MỤC LỤCSỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KẾT HỢP KỸ THUẬT MẢNH GHÉP VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC TIẾT “ÔN TẬP CHƯƠNG IV” - GIẢI TÍCH 12
Trang 1MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KẾT HỢP KỸ THUẬT MẢNH GHÉP VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC TIẾT “ÔN TẬP CHƯƠNG IV” -
GIẢI TÍCH 12 - CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH THPT
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Toán học
Trang 2MỤC LỤC Trang
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 2
1.4.2 Phương pháp chuyên gia 2
1.4.3 Phương pháp thực tập sư phạm 3
1.4.4 Phương pháp thống kê toán học 3
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3
2.1.Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Sơ đồ tư duy 3
2.1.2 Kĩ thuật mảnh ghép: 6
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 8
2.3 Giải pháp thực hiện để thay đổi thực trạng: 9
2.3.1: Sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh ôn tập lý thuyết chương .9 2.3.2 Sử dụng Kỹ thuật mảnh ghép vào việc ôn tập một số dạng bài tập trong tiết “Ôn tập chương IV” – Giải tích 12 cơ bản 9
2.3.3 Tổ chức dạy học: 11
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 14
2.4.1Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục của bản thân 14
2.4.2 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục của đồng nghiệp và nhà trường 15
2.4.3 Kết luận chung về thực nghiệm 15
3 Kết luận và kiến nghị 16
3.1 Kết luận 16
3.2 Kiến nghị 16
Trang 41 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Tại hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ngày4/11/2013 đã thông qua chủ trương “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN và hội nhập quốc tế” Trong giáo dục, quy trình và đào tạođược xem là một hệ thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo,nội dung, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học,… Trong đó, việc đổi mớiphương pháp dạy học được coi là vấn đề then chốt của đổi mới giáo dục
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học không phải là những phát hiện mới
mẻ mà vốn đã có từ lâu Ở nước ta, những năm 1960 phong trào cải tiến đổi mớiPPDH đã xuất hiện nhiều trường phổ thông Từ đó đến nay rất nhiều nhà nghiêncứu, rất nhiều sách viết về đổi mới PPDH nhằm phát huy năng lực sáng tạo,nghệ thuật sư phạm trong quá trình giảng dạy của người giáo viên để đạt hiệuquả cao nhất Thực chất của đổi mới PPDH là sự cải tiến hoàn thiện các phươngpháp dạy học đang sử dụng để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạyhọc, đồng thời là sự thay thế phương pháp đang sử dụng bằng phương pháp dạyhọc mới tối ưu, kết hợp với việc sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy họchiện đại từ đó hình thành nên các ‘‘kiểu” dạy - học mới với mong muốn đem lạihiệu quả cao hơn
Cho dù đổi mới ở mức độ nào thì việc dạy học cũng phải hướng đến “ lấyngười học làm trung tâm”, phải khai thác tối đa năng lực của người học Chỉ cóđổi mới PPDH mới là động lực làm thay đổi căn bản chất lượng đào tạo nguồnnhân lực toàn diện đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đặt ra Đổi mới PPDH thểhiện rõ vai trò kiến tạo của giáo viên trong công việc tổ chức, hướng dẫn hoạtđộng học tập nhằm khuyến khích người học tích cực tham gia, khơi gợi vàkhuyến khích người học tự khẳng định năng lực của bản thân Rèn cho ngườihọc thói quen và khả năng tự học, tích cực phát huy tiềm năng và vận dụng hiệuquả những kiến thức, kỹ năng đã được tích luỹ Từ đó, tạo tiền đề để phát triểntoàn diện nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế
Có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cáchtiếp cận khác nhau Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xácđịnh những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinhnghiệm của cá nhân Có những phương pháp nhận thức chung , có nhữngphương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn Bằng nhiều hình thứckhác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và cácphương pháp học tập trong bộ môn Trong đó, các kỹ thuật dạy học và các
Trang 5phươg pháp dạy học hiện đại đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá,phát huy tính sáng tạo của học sinh.
Từ năm 2017 đến nay Bộ giáo dục đã thay đổi hình thức môn Toán từthi tự luận sang trắc nghiệm Nội dung đề thi THPT Quốc Gia có nội dung kiếnthức chủ yếu vào chương trình 12, phần số phức có từ 4 đến 5 câu trong đề thi,
dễ đối với học sinh khá nhưng sẽ mất nhiều thời gian đối với học sinh yếu kém,một số em chủ quan dẫn đến sai những câu rất cơ bản Xác định được nhiệm vụtrên, tôi đã không ngừng đổi mới phương pháp, tìm tòi những kỹ thuật dạy họchay, tích cực nhằm phát huy năng lực của HS đáp ứng được yêu cầu đổi mới củagiai đoạn hiện nay, trong đó có kỹ thuật “Mảnh ghép”, kỹ thuật sử dụng sơ đồ tưduy đã được tôi lựa chọn Các kỹ thuật này đã được ứng dụng trong dạy học ởnhiều bài học của nhiều bộ môn Xuất phát từ những lý do đó, tôi mạnh dạn
chọn đề tài: “Kết hợp kỹ thuật mảnh ghép và sơ đồ tư duy trong dạy học tiết “Ôn tập chương IV”– Giải tích 12 cơ bản nhằm phát triển năng lực của học sinh THPT” góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới nội dung và PPDH theo
hướng phát phát tiển năng lực của HS ở phổ thông
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế, xây dựng giáo án dạy học học bài “Ôn tập chương IV” Giải tích 12 cơ bản nhằm phát triển một số năng lực cho HS như năng lực tưduy sáng tạo, tự chủ; năng lực làm việc nhóm; năng lực giao tiếp, làm chủngôn ngữ
-1.3 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học bài “Ôn tập chương IV” chương trình giải tích 12
cơ bản
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới PPDH theohướng tích cực hóa việc học của học sinh
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Giải tích 12 cơ bản(Chương IV- Số Phức)
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, biện pháp thiết kế và sửdụng sơ đồ tư duy, biện pháp thiết kế và sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong nộidung bài “Ôn tập chương IV- Giải tích 12 cơ bản” theo hướng phát triển, nângcao năng lực học tập của học sinh
1.4.2 Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp để tham khảo ý kiếnlàm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Trang 61.4.3 Phương pháp thực tập sư phạm
Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT, tiến hành theo quy trình của đề tàinghiên cứu khoa học giáo dục để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu
1.4.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để thống kê, xử lý, đánh giá kết quả thu được.
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1.Cơ sở lý luận
2.1.1 Sơ đồ tư duy
2.1.1.1 Khái niệm sơ đồ tư duy (Mindmap) là một công cụ tổ chức tư duy , đây
là phương pháp tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não, là cách đểghi nhớ chi tiết, tổng hợp hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược
đồ phân nhánh Sơ đồ tư duy được khởi xướng từ Tony Buzan (chuyên gia hàngđầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của não bộ) từ những năm 70 của thế kỷ
XX và nó đã trở thành một trong những phương pháp làm việc tích cực được sửdụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới [1]
2.1.1.2 Cấu tạo của SĐTD.
- Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề
- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm
Hình 1: Cấu tạo Sơ đồ tư duy (Nguồn Internet)
Trang 72.1.1.3 Các bước lập sơ đồ tư duy
Bước 1: Xác định từ khóa.
Mind Map được tạo thành bởi hầu hết các từ khóa (key word) nên nó tiết
kiệm được rất nhiều thời gian cho người học Chỉ với những từ khóa là bạn đã cóthể nắm bắt được hết nội dung của tất cả những điều mà bạn đang muốn ghi nhớ
Bước 2: Vẽ chủ đề ở trung tâm.
- Bước này chúng ta sẽ sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằmngang và vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho họcsáng tạo hơn, không bị những ô vuông cản trở suy nghĩ của bạn Vẽ trên giấy nằmngang sẽ giúp người học có được không gian rộng lớn hơn để triển khai các ý
- Người học cần vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các
ý khác ở xung quanh nó
- Học sinh có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc mà mình thích, chủ đềtrung tâm có thể là chữ hoặc là hình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt Đậy chính làyếu tố phát huy tính sáng tạo của học sinh
- Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để người đọc dễ nhìn nhận vấn đề
Bước 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)
- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in đậm nằm trên các nhánh dày đểlàm nổi bật
- Tiêu đề phụ nên gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, nhưvậy nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn
Bước 4: Vẽ các nhánh cấp 2, cấp 3, …
- Ở bước này, chúng ta vẽ nối tiếp nhánh cấp 2 vào nhánh cấp 1, nhánh cấp
3 vào nhánh cấp 2, v.v… để tạo ra sự liên kết
- Chúng ta nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng, như thế sẽ làm choMind map của chúng ta nhìn mềm mại, uyển chuyển và dễ nhớ hơn
- Chỉ nên tận dụng từ khóa và hình ảnh, ở mỗi nhánh chỉ sử dụng 1 từ khóa.Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từkhóa sẵn có một cách dễ dàng
- Hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thờigian bất cứ lúc nào có thể
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng một màu
Bước 5: Thêm các hình ảnh minh họa
Ở bước này, chúng ta nên để trí tưởng tượng của mình bay bổng hơn bằngcách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như
Trang 8lưu chúng vào trí nhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thuhình ảnh cao hơn chữ viết Bạn đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì bạnnghĩ, những gì bạn liên tưởng, đôi khi càng hài hước càng giúp bạn nhớ chúngđược lâu hơn.
Hình 2: Các bước vẽ Sơ đồ tư duy (Nguồn Internet) 2.1.1.4 Các quy tắc khi thực hiện sơ đồ tư duy.
- Đừng suy nghĩ quá lâu mà hãy viết liên tục Việc các bạn dừng lại để suy
nghĩ một vấn đề nào đó quá lâu sẽ khiến cho những suy nghĩ tiếp theo của cácbạn bị ngăn lại Các ý nên được triển khai một cách liên tục để duy trì sự liên kết
- Không cần tẩy xóa, sửa chữa
- Viết tất cả những gì mình nghĩ cho dù nó có hay không có ý nghĩa đichăng nữa, đừng bỏ lỡ những ý tưởng đó Đôi khi những ý nghĩ tưởng nhưkhông hay lại là một ý tưởng cực kỳ độc đáo và sáng tạo mà bạn không ngờđược đó
- Sơ đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm dichuyển ra phía ngoài, và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Do đó, các từ ngữnằm bên trái Sơ đồ tư duy nên được đọc từ phải sang trái (bắt đầu từ phía trong
di chuyển ra ngoài) [2]
2.1.1.5 Những ưu điểm của SĐTD.
- Đối với nhà trường: Kỹ thuật dạy học này có thể vận dụng được với bất
kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung Bởi vì ta
có thể thiết kế SĐTD trên giấy, trên bảng,… bằng cách sử dụng bút chì màu,phấn màu…hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm SĐTD (Mind Map) Vớinhững trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như máy chiếu Projecto, phòng máy
vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần mềm (Mind Map) để phục vụ choviệc dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 9- Đối với giáo viên: Giáo viên có thể vận dụng SĐTD vào tất cả các khâu
trong quá trình dạy học: Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học bài mới, haykhâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học đều mang lại hiệu quả cao
- Đối với học sinh: Phát huy tính tích cực, chủ động, khả năng sáng tạo
của học sinh Với ưu điểm luôn chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạnglưới liên tưởng (các nhánh), do đó, các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để pháttriển ý tưởng riêng của mình Đây là điều kiện để các em thể hiện phong cách cánhân, dấu ấn riêng của bản thân
Nâng cao khả năng ghi nhớ hệ thống kiến thức SĐTD phát huy hết khả
năng ghi nhớ ở hai bán cầu não nên là một công cụ tuyệt vời giúp học sinh ghinhớ kiến thức cho dù nó thuộc lĩnh vực gì đi chăng nữa
2.1.1.6.Những nhược điểm của SĐTD.
Đây là phương pháp mới đòi hỏi người giáo viên phải tìm hiểu kỹ nội dungbài giảng và cách áp dụng SĐTD vào dạy học Cần có chuẩn bị chu đáo về đồdùng dạy học như phấn màu, máy chiếu, bảng phụ Học sinh cũng phải đượchướng dẫn chu đáo phương pháp vẽ, có bút màu, giấy A4 hoặc bảng phụ Đốivới phương pháp sử dụng SĐTD trên máy chiếu thì giáo viên nắm vững cách sửdụng phần mềm vẽ SĐTD [3]
2.1.2 Kĩ thuật mảnh ghép:
2.1.2.1 Kĩ thuật mảnh ghép là gì?
Kĩ thuật mảnh ghép là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm vàliên kết giữa các nhóm nhằm:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)
- Kích thích sự tham gia tích cực của HS
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoànthành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoànthành nhiệm vụ ở Vòng 2)
2.1.2.2 Quy trình thực hiện kĩ thuật " mảnh ghép" trong dạy học
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng thời gian nhất định, suy nghĩ
về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình
Trang 10- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đềutrả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyêngia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm
- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả
* Một số điểm cần lưu ý khi thực hiện kĩ thuật mảnh ghép
- Về tổ chức:
+ Số thành viên trong mỗi nhóm vừa phải
+ Trong khi các nhóm chuyên sau làm việc, GV cần quan sát, hỗ trợ kịpthời để đảm bảo thời gian quy định và các HS đều có thể trình bày lại được kếtquả nghiên cứu thảo luận của nhóm
+ Thành lập nhóm mảnh ghép phải có đầy đủ thành viên của các nhómchuyên gia
+ Số lượng nhóm “mảnh ghép” không quá lớn để đảm bảo các thành viên
có thể dạy lại kiến thức cho nhau Khi các nhóm “mảnh ghép” hoạt động, GVcần quan sát, hỗ trợ kịp thời để đảm bảo các thành viên học được đầy đủ các nộidung từ nhóm chuyên gia
+Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất
trật tự nên GV phải hướng dẫn và yêu cầu HS giữ trật tự tối đa khi di chuyển vềnhóm mới
- Công cụ cần chuẩn bị:
Trang 11+ Các thẻ màu hoặc các phiếu có đánh số thứ tự để thuận lợi cho việc tổchức các nhóm chuyên gia và mảnh ghép
+ Các phiếu giao nhiệm vụ cho các nhóm
(+) Sự phối hợp theo nhóm nhỏ giúp tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có
sự phân hóa
(+) Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôntrọng lẫn nhau
- Hạn chế:
+ Cần có thời gian phù hợp đủ để thực hiện vòng 1, vòng 2
+ Đòi hỏi GV có kinh nghiệm tổ chức và chia nhóm, tránh mất thời gian
và lộn xộn khi học sinh di chuyển [5]
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Qua nắm bắt tình hình và trao đổi với đồng nghiệp về việc giảng dạy mônToán có liên quan đến SĐTD và mảnh ghép bản thân tôi nhận thấy
- Về phía giáo viên:
Khi giảng dạy một tiết ôn tập GV thường ít khi đổi mới cách dạy học Nếu
có sử dụng SĐTD thì các SĐTD thường là được chuẩn bị trước trên bảng phụhoặc máy chiếu với mục đích hệ thống lý thuyết để áp dụng giải các bài tập GV
ít khi cho học sinh xây dựng trực tiếp các SĐTD này ngay trên lớp vì sợ tốn thờigian Tại đơn vị tổ tôi chỉ một vài người sử dụng phương pháp sử dụng sơ đồ tưduy còn lại đa phần dạy “chay” Đối với phương pháp mảnh ghép thì chưa có ai
áp dụng vì ngại phải chia nhóm rồi lại ghép nhóm mới, sợ tốn thời gian và mấttrật Với phương pháp mảnh ghép cần phải giao bài tập cụ thể cho từng đốitượng học sinh nên cũng có nhiều GV thấy ngại soạn giáo án Thực chất nhiều
GV ngại đổi mới phương pháp dạy học
Trang 12- Về phía học sinh: Thực tế học sinh trường tôi, đặc biệt các lớp tôi được
giao, rất hạn chế về năng lực hoạt động nhóm, trao đổi kiến thức với nhau đểghép những phần hiểu của bạn này với bạn khác, các em rất tự ti Học sinh chưa
có thói quen chuẩn bị đồ dùng học tập như giấy A4, bút màu, bút chì, tẩy hoặcbảng phụ trong tiết học toán
2.3 Giải pháp thực hiện để thay đổi thực trạng:
2.3.1: Sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh ôn tập lý thuyết chương
số phức – Giải tích 12 THPT
Thay vì những tiết học nhàm chán là: Liệt kê lại nội dung lý thuyết của chương, vận dụng giải bài tập thì tôi áp dụng cách hướng dẫn học sinh ôn tập lý
thuyết thông qua sơ đồ tư duy
Tôi vận dụng sơ đồ tư duy để trình bày câu hỏi gợi mở, đây cũng là mộttrong những hình thức hướng dẫn, định hướng cho học sinh việc chuẩn bị sơ đồ tưduy cho bản thân Nếu kiến thức dàn trải, việc phân mảng kiến thức và giao nhiệm
vụ cho từng nhóm sẽ khả thi, tạo ra sự hăng say, nâng cao tinh thần đoàn kết thựchiện nhiệm vụ chung Yêu cầu sau khi hoàn thành Sơ đồ tư duy các nhóm sẽ cử đạidiện lên báo cáo kết quả Nội dung câu hỏi đưa cho học sinh ở tiết trước để các em
có thời gian chuẩn bị kỹ trước khi lên trình bày trước tập thể lớp
Các bước khi tiến hành:
+ Bước 1: Cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh về sử dụng sơ đồ tư
duy đơn giản bằng giấy trắng và bút màu
+ Bước 2: Ra các câu hỏi dạng đề cương cụ thể và yêu cầu học sinh trả lời
bằng cách phác họa sơ đồ tư duy cho bài học (ở tiết học trước)
+ Bước 3: Chia lớp thành các nhóm và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chung
để tiết tiếp theo mỗi nhóm cử đại diện lên trình bày
+ Bước 4: Ở tiết học này, học sinh lên trình bày giải thích nội dung bài
học Học sinh khác góp ý và nhận xét Giáo viên củng cố và giải thích một sốthắc mắc của học sinh trong nội dung bài học
Sau đó áp dụng kỹ thuật mảnh ghép để kiểm chứng lại lý thuyêt vừa
ôn tập
2.3.2 Sử dụng Kỹ thuật mảnh ghép vào việc ôn tập một số dạng bài tập trong tiết “Ôn tập chương IV” – Giải tích 12 cơ bản
Quy trình thiết kế hoạt động học tập:
Bước 1: Lựa chọn nội dung dạy học có khả năng áp dụng kỹ thuật mảnh ghép:
Xác định nội dung trong một bài học, có thể phân tích cấu trúc nội dungbài học Mỗi nội dung tương ứng với một đơn vị kiến thức chủ chốt, từ đó xác
Trang 13định nội dung có thể áp dụng kỹ thuật mảnh ghép Trong bài ôn tập này này tôichọn cả 4 nội dung để củng cố :
- Xác định phần thực, phần ảo, mô đun của số phức, số phức liên hợp,biểu diễn hình học của số phức trên mặt phẳng tọa độ
- Hai số phức bằng nhau
- Các phép toán số phức
- Phương trình bậc hai với hệ số thực
Bước 2: Xác định mục tiêu bài học:
- Rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán cơ bản của chương: Dạng toán xácđịnh phần thực, phần ảo của số phức, dạng toán tìm số phức liên hợp, tính môđun của số phức, sử dụng số phức bằng nhau để tìm số thực x,y thõa mãn đẳngthức cho trước, giải phương trình bậc hai (đây là các dạng cơ bản trong đề thiTHPT Quốc gia gần đây)
- Rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích tranh vẽ, khái quát hoá, kỹ năng
làm việc với SGK, làm việc theo nhóm
- Rèn luyện kĩ năng hợp tác, lắng nghe tích cực, trình bày ý kiến và sự tựtin trước tập thể
- Năng lực hướng tới: Năng lực chuyên môn là Tri thức toán học và nănglực nghiên cứu; Năng lực chung như: Làm việc nhóm, giao tiếp, làm chủ ngônngữ, tư duy lôgic, giải quyết vấn đề
Bước 3: Thiết kế các nhiệm vụ hoạt động học tập bằng phiếu học tập tương ứng với từng giai đoạn của kỹ thuật mảnh ghép
*Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên gia”
Tôi đã chia lớp thành 4 nhóm, số lượng HS trong mỗi nhóm phụ thuộcvào sĩ số của lớp, việc chia nhóm phải đảm bảo học lực của các thành viên trongnhóm là tương đương nhau và nội dung trong phiếu học tập cũng phù hợp vớihọc lực của thành viên nhóm đó để có thể thực hiện tốt một nhiệm vụ Mỗinhóm nghiên cứu, thảo luận nội dung được nêu trong PHT cho mỗi nhóm nhưsau: (Tôi đã thiết kế mỗi nhóm môt phiếu và trình chiếu lên bảng các “chuyêngia” thảo luận và hoàn thiện trực tiếp vào vở)
PHIẾU HỌC TẬP DÀNH CHO NHÓM “CHUYÊN GIA” SỐ 1
Thời gian hoàn thành : 5 phút
Tên các thành viên trong nhóm:………
Nhóm trưởng:………
Nội dung: Cho số phức Hãy chỉ ra phần thực, phần ảo, mô đun của
số phức, số phức liên hợp, biểu diễn hình học của trên mặt phẳng tọa độ
STT: I -……
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 DÀNH CHO NHÓM “CHUYÊN GIA” SỐ 2
Thời gian hoàn thành : 5 phút
Tên các thành viên trong nhóm:………