1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần ruộc của nguyễn đình chiểu (chương trình ngữ văn 11)

97 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Biện Pháp Tạo Hứng Thú Trong Dạy Học Tác Phẩm 'Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc' Của Nguyễn Đình Chiểu (Chương Trình Ngữ Văn 11)
Tác giả Nghiêm Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Phạm Minh Diệu
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGHIÊM THU TRANG CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM ‘‘VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC” CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU CHƯƠNG TRÌNH NG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGHIÊM THU TRANG

CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM ‘‘VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC”

CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGHIÊM THU TRANG

CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM ‘‘VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC”

CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

MÃ SỐ: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Minh Diệu

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Minh Diệu đã tận tình

hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo, các em học sinh trường thực nghiệm đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Nghiêm Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng biểu v

MỞ ĐẦU v

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Hứng thú và hứng thú học tập Ngữ văn của HS THPT 8

1.1.1 Một số khái niệm 8

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập 10

1.1.3 Các điều kiện để tạo hứng thú học tập 11

1.1.4 Biểu hiện của hứng thú học tập 14

1.1.5 Vai trò của hứng thú học tập 17

1.2 Đặc điểm HS THPT 20

1.2.1 Đặc điểm về hoạt động học tập 20

1.2.2 Đặc điểm về trí tuệ 20

1.3 Thực trạng dạy học Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu từ góc độ tạo hứng thú 21

1.3.1 Nội dung, nghệ thuật tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 21

1.3.2 Thực trạng tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 27

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HS DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC 31

2.1 Nguyên tắc tạo hứng thú trong dạy học Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 31

2.1.1 Nguyên tắc giúp HS hiểu được nội dung tác phẩm 31

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi31 2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sáng tạo 32

2.1.4 Nguyên tắc phát triển chủ thể người học 33

Trang 6

2.2 Sử dụng một số biện pháp, phương pháp để tạo hứng thú cho HS trong

dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 33

2.2.1 Giúp HS hiểu được từ ngữ cổ và phương ngữ Nam Bộ 33

2.2.2 Giúp HS hiểu được hoàn cảnh lịch sử VN nửa cuối TK XIX 37

2.2.3 Giúp HS hiểu được văn hóa và tính cách Nam Bộ khi học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 39

2.2.4 Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo 42

2.2.5 Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực 43

2.2.6 Ứng dụng công nghệ thông tin 53

Tiểu kết chương 2 57

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58

3.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 59

3.3 Nội dung thực nghiệm 59

3.4 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 59

3.4.1 Phương pháp thực nghiệm 59

3.4.2 Quy trình thực nghiệm 60

3.5 Giáo án thực nghiệm 60

3.6 Kết quả thực nghiệm 74

3.6.1 Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm 74

3.6.2 Kết quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm 75

Tiểu kết Chương 3 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 83

Trang 7

2 Bảng 1.2 - Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của HS 29

3 Bảng 2.1 - Cách tạo lập nhóm học tập bài Văn tế nghĩa sĩ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là

một trong những tác phẩm đặc biệt có giá trị trong văn học Việt Nam cuối thế

kỉ XIX, là “một trong những bài văn hay nhất của chúng ta” (Hoài Thanh)

Nó ghi lại một dấu mốc quan trọng trong lịch sử, báo hiệu một thời kỳ đen tối của dân tộc Việt Nam - gần một thế kỷ nước ta rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu như một thước phim phản ánh chân thực khí thế quật cường, bất khuất của người dân Nam Bộ, tiêu biểu cho lòng yêu nước, trượng nghĩa, kết tinh nguyện vọng và ý chí người lao động, sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc Tác phẩm của Nguyễn Đình

Chiểu trong CT Ngữ văn THPT- Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - đã thể hiện

rõ những giá trị cao đẹp đó

Thế nhưng, trên mạng xã hội vẫn có nhiều hiện tượng HS kêu ca, thắc mắc về mục đích học tập bài văn tế, thậm chí còn thể hiện một sự vô cảm đối với tác phẩm này Điều đó cũng là một phần thực trạng của việc dạy học tác

phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hiện nay ở lớp 11 theo CT Ngữ văn THPT,

cho thấy kết quả dạy học bài văn tế hiện nay chưa cao, nhiều HS không hứng thú khi học tác phẩm này Đó là một điều rất đáng báo động

1.2 Tạo hứng thú học tập cho HS là vấn đề quan trọng trong dạy học

Nếu HS không có hứng thú thì không thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của BCH TW Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục

và đào tạo, yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học

theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,

ghi nhớ máy móc” [1, tr.5]

Trang 9

Với những lí do nêu trên chúng tôi chọn đề tài: “Các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình Ngữ văn 11)” làm đề tài nghiên cứu của mình, nhằm

góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn thơ Nguyễn Đình Chiểu nói riêng

và văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX nói chung

hệ thống biện pháp đưa ra còn nhỏ nhặt và mang tính chất như là những thủ pháp, những kĩ thuật của giáo viên trong giờ học [4]

Đó là các luận văn nghiên cứu về vấn đề tạo hứng thú cho HS trong giờ

học Ngữ văn nói chung còn vấn đề tạo hứng thú giờ học bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì hầu như chưa có công trình nào được công bố cho tới thời

điểm này

2.2 Các công trình nghiên cứu tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Công trình đầu tiên của tác giả người Pháp E.Bajot đã dịch tác phẩm Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp và có chuyên luận khảo cứu về tác phẩm này Các tác

giả người Pháp khác cũng có công trình nghiên cứu, tuy nhiên các công trình

này chủ yếu chỉ nhắc tới truyện thơ Lục Vân Tiên cố ý bỏ qua mảng thơ yêu nước trong đó có Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của ông nhằm che đậy tội ác

xâm lược [dẫn theo25, tr.3]

Trang 10

Chuyên luận Nỗi lòng Đồ Chiểu, Phan Văn Hùm là người Việt Nam đầu

tiên đứng ở góc độ khoa học văn học để xem xét tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu khá tỉ mỉ Với chuyên luận này, Phan Văn Hùm đã cắm một mốc theo định hướng đúng, nhiều triển vọng trong việc nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu

cả về tư tưởng học thuật cũng như về phương pháp văn bản học Ngoài ra, Phan Văn Hùm đã chú ý tới các tác phẩm khác của cụ Đồ Chiểu trong đó có

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Song sự quan tâm chưa thực sự tướng xứng với

tầm vóc của tác phẩm này [Dẫn theo 25, tr.3]

Năm 1963, thủ tướng Phạm Văn Đồng có bài viết “Nguyễn Đình Chiểu,

ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất

của Nguyễn Đình Chiểu Bài viết đã khẳng định vị trí cao quý của Nguyễn Đình Chiểu, thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định cuộc đời của Nguyễn

Đình Chiểu là “một tấm gương sáng nêu cao địa vị và tác dụng của văn học

nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng” [23, tr.74] Đặc biệt, trong bài viết ông còn giành nhiều nhận định ca

ngợi giá trị bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, đó là “ Thơ văn yêu nước của

Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả, thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày

cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” [23, tr.71]

Khi nghiên cứu về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tác giả Mai

Quốc Liên đã đánh giá rất cao tác phẩm này Đồng thời, tác giả cũng so sánh với các tác phẩm được coi là đỉnh cao của văn học yêu nước thời trước như

Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo để khẳng định vai trò to lớn của Nguyễn Đình Chiểu Ngoài ra, tác giả còn khẳng định: “Qua bài Văn

tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lần đầu tiên trong văn học xuất hiện vô cùng sinh động

và chân thực hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân” [dẫn theo 25, tr.3]

Trang 11

Nhà phê bình Hoài Thanh cũng có bài viết “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một trong những bài văn hay nhất của chúng ta” trên báo Văn nghệ ngày 30/6/1972 Bài viết đã chỉ ra được: “Trước đó chưa bao giờ có và sau đó đến

mấy chục năm cũng chưa hề có trong văn thơ ta một cái nhìn yêu thương và kính phục như vậy đối với người nông dân” [23, tr.455] Ngoài ra còn có bài

viết của tác giả Đỗ Văn Hỷ với nhan đề “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc qua ý thơ Miên Thẩm và Mai Am”

2.3 Các công trình nghiên cứu phương pháp dạy và học Văn tế nghĩa

sĩ Cần Giuộc

Nhà nghiên cứu Đào Nguyên Tụ khi phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc dựa trên kết cấu 4 phần: lung khởi, thích thực, ai vãn và kết Với bài viết này, tác giả đã cho thấy được cái nhìn khái quát và toàn diện về tác phẩm

“xuất phát từ lòng yêu nước thương dân tha thiết, Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ nỗi tiếc thương vô hạn đối với những nghĩa sĩ nông dân đã bỏ mình vì nước,

đề cao tấm gương chiến đấu hi sinh anh dũng của họ để động viên lòng yêu nước căm thù giặc, ý chí kiên quyết chống thực dân Pháp xâm lược của nhân

dân ta thời đó” [23, tr.606] Cũng như các tác giả khác, Đào Nguyên Tụ cũng

rất đề cao bài văn tế này và cũng đặt nó sánh ngang tầm với các tác phẩm

đỉnh cao trong văn học yêu nước Ông viết: “Nếu như trong kho tàng văn học

dân tộc đã có đỉnh cao về nhiều thể loại như hịch của Trần Hưng Đạo, phú của Trương Hán Siêu, cáo của Nguyễn Trãi thì ta lại có thêm đỉnh cao về văn tế với sự đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu” [23, tr 616]

Các tác giả Ngô Đức Quyền và Nguyễn Quốc Túy trong sách “Giảng

văn văn học Việt Nam” và “Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam” cũng

khẳng định: giá trị nghệ thuật hết sức đặc sắc làm cho bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trở thành bất tử, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng được bức tượng đài về người nông dân yêu nước, những người anh hùng vô danh [Dẫn theo 25, tr.6]

Trang 12

Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên của trường ĐHSP Hà Nội, xuất

bản 1991, Nguyễn Đình Chú đã có những đóng góp thiết thực về phương

pháp giảng dạy cho giáo viên hướng dẫn HS tiếp cận Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu [5]

Ngoài ra phải kể đến bài viết “Định hướng tổ chức dạy học văn tế nghĩa

sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” (trích Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học Văn) của Nguyễn Ái Học Bài viết đã chỉ ra khá tỉ mỉ các bước thực hiện khi dạy giảng dạy tác phẩm [13]

Bài viết của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, “Tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm văn học trung đại trong chương trình SGK Ngữ văn 11” trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ số 9 năm 2007, đã đưa ra một số kinh nghiệm để giảng

dạy bài văn tế đạt hiệu quả Tác giả đã đề cập đến một số vấn đề như phương diện cảm xúc, thể loại và đặc biệt chú ý đến việc tìm hiểu cơ sở văn hóa của khái niệm “nghĩa” và coi đó là chìa khóa hiểu đúng tác phẩm [21, tr.31]

“Con đường dẫn HS khám phá, chiếm lĩnh chiều sâu nghệ thuật tác phẩm Văn tế nghĩa Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu để nâng cao hiệu quả dạy và học” của tác giả Phạm Thị Mai Hương, tiếp cận tác phẩm từ chiều sâu nghệ thuật để nâng cao chất lượng dạy học [14]

Tác giả Lại Thị Thương, “Tiếp cận hệ thống theo hướng văn hóa trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” đã có tiếp cận giảng dạy tác phẩm từ góc độ văn hóa [25]

Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp tích cực trong

việc giảng dạy tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhưng nhìn chung các

công trình này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra cách tiếp cận, câu hỏi định hướng để giúp GV giảng dạy chứ chưa đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú học tập cho HS với bài học

3 Mục đích nghiên cứu

Từ việc tìm hiểu lí thuyết về hứng thú và tạo hứng thú trong học tập; các điều kiện, nguyên tắc và tác dụng khi vận dụng cơ sở lí thuyết đó vào dạy học

Trang 13

tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc; luận văn đưa ra một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhằm giúp

HS yêu thích thể loại văn cổ, thấy được những giá trị của tác phẩm đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất biện pháp tạo hứng

thú khi học bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

4.2- Đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm Văn

tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

4.3- Thực nghiệm

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng

Hoạt động dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn

Đình Chiểu theo CT Ngữ văn lớp 11 (CT cơ bản)

6 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt tới mục đích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết được sử dụng để thu thập thông tin trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy lô-gíc để rút ra kết luận khoa học cần thiết

Trong đề tài này, các phương pháp nghiên cứu lí thuyết được dùng gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh- đối chiếu, suy luận

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 14

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: điều tra, khảo sát phỏng vấn, thống kê, phân loại

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng để điều tra thực

trạng dạy học bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ở THPT, xử lý các điều tra và tư

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học

tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Hứng thú là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như

trong đời sống Hứng thú là một dạng tâm lí phức tạp Vì vậy, vấn đề này luôn được các nhà tâm lí học quan tâm nghiên cứu

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Hứng thú là cảm giác thích thú thấy trong

người mình đang có một sức thôi thúc làm cái gì đó” Hứng thú nếu là danh từ chỉ sự ham thích (Tác phẩm gây được hứng thú cho người đọc) Hứng thú là tính từ: Cảm thấy hứng thú, thích thú, hào hứng, hứng thú với công việc [26, tr.861]

Theo Từ điển Tâm lý học: “Hứng thú là biểu hiện của một nhu cầu, làm

cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm thích thú ” [28, tr.161]

Trong cuốn Vấn đề hứng thú nhận thức trong giáo dục học, G.I.Sukina

nhấn mạnh: “Hứng thú - đó là sự kết hợp độc đáo các quá trình tình cảm - ý chí và quá trình trí lực, tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao” và “đó là thái độ riêng của cá nhân đối với đối tượng, ý thức được ý nghĩa cuộc sống và sự hấp dẫn về tình cảm gây ra” [33, tr.4]

Khar-la-mốp đã nêu: “Hứng thú - đó là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm

đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính chất hấp dẫn” [33, tr.28] “Điều đó gây cho các em niềm vui sướng, sự hưng phấn xúc cảm và kích thích tình tích cực nhận thức” [33, tr.95 - 96] Tương

tự, trong cuốn Phương pháp đọc sách, A.P.P.Ri-ma-cốp-xki cho rằng “Lòng đam mê, thích thú môn học và sự thấm nhuần mục đích học tập sẽ giúp người

ta khắc phục khó khăn, nâng cao được năng lực làm việc” [32, tr.97]

Trang 16

Nhà tâm lý học Cô-va-li-ôp cũng đưa ra quan niệm của mình trong cuốn

Tâm lý học cá nhân như sau: “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với

một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó” “Hứng thú đó là sự kết hợp độc đáo quá trình tình cảm - ý chí và quá trình nghị lực, tính tịch cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao” [29, tr.41]

Bên cạnh đó trong Luật giáo dục được Quốc hội ta thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009, tại kì họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, ở Điều 28 - Yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [17, tr.23] Để gây hứng thú cho HS chúng ta phải “ giúp học sinh cảm xúc niềm vui sướng của sự thành công, tin tưởng vào sức của mình, vào khả năng vượt qua khó khăn sẽ gặp” [34, tr.28]

Như vậy, hứng thú là một trạng thái tâm lý phức tạp của con người, là thái độ của cá nhân đối với một đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong cuộc sống vừa có ý nghĩa mang lại một khoái cảm Hứng thú sẽ làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động cũng như sự sáng tạo trong công việc

1.1.1.2 Hứng thú học tập Ngữ văn

Hoạt động học tập là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, tự lực và

sáng tạo Để tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, phát huy được tính tích cực, sự sáng tạo của người học cần phải tạo được hứng thú nhận thức Hứng thú nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng Trong nhà trường, hứng thú nhận thức của HS chính là hứng thú học tập Vì thế có thể đưa ra định nghĩa học tập môn Ngữ văn trong nhà trường như sau: Hứng thú học tập trong môn Ngữ văn là thái độ say mê, tích cực của HS trong quá trình học tập môn

Trang 17

Ngữ văn do thấy được ý nghĩa của nó trong cuộc sống và có sự gắn bó tình cảm sâu sắc với nó Thái độ này thể hiện trong mọi hoạt động của cá nhân, rõ

Thái độ đặc thù của cá nhân thể hiện rõ nhất ở trong hứng thú cá nhân

Có nghĩa là trước mọi đối tượng, mọi hiện thực khách quan, con người nhìn nhận nó với một thái độ của riêng mình Cái gì có ý nghĩa quan trọng, có giá trị với chính cá nhân, có liên quan tới sự phát triển của cá nhân, cá nhân cảm thấy hứng thú thì sẽ được lựa chọn “Tính lựa chọn của hứng thú là biểu hiện

xu hướng lựa chọn của quá trình tâm lý nhằm vào các đối tượng của thế giới

làm thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân” [31, tr.56]

1.1.2.2 Sự kết hợp nhuần nhuyễn và hữu cơ giữa quá trình nhận thức và quá trình tình cảm của cá nhân

Cấu tạo của hứng thú gồm nhận thức và tình cảm Sự cấu tạo hai phần này của hứng thú có sự kết hợp nhuần nhuyễn, hữu cơ với nhau tạo nên một hứng thú hoàn chỉnh và trọn vẹn

Thành phần nhận thức là nắm lấy đối tượng và hiểu rõ đối tượng ở mức

độ sâu sắc, đi sâu vào bản chất của đối tượng Đây là bộ phận mang tính lí trí cao Nó tham gia vào hứng thú người học; có nhiệm vụ thúc đẩy người học tìm, nhìn nhận ra những giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng của đối tượng trong cuộc sống và đối với cá nhân người học

Thành phần tình cảm được cho là có vai trò hết sức quan trọng Nó giúp cho việc nhận thức diễn ra nhanh, hiệu quả, dễ dàng và thoải mái hơn Bởi tình cảm là nguồn nuôi dưỡng hứng thú, giúp cho hứng thú được hình thành

và phát triển Việc người học có hứng thú nhiều hay ít dựa trên tình cảm của

cá nhân

Trang 18

người học với đối tượng Thành phần tình cảm cũng làm cho hứng thú cá nhân có sắc thái riêng, mang tính cá nhân

Khi nhận thức và tình cảm trong hứng thú kết hợp với nhau thì hứng thú

cá nhân sẽ sâu sắc và bền lâu hơn Đồng nghĩa với việc khi có hứng thú học tập, HS sẽ tích cực hơn, lôi cuốn hơn, có ý chí tập trung cao hơn từ đó có tình cảm sâu sắc với đối tượng, muốn đi sâu vào tìm hiểu đối tượng

1.1.2.3 Thống nhất giữa chủ thể và khách thể

Trong nghiên cứu hứng thú, giữa chủ thể và khách thể có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau Nó là cơ sở nghiên cứu các biện pháp kích thích hứng thú cho HS

Theo các nhà xã hội học sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể đó theo tính chất khách quan của sự tồn tại hứng thú và phản ánh hứng thú trong ý thức của con người “Hứng thú là sự thống nhất giữa biểu hiện thực tế của nội tại với sự phản ánh thế giới khách quan, với tổ hợp những giá trị vật chất và tinh thần của nền văn hóa nhân loại trong ý thức của chủ thể” [Dẫn theo15, tr.28]

1.1.3 Các điều kiện để tạo hứng thú học tập

1.1.3.1 Điều kiện về mục tiêu và nội dung học tập

Mục tiêu học tập do người dạy thiết kế và cũng là cái quyết định xem người học hứng thú yêu thích hay không Nội dung học tập là kiến thức mà người học sẽ chiếm lĩnh và biến nó thành của bản thân Nội dung học tập tồn tại khách quan với người học, là phần mà người học có thể đạt được các mục tiêu học tập Tuy nhiên, không phải tất cả mục tiêu học tập đều là mục tiêu kiến thức bên trong mà người học khao khát muốn đạt được Chỉ những yếu

tố nào của mục tiêu học tập trở thành đối tượng học tập, hoạt động học tập thì mới thực sự trở thành mục tiêu bên trong của người học Để gia tăng hứng thú

và khả năng chiếm lĩnh nội dung học tập cần phải làm cho nội dung học tập trở thành đối tượng của hoạt động học tập, phải thực sự coi nội dung học tập

là hình thái đối tượng hóa của những mục tiêu học tập Do học tập là tổ hợp

Trang 19

những hoạt động khác nhau được người học thực hiện nhằm chiếm lĩnh đối tượng nên nội dung học tập là các mục tiêu học tập được đặt dưới hình thức những hoạt động của người học trong quá trình học tập như hoạt động nhận thức, hoạt động giao tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động quản lí tri thức, Nội dung học tập muốn trở thành điều kiện tạo hứng thú cho HS thì phải đảm bảo về các mặt sau:

- Hấp dẫn về nhận thức: Các kiến thức mà nội dung học tập đưa ra phải là

những kiến thức thu hút HS, không phức tạp cũng như không quá đơn giản, phải đảm bảo chúng nằm trong phạm vi phát triển gần của mỗi người

- Đa dạng hóa trong cách trình bày và mô tả đảm bảo HS có nhu cầu và thích học: Nội dung học tập phải được thiết kế một cách lôgic với nhiều

hướng tiếp cận khác nhau để HS có thể tiếp cận ở nhiều con đường, từ đó bộc

lộ rõ bản chất nội dung học tập Để đảm bảo nội dung học tập tạo được hứng thú cho người học, người dạy phải có kĩ năng sư phạm Nội dung học tập được thiết kế và mô tả đạt hiệu quả khi có sự hỗ trợ của nhiều phương tiện dạy học và tài liệu học tập

- Nội dung học tập tạo ra nhiều cơ hội cho phép người học kiến tạo kiến thức: Khi thiết kế nội dung học tập cần chú ý tới các tình huống, các hoàn

cảnh có thể giúp người học kiến tạo tri thức cho mình trong phạm vi của nội dung học tập Vì vậy, cần căn cứ vào sự phát triển cá nhân của người học để

dự kiến những yếu tố cấu thành hoàn cảnh cụ thể của học tập làm cho người học tạo được cấu trúc mới trong kinh nghiệm của mình mà thích ứng được với hoàn cảnh

- Nội dung học tập đảm bảo tính liên tục trong sự liên kết lẫn nhau ở mức

độ cao: Nội dung học tập khi được thiết kế cần phải dựa vào điều kiện học

liệu và các kĩ thuật dạy học có thể sử dụng trong quá trình học tập để tạo ra sự liên kết thông tin Đó là sự liên thông giữa các loại tài liệu cũng như sự liên thông giữa nhiều kĩ thuật dạy học như lời nói, tranh ảnh, bản đồ, câu hỏi và câu trả lời, ngôn ngữ đàm thoại và thảo luận, Như vậy, sẽ giúp cho hệ thống

Trang 20

tri thức không bị tách rời trong quá trình học tập và cũng là điều kiện quan trọng nhằm tạo ra hứng thú cho người học

1.1.3.2 Điều kiện về phương pháp dạy học

Trong quá trình dạy học, phương pháp dạy học là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng dạy học Vì vậy, việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp có vai trò quan trọng đối với chất lượng dạy học nói chung và

tạo hứng thú cho người học nói riêng

Phương pháp dạy học được vận dụng phải phù hợp với mục tiêu, đặc trưng nội dung và nguyên tắc dạy học, phát huy được tính tích cực của HS Trong giờ học, HS cảm thấy thoải mái, thấy việc học của mình là có ích thì khi đó HS được làm chủ hoạt động học của mình Như vậy, kiến thức sẽ ở lại lâu hơn trong trí nhớ và đặc biệt HS cảm thấy hứng thú, yêu thích với hoạt

động học vì đã được trải nghiệm với những kiến thức đó

Việc lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp, HS sẽ có điều kiện để phát triển hứng thú nhận thức, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của bản thân

Với các phương pháp dạy học tích cực, HS không chỉ dừng lại ở việc giải quyết các vấn đề đặt ra mà còn tự phát hiện ra các vấn đề mới cần được giải quyết Những cảm xúc có được trong quá trình tìm tòi khám phá, cảm xúc thành công và cảm xúc về sự hoàn thành một công việc là những củng cố tích

cực cho việc hình thành và phát triển hứng thú nhận thức ở người học

1.1.3.3 Điều kiện về môi trường học tập

Môi trường học tập cũng là một trong những điều kiện góp phần kích

thích tạo hứng thú học tập cho HS Môi trường học tập là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, tức thời nhất Bầu không khí lớp học có thoải mái hay không, các phương tiện, ánh sáng, âm thanh có phù hợp khiến HS có cảm thấy hứng thú hay không Môi trường học tập, không khí lớp học phù hợp, HS cảm thấy thực sự thoải mái, tự tin thể hiện sẽ khiến các em hình thành hứng thú một

Trang 21

cách nhanh chóng, dần dần củng cố một năng lực quan trọng, đó là năng lực

hứng thú

Để tạo được một môi trường lớp học với tâm lí thoải mái, GV phải biết cách tổ chức lớp học, tạo không khí lớp học vui vẻ, tạo niềm tin cho HS qua các hình thức động viên, khen thưởng kịp thời, hợp lí GV phải là người hướng dẫn lớp học trong tính dân chủ để mọi HS cảm thấy mình đang được quan tâm

1.1.3.4 Điều kiện về hình thức kiểm tra đánh giá

Các hình thức kiểm tra đánh giá không chỉ là thước đo mức độ đạt được mục tiêu học tập của HS mà nó còn là một động lực kích thích hứng thú học tập cho HS Đánh giá đúng, kịp thời sẽ khiến tâm lí HS thoải mái, vui vẻ với những gì mình đã hoàn thành, khám phá được trong quá trình học Nhưng nếu đánh giá không kịp thời, không đúng với năng lực của HS sẽ khiến các em thấy tổn thương, mất niềm tin vào quá trình tìm tòi, khám phá

1.1.4 Biểu hiện của hứng thú học tập

1.1.4.1 Biểu hiện hứng thú học tập

a) Biểu hiện về mặt trí tuệ

- HS luôn say mê vươn tới nhận thức:

+ Ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá, thường xuyên đặt các hỏi chứa đựng các vấn đề

+ Có trí tưởng tưởng sáng tạo

+ Luôn là người đưa ra sáng kiến, là người khởi đầu các cuộc tranh luận

trong lớp, luôn mong muốn vận dụng tri thức vào thực tiễn

+ Thường tìm tới những bài tập, những nhiệm vụ học tập khó có tính thử

thách, yêu cầu cao

- Chú ý trong học tập:

+ Tập trung cao độ và dễ tập trung trí nhớ

+ Nhanh chóng chuyển trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn

+ Tính ổn định và độ bền của chú được thể hiện rõ qua hoạt động học

Trang 22

- Rất thích thú, phấn khởi, lạc quan trong hoạt động học tập

- Chủ động dành thời gian cho hoạt động học tập

- Say mê, yêu thích vượt qua những nhiệm vụ khó khăn

- Thích sáng tạo, đưa ý tưởng cải tiến và thực hành ý tưởng theo hướng lí thú, bổ ích

- Dễ xúc cảm về mặt nhận thức, sung sướng, hạnh phúc khi nhu cầu nhận thức được thỏa mãn

d) Biểu hiện về mặt năng lực

Phát triển và thể hiện rất rõ các năng lực thuộc nhận thức: năng lực quan sát, tư duy, tưởng tưởng, so sánh, phán đoán, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

e) Biểu hiện về mặt kết quả

Thường xuyên thành công trong học tập Đôi khi thất bại nhưng coi thất bại là bài học kinh nghiệm để vươn lên

1.1.4.2 Biểu hiện hứng thú học tập Ngữ văn

Môn Ngữ văn là một môn học có tính khoa học và tính nghệ thuật, hứng thú học tập của HS với môn học cũng có những nét riêng biệt

a) Biểu hiện về mặt trí tuệ

- HS luôn say mê đạt tới nhận thức về văn học và ngôn ngữ

+ Luôn tìm tòi, khám phá các tác phẩm văn học, tìm hiểu cấu trúc ngôn ngữ, thi pháp tác phẩm

+ Luôn trao đổi, thảo luận với bạn bè, thầy cô về các vấn đề văn học, khuynh hướng văn học, ngôn ngữ; luôn đặt các câu hỏi tại sao, các câu hỏi đòi hỏi phải lí giải bằng hệ thống kiến thức văn học

Trang 23

+ Có trí tưởng tưởng, sáng tạo; viết văn tốt

+ Tích cực tham gia các hoạt động học tập môn Ngữ văn

+ Luôn là người đưa ra sáng kiến, khởi đầu cho các cuộc tranh luận về các vấn đề văn học, ngôn ngữ trong giờ học

+ Luôn mong muốn vận dụng các kiến thức văn học, ngôn ngữ vào trong cuộc sống thực tiễn: vận dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, vận dụng tri thức về các loại văn bản, sáng tác thơ, truyện làm báo tường

+ Luôn sưu tầm, tìm đọc các tác phẩm văn học, các nghiên cứu về văn học ngôn ngữ

+ Thường tìm làm các bài tập đòi hỏi tính sáng tạo, yêu cầu cao, thích viết văn

- Luôn chú ý trong học tập môn Ngữ văn

+ Dễ tập trung trí nhớ và tập trung cao độ khi đọc truyện, thơ Tập trung khi nghe giảng, khi làm bài tập

+ Nhanh chóng chuyển trí nhớ ngắn hạn sang dài hạn Dễ dàng ghi nhớ

và nhớ lâu những câu văn nổi bật của nhân vật; những câu thơ hay, tâm đắc; những lời bình giảng hay của thầy cô

+ Tính ổn định và độ bền vững của chú ý thể hiện rất rõ qua các hoạt động học trên lớp và hoạt động tự học

b) Biểu hiện về mặt ý chí

- Cần cù, chăm chỉ trong mọi hoạt động học, đọc và nghiên cứu tác phẩm Khi giải quyết một vấn đề văn học thì suy nghĩ, tìm hiểu và theo đuổi đến cùng

- Thường xuyên sưu tầm, ghi chép và tích lũy kiến thức văn học

Trang 24

- Sẵn sàng làm nhiệm vụ khó khăn, mang tính thử thách, đòi hỏi sáng tạo

- Dễ xúc cảm với số phận nhân vật trong tác phẩm, đồng cảm với tâm trạng của tác giả Vui sướng khi nhận ra tư tưởng nội dung, chân lí của một tác phẩm văn học

d) Biểu hiện về mặt năng lực

Những năng lực về mặt nhận thức đều phát triển và thể hiện rõ nét như năng lực tưởng tưởng, năng lực so sánh, năng lực phân tích tổng hợp, suy luận

e) Biểu hiện về mặt kết quả

- Tích cực tham gia xây dựng bài, có những ý kiến tốt; thường xuyên đạt điểm tốt trong các bài kiểm tra

- Đôi khi thất bại nhưng không nản mà coi đó là bài học kinh nghiệm để vươn lên

1.1.5 Vai trò của hứng thú học tập

1.1.5.1 Vai trò của hứng thú học tập

a) Đối với hoạt động nhận thức trong học tập của HS

Đối với mọi hoạt động của con người hứng thú có vai trò rất quan trọng

“Bằng cách phát triển hứng thú, chúng ta sẽ phát huy một trong những năng

lực quý giá nhất, cao quý nhất của con người là năng lực thích thú, tập trung vào hoạt động và hoàn toàn say mê mọi công việc cần làm” [dẫn theo15, tr.40] Đối với hoạt động nhận thức trong học tập của HS cũng như vậy Hứng thú là động cơ, là cơ sở cho một thái độ học tập tích cực Khi có hứng thú, HS

sẽ tập trung học tập với thái độ tích cực, say mê, đầy hứng khởi, thích thú tạo nên những kích thích mạnh mẽ của quá trình học tập, dẫn tới việc học sẽ đạt kết quả cao Ngược lại, nếu không có hứng thú thì việc học tập chỉ là sự ép buộc, HS luôn cảm thấy uể oải, chán nản với các hoạt động học Theo các công trình nghiên cứu về hứng thú cho thấy việc ép buộc trong quá trình học tập cũng cung cấp kiến thức cho HS, song nó sẽ kìm hãm sự phát triển của trí

Trang 25

tuệ và làm cho các kiến thức mất giá trị “Sự phát triển toàn diện, sự phong phú về tinh thần không thể đạt tới bằng cách cưỡng bức Sự phong phú về tinh thần chân chính chỉ hình thành khi con người tự mình vươn tới khoa học, tới nghệ thuật” [33, tr.19]

Hứng thú sẽ đem lại kết quả vật chất cho HS trong quá trình học tập là

bổ sung tri thức, phát triển trí tuệ và rèn luyện kĩ năng Đây chính là con đường hình thành và phát triển cho HS các năng lực Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, việc tạo hứng thú cho HS là một yêu cầu sư phạm quan trọng đối với GV “Nếu trường học có đủ các nhà giáo xuất sắc biết lấy hứng thú làm chỗ dựa cho toàn

bộ hoạt động của mình, đồng thời thấy mục đích dạy học là phát triển hứng thú thì nhà trường và việc học đối với trẻ em sẽ là công việc hứng thú và vui sướng, dù vẫn khó khăn như trước nhưng các em đã không để ý đến các khó khăn ấy” [Dẫn theo 15, tr.41]

b) Đối với năng lực học tập của HS

Trong nhà trường, việc hình thành và phát triển năng lực cho HS là một trong những mục đích quan trọng nhưng không phải là một công việc dễ thực hiện Không phải năng lực sẽ hình thành và phát triển khi để HS học dần, học mãi, HS cần phải biết mình phải học gì, học như thế nào Bản thân HS phải thấy rõ được tầm quan trọng của môn học và luôn tích cực, tự giác trong học tập Nếu HS không có tình cảm, hứng thú với môn học thì mọi nội dung, phương pháp dạy đều vô tác dụng “HS không phải là cục đất muốn nặn thành

gì cũng được mà là một con người có sức mạnh bên trong nó Mỗi đứa bé tiếp nhận mọi hoàn cảnh sống, mọi cố gắng dạy dỗ em của người lớn và mọi năng lực bên trong của mình theo kiểu của em, in dấu nhân cách của riêng em lên tất cả mọi thứ Tiếp thu hay gạt bỏ, lĩnh hội hay cự tuyệt, nhận hay không nhận, tất cả đều theo kiểu của riêng em.” [Dẫn theo15, tr.42]

Để hình thành và phát triển năng lực cho HS cần phải bảo đảm HS nhận thức được tầm quan trọng của kiến thức và tạo ra sức hấp dẫn về tình cảm đối

Trang 26

với các em Các hoạt động học tập mà HS tham gia phải tạo được hứng thú cho các em Hứng thú càng sâu sắc bao nhiêu thì hoạt động học tập của HS càng hiệu quả bấy nhiêu Hứng thú sẽ làm cho năng lực thêm sắc bén bởi khi

có hứng thú HS có thể say sưa làm việc gì đó lâu dài và không mệt mỏi Hứng thú và năng lực học tập có mối quan hệ biện chứng với nhau Cái này là dấu hiệu nhận biết của cái kia và ngược lại Nếu có hứng thú ở một lĩnh vực, nội dung kiến thức HS sẽ thích thú, say mê, tìm hiểu lĩnh vực đó và hình thành, phát triển năng lực cho mình ở nội dung, lĩnh vực đó Ngược lại, nếu

có năng lực ở một lĩnh vực, HS thường hứng thú với những kiến thức ở lĩnh vực đó

1.1.5.2 Vai trò của hứng thú học tập trong môn Ngữ văn

Hứng thú học tập là cơ sở nền tảng giúp HS cảm thụ văn học bằng hình tượng Văn học là cảm xúc, hứng thú sẽ tạo ra cảm xúc “Hứng thú và yêu thích là hai hiện tượng giống nhau về bản chất Đôi khi người ta có thể thay thế lẫn nhau hai từ đó Cái gì không làm cho ta xúc động, không đụng chạm đến tình cảm của ta thì không gây ra được hứng thú Khi phát triển hứng thú,

đồng thời chúng ta phát triển cả tình cảm nữa” [Dẫn theo 8, tr.45]

Hứng thú cũng là cơ sở để phát triển tài năng văn học ở HS Sự thăng hoa trong cảm xúc, những rung động của tâm hồn dần giúp HS nảy nở tình cảm, cảm xúc mới khiến HS bộc lộ năng lực trí tuệ của mình “Hứng thú và tài năng là hai bông hoa mọc chung một cành, hai mặt của một hiện tượng

Nó là cặp đôi không tách rời nhau, như câu hỏi và câu trả lời Tài năng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ và nói chung không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những năng lực cần thiết để thỏa mãn hứng thú” [Dẫn theo 8, tr.47]

Với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, hứng thú không chỉ giúp HS

tìm hiểu biết đến thể loại văn cổ của nền văn học dân tộc, cảm thụ tốt ý nghĩa, nội dung, thông điệp trong tác phẩm mà còn kích thích HS tìm hiểu tác phẩm một

Trang 27

cách sâu sắc hơn không chỉ thời gian trên lớp mà còn dành thời gian học ở nhà Từ đó, thấy được những nét văn hóa, giá trị tư tưởng trong đời sống người Việt qua tác phẩm HS cần biết và lưu giữ

1.2 Đặc điểm HS THPT

1.2.1 Đặc điểm về hoạt động học tập

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo của HS THPT nhưng có yêu cầu cao hơn về tính tích cực và trí tuệ Muốn lĩnh hội một cách sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Hứng thú học tập của các em lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn

Thái độ học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt HS đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập được tăng lên mạnh mẽ HS đã có ý thức rõ ràng được những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho HS bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học

Ở lứa tuổi này, các hứng thú và khuynh hướng học tập của HS đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng đối với một môn khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu vào các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em

1.2.2 Đặc điểm về trí tuệ

Lứa tuổi HS THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ

Trang 28

Cảm giác và tri giác đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát

gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển Tuy nhiên, sự quan sát còn thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế

Trí nhớ của các em cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò

chủ đạo trong hoạt động trí tuệ HS đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Trong quá trình học tập, các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những phần quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các em cũng hiểu được rõ trường hợp nào cần phải ghi nhớ chính xác, trường hợp nào chỉ cần hiểu bản chất không cần ghi nhớ cụ thể Nhưng cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ và đánh giá thấp việc ôn lại bài

Hoạt động tư duy của các em lứa tuổi này phát triển mạnh về khả năng

tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng HS thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật, nguyên tắc chung của các hiện tượng hằng ngày, của những tri thức phải tiếp thu Trước một vấn đề HS thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn

1.3 Thực trạng dạy học Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu từ góc độ tạo hứng thú

1.3.1 Nội dung, nghệ thuật tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1.3.1.1 Về tác gia, tác phẩm

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nước chống Pháp của nước ta cuối thế kỉ XIX, mà tên tuổi gắn liền với phong trào đấu tranh oanh liệt của nhân dân miền Nam từ những buổi đầu giặc Pháp đặt chân lên đất nước ta Ông là một tấm gương sáng chói về tinh thần làm

Trang 29

việc kiên cường và khí tiết yêu nước bất khuất Cuộc đời của nhà thơ mù Đồ Chiểu gắn bó chặt chẽ với cuộc đời của nhân dân lao động nghèo khổ; gắn bó với tư tưởng yêu nước, căm thù giặc Trái tim ông đập theo nhịp đập trái tim dân chúng, thông cảm và chia sẻ nỗi đau, nỗi nhục bị áp bức và nô lệ Nhờ vậy mà ông phát hiện ra những phẩm chất cao quý ẩn giấu trong hình thức lam lũ của người lao động Tất cả những cái đó tạo nên tầm cao trong tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp sáng tác của ông quyết tâm bảo vệ từng tấc đất ngọn cỏ của quê hương Tấm lòng nhân ái sâu xa, rộng lớn của Nguyễn Đình Chiểu đã được đáp đền một cách chân thành, nồng hậu Vì vậy, Nguyễn Đình Chiểu luôn có vị trí cao, xứng đáng trong CT Ngữ văn ở trường phổ thông Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày mùng 1 tháng 7 năm 1822, mất ngày mùng

3 tháng 7 năm 1888 Ông là một tác gia văn học mà cuộc đời và thơ văn hòa quyện làm một, gắn bó chặt chẽ giữa cuộc đời và vận mệnh dân tộc Bởi lẽ, ông đã trải qua những bi kịch chung của đất nước và bi kịch riêng của cá nhân Giai đoạn đầu là giai đoạn những năm 50 của TK XIX, con đường công danh, sự nghiệp, con đường hạnh phúc đang mở ra trước mắt bỗng nhiên bị

đổ vỡ Năm 21 tuổi đỗ tú tài, năm 25 tuổi ra Huế để chuẩn bị thi tiếp, năm 28 tuổi chưa kịp dự kì thi thì trên đường về chịu tang mẹ, do khóc thương và ốm nặng, Nguyễn Đình Chiểu bị mù cả hai mắt Cùng với bi kịch lớn này, ông còn bị gia đình phú hộ hứa gả con gái bội hôn Nguyễn Đình Chiểu đã vượt qua những bi kịch lớn của cá nhân bằng nghị lực phi thường, bằng tình yêu cuộc sống mãnh liệt Ngoài việc tự học về nghề thuốc chữa bệnh cho mọi người và mở trường dạy học, ông còn sáng tác văn chương với hai tập truyện

dài là Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu

Lục Vân Tiên là tác phẩm Nôm đầu tiên, trong đó thông qua những mối

quan hệ tích cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định cuộc sống con người tương thân tương ái với nhau trên cơ sở nhân

nghĩa Ngoài tư tưởng nhân nghĩa, Lục Vân Tiên còn là một tác phẩm chiến

đấu của một tác giả đứng vào hàng ngũ của nhân dân đấu tranh để thực hiện lí

Trang 30

tưởng, hoài bão nhân nghĩa công bằng cho nhân dân Còn Dương Từ - Hà Mậu là một tác phẩm lớn của tinh thần yêu nước và căm thù giặc Dương Từ -

Hà Mậu như là một lời kêu gọi mọi người trở về với chính đạo, đủ tạo ra một

sức mạnh chống giặc cứu nguy cho Tổ quốc trước nguy cơ đổ vỡ cả một nền đạo đức cố hữu

Giai đoạn sau bắt đầu từ ngày quân Pháp đến chiếm lấy Gia Định (1859) Điều này cũng tác động không nhỏ đến sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, chủ nghĩa yêu nước càng được thể hiện sâu đậm hơn Ông ghi lại sự kiện Pháp

đánh vào thành Gia Định với bài Chạy giặc (Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây – Một bàn cờ thế phút sa tay ) Sự kiện những người nghĩa sĩ hi sinh trong

trận tập kích đồn quân Pháp đêm 16 tháng 12 năm 1861 đã thành một sự kiện văn học lớn trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu: ra đời kiệt

tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Bên cạnh Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc còn có Văn tế Trương Định (1864), Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (sau 1874), 12 bài thơ Điếu Trương Định (1864), 10 bài Điếu Phan Tòng (1868)

Tư tưởng nhân nghĩa và chủ nghĩa yêu nước là hai nội dung lớn và cũng

là đóng góp quý báu của văn chương Nguyễn Đình Chiểu đối với nền văn học dân tộc Theo Trần Văn Giàu: “Chủ nghĩa yêu nước trong văn chương thời kì cận đại và hiện đại bắt đầu với Nguyễn Đình Chiểu” [11, tr.244] Chủ nghĩa yêu nước trong thơ văn ông mang những nét riêng biệt, tạo nên một dấu ấn riêng Vì thế khi nói về văn chương Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng viết: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường Chúng ta phải chăm chú nhìn, càng nhìn càng thấy sáng Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu là như vậy” [23, tr.69] Đúng là văn chương Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ đẹp nghệ thuật bình dị mà độc đáo như “vì sao có ánh sáng khác thường” và “phải chăm chú nhìn mới thấy”

1.3.1.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

a) Giá trị nội dung

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã tái hiện một bức tranh công đồn rất hiện

thực, sinh động và đầy tráng khí Điều đặc biệt in sâu nhất trong tâm trí người

Trang 31

đọc là hình tượng người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc, tiêu biểu cho ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu chống Pháp

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có tiếng khóc thương của người đứng tế, có

tiếng khóc xót đau của những gia đình mất người thân, những người mẹ mất con, người vợ mất chồng: “Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” Có tiếng khóc của cả quê hương, đất nước: “Đoái sống Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ” Nỗi đau có trong lòng người và bao trùm lên cỏ cây, sông núi:

sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh, sông Bến Nghé, đất Đồng Nai

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, đối tượng thương cảm, xót đau, trước hết là

những người nghĩa sĩ hi sinh khi sự nghiệp đang còn dang dở, ý nguyện chưa thành: “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ” Bài văn

tế còn khóc thương cho cả đất nước, nhân trong cơn bấn loạn: “Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui dồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió”, “Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặc một phường con đỏ”

Tiếng khóc xót đau trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bi thương nhưng

không bi lụy Bởi lẽ không chỉ là những tiếng khóc cá nhân, khóc thương cho một vài người mà là tiếng khóc của nhân dân, đất nước, khóc thương cho cả dân tộc Tiếng khóc không chỉ gợi nỗi xót đau mà còn khích lệ lòng căm thù giặc và quyết tâm chiến đấu, tiếp nối sự nghiệp đang còn dang dở của người

đã khuất Tiếng khóc không chỉ tiếc thương những gì đã mất mà còn khẳng định những điều sẽ còn: “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tính chúng đều khen; thác mà ưng đinh miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời

ai cũng mộ” Khóc thương người chết mà lại ngời lên niềm tự hào về lẽ sống cao đẹp: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh”

Trang 32

Những hình tượng nghệ thuật, những liên tưởng so sánh đậm chất Nam

Bộ, giàu chất hiện thực Tác giả dùng lối ví von so sánh rất quen thuộc với cuộc sống của người làm ruộng, rất phù hợp với nếp cảm, nếp nghĩ của nông dân Sử dụng thủ pháp so sánh để khẳng định sự hy sinh của các nghĩa sĩ tạo nên tiếng vang, mặc dù rất khiêm tốn: “tiếng vang như mõ” Mõ làm bằng tre hoặc bằng gỗ mộc mạc, giản dị như những người nông dân chân lấm, tay bùn

Dù là tiếng mõ ở làng quê nhưng cũng đủ sức vang động tới lòng dân, từ thế

hệ này đến thế hệ khác Nguyễn Đình Chiểu cũng sử dụng lối so sánh để thể hiện thái độ của người nông dân đối với giặc ngoại xâm như: “Trông tin quan như trời hạn trông mưa” “Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” Đối với những người nông dân chỉ quen việc cày cấy, sống côi cút ở những đồn điền hẻo lánh, thì trước tin dữ kẻ thù tới xâm lược, họ chỉ biết trông mong ở quân đội triều đình Nhưng đó là nỗi mong đợi, khát khao cháy bỏng mà vô vọng

Kẻ thù đến giày xéo quê hương, giẫm đạp lên mồ mả tổ tiên khiến họ không thể chịu đựng được Đây là lối so sánh cụ thể Tình cảm ghét là một khái niệm trừu tượng đã được ví với một sự việc đơn giản, tự nhiên hằng ngày Nhà nông vốn ghét cỏ dại, vì chúng có hại cho trồng cấy và việc diệt cỏ cũng là lẽ sống còn của họ Thái độ ấy gắn liền với hành động chứ không hề mơ hồ, ảo tưởng như vua quan nhà Nguyễn trước loài cỏ độc ngoại xâm

Thủ pháp đối được sử dụng rộng rãi, đạt hiệu quả nghệ thuật cao Đối từ

ngữ: trống kì – trống giục, lướt tới – xông vào, đâm ngang – chém ngược, hè trước – ó sau Đối ý: ta (manh áo vải, ngọn tầm vông) – địch (đạn nhỏ, đạn

Trang 33

to, tàu sắt, tàu đồng); vũ khí thô sơ (rơm con cúi, lưỡi dao phay) – chiến thắng lớn (đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan hai) Những chi tiết

nghệ thuật đối lập trên, tác giả đã khẳng định và ca ngợi ý chí quyết tâm giết giặc của các nghĩa sĩ là những người lính nông dân không được tập luyện, trang bị, không có chiến bào ra trận mà chỉ có lòng yêu quê hương, lòng căm thù giặc sâu sắc

Thủ pháp đặc tả cuộc chiến đấu bằng những chi tiết tả thực: “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có” Bằng những động từ gợi tả và xác thực, với nhịp điệu mạnh mẽ, dứt khoát của câu văn, với những âm thanh náo động, Nguyễn Đình Chiểu đã cung cấp đầy

đủ những chất liệu và cảm hứng để tạo nên một bức tranh công đồn tuyệt diệu Giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với những nội dung biểu đạt, trạng thái cảm xúc Khi gợi lại cuộc sống lam lũ, nghèo khó của người nông dân, giọng văn bùi ngùi, trầm lắng:

“Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ.”

Khi tái hiện trận công đồn, nhịp điệu câu văn nhanh, mạnh, dồn dập, khắc học những hành động khẩn trương, quyết liệt, gợi tả khí thế sôi động,

tâm trạng hào hứng, hả hê: kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà,

ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ Khi

ca ngợi những người nghĩa sĩ xả thân vì nước, lời văn trang trọng tự hào:

“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác

mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời, ai cũng mộ” Giọng điệu bài văn tế khi là tiếng khóc đau thương, khi là lời khẳng định ngợi ca mang

âm hưởng sử thi đã góp phần khắc họa bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ với vẻ đẹp bi tráng

Trang 34

1.3.2 Thực trạng tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng việc dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong việc tạo hứng cho HS khi học tác phẩm này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát GV và HS ở 2 trường THPT Bãi Cháy và THPT Hải

Đảo (Quảng Ninh)

Chúng tôi áp dụng phương pháp khảo sát nhanh thông qua bảng câu hỏi

HS tham gia khảo sát tương đối toàn diện và ngẫu nhiên Kết quả tổng hợp, phân tích, đánh giá từ các phiếu khảo sát sẽ giúp phản ánh khách quan thực

trạng dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ở góc độ tạo hứng học tập

cho HS

1.3.2.1 Về phía GV

Dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một khó khăn không chỉ

HS mới cảm thấy khó mà nhiều GV cũng chưa cảm nhận hết được những giá trị văn học, giá trị văn hóa ở trong tác phẩm Một thực tế đang xảy ra hiện

nay, tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chỉ là một tác phẩm cho vào CT học

nhưng không có trong các kì thi của HS mà như phần mở đầu chúng tôi đã đề cập Đồng thời tác phẩm cũng là một tác phẩm khó về mặt ngôn ngữ, thể loại, thời đại nên xuất phát từ thực tế đó nhiều GV cũng rất “ngại” khi dạy tác

phẩm bởi HS cũng không hứng thú

Về phương pháp dạy học, qua việc khảo sát cũng như dự giờ, chúng tôi nhận thấy phương pháp mà các GV thường sử dụng vẫn là phương pháp truyền thống, thuyết trình (chiếm 91.7%) Các phương pháp dạy học tích cực như dạy học nhóm, nêu vấn đề ít GV sử dụng

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát các phương pháp được sử dụng

Tần suất

Phương pháp

Không sử dụng

3/12 25%

0

Trang 35

Bảng trên đây đã hệ thống kết quả khảo sát các phương pháp được GV

sử dụng trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Qua đó chúng tôi

thấy, hầu hết phương pháp tích cực không được GV sử dụng trong quá trình dạy học, số GV sử dụng chỉ chiếm 16% - 25%, và tần suất cũng chỉ ở “mức ít” Do đó, phương pháp dạy học mà GV sử dụng không tạo được sự tích cực

ở HS, gây nên cả sự chán nản cả ở người học và người dạy Bên cạnh đó, đây

là lần đầu tiên HS được tiếp xúc với thể loại văn tế trong CT Ngữ văn THPT

Để GV có thể tiếp cận nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và hướng dẫn HS một cách tích cực, chủ động chiếm lĩnh giá trị tác phẩm là một viêc không hề đơn giản GV phải đầu tư rất nhiều thời gian thiết kế giáo án Đồng thời việc cảm thụ, phát hiện cái hay, cái đẹp trong tác phẩm đã khó khi lên lớp HS lại lười học, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp nên điều đó càng làm cho GV gặp nhiều khó khăn nếu sử dụng các biện pháp dạy học tích cực Do đó hầu hết các GV đều chọn phương pháp truyền thống để dạy cho qua CT vì tác phẩm cũng không có trong nội dung thi của HS Chính vì đó mà trong quá trình khảo sát khi hỏi GV về kết quả học tập, khả năng cảm thụ, tính tự học cũng như hứng thú của HS trong và sau khi học tác phẩm, các GV đều đánh giá các em chỉ ở mức TB, rất ít HS ở mức khá, và tốt thì không có HS nào

1.3.2.2 Về phía HS

Thực trạng hiện nay cho thấy HS học văn với tinh thần đối phó, rất ít em

có niềm say mê, yêu thích Bởi có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến sự hứng thú, yêu thích của các em Một trong những nguyên mà chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ là không phải GV nào cũng truyền hết được niềm đam mê văn học tới HS khi những giờ học chỉ mang tính thuyết giảng, chưa có sự đầu tư, sáng tạo và cũng xuất phát từ bản thân HS lười học, lười

8.3 % 91.7%

16.7 %

10/12 83.3% Phương pháp nêu vấn đề 10/12

83.3 %

2/12 16.7 %

Trang 36

đọc; bởi các em nghĩ học văn là phải học thuộc, các em chưa được “tự do” trong cách cảm nhận văn chương Xuất phát từ những điều đó HS hiện nay ít đồng cảm, ít cảm xúc với các tác phẩm văn chương Với môn văn nói chung

sự hứng thú của HS đã hạn chế thì đối với những tác phẩm văn học trung đại

như tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì sự thiếu hứng thú, cảm thụ tác

Hứng thú Không

hứng thú

Không ý kiến

378 HS của 2

trường

45 12%

333 88%

Bảng 1.2, hệ thống kết quả khảo sát mức độ hứng thú của HS khi học tác

phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy hầu hết

các em đều không hứng thú, không thích tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Tỉ lệ HS không hứng thú khi học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chiếm

tới 88% Và khi được hỏi “Em cảm nhận như thế nào khi học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc?” thì hầu hết các em cho rằng bài học rất đơn điệu, nhàm chán Khi được dự giờ và phóng vấn các em chúng tôi nhận thấy, đa số các

em khi học tác phẩm đều chưa đọc và đọc chưa kĩ khi chuẩn bị bài; có nhiều

em khi đọc thấy khó hiểu thì bỏ qua hoặc đọc lướt rồi bỏ đó Hoặc có em đọc tác phẩm nhưng do ngại đọc chú thích, không hiểu rõ nghĩa của các điển tích điển cố và các từ khó trong tác phẩm nên cũng chưa hiểu hết, hiểu chưa đúng

về nội dung, tư tưởng tác phẩm

Từ đó, chúng tôi rút ra nhận xét rằng việc dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa

sĩ Cần Giuộc hiện nay đang không tạo được hứng thú, niềm yêu thích, quan

tâm của các em Đó là cũng là một trong những nguyên nhân HS hiện nay HS không thích học văn

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, đề tài đã nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc

tạo hứng thú cho HS trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Chúng tôi đã lí giải các khái niệm về hứng thú học tập nói chung và hứng thú học tập Ngữ văn nói riêng; khái quát những đặc điểm tâm lí của HS THPT

Đồng thời chúng tôi cũng đã khảo sát thực trạng dạy và học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc từ góc độ hứng thú Chúng tôi thấy: thực trạng dạy và học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hiện nay có nhiều khó khăn ở cả GV và

HS, các em không hứng thú khi học tác phẩm; qua đó thấy được tính cấp thiết của đề tài

Trang 38

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HS TRONG

DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

2.1 Nguyên tắc tạo hứng thú trong dạy học Văn tế nghĩa sĩ Cần

Giuộc

2.1.1 Nguyên tắc giúp HS hiểu được nội dung tác phẩm

Khi dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để tạo được hứng thú

cho HS thì trước hết GV phải giúp HS hiểu được được tác phẩm Đó chính là hiểu đúng hệ thống ngôn từ Vì đây là một tác phẩm cổ, cách xa thời đại HS,

hệ thống ngôn từ trong tác phẩm cũng là những từ cổ, có nhiều điển tích; cách diễn đạt, từ ngữ đậm chất Nam Bộ Đồng thời, GV phải giúp cho HS hiểu được hoàn cảnh lịch sử, không khí thời đại lúc bấy giờ từ đó thấy được hình tượng người nghĩa sĩ là những người nông dân tự nguyện đứng lên chống giặc, là một hình tượng anh hùng, kì vĩ với tính cách đậm chất Nam Bộ khi có những thái độ với kẻ thù rất phân minh, rạch ròi, mạnh mẽ và quyết liệt Muốn làm được như vậy, GV không chỉ cần nắm vững các PPDH mà phải thường xuyên trau dồi các kiến thức chuyên môn, kiến thức văn học, từ

đó có thể xây dựng các biện pháp tạo hứng thú cho HS

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc, khi lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức dạy học phải phù

hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ phát triển của HS nhằm giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách thuận lợi mà khối lượng và chất lượng kiến thức vẫn được đảm bảo, kích thích được ở HS năng lực hứng thú nhận thức Nội dung kiến thức không được quá dễ, không tạo sức ỳ cho HS, mức độ khó tăng dần phù

hợp với năng lực của HS

Trang 39

Tạo hứng thú cho HS trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đảm bảo tính vừa sức thực chất là giải quyết mẫu thuẫn giữa khối

lượng tri thức với năng lực, trình độ có hạn của HS Khối lượng tri thức

trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không chỉ là câu chữ trong văn bản mà

còn là những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, văn học; những quan niệm sống, tình yêu quê hương đất nước của người xưa Những kiến thức đó HS phải tìm hiểu, sưu tầm ngoài văn bản dưới sự định hướng của GV

Trong quá trình dạy học bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nguyên tắc này

thể hiện như sau:

+ GV cần xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học

bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để thiết lập những kiến thức chủ yếu tạo nên

động lực, hứng thú học tập, mở rộng khả năng nhận thức của HS Tránh sự quá tải kiến thức đối với HS khiến giờ học trở nên nặng nề, căng thẳng

+ Các hoạt động tổ chức cho HS nhằm tạo hứng thú học tập phải phù hợp với tâm lí, trình độ phát triển của lứa tuổi Các hoạt động phải được chọn lọc, tránh tổ chức quá nhiều sẽ khiến các hoạt động học tập không hiệu quả + Trong nội dung bài học không đưa ra những kiến thức xa vời với kiến thức nền của SGK, vấn đề ngoài vùng hiểu biết của lứa tuổi HS Việc đảm

bảo cung cấp những kiến thức phù hợp, cần thiết với bài Văn tế nghĩa Cần Giuộc sẽ giúp HS chủ động khám phá hơn, hứng thú với bài học hơn

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sáng tạo

Nguyên tắc đảm bảo tính sáng tạo cũng là một trong những nguyên tắc góp phần tạo hứng thú cho HS trong giờ học HS được kích thích bởi những hoạt động mang tính sáng tạo, không máy móc; các em tự do thể hiện suy nghĩ, thể hiện bản thân qua đó phát triển năng lực tưởng tượng sáng tạo ở HS Bởi “Năng lực tưởng tượng sáng tạo là quan trọng nhất trong quá trình sáng tạo văn học vì

Trang 40

năng lực này gắn chặt với đặc trưng bộ môn Văn Phát triển năng lực sáng tạo

là đi đúng bản chất của việc dạy học tác phẩm nghệ thuật văn chương” [6, tr.56]

Để đảm bảo nguyên tắc này, GV cần xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập, các nhiệm vụ có tính hệ thống, phát huy được sự sáng tạo ở HS; giúp HS tích cực, chủ động, tự tin trong quá trình học

2.1.4 Nguyên tắc phát triển chủ thể người học

Nguyên tắc phát triển chủ thể cho phép GV và HS quan tâm đến vốn tri thức, kĩ năng của HS, từ đó phát triển vốn hiểu biết đó Nguyên tắc cũng đòi

hỏi HS phải nhập vai, trải nghiệm trong quá trình dạy và học tác phẩm Văn tế nghĩa Cần Giuộc Khi HS được trải nghiệm, các em sẽ có những cảm nhận

chân thực, đồng cảm với những người nông dân Cần Giuộc qua đó không chỉ khơi gợi niềm hứng thú mà còn hình thành cho HS những thái độ ứng xử của con người trước thời cuộc, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với đất nước Chỉ xuất phát từ chủ thể và hướng tới chủ thể, bài học mới thực sự đem đến những hứng khởi cho HS

2.2 Sử dụng một số biện pháp, phương pháp để tạo hứng thú cho

HS trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

2.2.1 Giúp HS hiểu được từ ngữ cổ và phương ngữ Nam Bộ

2.2.1.1 Từ cổ

a) Khái niệm từ ngữ cố

Từ cổ từ xưa đến nay đã được quan tâm nghiên cứu, đưa ra các khái niệm khá thống nhất Tuy nhiên, đôi lúc cũng xuất hiện với những cách lí giải khác nhau

Hoàng Xuân Hãn cho rằng “từ ngữ cổ là những từ ngày nay không dùng nữa, hoặc còn dùng trong một số địa phương, hoặc còn sót lại trong một thành ngữ nào đó, hoặc còn dùng với nghĩa khác nhưng có liên can ” [12, tr.109] Nguyễn Thiện Giáp quan niệm, “từ ngữ cổ là những từ biểu thị những đối tượng trong tiếng Việt hiện nay có các từ đồng nghĩa tương ứng Chính sự

Ngày đăng: 10/07/2022, 07:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2013), Nghị quyết số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2013
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2008), Ngữ văn 11, tập 1. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), Ngữ văn 11, tập 1, sách giáo viên. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11, tập 1, sách giáo viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Nguyễn Bá Cường (2003), Một số biện pháp bồi dưỡng, phát triển hứng thú, nhu cầu, thị hiếu, năng lực đọc tác phẩm văn chương của học sinh lớp 9 miền núi Lai Châu. Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số biện pháp bồi dưỡng, phát triển hứng thú, nhu cầu, thị hiếu, năng lực đọc tác phẩm văn chương của học sinh lớp 9 miền núi Lai Châu
Tác giả: Nguyễn Bá Cường
Năm: 2003
5. Nguyễn Đình Chú (1991), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1991
6. Nguyễn Viết Chữ (2015), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2015
7. Trần Trọng Dương (2010), “Vấn đề khai thác từ cổ qua hệ thống từ điển và các văn bản chữ Nôm”, Tạp chí Hán Nôm (1), tr.1-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác từ cổ qua hệ thống từ điển và các văn bản chữ Nôm”, "Tạp chí Hán Nôm
Tác giả: Trần Trọng Dương
Năm: 2010
8. Lê Thị Giáo (1981), Bước đầu tìm hiểu hiện trạng hứng thú môn văn của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm Nha Trang. Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu hiện trạng hứng thú môn văn của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm Nha Trang
Tác giả: Lê Thị Giáo
Năm: 1981
9. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Thiện Giáp (1984), Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1984
11. Trần Văn Giàu (1983), Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam: tư tưởng yêu nước. Nxb Văn nghệ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam: tư tưởng yêu nước
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Văn nghệ TPHCM
Năm: 1983
12. Hoàng Xuân Hãn (1998), Văn Nôm và chữ Nôm thời Trần - Lê. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Nôm và chữ Nôm thời Trần - Lê
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Ái Học (2010), Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn
Tác giả: Nguyễn Ái Học
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
15. Triệu Thanh Hương (2010), Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học văn bản Nhật dụng (Ngữ văn 12 – Chương trình nâng cao). Luận văn Thạc sĩ, ĐH Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học văn bản Nhật dụng (Ngữ văn 12 – Chương trình nâng cao)
Tác giả: Triệu Thanh Hương
Năm: 2010
16. Vương Lộc (2001), Từ điển từ cổ. Trung tâm từ điển học và Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ cổ
Tác giả: Vương Lộc
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2001
18. Nguyễn Ngọc San & Đinh Văn Thiên (2003), Từ điển từ Việt cổ. Nxb Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ Việt cổ
Tác giả: Nguyễn Ngọc San & Đinh Văn Thiên
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2003
19. Đặng Đức Siêu (2009), Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam. Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đặng Đức Siêu
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Tuyết (1981), Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn văn của học sinh lớp 10,11 ở trường THPT. Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn văn của học sinh lớp 10,11 ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết
Năm: 1981
21. Trần Nho Thìn (2007), “Tiếp cận văn hóa đối với các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình SGK Ngữ văn 11 (bộ cơ bản)”, Tạp chí Văn học và tuổi trẻ (9), tr31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn hóa đối với các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình SGK Ngữ văn 11 (bộ cơ bản)”, "Tạp chí Văn học và tuổi trẻ
Tác giả: Trần Nho Thìn
Năm: 2007
22. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam. Nxb Trẻ, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1- Kết quả khảo sát các phương pháp được sử  dụng. - (LUẬN văn THẠC sĩ) các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần ruộc của nguyễn đình chiểu (chương trình ngữ văn 11)
1 Bảng 1.1- Kết quả khảo sát các phương pháp được sử dụng (Trang 7)
3. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ - (LUẬN văn THẠC sĩ) các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần ruộc của nguyễn đình chiểu (chương trình ngữ văn 11)
3. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ (Trang 74)
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm. - (LUẬN văn THẠC sĩ) các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần ruộc của nguyễn đình chiểu (chương trình ngữ văn 11)
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm (Trang 81)
Bảng 3.2. Mức độ hứng thú của HS sau giờ thực nghiệm. - (LUẬN văn THẠC sĩ) các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần ruộc của nguyễn đình chiểu (chương trình ngữ văn 11)
Bảng 3.2. Mức độ hứng thú của HS sau giờ thực nghiệm (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm