thiết kế bài giảng sinh học
Tác giả: Nguyễn Thế Hƣng
Năm: 2007
15. Nguyễn Thế Hƣng (2009), Tập bài giảng phương pháp dạy học Sinh học ở trường THPT, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng phương pháp dạy học Sinh học ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Thế Hƣng
Năm: 2009
16. Tạ Thúy Lan (Chủ biên)(2004), Giải phẫu Sinh lí người, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu Sinh lí người
Tác giả: Tạ Thúy Lan (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2004
17. Trương Thị Là (2010), Vận dụng lý thuyết hệ thống vào dạy học một số phần kiến thức sinh lý học động vật chương trình Sinh học 11 trung học phổ thông ( ban nâng cao), luận văn thạc sĩ sƣ phạm sinh học, Đại Học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết hệ thống vào dạy học một số phần kiến thức sinh lý học động vật chương trình Sinh học 11 trung học phổ thông ( ban nâng cao)
Tác giả: Trương Thị Là
Năm: 2010
18. Phạm Văn Lập (2007), Phương pháp dạy học Sinh học ở trường THPT,Sách lưu hành nội bộ, khoa sư phạm - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Sinh học ở trường THPT
Tác giả: Phạm Văn Lập
Năm: 2007
19. Nguyễn Quang Mai (Chủ biên) (2004), Sinh lý học động vật và người, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học động vật và người
Tác giả: Nguyễn Quang Mai (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
21. Lê Đức Ngọc (2011), đo lường và đánh giá thành quả học tập, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đo lường và đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Năm: 2011
22. Trần Khánh Phương (2009), Thiết kế bài giảng sinh học 11, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng sinh học 11
Tác giả: Trần Khánh Phương
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
23. Hoàng Thị Kim Thao (2011), “ Thiết kế và sử dụng Graph dạy học môn Giải phẫu sinh lý người cho sinh viên sư phạm trường Đại học Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”, luận văn thạc sĩ sƣ phạm sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng Graph dạy học môn Giải phẫu sinh lý người cho sinh viên sư phạm trường Đại học Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”
Tác giả: Hoàng Thị Kim Thao
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w