Nhận thức đúng tầm quan trọng của KT, ĐG nói chung, xây dựng đề kiểm tra nói riêng, Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ GD - ĐT đã ban hành chỉ thị số 3399/CT - BGDĐT 8/2010 đề cập chi tiết tới vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
NGUYỄN THỊ LOAN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ ĐỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC KHOÁ TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI THỜI NGUYÊN THUỶ, CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Bích
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, từ năm 2006, việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) bậc Trung học phổ thông (THPT) bắt đầu được thực hiện mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và kiểm tra, đánh giá (KT, ĐG) Đổi mới đang mang lại những kết quả tích cực đối với nền giáo dục phổ thông, đặc biệt là khâu ra đề trong quy trình KT,
ĐG Đây là một khâu quan trọng không thể tách rời của quá trình dạy học (QTDH), có tác dụng đánh giá thường xuyên năng lực học tập của học sinh (HS), cách giảng dạy của giáo viên (GV) và giám sát, cải tiến chất lượng giáo dục trong nhà trường Ra đề kiểm tra đảm bảo mục tiêu dạy học (MTDH) để đánh giá đúng năng lực dạy học của thầy trò trong suốt QTDH Từ đề kiểm tra giúp phân loại chính xác kết quả học tập của HS để rút ra những kết luận chính xác về thực trạng dạy học nhằm điều chỉnh hoạt động dạy học Việc ra
đề kiểm tra được thực hiện theo một quy trình nhất định, qua nhiều bước, từ xác định mục đích, nội dung, hình thức đề kiểm tra, thiết lập ma trận, biên soạn đề đến việc xây dựng hướng dẫn chấm và tiến hành cho HS làm bài kiểm tra Mỗi một khâu trong quy trình ra đề đều có vai trò, ý nghĩa góp phần làm cho KT, ĐG thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ đánh giá chính xác kết quả của QTDH
Đề kiểm tra được xây dựng tuân thủ theo đúng những yêu cầu của quy trình ra đề đảm bảo đánh giá toàn diện, chính xác kết quả học tập của HS, đo được năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm của người thầy, đồng thời kích thích tính tích cực học tập và KT, ĐG của các em Đề kiểm tra được xây
dựng như vậy sẽ góp phần làm thay đổi quan niệm “học gì, thi nấy” đã tồn tại
lâu nay trong dạy học bằng quan niệm đúng đắn về vai trò điều chỉnh QTDH
Trang 3của KT, ĐG Nhận thức đúng tầm quan trọng của KT, ĐG nói chung, xây dựng đề kiểm tra nói riêng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD - ĐT) đã ban hành chỉ thị số 3399/CT - BGDĐT 8/2010 đề cập chi tiết tới việc biên soạn đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới:
“Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học
2010-2011; nhằm tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện thống nhất trong tất cả các trường trung học cơ sở (THCS), trường trung học phổ thông về quy trình và kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra kết quả học tập của học sinh theo ma trận đề” [9, tr 6]
Trong mục các công việc của trường THPT còn nêu rất rõ nhiệm vụ
GV phải hoàn thành trong khi biên soạn đề kiểm tra:
“Các tổ chuyên môn biên soạn đề kiểm tra theo ma trận đề của
các chương, học kì và cuối năm đảm bảo các yêu cầu như văn bản quy định Sau đó mỗi giáo viên phải tự xây dựng được ma trận và biên soạn
đề kiểm tra đảm bảo các yêu cầu”[9; tr.6]
Thực tế, việc đổi mới KT, ĐG nói chung, xây dựng đề kiểm tra nói riêng ở trường THPT đã đạt được một số kết quả GV và HS nhìn chung đã nhận thức đúng tầm quan trọng của đổi mới KT, ĐG trong đó có việc ra đề kiểm tra Đã có nhiều thay đổi trong việc ra đề, từ xác định nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra cho phù hợp với mục đích của việc KT, ĐG Thông qua đề kiểm tra, KT, ĐG đang góp phần vào việc đánh giá, phân loại ngày càng chính xác hơn kết quả và năng lực học tập của HS Tuy nhiên, việc đổi mới KT, ĐG, đặc biệt là khâu ra đề kiểm tra vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, nặng về hình thức Cách ra đề kiểm tra nhìn chung còn thiếu khách quan, chú trọng thành tích; các câu hỏi kiểm tra đơn điệu, thường ra theo hướng yêu cầu
HS học thuộc lòng dẫn đến các em không hiểu bản chất của vấn đề, chỉ cần
Trang 4ĐT, chủ trương đổi mới khâu ra đề kiểm tra bắt đầu thực hiện từ kì II năm học
2010 – 2011 nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc Hầu hết ở các địa phương, do nhiều lí do khách quan, chủ quan nhiều GV còn lúng túng và chưa
có thói quen xây dựng đề kiểm tra theo ma trận Đề kiểm tra chính là thước đo
để phản ánh việc dạy và học của GV và HS Những đề kiểm tra chưa tốt (quá
dễ hoặc quá khó) sẽ tác động đến thái độ, tinh thần học tập học tập của HS, làm cho các em nhận thức không đúng về việc làm bài kiểm tra, học để đối phó là chính, không tự giác, không hứng thú Kết quả đánh giá chung khi tổng kết môn học thì vẫn cao, nhưng đánh giá qua kì thi cử nghiêm túc như kì thi Đại học, Cao đẳng thì lại rất thấp mà điển hình nhất là kì thi Đại học và Cao đẳng năm 2011 vừa qua với hàng ngàn điểm 0 môn Lịch sử, điểm trúng tuyển vào trường Đại học có trường môn Sử chỉ đạt 0,25 điểm
Lí luận cũng như thực tiễn dạy học và KT, ĐG ở trường phổ thông cho thấy, ra đề kiểm tra là khâu quyết định kết quả của việc KT, ĐG Phản ánh kết quả dạy học, việc ra đề kiểm tra có đánh giá đúng năng lực, kết quả học tập của HS cũng như GV hay không trước hết phụ thuộc vào ý thức, trách nhiệm
và năng lực của người thầy Cho nên, thiết kế đề kiểm tra phải được xác định
là một khâu quan trọng, có ý thức thực hiện trong suốt QTDH, qua đó nhằm đánh giá liên tục kết quả học tập của HS ở từng giai đoạn học tập để giúp các
em củng cố, hệ thống kiến thức đã học, hiểu được tiến trình phát triển của lịch
sử xã hội loài người và của dân tộc
Từ cấp THCS bước lên cấp THPT, trong chương trình Lịch sử lớp 10, tuy nội dung được cấu tạo theo nguyên tắc đường thẳng kết hợp đồng tâm, song yêu cầu củng cố, hệ thống những kiến thức Lịch sử thế giới cổ đại và Trung đại, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX lại ở mức độ cao hơn, sâu hơn, có ý nghĩa quan trọng tạo nền móng để các em tiếp thu khối lượng kiến thức lịch sử thế giới và Lịch sử dân tộc ngày càng phong phú hơn
Trang 5Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Thiết
kế và sử dụng một số đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học khóa trình Lịch
sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 (chương trình chuẩn) theo tinh thần đổi mới” để nghiên cứu với mong muốn khẳng định
tầm quan trọng của việc ra đề kiểm tra, củng cố, hệ thống kiến thức phần Lịch
sử thế giới cổ đại và Trung đại lớp 10, góp phần nâng cao chất lượng việc dạy
học Lịch sử hiện nay ở trường phổ thông
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề kiểm tra trong quy trình KT,
ĐG trong QTDH Từ các nguồn tài liê ̣u ở ngoài nước và trong nước , chúng tôi tổng hợp vấn đề nghiên cứu ở những khía cạnh sau
2.1 Ở nước ngoài
Không đề cập toàn diện các nội dung của viêc ra đề kiểm tra, song các tài liệu lại đề cập nhiều đến phương pháp đánh giá Đề cập đến các phương pháp đánh giá, người Trung Hoa khoảng năm 2000 trước công nguyên có lẽ là người đầu tiên đã biết dùng trắc nghiệm (TN) để đánh giá người hầu, thê thiếp (theo quan niệm Questin, Stodola, Kemmer Stordahl)… Từ khi việc dạy học trong nhà trường đi vào nề nếp thì các nhà giáo dục học và lý luận dạy học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu toàn diện các vấn đề liên quan đến KT, ĐG: xác định khái niệm, vai trò ý nghĩa, các yêu cầu của việc KT, ĐG, các hình thức và phương pháp sử dụng câu hỏi TN, tự luận (TL) trong KT, ĐG để đánh giá đúng kết quả học tập của HS Tiêu biểu, như J.A.Comexki (1592 – 1670) - nhà giáo dục vĩ đại người Séc khẳng định vai trò của KT, ĐG tri thức của HS là một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả của QTDH I.B.Bazelov (1724 – 1790) - nhà giáo dục người Đức lại là người đầu tiên đề xuất một
hình thức đánh giá tri thức trong trường học và chia hệ đánh giá làm 12 bậc
khác nhau và khi đem áp dụng vào thực tiễn dạy học thì chỉ còn ba bậc đánh
Trang 6giá phù hợp với nhận thức của HS bậc phổ thông là tốt, trung bình và kém
Cách đánh giá này của I.B.Bazelov được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước Nga
Đến thế kỷ XIX, nhằm đánh giá đúng kết quả học tập của HS phương pháp KT, ĐG mà cụ thể là ra đề kiểm tra bằng TN mới thực sự được quan tâm
và đưa vào trong QTDH Đi tiên phong là các nhà giáo dục học người Mỹ và Anh Họ đã đưa ra phương pháp đánh giá bằng TN bên cạnh phương pháp đánh giá TL truyền thống thông qua bộ thang đo năng lực nhận thức và quy trình đánh giá Đại diện cho khuynh hướng này là O.W.Caldwell và S.A.Courtis Ngay từ năm 1845, họ đã đề xướng kế hoạch sử dụng phương pháp kiểm tra, thi theo tinh thần bảo đảm độ tin cậy và tính khách quan bằng các TN (TEST) Đến năm 1864, Fisher một hiệu trưởng người Anh đã phát
triển các TN dưới dạng “bộ thang đo” để đánh giá thành tích và chất lượng
học tập môn Chính tả, Số học, Tập đọc và Ngữ pháp
Từ những năm 50 đến đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, xuất phát từ
nhiệm vụ của ngành giáo dục đặt ra là nâng cao chất lượng dạy học trên cơ
sở phát huy tính tích cực độc lập của học sinh, việc nghiên cứu về KT, ĐG
giai đoạn này tập trung chủ yếu vào nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của
KT, ĐG, xây dựng cơ sở lý thuyết, cơ sở thực tiễn phù hợp với hệ thống giáo dục, dạy học ở từng quốc gia Tiêu biểu là N.V.Savin trong cuốn Giáo dục
học, tâ ̣p I , chương X “Kiểm tra , đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học
sinh” đã khẳng định kiểm tra và đánh giá là hai hoa ̣t đô ̣ng khác nhau , nhưng có mối quan hê ̣ chặt chẽ với nh au, đánh giá được thực hiê ̣n trên cơ sở kiểm tra và
đánh giá theo hê ̣ thống 5 bâ ̣c: Xuất sắc (điểm 5), Tốt (điểm 4), Trung bình (điểm 3), Xấu (điểm 2), Rất xấu (điểm 1) [39, tr 246] nhưng ông lại chưa đề cập cụ
thể đến việc ra đề kiểm tra
Trang 7KT, ĐG là một lĩnh vực rất được quan tâm, đặc biệt trong dạy học bởi nó
đã góp phần không nhỏ vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục Cho nên, các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào những vấn đề chung về KT, ĐG Về xác định khái niệm, khẳng định vị trí, vai trò của KT, ĐG phải kể đến các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Becbi, Ran Taylor, Philíp, Mager… Họ nghiên cứu vấn đề theo những quan điểm, trường phái khác nhau, song đều thống nhất cách hiểu
khái niệm “Đánh giá giáo dục là sự thu nhập và lý giải một cách có bằng
chứng như một phần của quá trình dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động” và khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của KT, ĐG trong
giáo dục
Đổi mới cách KT, ĐG cho HS trong từng giờ học, từng bài kiểm tra và tập trung đề xuất các biện pháp phát huy tính tích cực của HS chính là hướng tới việc phát triển ở các em tư duy tự KT, ĐG để điều chỉnh QTDH đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Việc kiểm tra với những hình thức và phương pháp linh hoạt được tiến hành đan xen trong mỗi bài học, giờ học đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc giúp các em được nói và dám nói ra những suy nghĩ của mình Hướng vào vấn đề này, đặc biệt là đổi mới hình thức, phương pháp đánh giá trước tiên phải kể đến các nước phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật Bản… Các nhà nghiên cứu đã kế thừa nguyên lý, luận điểm của đánh giá cổ điển, xây dựng
lý thuyết ứng đáp câu hỏi (IRT) và chính lý thuyết này đã ảnh hưởng trực tiếp vào việc đánh giá kết quả học tập của HS Ứng dụng lý thuyết IRT, các nhà giáo dục đưa ra hệ thống TEST, sử dụng phổ biến các TN trong các bài kiểm tra nhằm đánh giá năng lực nhận thức của HS Phương pháp đánh giá này được sử dụng ở Mỹ, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc Đối với Liên Xô và các nước Đông
Âu, trước đây đã sử dụng TN để giải quyết các vấn đề của thực tiễn xã hội, như hướng nghiệp, tuyển chọn, giáo dục, dạy học… Tuy nhiên, do kỹ thuật TN chưa hoàn thiện, sử dụng câu hỏi TN chưa đúng chỗ, chưa đúng đối tuợng, chưa thấy
Trang 8hết được các mặt ưu điểm và hạn chế của nó nên đã gây ra nhiều sai sót Kiểm tra TN gây ra nhiều tranh cãi về ưu điểm và hạn chế của nó, đặc biệt, hạn chế lớn nhất của TN vẫn là không đánh giá được chính xác kết quả học tập của HS trong thời gian dài nên phương pháp này chỉ được áp dụng ở một số môn học tự nhiên Do đó, đến năm 1963 họ đã không sử dụng Sau này, qua các tài liệu của
M.X.Bernstein “Bàn về phương thức tổ chức và kiểm tra trắc nghiệm” và “Kinh
nghiêm biên soạn trắc nghiệm tiêu chuẩn” của I A.Rapopst thì TN lại được
nghiên cứu và sử dụng trở lại
Trong môn học Lịch sử, các nhà nghiên cứu đã tập trung giải quyết toàn diện vấn đề KT, ĐG ở nhiều khía cạnh: vai trò, ý nghĩa, các hình thức, phương
pháp KT, ĐG trong QTDH Giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử” của
G.Vaghin đã khẳng định tác dụng tích cực của KT, ĐG trong việc thúc đẩy QTDH N.G.Đairi, với trình độ lý luận kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn dạy
học ở trường phổ thông trong cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử thế nào” đề cập
đến nhiều vấn đề cơ bản về tầm quan trọng, nội dung, yêu cầu của KT, ĐG, coi
nó như là một phần tất yếu của bài học “Kiểm tra không chỉ giới hạn ở chỗ phát
hiện và cho điểm kiến thức mà kiểm tra còn thức đẩy học sinh học tập Ngoài những chức năng kiểm tra và giáo dục, kiểm tra còn có chức năng giáo dưỡng
và phát triển tư duy” [38, tr 64] Trong cuốn “Một trăm trò chơi Lịch sử”, tác
giả G.A.Cunaghina đưa ra những gợi ý kết hợp giữa chơi và học bằng cách thiết
kế bài tập TN lý thú cho HS bằng các trò chơi kích thích hứng thú, tạo môi trường lành mạnh, thoải mái cho các em phát huy hết khả năng của mình…
Như vậy, có thể khẳng định nguồn tài liệu ngoài nước nghiên cứu về KT,
ĐG rất phong phú, tập trung làm nổi bật khái niệm, xác định vị trí, vai trò, hình thức, phương pháp kiểm tra, trong đó nổi bật là việc sử dụng câu hỏi TN trong đánh giá Tuy nhiên, cũng có thể dễ dàng nhận thấy các nguồn tài liệu này mới chỉ đề cập đến vấn đề đề kiểm tra ở góc độ thay đổi phương pháp đánh giá mới
Trang 9bằng các TN (TEST) cùng với phương pháp TL truyền thống mà chưa đề cập sâu đến việc ra đề kiểm tra từ khái niệm, vai trò, ý nghĩa nội dung, hình thức, phương pháp ra đề kiểm tra Thống nhất cách hiểu khái niệm đề kiểm tra, vai trò,
ý nghĩa của việc ra đề kiểm tra, nên sử dụng dạng đề kiểm tra nào để đánh giá toàn diện kết quả học tập của HS là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay Tuy nhiên, những nghiên cứu chung
về KT, ĐG chính là gợi ý làm cơ sở để chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài
2.2 Ở trong nước
Tiếp thu thành tựu và kinh nghiệm nghiên cứu vấn đề KT, ĐG nói chung
và việc ra đề kiểm tra nói riêng từ các nhà nghiên cứu nước ngoài, các nhà nghiên cứu giáo dục và giáo dục Lịch sử trong nước cũng có cách tiếp cận nghiên cứu riêng
Những vấn đề chung từ khái niệm, vị trí, vai trò đến các hình thức, phương pháp và đề xuất quy trình tiến hành KT, ĐG đã được đề cập trong nhiều nguồn tài liệu, bài viết đăng trên các tạp chí, luận án, luận văn… Tiêu
biểu như “Đánh giá trong giáo dục” của Trần Bá Hoành, Lâm Quang Thiệp với “Đo lường và đánh giá trong giáo dục”, “Trắc nghiệm và đo lường thành
quả học tập” của Dương Thiệu Tống, “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông” của Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức
Phúc, “Đánh giá đo lường trong khoa học xã hội: quy trình, kỹ thuật thiết
kế, thích nghi, chuẩn hóa công cụ đo” của Nguyễn Công Khanh, “Tóm tắt
về đo lường và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục đại học” Lê
Đức Ngọc…
Đề cập sâu hơn đến việc đổi mới KT, ĐG có một số các tài liệu như
“Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS” năm 2004 của Bộ
GD - ĐT, hay Luận án tiến sĩ “Xây dựng, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách
quan và tự luận ngắn trong đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục học” năm
Trang 102000 của Trần Thị Tuyết Oanh, Luận án tiến sĩ “Hướng dẫn học sinh tự kiểm
tra, đánh giá trong học tập Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) ở trường trung học phổ thông” năm 2009 của Lê Hồng Ánh… Các tài liệu này
đã tập trung phân tích ưu điểm, hạn chế của các phương pháp đánh giá, kỹ thuật xây dựng câu hỏi TN, đưa ra quy trình xây dựng và xử lý bộ công cụ kiểm tra một số môn học, khẳng định vai trò tích cực của việc KT, ĐG
Đối với môn Lịch sử, trong Giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử”
năm 1961 của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị đã đi sâu phân tích các hình thức kiểm tra miệng, viết 10 - 15 phút, 45 phút (1 tiết), kiểm tra kết hợp sử
dụng đồ dùng trực quan Giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử” năm
1966 của Trần Văn Trị, Phan Ngọc Liên, Hoàng Trọng Hanh, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cường xem KT, ĐG giống như là một phương pháp trong
hệ thống các PPDH Lịch sử Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” năm
1976, được tái bản năm 1980 đã nhấn mạnh yêu cầu, nguyên tắc về tính chủ
động, sáng tạo của HS khi tiến hành kiểm tra Giáo trình “Phương pháp dạy
học lịch sử” tập I và II của Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị
Côi, xuất bản năm 1992, sau đó có bổ sung và tái bản vào các năm 2002,
2009, 2010 đã trình bày một cách có hệ thống lý luận cơ bản về KT, ĐG và đổi mới KT, ĐG Đặc biệt, vấn đề KT, ĐG và đổi mới KT, ĐG còn được đề cập nhiều đến trong các tài liệu chuyên khảo, bài viết trên các tạp chí Nghiên cứu giáo dục, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tài liệu hội nghị… Tiêu biểu là tài
liệu chuyên khảo “Bài học Lịch sử và và kiểm tra đánh giá kết quả học tập
lịch sử ở trường trung học phổ thông” của GS.TS Nguyễn Thị Côi, PGS.TS
Nguyễn Hữu Chí đã phân tích ý nghĩa, nội dung, yêu cầu và các hình thức, phương pháp KT, ĐG, đặc biệt chú trọng đánh giá toàn diện HS về kiến thức,
kỹ năng, thái độ Các bài viết khác như “Một vài suy nghĩ về các biện pháp
đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông”
Trang 11“Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh Trung học
cơ sở” của Nguyễn Thị Bích (Tạp chí Giáo dục số 195), “Thiết kế công cụ hướng dẫn học sinh tự đánh giá trong học tập môn lịch sử ở trường phổ thông” Tạp chí giáo dục số 235 của Hoàng Thanh Tú đã hướng dẫn rất chi
tiết cách chấm điểm cho HS trong bài kiểm tra TL Luận án Tiến sĩ “Đổi mới
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh ở trường Trung học cơ sở” của Nguyễn Thị Bích đã đề cập toàn diện đến những vấn đề lí luận và
thực tiễn của KT, ĐG và đổi mới KT, ĐG ở trường phổ thông nói chung, trong đó có khâu ra đề kiểm tra…
Như vậy, có thể khẳng định các giáo trình, tài liệu, sách tham khảo, bài nghiên cứu, công trình nghiên cứu trong lĩnh vực Giáo dục học, Giáo dục Lịch sử đã trình bày những lý luận cơ bản về KT, ĐG Tuy nhiên, khâu quyết định nhất của việc KT, ĐG là ra đề kiểm tra thì còn chưa được đề cập sâu Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc ra đề KT, ĐG, Bộ GD - ĐT đã ban hành Chỉ thị số 3399/CT - Bộ GDĐT 8/2010, hướng dẫn chi tiết tới việc biên soạn đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới và yêu cầu các trường phải thực hiện việc biên soạn đề kiểm tra theo ma trận từ kì II năm học 2010 - 2011 Đây là chủ trương đúng đắn, định hướng cho việc ra đề kiểm tra trong các môn học ở trường phổ thông nói chung, môn Lịch sử nói riêng nhằm thực hiện triệt để việc đổi mới KT, ĐG để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử
Từ việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề ra đề KT, ĐG từ các nguồn tài liệu ngoài nước và trong nước giúp chúng tôi định hướng những vấn đề trong phạm vi đề tài cần giải quyết :
Thứ nhất, bằng các tài liệu ngoài nước và trong nước, chúng tôi làm sáng
tỏ để khẳng định đúng vai trò, vị trí, ý nghĩa của việc biên soạn đề KT, ĐG, hoàn thiện cơ sở lý luận về việc đổi mới KT, ĐG trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Trang 12Thứ hai, trên cơ sở định hướng chỉ đạo của Bộ GD - ĐT về việc đổi mới
khâu biên soạn và sử dụng đề KT, ĐG để đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng đề KT, ĐG phù hợp với thực tiễn đổi mới dạy học Lịch sử hiện nay ở trường phổ thông
Thứ ba, tiến hành khảo sát thực tiễn bằng phiếu điều tra, quan sát dành
cho cả GV và HS tại một số trường THPT để có cái nhìn chính xác nhất về thực trang đổi mới khâu thiết kế và sử dụng đề kiểm tra Từ đó, đưa ra các kết luận chung và đưa ra định hướng đổi mới
Thứ tư, tổ chức thực nghiệm sư phạm (TNSP) các đề kiểm tra biên soạn
theo tinh thần đổi mới tại một số trường THPT Từ đó, so sánh kết quả thu được của lớp thực nghiệm (TN) với lớp đối chứng (ĐC) để thấy được độ lệch chuẩn, kiểm chứng tính khả thi của đề tài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiê ̣n đề tài, chúng tôi xác định rõ mục tiêu cần đạt là :
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới và vận dụng vào khóa trình Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10, qua đó góp phần hoàn thiện lý luâ ̣n chung về đổi mới KT , ĐG trong QTDH Lịch sử ở trường phổ thông
- Hoàn thiện quy trình thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới nhằm đánh giá toàn diện năng lực của HS
3.2 Nhiêm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc đổi mới thiết kế và sử dụng đề kiểm tra để hoàn thiê ̣n mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n về KT , ĐG trong da ̣y ho ̣c bô ̣ môn Lịch sử ở trường phổ thông
- Khảo sát thực trạng khâu thiết kế và sử dụng đề kiểm tra của GV trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT
Trang 13- Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa (SGK) Lịch sử lớp 10 phần Lịch sử thế giới thời nguyên thủy , cổ đại và trung đại làm căn cứ xác đi ̣nh kiến thức cơ bản, toàn diện cần KT, ĐG đối với HS
- Hoàn thiện quy trình thiết kế và sử dụng đề kiểm tra trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông nói chung, lớp 10 trường THPT nói riêng
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm chứng việc hoàn thiện quy trình thiết kế và sử dụng đề kiểm tra trong dạy học ở trường phổ thông nói chung, phần Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10, trường THPT nói riêng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là viê ̣c thiết kế và sử dụng đề kiểm tra trong dạy học Lịch sử ở lớp 10 trường THPT theo tinh thần đổi mới
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu là thực hiê ̣n đổi mới thiết kế và sử dụng đề kiểm tra nhằm đánh giá kết quả ho ̣c tâ ̣p L ịch sử của HS ở trường THPT theo chương trình , SGK hiê ̣n hành
- Do thời gian có hạn, nên trong đề tài chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu hoàn thiện quy trình thiết kế và sử dụng đề kiểm tra và sử dụng quy trình
đó để thiết kế đề kiểm tra 1 tiết và đề kiểm tra học kỳ 1 đối với việc dạy học khóa trình Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 trường THPT
- Đề tài tiến hành điều tra khảo sát và TNSP ở một số trường phổ thông tại Hà Nội và một số trường ở các tỉnh phía Bắc: trường THPT Hermann Gmeiner (Hà Nội), THPT Phạm Hồng Thái (Hà Nội), THPT Trần Hưng Đạo (Hà Nội), THPT Hồng Thái (Đan Phượng - Hà Nội), THPT Chuyên Hạ Long (Quảng Ninh), THPT Hùng Vương (Thái Bình), Trung tâm GDTX Thuận
Trang 145 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới giáo dục và đào tạo trong đó có đổi mới về
KT, ĐG
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu tài liê ̣u Giáo dục ho ̣c , Giáo dục lịch sử về đổi mới KT, ĐG, đặc biệt là đổi mới khâu ra đề kiểm tra
- Nghiên cứ u nô ̣i dung khoá trình Lịch sử thế giới nguyên thủy , cổ đại và trung đại ở lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)
- Tiến hành điều tra thực tiễn thông qua khảo sát , phỏng vấn trực tiếp GV
và HS về tình hình thực hiện đổi mới việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra nhằm kết quả ho ̣c tâ ̣p L ịch sử của HS ở trường THPT hiện nay bằng phát phiếu điều tra, dự giờ, quan sát
- Hoàn thiện quy trình thiết kế và sử dụng đề kiểm tra, tiến hành TNSP ở trường THPT để kiểm chứng hiê ̣u quả của viê ̣c hoàn thiện quy trình thiết kế
và sử dụng đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới nhằm đánh giá toàn diê ̣n kết quả học tâ ̣p Li ̣ch sử của HS, nâng cao chất lượng dạy học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán ho ̣c và các thành tựu của công nghê ̣ thông tin để xử lý kết quả thực nghiê ̣m
6 Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài có ý nghĩa hết sức quan tro ̣ng về lí luâ ̣n và thực tiễn :
- Về lí luâ ̣n : Góp phần hoàn thiện lí luâ ̣n về đổi mới KT , ĐG trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông
- Về thư ̣c tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những gợi ý , tham khảo
bổ ích cho GV , sinh viên các trường Đa ̣i ho ̣c sư pha ̣m , Cao đẳng sư phạm ,
Trang 15cho GV và HS ở trường THPT t rong viê ̣c thực hiê ̣n tốt khâu thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo ma trận để đạt được mục tiêu dạy học
7 Giả thuyết khoa học
đổi mới xây dựng ma trận đề thì sẽ góp phần từng bước cải thiện chất lươ ̣ng KT, ĐG trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài được trình bày trong 2 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông theo tinh thần đổi mới
Chương 2 Thiết kế và sử dụng một số đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học khóa trình Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 (chương trình chuẩn) theo tinh thần đổi mới
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ
VÀ SỬ DỤNG ĐỀ KIỂM TRA TRONG DẠY HỌC LỊCH Ở TRƯỜNG
PHỔ THÔNG THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI
Thiết kế và sử dụng đề kiểm tra nhằm đánh giá kết quả học tập của HS
là hoạt động có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra cần dựa trên cơ sở lí luận như thế nào, thực tiễn đặt ra những vấn đề
gì để định hướng cho việc đổi mới khâu ra đề kiểm tra? Đây là những nội dung cơ bản được đặt ra và giải quyết trong chương 1
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm
* Kiểm tra, đánh giá
KT, ĐG kết quả học tập của HS là một khâu quan trọng của QTDH Nhận thức đúng vai trò, tuân thủ các nguyên tắc, cũng như tiến hành các biện pháp, phương pháp KT, ĐG có hiệu quả là rất cần thiết Để tiến hành KT, ĐG phải thực hiện qua nhiều khâu, trong đó đề kiểm tra là một khâu của quy trình lựa chọn phương pháp KT, ĐG Vì vậy, trước khi tìm hiểu quan niệm về thiết
kế đề kiểm tra cần thiết phải tìm hiểu khái niệm kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra và đánh giá là hai khái niệm thường được sử dụng trong cuộc sống để kiểm tra và đánh giá mọi hoạt động của con người Trong khoa học ,
rằng kiểm tra và đánh giá là hai khâu của quá trình KT, ĐG
nhất để đánh giá Kiểm tra có vai trò “cung cấp những dữ kiê ̣n, thông tin làm
cơ sở cho viê ̣c đá nh giá” [23, tr 5] Tác giả Hoàng Phê trong Từ điển tiếng
Trang 17nhận xét” Từ điển Bách khoa 2001 xem“Kiểm tra là bộ phận hợp thành của
quá trình hoạt động dạy – học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động dạy – học”
Từ cách lí giải trên đã cho ta một số thông tin về vai trò cũng như nhiệm vụ của kiểm tra trong QTDH, khẳng định kiểm tra là một bộ phận quan trọng để thông qua đó đánh giá đúng thực trạng việc dạy học và điều chỉnh cả hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Kiểm tra không chỉ đơn thuần là việc xem xét thực tế để đưa ra nhận xét đánh giá mà kiểm tra còn là tiền
đề của đánh giá, là khâu không thể thiếu trong QTDH, giúp GV có được thông tin chính xác nhất về kết quả học tập của HS, từ đó điều chỉnh lại PPDH sao cho phát huy tốt nhất khả năng học tập cũng như tự học của các em
Khái niệm đánh giá được các nhà giáo dục nước ngoài cũng như trong nước, tiêu biểu như Jean-Marie De Ketele, Cronbach, Alkin, Mager…, Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc, Nguyễn Đức Chính… đưa ra nhiều định nghĩa và thống nhất:
“Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục” [8, tr 3]
“Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và xử lý kịp thời
hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biên pháp và hành động giáo dục tiếp theo”[8, tr 3]
Trang 18Trong giáo dục, đánh giá được hiểu là quá trình thu thập và xử lý thông tin để phân tích, so sánh, đối chiếu nhằm đưa ra những quyết định phù hợp Đánh giá luôn hướng tới mục đích là xác định kết quả và điều chỉnh hoạt động để đạt được kết quả một cách tốt nhất
Trong dạy học, kiểm tra và đánh giá là hai công việc tiếp nối nhau, tuy
có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, đan xen vào nhau nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả học tập
của HS Nếu coi đánh giá là mục đích của hoạt động dạy học thì kiểm tra là một phương tiện để thực hiện mục đích ấy “đánh giá kết quả học tập của học
sinh là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng đạt được muc tiêu học tập của HS cùng với tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường
để học sinh học tập ngày càng tiến bộ hơn” [8, tr 7] Như vậy, kiểm tra và đánh giá là hai khâu không thể tách rời của QTDH Ở đó, đánh giá là sự phán
xét trên cơ sở đo lường và kiểm tra bao giờ cũng đi liền với đánh giá
Trong khoa học Lịch sử, các nhà giáo dục đã đi sâu nghiên cứu về KT,
ĐG, theo đặc trưng của bộ môn họ khẳng định rằng “kiểm tra là công cụ
quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức của người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lựac để góp phần đổi mới phương pháp dạy học, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục” [30, tr 159] KT, ĐG kết quả học tập Lịch sử của HS ở trường
phổ thông là một quá trình tiến hành có hệ thống, liên tục và thường xuyên, theo dõi thu thập số liệu, chứng cứ nhằm đánh giá kết quả học tập, củng cố,
mở rộng, tăng cường hoạt động của HS Đồng thời, qua đó xác định mức độ các mục tiêu dạy học đạt được, làm cơ sở cho những quyết định sư phạm của
GV, cho nhà trường và cho bản thân HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học ở trường phổ thông
Trang 19* Đề kiểm tra
Hoạt động KT, ĐG được thực hiện qua nhiều khâu, từ xác định mục đích đến nội dung và lựa chọn hình thức, phương pháp KT, ĐG Việc ra đề kiểm tra nằm trong khâu lựa chọn phương pháp kiểm tra, có mối quan hệ chặt chẽ với các khâu khác bởi việc thiết kế đề kiểm tra phải được dựa trên cơ sở xác định mục đích, nội dung của việc KT, ĐG Cho nên, ra đề kiểm tra chính
là một mắt xích quan trọng giúp GV hoàn thiện quy trình KT, ĐG kết quả học tập của HS
Hoạt động KT, ĐG là một khâu của QTDH, cho nên theo nghĩa rộng việc KT, ĐG được tiến hành xuyên suốt trong QTDH Nó bao gồm cả đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, đánh giá tổng kết Các đề kiểm tra theo nghĩa hẹp hơn chỉ được sử dụng trong đánh giá định kì và đánh giá tổng kết, thể hiện qua các đề kiểm tra viết từ 1 tiết, đề kiểm tra học kì Việc ra câu hỏi đối với KT, ĐG thường xuyên hay ra đề kiểm tra viết 1 tiết, đề kiểm tra học kì đều là công việc của GV Song, đối với các đề kiểm tra viết 1 tiết, đề kiểm tra học kì - những bài kiểm tra quan trọng đánh dấu kết quả học tập của từng HS
ở những thời điểm khác nhau trong một giai đoạn học tập, một kì học, một năm học thì đỏi hỏi GV phải có sự suy nghĩ, chuẩn bị kĩ càng, chu đáo hơn
Do đó, đối với GV đề kiểm tra được coi là một công cụ dùng để đánh giá kết
quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học
kỳ, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp
* Đổi mới xây dựng đề kiểm tra
Trong dạy học ở trường phổ thông, đổi mới KT, ĐG nói chung, khâu thiết kế đề kiểm tra nói riêng cần được nhìn nhận một cách đúng đắn Theo từ
điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì “đổi mới là thay đổi khác hẳn với trước,
Trang 20tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phá triển” [40, tr 326] Đổi mới với ý nghĩa là đổi cái cũ, thay vào đó là cái
mới, việc thay đổi này phải mang tính tích cực, nghĩa là cái được đổi mới phải tốt hơn cái cũ Như vậy, đổi mới luôn gắn liền với sự phát triển Và trong giáo dục, đổi mới là nhu cầu phát triển tất yếu đối với mọi quốc gia nhằm khắc phục những điểm hạn chế còn tồn tại, phát huy những mặt tích cực, tiến bộ để nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng nhu cầu phát triển chung của toàn xã hội Đổi mới KT, ĐG trong QTDH cần được tiến hành đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp KT, ĐG Trong đó đặc biệt phải coi đổi mới khâu ra
đề là quan trọng nhất của việc KT, ĐG Để đổi mới việc ra đề kiểm tra đảm bảo tính khoa học, chính xác, khách quan, theo công văn chỉ đạo của Bộ GD –
ĐT thì cần phải dựa trên cơ sở xây dựng ma trận đề Vậy ma trận đề kiểm tra
là gì và vì sao việc thiết kế đề kiểm tra phải xây dựng thao ma trận?
Thuật ngữ “ma trận” được dùng chủ yếu trong các bộ môn khoa học tự nhiên, trong toán học có các khái niệm ma trận chéo, ma trận tam giác, ma
trận đơn vị, ma trận đối xứng, ma trận sơ cấp… Đối với việc KT, ĐG, ma trận đề kiểm tra là một thuật ngữ mới Nói đến ma trận đề kiểm tra là nói đến
một bảng hai chiều : mô ̣t chiều là các nô ̣i dung cần kiểm tra , chiều còn la ̣i là mức đô ̣ cần đánh giá Dựa vào bảng ma trâ ̣n hai chiều này ta biết nô ̣i dung kiểm tra có đảm bảo tính toàn diện , tỉ lệ % mức đô ̣ nhâ ̣n thức c ần đánh giá qua số lươ ̣ng mỗi loa ̣i câu hỏi , tỉ lệ % cho câu hỏi TN , TL trong đề kiểm tra
và mục đích đề kiểm tra đòi hỏi HS đạt được Xây dựng ma trâ ̣n đề kiểm tra nhằm phân bố hơ ̣p lý mục tiêu kiểm tra , trên cơ sở đó phân phối điểm bao
trùm Ma trâ ̣n là căn cứ , là chuẩn để thiết kế đề kiểm tra nhằm đánh giá đúng
năng lực của HS trên các mă ̣t nhâ ̣n thức kiến thức , kĩ năng và thái độ Trước khi cho ̣n phương pháp kiểm tra phải lâ ̣p bảng ma trâ ̣n Cho nên , ma trận đề kiểm tra chính là bản kế hoa ̣ch khoa ho ̣c , đi ̣nh hướng cho viê ̣c soa ̣n đề kiểm
Trang 21tra Việc thiết kế đề kiểm tra trên cơ sở xây dựng ma trâ ̣n đảm bảo tính khoa học của việc đánh giá so với việc xây dựng các đề kiểm tra chỉ d ựa trên kinh nghiê ̣m, không thiết kế ma trâ ̣n đề
Trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, việc xây dựng đề kiểm tra theo ma trận đã bước đầu được đưa vào sử dụng Tuy nhiên, vẫn chưa đồng bộ, GV vẫn chưa có thói quen xây dựng đề theo ma trận, có chăng chỉ là một bộ phận nhỏ Thực tiễn đã chứng minh, việc xây dựng đề kiểm tra
là hết sức cần thiết bởi “ma trận đề kiểm tra là một bản dự kiến số lượng các
loại câu hỏi với các mức độ nhận thức bao gồm một chiều là nội dung với các lĩnh vực kiến thức cần đánh giá và một chiều là các mức độ nhận thức của học sinh, trong mỗi ô là hình thức câu hỏi và số lượng câu hỏi” [30, tr 190]
Theo hướng dẫn chỉ đạo về việc xây dựng đề kiểm tra theo ma trận ,
hợp với nhận thức của HS nhằm đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ của các
em Lập ma trận trong quá trình thiết kế đề kiểm tra nhằm đảm bảo KT, ĐG được một phạm vi kiến thức rộng, kỹ năng và các mức độ nhận thức, đồng thời có thể chủ động kết hợp hai loại câu hỏi TL với câu hỏi TN trong một đề kiểm tra Cho nên, việc quyết định số lượng câu hỏi cho từng mục tiêu tùy thuộc vào mức độ quan trọng, vào thời gian dự kiến cho HS làm bài kiểm tra Nhìn chung, càng nhiều câu hỏi ở nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau thì kết quả KT, ĐG càng có độ tin cậy cao hơn Hình thức câu hỏi đa dạng sẽ kích thích hứng thú, tập trung sự chú ý, tránh nhàm chán đối với HS Hơn nữa, việc thiết kế đề kiểm tra theo ma trận sẽ giúp GV có được cái nhìn tổng quát, đảm bảo các yêu cầu của một đề kiểm tra đặt ra theo tinh thần đổi mới Cho
nên, thiết kế đề kiểm tra theo ma trận được hiểu là xây dựng một bộ công cụ
dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kỳ, một lớp hay một cấp học Người thiết kế đề cần căn
Trang 22cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và thực tế học tập của HS để thiết kế đề kiểm tra cho phù hợp
Đổi mới thiết kế đề kiểm tra là đổi mới việc xây dựng đề, tiến hành việc kiểm tra một cách có hiệu quả, tuân theo các nguyên tắc, quy trình KT,
ĐG Nó phải được nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn dạy học
Về nhận thức lý luận, việc đổi mới khâu thiết kế đề kiểm tra trước hết
phải được GV nhận thức đúng đắn về khái niệm, vai trò, tác dụng của việc thiết kế đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới – xây dựng đề theo ma trận Thói quen thiết kế đề kiểm tra theo cách truyền thống không cần xây dựng ma trận cần được thay đổi về mặt nhận thức và thực hiện Đổi mới khâu thiết kế đề kiểm tra là hết sức quan trọng không những góp phần đánh giá đúng kết quả học tập của HS mà còn điều chỉnh lại PPDH của GV và bồi dưỡng cách tự học, tự KT, ĐG cho HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Về thực tiễn, trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Lịch sử nói
riêng, việc thiết kế đề kiểm tra theo ma trận đang là vấn đề được quan tâm
vụ của GV trong đổi mới KT, ĐG được xác định là “phải tự xây dựng được
ma trận và biên soạn đề kiểm tra đảm bảo các yêu cầu” [9, tr 6] Điều này càng chứng tỏ tầm quan trọng của việc thiết kế đề kiểm tra theo ma trận trong đổi mới KT, ĐG Và thiết kế đề kiểm tra theo ma trận là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm thực hiện triệt để chủ trương đổi mới KT, ĐG
1.1.2 Cơ sở xuất phát của vấn đề thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới
1.1.2.1 Xuất phát từ mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh
Trong các môn học ở trường phổ thông, bộ môn Lịch sử có vị trí, ý
nghĩa quan trọng, nó cùng các môn học khác góp phần “giúp học sinh phát
Trang 23triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Từ mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục của bậc
THPT được xác định nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả
của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi và cuộc sống lao động
Lịch sử là một môn khoa học được dạy học trong nhà trường phổ thông, nó không chỉ có vai trò cung cấp kiến thức cho HS mà còn có tác dụng hướng nghiệp và cung cấp nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại So với chương trình THCS, chương trình THPT yêu cầu cao hơn một bước sự hiểu biết về những vấn đề lý thuyết, nâng cao hơn nhận thức lý luận của HS Trên cơ sở mục tiêu giáo dục của các cấp học, quan điểm của Đảng về sử học và giáo dục, mục tiêu của môn học cũng được xác định căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực lịch sử, yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng chính trị hiện nay Mục tiêu của môn Lịch sử cần đạt được nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giáo dưỡng:
Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản của khoa học bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên vùng đất, niên đại, những hiểu biết về quan điểm lý luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ HS
- Giáo dục:
Giáo dục HS quan điểm, tư tưởng, lập trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách, tình cảm thông qua học tập Lịch sử là một yêu cầu cần chú ý thực hiện
Trang 24Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục, trí tuệ, tình cảm, tư tưởng góp phần đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện HS bậc THPT được bồi dưỡng một cách có hệ thống, sâu sắc hơn bậc THCS ở những điểm chủ yếu sau:
+ Lòng yêu nước Xã hội chủ nghĩa, lòng yêu quê hương - một biểu hiện của lòng yêu nước trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
+ Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc, đấu tranh cho độc lập tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ
+ Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của sự phát triển loài người
và dân tộc dù trong tiến trình Lịch sử có những biến đổi, quanh co, tạm thời tụt lùi hay dừng lại
+ Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng làm nghĩa vụ quốc tế + Có phẩm chất trong cuộc sống cộng đồng như trung thực, chan hòa, dũng cảm, biết quan tâm giúp đỡ mọi người xung quanh, kính già, nhường trẻ
- Phát triển:
Rèn luyện năng lực tư duy và thực hành trên cơ sở hoàn chỉnh và nâng
cao năng lực đã được hình thành ở trường THCS Cụ thể là HS được bồi dưỡng các năng lực sau:
+ Năng lực tư duy, biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ
+ Kỹ năng học tập và thực hành bộ môn như: sử dụng SGK, các tài liệu trình bày nói và viết, làm và sử dụng một số đồ dùng trực quan quy ước, những hoạt động ngoại khóa của môn học
Tóm lại, mục tiêu của môn học Lịch sử nhằm cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về sự phát triển hợp quy luật của lịch sử xã hội loài người và
Trang 25dân tộc Trên cơ sở đó, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành Việc dạy học Lịch sử ở trường THPT góp phần nâng cao sự hiểu biết mà HS tiếp thu ở bậc THCS, đặc biệt trình độ lý thuyết và năng lực tư duy, năng lực thực hành KT, ĐG nói chung (trong đó có việc thiết và sử dụng đề KT, ĐG nói riêng) là một khâu của QTDH với vai trò chủ yếu là củng cố kiến thức để qua
đó rèn luyện các năng lực tư duy, năng lực thực hành, hình thành nhân cách, phẩm chất của con người mới, đương nhiên cũng góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện HS
1.1.2.2 Xuất phát từ yêu cầu phát huy tính tích cực của học sinh trong kiểm tra, đánh giá
Tính tích cực nhận thức là ý thức, thái độ, hoat động tích cực của mỗi người trong quá trình nhận thức nhằm đạt được hiệu quả cao trước mục đích
đã đề ra Do đó, tính tích cực là cơ sở thuận lợi để phát triển các năng lực
nhận thức khác trong hoạt động của mỗi người “tính tích cực nhận thức là
thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết các vấn đề học tập và nhận thức
Nó vừa là mục đích hoạt động vừa là phương tiện vừa là mục đích để đạt được mục đích, vừa là kết quả để hoạt động”[2, tr 8] Tính tích cực học tập
của HS được biểu hiện qua nhiều dấu hiệu, trong đó có việc HS chủ động vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức những vấn đề mới trong học
tập và thực tiễn cuộc sống
Trong KT, ĐG, tính tích cực thể hiện ở thái độ hứng thú, tích cực chủ động tham gia vào quá trình KT, ĐG và tự KT, ĐG kết quả học tập của mình
PGS.TS Trịnh Đình Tùng trong bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học lịch
sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh” cho rằng việc học tập của
HS là một quá trình nhận thức, song đó là quá trình nhận thức đặc thù “một
Trang 26sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” Như vậy, tính tích cực của con người được biểu hiện trong
hoạt động, đặc biệt trong hoạt động chủ động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học, do đó tính tích cực trong hoạt động học tập của HS, thực chất là tính tích cực nhận thức mà đặc trưng của nó là ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính chất nổi bật của tính tích cực nhận thức có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: thái độ của chủ thể nhận thức với đối tượng nhận thức; sự thay
đổi bên trong các mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức
1.1.2.3 Đặc trưng của môn Lịch sử
Lịch sử là một khoa học mang tính đặc thù với những đặc trưng riêng:
Tri thức lịch sử mang tính quá khứ: học tập Lịch sử là quá trình nhận
thức những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và
chuẩn bị cho tương lai Khi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, người ta có thể trực tiếp quan sát chúng ở trong thiên nhiên hoặc trong các phòng thí nghiệm Khác với giới tự nhiên, lịch sử xã hội loài người không thể được trực tiếp quan sát và cũng không thể khôi phục lại diễn biến của nó trong phòng thí nghiệm Đặc trưng nổi bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ Mặt khác, lịch sử là những sự kiện
dã diễn ra, là hiện thực trong quá khứ, nó tồn tại khách quan, không thể “phán
đoán”, “suy luận” để biết lịch sử
Tri thức lịch sử mang tính không lặp lại: tri thức lịch sử nhìn chung
mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử đều xảy ra trong một thời gian và không gian khác nhau Không
có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm trong các thời kỳ khác nhau mà lại giống nhau hoàn toàn Nếu có, chỉ có thể là sự kế thừa, phát
triển, “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Đời sống xã hội loài người nói
Trang 27chung cũng như sự đi lên của mỗi dân tộc trong quá tình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những sự thay đổi lớn lao Tất cả mọi lĩnh vực từ trình độ sản xuất, chế độ chính trị, quan hệ xã hội đến ăn, ở, đi lại, tư tưởng đạo lý, đạo đức, lối sống đều có những thay đổi biến hóa không ngừng theo thời gian
Tri thức lịch sử mang tính cụ thể: học tập lịch sử để hình dung rõ ràng,
giải thích đúng, có cơ sở khoa học về lịch sử Các sự kiện, hiện tượng lịch sử, biến cố lịch sử không phải xuất phát một cách tùy tiện, ngẫu nhiên mà chính
là sản phẩm của sự kiện lịch sử nhất định, có những mối quan hệ nhất định, tuân theo những quy luật nhất định Bộ môn Lịch sử có nhiệm vụ giúp HS nắm được bản chất các sự kiện, hiện tượng lịch sử, hình thành các khái niệm lịch sử, phát hiện mối quan hệ trong quá trình lịch sử, rút ra các bài học giúp cho học sinh có có những suy nghĩ và hành động đúng đắn Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, các quốc gia dân tộc khác nhau
Tri thức lịch sử mang tính logic: kiến thức của bộ môn Lịch sử mang
tính khoa học cao, nó bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung kiến trúc thượng tầng, tình hình sản xuất và quan hệ sản xuất Nhìn tổng thể, nội dung kiến thức lịch sử rất phong phú, nó đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống con người cả về chính trị, quân
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật SGK lịch sử ở trường phổ thông tuy đã được giản lược chỉ còn những kiến thức cơ bản song cũng phải đảm bảo được đầy đủ các mặt đó Những nội dung tri thức lịch sử
kể trên lại có mối quan hệ chằng chịt, phức tạp liên quan chặt chẽ với nhau Điều này đòi hỏi GV trước hết phải có cái nhìn tổng quát, thâu tóm được toàn
bộ các vấn đề, luôn chú ý đến các mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề lịch sử cũng như mối quan hệ ngang tương quan của các mặt chính trị,
Trang 28kinh tế , văn hóa để cung cấp cho HS những tri thức lịch sử mang tính khoa học, có hệ thống, hoàn chỉnh, nêu ra được cái bản chất, cái lõi của lịch sử và phải logic dễ hiểu
Tri thức lịch sử có tính thống nhất giữa “sử” và “luận” Lịch sử là
ngành khoa học xã hội, xuất hiện từ rất sớm Đến nay, trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng Họ đã ghi chép lại nhiều sự kiện lịch sử mà họ cho rằng có ý nghĩa quan trọng nhằm để lại cho thế hệ sau những tác phẩm lịch sử quý báu Họ đã tích lũy được những tư liệu lịch sử phong phú và cũng trình bày những quan điểm của mình về sử học và phương pháp giải quyết các vấn đề lịch sử Những ghi chép về quá trình của sự phát triển xã hội loài người từ nhiều góc độ khác nhau đó đều là những nội dung quan trọng của di sản văn hóa nhân loại Tuy nhiên, lý luận lịch sử cũng như những quan điểm lịch sử trước khi có chủ nghĩa Mác về cơ bản xuất phát từ lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột C Mác và Ph Ăngghen là những người đầu tiên vạch ra được quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người Các ông đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế
và kiến trúc thượng tầng, từ đó vạch ra quá trình nói chung của sự phát triển tuần tự các hình thái kinh tế xã hội Họ đã chứng minh được rằng lao động sản xuất và đấu tranh giai cấp là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của
xã hội và rằng quần chúng nhân dân là người sáng tạo thực sự của lịch sử Và như vậy, sử học mới bắt đầu trở thành một khoa học thật sự, chân chính
Xuất phát từ những đặc trưng của việc nhận thức lịch sử, bộ môn Lịch
sử ở trường phổ thông nhằm cung cấp cho HS - chủ nhân của tương lai đất nước những kiến thức cơ bản, khoa học, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức chính trị cho học sinh Điều này giúp học sinh hiểu được
sự phát triển quy luật của tự nhiên, xã hội, vận dụng sáng tạo những hiểu biết
Trang 29của mình vào hoạt động vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội
Vì vậy, việc KT, ĐG nói chung, ra đề KT, ĐG nói riêng phải chú ý đến các đặc điểm này để hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS mang tính toàn diện về kiến thức, kết quả giáo dục và phát triển
1.1.2.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh
Cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, bộ môn Lịch sử có nhiệm vụ và khả năng góp phần vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo HS ở trường phổ thông Các đặc điểm của việc nhận thức Lịch sử chi phối tới nhận thức lịch sử của HS Bản thân Lịch sử là một hiện thực khách quan đã xảy ra
“hiện có”, vận động theo quy luật từ thấp đến cao, trải qua những bước quanh
co, song phát triển không ngừng Lịch sử diễn ra không nguyên vẹn như cũ
“lặp lại trên cơ sở không lặp lại” nên nhận thức lịch sử không thể quan sát
trực tiếp và không thể tiến hành trong phòng thí nghiệm Sức mạnh của tri thức lịch sử, không chỉ giới hạn ở việc giúp HS có biểu tượng lịch sử, chính xác về quá khứ mà các em không sống, không trực tiếp quan sát Học lịch sử không chỉ để hiểu biết hết những giá trị to lớn của di sản văn hóa và tinh thần
mà còn đòi hỏi HS phải nhạy cảm với tất cả những gì được xã hội, các giai cấp của xã hội ấy và cả nhân loại quan tâm, tăng thêm ý thức trách nhiệm đối với xã hội Lịch sử không phải là lượm nhặt các sự kiện của quá khứ, thú vui sưu tầm đồ cổ, các bản chép tay cổ mà là phải hiểu được cuộc sống hiện nay, phải bỏ nhiều công sức để hiểu được quá trình vận động đi lên của nhân loại thì mới nhận thức được đúng, sâu sắc hiện tại, tương lai và
ngược lại Nó đúng như lời C.Mác đã khẳng định “Quá khứ thuộc về người
xây dựng tương lai”
Với tư cách là một yếu tố của nền văn hóa, tri thức Lịch sử không chỉ làm cho người học biết những gì đã xảy ra trong quá khứ để ngắm nhìn, kể
Trang 30chuyện mua vui, mà phải làm cho tầm nhìn đối với các vấn đề quanh ta được rộng lớn hơn, có thể dự đoán và phát triển hợp quy luật xã hội loài người Tri thức Lịch sử cùng với sự hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau về mọi măt có tác dụng giáo dục rất cao Ý nghĩa thẩm mỹ của môn học cũng như nhiều ngành khoa học khác thường tách biệt nhau, không thể đối lập với nhau Hiệu quả thẩm mĩ của giáo dục tăng lên khi người học tích cực trong việc tìm hiểu, nắm chắc các kiến thức có liên quan đến lịch sử Ngược lại, nắm vững kiến thức lịch sử làm cho vốn văn hóa của con người toàn diện, vững chắc hơn trong tư duy và hành động của một cách tích cực Chính vì vậy, chúng ta khẳng định
sự cần thiết của kiếm thức đối với việc giáo dục hình thành một con người tích cực trong xã hội để nhấn mạnh vai trò không thể thiếu được của tri thức lịch sử đối với việc đào tạo con người Nhà Dân chủ Nga thế kỷ XIX
Tsecnưepxki đã khẳng định “có thể không biết, không cảm thấy say mê học
tập môn toán, tiếng La tinh, Hóa học Có thể không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích Lịch sử thì chỉ có thể là một con người phát triển không đầy đủ về mặt trí tuệ”
1.1.2.5 Yêu cầu đổi mới việc kiểm tra, đánh giá hiện nay
Việc kiểm tra được tiến hành qua nhiều khâu và mỗi khâu đều có vị trí, vai trò nhất định góp phần làm cho KT, ĐG đạt mục đích đặt ra Trong các khâu đó thì thiết kế và sử dụng đề kiểm tra là khâu then chốt Thiết kế đề kiểm tra của GV được xem như phương tiện để đo mức độ nhận thức và năng lực tư duy của HS Đề kiểm tra nặng hay nhẹ, dễ hay khó về kiến thức, kĩ năng đều sẽ không đánh giá chính xác kết quả học tập của HS Chính vì vậy, khâu thiết kế đề kiểm tra là đặc biệt quan trọng trong quy trình KT,
ĐG Đổi mới khâu thiết kế đề là khâu then chốt quyết định chất lượng của việc KT, ĐG
Trang 311.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới
Thiết kế đề kiểm tra là khâu then chốt trong quá trình KT, ĐG, nó có vị trí quan trọng để củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng của HS trong học tập
KT, ĐG là một khâu không thể tách rời diễn ra trong suốt QTDH nhằm đánh giá thường xuyên năng lực học tập của HS hướng tới việc hướng dẫn HS học tập, GV giảng dạy và giám sát, cải tiến chất lượng giáo dục trong nhà trường
Từ kết quả KT, ĐG, những kết luận chính xác về thực trạng dạy học đã được rút ra để điều chỉnh hoạt động dạy học của thầy - trò Vì vậy, việc thiết kế và
sử dụng đề kiểm tra đảm bảo các yêu cầu sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học, GV có những thông tin phản hồi để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học từ đó nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường phổ thông Do vậy, mỗi GV cần tự ý thức được vai trò của vấn đề này, tự bồi dưỡng, hoàn thiện bản thân trong quá trình dạy học
1.1.3.1 Đối với giáo viên
Đối với GV, thiết kế và sử dụng đề kiểm tra là công việc thường xuyên trong QTDH Thiết kế đề kiểm tra cũng chính là một công cụ để đo kết quả dạy học của chính bản thân GV đó Thông qua việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo đúng phân phối chương trình, giúp GV đánh giá chính xác kết quả học tập của HS ở từng giai đoạn học tập khác nhau Qua kết quả thu được, GV có thể tự đánh giá việc dạy học (năng lực chuyên môn) cũng như năng lực sư phạm của mình trong việc thực hiện các kĩ thuật thiết kế đề kiểm
tra GV cần có thái độ cầu thị, tinh thần học hỏi, không chủ quan thỏa mãn,
tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng, tự bồi dưỡng thường xuyên và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ được giao, kiên trì vận dụng những điều đã học để nâng cao chất lượng dạy học và KT, ĐG Mỗi nhà giáo cần có lòng yêu nghề, tinh
Trang 32thần nhiệt huyết và sự say mê sáng tạo, đổi mới trong dạy học nói chung, KT,
ĐG nói riêng
Thiết kế đề kiểm tra nghiêm túc, tuân thủ đúng quy trình sẽ có một đề kiểm tra tốt và từ đề kiểm tra này GV sẽ thu được những thông tin tương đối chính xác và toàn diện để đánh giá mức độ hiểu và nắm kiến thức của HS đạt hay chưa đạt so với MTMH đề ra, nắm được mức độ tiến bộ hay sút kém của từng em để có những biện pháp khuyến khích, động viên hay giúp đỡ, bồi
dưỡng kịp thời Đề kiểm tra chính là phương tiện tạo nên “mối lên hệ ngược”
giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy học, tìm ra những biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học Thông qua thiết kế và sử dụng đề kiểm tra, GV thẩm định trên thực tế hiệu quả những cải tiến, đổi mới nội dung và PPDH của mình KT, ĐG kết quả học tập của HS là một bộ phận cấu thành và là giai đoạn cuối cùng của QTDH Trong mọi sự đánh giá, vai trò hàng đầu là thực hiện quyết định cho điểm lên lớp thì việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra sẽ công cụ có hiệu quả nhất cho việc này nhằm đánh giá chính xác năng lực học tập của HS
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra
có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với GV trong việc đánh giá chính xác kết quả học tập của HS, đồng thời cũng qua đó mà khẳng định năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của người thầy góp phần vào việc định hướng học tập cho HS
1.1.3.2 Đối với học sinh
Nếu xem KT, ĐG là thước đo kết quả học tập của HS thì khâu thiết kế
và sử dụng đề kiểm tra chính là công cụ quyết định để đánh giá chính xác nhất kết quả đó Cho nên, đối với HS, việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra có vai trò, ý nghĩa trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ
Trang 33- Về kiến thức: Trước hết, thông qua nội dung đề kiểm tra, việc KT,
ĐG góp phần củng cố những kiến thức HS đã được học, đồng thời qua đó các
em cũng tự khẳng định được bản thân mình Mặt khác, qua nội dung đề kiểm tra, HS có điều kiện được thể hiện sự hiểu biết tri thức của mình qua cách viết, cách trình bày trong bài kiểm tra Do đó, qua bài kiểm tra giúp HS hiểu sâu và củng cố tri thức, nhận thức đúng mức độ kiến thức đã đạt được so với yêu cầu của chương trình Đồng thời, qua bài kiểm tra còn giúp các em phát
hiện những thiếu sót,“lỗ hổng” trong kiến thức, kỹ năng để kịp thời sửa chữa,
thay đổi, điều chỉnh phương pháp học tập đạt kết quả cao hơn
- Về giáo dục: thực hiện nghiêm túc việc làm bài kiểm tra không những
giúp HS củng cố, nắm vững (hiểu) những tri thức lịch sử mà đó còn là cơ sở
để các em rút kinh nghiệm, bài học cho bản thân, từ đó hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp: ý chí tự giác vươn lên trong học tập, củng cố lòng
tự tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn, thể hiện lòng trung thực, tinh thần tập thể
- Về phát triển: Thông qua làm bài kiểm tra, HS có điều kiện rèn luyện
các kĩ năng tư duy trí tuệ từ đơn giản đến phức tạp: biết tái hiện sự kiện, hiện tượng lịch sử, hiểu sâu sắc về lịch sử, qua đó vận dụng khả năng thực hành, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, rút ra quy luật và bài học lịch sử … Thực hiện làm bài kiểm tra tốt sẽ giúp các em phát triển trí thông minh, biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới
và vận dụng vào cuộc sống
Như vậy, việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra không chỉ có ý nghĩa
đối với HS mà còn có vai trò quan trọng đối với cả HS Việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra là công việc của người GV, song thực hiện bài kiểm tra như thế nào, có đạt được kết quả hay không lại là nhiệm vụ của HS Giữa nhiệm
vụ của GV và HS trong việc KT, ĐG có mối quan hệ gắn bó đặc biệt
Trang 341.1.4 Các hình thức, phương pháp thiết kế đề kiểm tra trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông
1.1.4.1 Các hình thức đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một khâu của quá trình KT, ĐG Ở trường phổ thông hiện nay trong môn học Lịch sử có hai hình thức KT, ĐG, đó là KT, ĐG cơ bản và KT, ĐG ngoài giờ học Việc thiết kế và sử dụng đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới, xây dựng theo ma trận chỉ tiến hành trong hình thức KT, ĐG cơ bản, cụ thể là đối với đề kiểm tra 1 tiết và đề kiểm tra học kì
Việc KT, ĐG kết quả học tập của HS tập trung chủ yếu vào năng lực nhận thức, khả năng tiếp thu bài, thông qua đó giáo dục tư tưởng, thái độ cho các em Theo B.S.Bloom, có 6 mức độ thể hiện mục tiêu dạy học từ thấp lên
cao: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Vận dụng
vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam các nhà giáo dục cho rằng có 3 mức độ phù
hợp là biết, hiểu và vận dụng Trong dạy học Lịch sử, việc KT, ĐG cũng tập
trung vào các mức độ nhận thức này Tuy nhiên, việc tách bạch các mức độ nhận thức cũng như xác định mối quan hệ giữa nhận thức với rèn luyện kỹ năng và thái độ tình cảm là rất khó vì chỉ mang tính chất tương đối Mức
độ nhận thức biết là cơ sở cho việc hiểu lịch sử và từ hiểu mới có thể phân
tích, tổng hợp, vận dụng, đánh giá, đồng thời bộc lộ thái độ tình cảm của người học
Đối với HS lớp 10 THPT, do trình độ nhận thức và đặc điểm tâm lý đã
ở mức cao hơn so với HS THCS nên cần đánh giá các em ở cả ba mức độ,
trong đó lưu ý nhiều hơn đối với việc đánh giá khả năng hiểu và vận dụng
Tuy nhiên, so với HS lớp 11, 12 thì yêu cầu nhận thức của HS lớp 10 vẫn thấp hơn GV cần vận dụng linh hoạt các mức độ đánh giá để đảm bảo yêu cầu KT,
ĐG toàn diện đối với các em phù hợp với từng hình thức kiểm tra
Trang 35Khi thiết kế đề và sử dụng đề kiểm tra, GV cần tuân theo đúng quy trình, dựa trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học Lịch sử để xác định mục tiêu và mức độ kiểm tra cho phù hợp với đối tượng HS qua từng chương, từng giai đoạn học tập, lựa chọn nội dung kiến thức cơ bản cần kiểm tra, và các phương pháp kiểm tra cho phù hợp
* Đề kiểm tra 1 tiết giữa kỳ
Bài kiểm tra 1 tiết (hay còn gọi là bài kiểm tra giữa kỳ) thường được
GV tiến hành theo phân phối chương trình Bài kiểm tra này lấy điểm hệ số 2 của HS Mục đích của bài kiểm tra 1 tiết nhằm đánh giá kết quả học tập của
HS sau khi học xong một giai đoạn học tập và làm cơ sở cho việc học tập tốt các nội dung tiếp theo
Đối với HS lớp 10, bài kiểm tra 1 tiết được tiến hành khi học xong tiết
10 Nội dung kiểm tra gồm tất cả các bài HS đã học từ đầu học kỳ, tức là từ
bài 1 “Sự xuất hiện của loài người và bầy người nguyên thủy” cho đến bài 7
“Sự phát triển lịch sử và nền văn hóa đa dạng của Ấn Độ” Qua bài kiểm tra
GV có thể thu được kết quả chính xác nhất về mức độ nhận thức của từng HS, đồng thời đánh giá được khách quan ý thức, thái độ của các em Từ đó điều chỉnh lại PPDH, phương pháp đánh giá cũng như cách học của từng HS
Do đặc trưng của việc nhận thức Lịch sử, đối với các sự kiện, hiện
tượng lịch sử HS không chỉ cần “biết” mà còn cần “luận” để hiểu tường tận
các sự kiện, hiện tượng, vấn đề lịch sử để qua đó biết rút ra bài học vận dụng trong học tập và thực tiễn cuộc sống Cho nên, trong đề kiểm tra, đặc biệt là
đề kiểm tra 1 tiết trở lên thì việc kết hợp giữa hai loại câu hỏi TN và TL là rất cần thiết Trước đây, đề kiểm tra Lịch sử thường đơn thuần là câu hỏi TL, song để đáp ứng MTMH và đổi mới KT, ĐG thì việc kết hợp giữa hai loại câu hỏi TL và TN đã mang lại hiệu quả Từ thực tiễn kết quả học tập Lịch sử ở trường phổ thông, thể hiện rõ qua các kỳ thi tốt nghiệp THPT, thi vào các
Trang 36trường Đại học, Cao đẳng càng cho thấy việc thiết kế đề kiểm tra theo tinh thần đổi mới đang trở thành vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết bởi cách ra đề
và hình thức đề kiểm tra là một nhân tố lớn chi phối trực tiếp đến các kết quả này
* Đề kiểm tra học kỳ (cuối kỳ):
Bài kiểm tra học kỳ nhằm đánh giá toàn diện kết quả học tập của HS trong một thời gian dài (một học kỳ), cho nên đề kiểm tra cần biết chọn lọc nội dung nhưng lai phải có tính bao quát Trên thực tế, việc thiết kế đề kiểm tra môn Lịch sử ở các trường phổ thông vẫn chưa mang tính bao quát cao, thể hiện rất rõ ở việc GV có giới hạn nội dung ôn tập để kiểm tra cho HS Chính
vì lý do này khiến cho học sinh luôn có tâm lý chỉ học để thi, chỉ học những nội dung được giới hạn trong đề thi dẫn đến việc các em không hiểu được bản chất của các sự kiện, chưa thấy được mối quan hệ giữa các thời kỳ lịch sử, khó nhìn ra được quy luật chung của lịch sử nhân loại Để khắc phục những khuyết điểm này, khi thiết kế đề kiểm tra GV cần xác định mục tiêu đánh giá toàn diện, sử dụng đa dạng các loại câu hỏi đáp ứng được những yêu cầu sau:
+ Câu hỏi phải có tính hệ thống kiến thức, có tính khái quát sự kiện lớn của các thời kỳ lịch sử trong chương trình đã học và mối quan hệ giữa các sự kiện đó
+ Câu hỏi yêu cầu giải thích một nội dung cơ bản, chủ yếu của chương trình đã học
+ Câu hỏi có tính thực hành, vận dụng, liên hệ với thực tiễn cuộc sống Khi tiến hành thiết kế và sử dụng đề kiểm tra học kỳ và kiểm tra 1 tiết, yêu cầu các em cần đạt được các mục tiêu về cả kiến thức, kỹ năng, thái độ:
- Về kiến thức:
Nhằm kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức (biết, hiểu) về một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử đã được học qua Thông qua kiến thức đã học, HS
Trang 37biết vận dụng để phân tích, đánh giá được vai trò của mỗi thời kỳ đối với tiến trình phát triển chung của lịch sử loài người
- Về kỹ năng:
Qua bài kiểm tra, rèn luyện kỹ năng làm bài TN nhanh, hiệu quả Phát huy được khả năng viết, kỹ năng trình bày, lựa chọn kiến thức để phân tích, lập luận, liên hệ thực tiễn
- Về thái độ:
Qua bài kiểm tra, góp phần vào việc giáo dục tinh thần ham học hỏi, yêu thích tìm hiểu kiến thức lịch sử Giáo dục cho HS biết trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của nhân loại, từ đó bồi dưỡng tinh thần dân tộc, tình yêu quê hương đất nước Việt Nam
Như vậy, với bất kỳ một đề kiểm tra nào trong đó có đề kiểm tra 1 tiết,
đề kiểm tra học kì cũng nhằm kiểm tra kiến thức, kỹ năng, tình cảm thái độ của HS Do đó, khi thiết kế đề kiểm tra, GV cần chú ý đến nội dung chương trình, mục tiêu đề ra và đặc biệt chú ý đến các tiêu chí đánh giá cơ bản của một bài kiểm tra Ví như, qua bài kiểm tra phát huy được khả năng tư duy, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào đời sống thực tiễn, khả năng thể hiện được năng lực tư duy, tổng hợp, đánh giá kiến thức đã học của HS để nhằm thực hiện mục tiêu chung là nâng cao chất lượng dạy học
1.1.4.2 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong đề kiểm tra lịch sử ở trường phổ thông
Đổi mới KT, ĐG được tiến hành đồng bộ, hình thức kiểm tra thực hiện gắn liền với phương pháp kiểm tra Trước đây, trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông đề kiểm tra chủ yếu sử dụng câu hỏi TL truyền thống để đánh giá kết quả học tập của HS Hiện nay, với yêu cầu đổi mới phương pháp
KT, ĐG, ngoài việc sử dụng câu hỏi TL còn kết hợp sử dụng nhiều loại câu hỏi khác như câu hỏi TNKQ Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và
Trang 38nhược điểm, không có phương pháp nào là hoàn hảo Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra, GV cần dựa vào đối tượng nhận thức, dựa vào MTMH cũng như cơ
sở vật chất của nhà trường để chọn phương pháp đánh giá cho phù hợp và có hiệu quả Không nên đánh giá dựa trên một phương pháp đơn lẻ, GV cần biết kết hợp giữa phương pháp truyền thống và hiện đại để phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của mỗi phương pháp nhằm thu thập thông tin, đánh giá toàn diện, nhận xét chính xác kết quả học tập của HS Đồng thời qua hoạt động đánh giá, HS thể hiện năng lực và trình độ thực sự của mình Đối với việc học tập Lịch sử, cần bồi dưỡng để HS thành thạo các phương pháp đánh giá chứ không chạy theo phương pháp đánh giá chỉ được tổ chức thực hiện trong thi tốt nghiệp THPT hay tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng chuyên nghiệp
Như đã trình bày ở phần hình thức kiểm tra, trong các đề kiểm tra 1 tiết và đề kiểm tra học kỳ, câu hỏi được sử dụng nên là sự kết hợp giữa câu hỏi TN và câu hỏi TL Tại sao lại như vậy? Vì chúng tôi cho rằng mỗi phương pháp kiểm tra đều có những ưu điểm và hạn chế của nó Trong một đề kiểm tra (đặc biệt từ 1 tiết và đề kiểm tra học kỳ) không nên tuyệt đối hóa một phương pháp đánh giá nào mà cần sử dụng phối hợp các phương pháp đánh giá để phát huy tối đa ưu điểm, khắc phục hạn chế của mỗi phương pháp
* Phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi tự luận
Câu hỏi TL trong dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng là loại câu hỏi luận đề, sử dụng ở cả hình thức kiểm tra miệng và hình thức kiểm tra viết Sử dụng câu hỏi TL trong dạy học Lịch sử có những ưu điểm
và hạn chế riêng:
- Ưu điểm:
Trang 39+ Thực chất, câu hỏi TL yêu cầu HS suy nghĩ độc lập và giải quyết vấn
đề Trong dạy học Lịch sử khi sử dụng câu hỏi TL trong bài kiểm tra sẽ giúp các em có nhận thức, hiểu biết mới, có nhìn nhận sâu sắc hơn về lịch sử
+ Câu hỏi TL là một phương tiện để KT, ĐG có ưu thế lớn trong việc
đo khả năng “nhớ”, “hiểu” sự kiện lịch sử, khả năng phân tích, lập luận, vận
dụng, đánh giá Qua ngôn ngữ nói và viết , HS được trình bày, diễn đạt suy nghĩ, tình cảm của mình một cách chặt chẽ, khá đầy đủ các vấn đề lịch sử
+ Trong quá trình làm bài, đặc biệt là các câu hỏi mang tính đánh giá, liên hệ ngoài việc thể hiện được kiến thức của mình thì bài làm còn đo được cảm xúc, tình cảm, thái độ của HS đối với môn học và nâng cao trình độ nhận thức của các em ở mức độ cao hơn so với việc giải quyết vấn đề ở các loại câu hỏi TNKQ và câu hỏi thực hành
+ Việc biên soạn đề và đáp án bằng câu hỏi TL tương đối dễ dàng Đây
là những ưu điểm nổi bật của việc sử dụng câu hỏi TL Vì vậy, trong dạy học Lịch sử, không thể không có câu hỏi TL
Trang 40học tập cũng như trong KT, ĐG cần đổi mới việc sử dung câu hỏi TL Việc sử
dụng câu hỏi TL cần được đổi mới theo các hướng cơ bản cụ thể như sau:
Về nội dung: Các câu hỏi TL phải đáp ứng các yêu cầu:
Một là, nội dung câu hỏi phải tập trung vào những kiến thức cơ bản của
bài học, chương học hoặc cả khóa trình, đòi hỏi khả năng làm việc độc lập
của từng HS Ví dụ: khi dạy bài 2 “Xã hội nguyên thủy” GV cần tập trung
vào nội dung: Tổ chức xã hội loài người vào thời kỳ đầu lịch sử; Sự xuất hiện của thời kỳ kim khí và ý nghĩa của nó; Chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp hình thành
Hai là, câu hỏi TL góp phần khôi phục bức tranh quá khứ với những
nét cơ bản, phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập của HS Không nên đưa
ra những câu hỏi quá khó, mang tính đánh đố HS
Ba là, khi thiết kế câu hỏi TL phải xây dựng có hệ thống, tạo tình
huống có vấn đề để HS độc lập suy nghĩ, giải thích, chứng minh và rút ra kết luận đúng đắn về bản chất, đặc trưng, quy luật lịch sử
Bốn là, những câu hỏi đưa ra phải giúp HS vận dụng kiến thức ở những
mức độ khác nhau để tiếp thu kiến thức mới vàp hoạt động thực tiễn nhằm bồi dưỡng tình cảm, phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng của môn học
Về hình thức: Câu hỏi TL phải ngắn gọn, diễn đạt nội dung kiểm tra rõ
ràng để học sinh đều hiểu giống nhau Tránh đưa ra những câu hỏi tối nghĩa, tránh những câu hỏi mang tính chất đánh đố HS
Từ những yêu cầu trên, có thể xây dựng một số loại câu hỏi TL như sau:
+ Loại câu hỏi nêu hiểu biết về sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử
(tiến bộ, hạn chế) giúp HS hiểu sâu sắc sự kiện đang học Dựa trên kiến thức
đã học trong bài, HS có thể trả lời tốt các câu hỏi GV đưa ra GV không tốn nhiều công sức thiết kế các câu hỏi này mà vẫn giúp HS hiểu được kiến thức
cơ bản, trọng tâm của phần học, bài học đưa ra