1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT số BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH RÈN LUYỆN KĨ NĂNG KHAI THÁC lược đợt NHIÊN TRONG PHẦN địa LÍ tự NHIÊN 7 KHI HỌC BÀI DẠNG THIÊN NHIÊN CỦA CHÂU LỤC

16 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kiến thức trong chương trình đại cương khái quát nên tương đối khó và trừu tượng nên học sinh khó hiểu bài và dẫn đến nhàm chán, lười học.. Trong tình hình thực tế c

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

1.1.1 Khách quan:

Môn Địa Lí cũng như các môn khoa học khác góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục học sinh bước đầu vận dụng những kiến thức địa lí để ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh và phù hợp yêu cầu của nước ta nói riêng, nhiều nước và Thế giới nói chung Môn Địa Lí ở trong trường THPT là bộ môn khoa học có tính trừu tượng cao đặc biệt là địa lí 10 Các kiến thức trong chương trình đại cương khái quát nên tương đối khó và trừu tượng nên học sinh khó hiểu bài và dẫn đến nhàm chán, lười học Địa lí lớp 10 không chỉ có các kênh chữ mà còn có các bản đồ, sơ đồ hình ảnh địa lí, biểu đồ, lát cắt, lược đồ, … Nhờ kênh hình học sinh có thể khai thác thuận lợi những tri thức địa lí dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, học chay, học vẹt Nhằm tạo ra những con người năng động, có năng lực giải quyết vấn đề

1.1.2 Chủ quan:

Kỹ năng khai thác kiến thức trên lược đồ là một trong những kỹ năng đầu tiên mà các em học sinh phải có, để có thể sử dụng và khai thác được các kiến thức cơ bản trên lược đồ có sẵn trong sách giáo khoa địa lí Qua đó học sinh có thể phát hiện và lĩnh hội được những kiến thức địa lí mới, hoặc giúp cho việc khắc sâu thêm những nội dung kiến thức bài học Trong tình hình thực tế của xã hội hiện nay có nhiều thay đổi và giáo dục ngày càng đòi hỏi cao hơn cho phù hợp với thời đại mới, phải thay đổi SGK địa lí cho phù hợp với thực tiễn vì vậy đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy đáp ứng chương trình SGK, trong sách giáo khoa kênh hình mới được tăng lên nhiều hơn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng khai thác kênh hình trong học tập Trong đó lược đồ không chỉ dừng lại ở chức năng minh họa mà quan trọng hơn còn là nội dung địa lí để phát huy trí lực cho của sinh

1.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ

1.2.1 Mục đích:

- Nắm được kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh

- Xác định phương pháp dạy học đúng đắn, phù hợp với thực tế

- Nâng cao kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh lớp 10

1.2.2 Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh lớp 10

- Đề ra các phương pháp trong sử dụng bản đồ, lược đồ để đạt hiệu quả cao

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để rút ra những kết luận và đề xuất ý kiến

1.3 Đối tượng nghiên cứu và kế hoạch nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh lớp 10 trường THPT Thạch Thành 2

1.3.2 Kế hoạch nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh khai thác lược đồ

địa lí lớp10 trong năm học 2019 - 2020 của học sinh lớp 10 Trường Thạch Thành 2

Trang 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu lí luận

- Điều tra, tổng kết rút kinh nghiệm

- Giảng dạy và xây dựng phương pháp

- Quan sát

- Trắc nghiệm,…

1.5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu về khả năng khai thác lược đồ địa lí của học sinh lớp 10 trường THPT Thạch Thành 2 năm học 2019 - 2020

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

2.1 Cơ sở lí luận:

Địa Lí là một môn học tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Bởi vậy muốn học tốt và giải thích được các hiện tượng địa lí thì học sinh phải xét trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội

Phương pháp học tập tốt môn Địa lí là biết đọc lược đồ, sơ đồ, biểu đồ… đặc biệt là các bản đồ, lược đồ Bản đồ là một trong những thiết bị dạy học hiệu quả và cần thiết nhất, có vai trò quan trọng trong giảng dạy và học tập địa lí

Nhà địa lí học người Liên xô Paolôkin đã nói: “Địa lí và bản đồ không thể tách rời nhau, không có bản đồ thì không có địa lí”

Việc rèn luyện kĩ năng khai thác bản đồ, lược đồ ở bộ môn Địa lí nói chung và Địa lí 10 nói riêng là việc làm cần thiết trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy của Bộ giáo dục và đào tạo

2.2 Thực trạng:

Trường THPT Thạch Thành 2 là địa bàn tuyển sinh của nhiều xã có thôn khó khăn, có địa bàn cư trú rộng, cơ sở hạ tầng còn yếu, có nhiều học sinh là dân tộc ít người sinh sống, điều kiện kinh tế đa phần người dân còn nhiều khó khăn, chủ yếu là nghề nông, phụ huynh tập trung vào việc làm kinh tế, nhiều phụ huynh còn đi làm ăn xa nên vấn đề quan tâm đến học tập của con cái còn chưa nhiều Thời gian học tập của học sinh còn ít, ngoài thời gian đi học các em còn phải đi làm phụ giúp gia đình, ảnh hưởng của công nghệ thông tin, học sinh ham

mê chơi gaem, lên fecabook… hơn việc học nên ảnh hưởng đến học tập

Qua thực tế giảng dạy môn Địa lí 10 tại trường, là trường có số lượng học sinh có bố mẹ làm nông nghiệp là chủ yếu và đồng thời có khoảng trên 30% là học sinh dân tộc thiểu số Tôi nhận thấy khi yêu cầu các em xác định thông tin trên bản đồ, lược đồ đa số các em ngại phát biểu, e dè hoặc lên bảng xác định còn lúng túng Đối với học sinh khá giỏi việc xác định thông tin trên lược đồ ít gặp khó khăn hơn học yếu kém, tuy nhiên một số học sinh yếu kém chỉ xem lược đồ cho có xem mà không hiểu biết thông tin của lược đồ mang lại Ở những vùng điều kiện kinh tế khó khăn thì mức độ nhận thức hay tiếp thu của học sinh cũng không đều nhau, mức độ tiếp cận với các thông tin đại chúng nên các em

bị hạn chế phần nào khi tiếp xúc tranh ảnh nhất là lược đồ, bản đồ, …

Đặc biệt khi yêu cầu các em xác định trên bản đồ về các yếu tố địa lí như: xác định vị trí địa lí( tọa độ, tiếp giáp), các yếu tố tự nhiên( như các dòng biển, các mỏ khoáng sản, phân tầng địa hình…), các yếu tố kinh tế - xã hội( như sự

Trang 3

phân bố dân cư, sự phân bố các ngành kinh tế…) và nhiều đối tượng địa lí khác được thể hiện trên bản đồ còn yếu

Là giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lí tôi luôn trăn trở làm sao các em học sinh, học bài và hiểu bài trên lớp mà cần ít thời gian học bài ở nhà Vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp giúp các em học sinh khai thác lược đồ tốt hơn, trong đó có các em học sinh khối 10

Kết quả khảo sát kĩ năng khai thác lược đồ Địa Lí lớp 10 các lớp tôi dạy của năm học 2018 - 2019 đạt được kết quả sau:

Năm học 2018 - 2019:

LƯỢNG

Kĩ năng khai thác lược đồ tốt

Kĩ năng khai thác lược đồ chưa tốt

số h/s Tỉ lệ % số h/s Tỉ lệ %

Trung bình các lớp có kĩ năng khai thác lược đồ tốt đạt: 41.8 %

và kĩ năng khai thác lược đồ chưa tốt: 58.2 %

Trước thực trạng trên, để giúp học sinh có kĩ năng khai thác lược đồ được tốt dần lên Tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm của mình trong quá trình giảng

dạy địa lí 10 Đặt biệt là “Hướng dẫn học sinh khai thác lược đồ trong việc học nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn địa lí lớp 10 ở trường THPT Thạch Thành 2”

2.3 Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề

Vấn đề sử dụng đồ dùng dạy học mà trong giảng dạy địa lí là các lược đồ, bản đồ Sử dụng lược đồ, bản đồ trong giảng dạy địa lí, giúp học sinh khắc sâu kiến thức, dễ hiểu bài, nắm nội dung bài qua lược đồ, nhớ lâu hơn, …

Để hướng dẫn học sinh biết sử dụng lược đồ, rèn luyện học sinh sử dụng thành thạo hơn lược đồ sau đây là một số ví dụ minh họa:

2.3.1 Xác định các múi giờ trên Trái Đất:

Khi học bài 5: Vũ trụ Hệ Mặt Trời và Trái Đất Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất Trong đó có hệ quả: Giờ trên Trái Đất và đường chuyển ngày quốc tế Ở nội dung này có kĩ năng khai thác lược đồ để xác định múi giờ trên Trái Đất, với học sinh kiến thức này rất trìu tượng nhưng lại liên quan đến thực tế hàng ngày nếu giáo viên dựa vào lược đồ để hướng dẫn các em khai thác thì sẽ dễ dàng lĩnh hội kiến thức và hiểu bài hơn Cụ thể, nếu các nước có múi giờ kí hiệu dấu (+) sẽ sớm hơn giờ quốc tế(GMT), ở múi bao nhiêu sẽ sớm hơn bấy nhiêu giờ Ngược lại nếu các nước ở múi giờ có kí hiệu dấu (-) sẽ muộn hơn giờ quốc tế(GMT) Khi được hướng dẫn như vậy học sinh sẽ thấy được những nước có giờ sớm hơn giờ quốc tế như:Pháp sớm hơn 1 giờ, Cadazactan sớm hơn 4 giờ, Trung Quốc, Mông Cổ sớm hơn 8 giờ, biết Việt Nam ở múi số 7 và sớm hơn 7 giờ Trái lại, các nước như Canada, Hoa Kì,

Trang 4

Braxin lại có gờ muộn hơn giờ quốc tế…Từ việc nắm được kiến thức phần lí thuyết, học sinh có thể vận dụng để làm các bài tập tính giờ

Hình 5.3 – SGK Địa lí 10 – trang 20: Các múi giờ trên Trái Đất

2.3.2 Xác định sự phân bố lượng mưa trên thế giới:

Trong bài 13: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển Mưa Mục 2.III: Lượng mưa phân bố không đều do ảnh hưởng của đại dương Giáo viên sẽ dựa vào lược đồ hướng dẫn học sinh trình bày về tình hình phân bố lượng mưa trên các lục địa theo vĩ tuyến 400B từ Tây sang Đông, dựa vào kí hiệu màu sắc, các

em sẽ dễ nhận thấy những nơi mưa nhiều, nơi mưa ít và từ đó thấy ảnh hưởng của biển và đại dương rất lớn đến sự phân bố lượng mưa theo không gian địa lí: Càng xa biển, đại dương vào sâu trong lục địa lượng mưa càng giảm Ví dụ ở lục địa Bắc Mĩ: Phía đông của Hoa Kì giáp Đại Tây Dương có lượng mưa lớn, trung bình từ: 1001 – 2000mm/năm; vào sâu bên trong lượng mưa giảm xuốn còn trung bình từ 501 – 1000mm/năm; vào sâu nữa lượng mưa giảm xuống còn

201 -500mm/năm, thậm chí có nơi xuống dưới 200mm/năm Tuy nhiên, khi

Trang 5

sang phía Tây giáp Thái Bình Dương lượng mưa lại bắt đầu tăng lên lần lượt là từ: 201 – 500mm/năm; đến 501 – 1000mm/năm; tăng lên 1001 – 2000mm/năm

2.3.3 Xác định đặc điểm tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên Thế giới hằng năm, thời kì 2000 – 2005:

Bài 22: Dân số và sự gia tăng dân số Thế giới Khi tìm hiểu về đặc điểm tỉ suất gia tăng dân số thế giới, trong SGK có lược đồ( hình 22.3 – Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên thế giới hàng năm, thời kì 2000 – 2005) Tuy nhiên trong quá trình dạy giáo viên nhiều khi thường xem nhẹ, bỏ qua ít cho học sinh tự khai thác lược đồ Vì vậy khi nêu khu vực(hoặc tên nước) nào đó có tỉ lệ gia tăng dân

số tự nhiên rất thấp, hoặc rất cao nhưng học sinh khó hình dung và nhớ về kiến thức Do đó khi xác định các em thường lúng túng Nếu giáo viên chú ý đến việc khai thác lược đồ thì học sinh sẽ dễ dàng nhớ được đặc điểm của tỉ suất gia tăng dân số thế giới là chia thành 5 nhóm và biết được các khu vực cũng như một số quốc gia tiêu biểu của từng nhóm tương ứng Không chỉ biết được mà do được khai thác hình ảnh trực quan các em sẽ nhớ lâu hơn và sẽ hiểu bài và tạo ra hứng thú học tập cho học sinh Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lược đồ, dựa vào

Trang 6

kí hiệu màu sắc khác nhau và phần chú giải để trả lời câu hỏi: Tỉ lệ gia tăng dân

số tự nhiên trên Thế giới được chia thành mấy nhóm? Đó là những nhóm nào? Kể tên một số quốc gia tiêu biểu tương ứng với mỗi nhóm

Hình 22.3 - Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên trên thế giới hằng năm

thời kì 2000 - 2005

Ví dụ: nhóm rất thấp, có tỉ lệ gia tăng dân số hằng năm là <= 0%, tiêu biểu như LB Nga, CHLB Đức, Ba Lan…( tập trung chủ yếu ở Châu Âu); Hoặc học sinh dễ dàng nhìn thầy Việt Nam có mức gia tăng tự nhiên là từ 1 – 1,9%; Hoặc có thể thấy các nước thuộc Châu Phi có tỉ lệ gia tăng dân số rất cao, chủ yếu là từ 2 – 2,9%, thậm chí >= 3%, một số nước cụ thể như: MaLi, Sát, CHDC Cônggô, Mađagatca…

Như vậy khi được khai thác lược đồ học sinh sẽ dễ hiểu bài và nhớ lâu hơn đồng thời tạo hứng thú và hiệu quả học tập tốt hơn

2.3.4 Xác định tỉ lệ dân thành thị của các nước trên Thế giới:

Ở bài 24: Khi tìm hiểu đặc điểm đô thị hóa trên Thế giới, đặc điểm thứ 2:

“Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn” Ngoài việc học sinh biết được số lượng các thành phố trên 1 triệu dân, trên 5 triệu dân thì học sinh cần thấy rõ tỉ lệ dân thành thị trên Thế giới có sự khác nhau giữa các châu lục, khu

Trang 7

vực và các quốc gia Đặc biệt khi các em được khai thác lược đồ tỉ lệ dân thành thị trên thế giới( hình 24 trang 96 SGK cơ bản)

Hình 24 Tỉ lệ dân thành thị trên thế giới, thời kì 2000 – 2005( %)

Giáo viên yêu cầu học sinh qua sát hình 24: Cho biết Châu lục, khu vực và những nước có tỉ lệ dân thành thị cao >70%, từ 50 – 70%?, Châu lục nào có tỉ

lệ dân thành thị thấp nhất? Việt Nam có tỉ lệ dân thành thị là bao nhiêu? Học sinh dựa vào lược đồ sẽ dễ dàng trả lời và các em sẽ hình dung được theo không gian đồng thời khắc sâu được kiến thức Ví dụ: Châu Mĩ và Châu Âu có tỉ lệ dân thành thị cao, nhiều quốc gia có tỉ lệ từ 50 – 70% như: Ba Lan, Ucraina, Tây Ban Nha…, nhiều nước > 70% như: Đức Pháp, Italia, Anh, Canađa, Hoa Kì, Mêhicô, Braxin…; ngược lại ở Châu Á và đặc biệt là Châu Phi có tỉ lệ dân thành thị rất thấp, chủ yếu là từ 25 – 50%, thậm chí < 25% như Nigiê, Sát, Êtiôpia, Kênia, Tandania… Và Việt Nam cũng mới ở mức từ 25 – 50%

Như vậy, khi học sinh được khai thác lược đồ thì sẽ hình dung được sự khác nhau về tỉ lệ dân thành thị giữa các châu lục, khu vực và các quốc gia dễ dàng hơn

2.3.5 Xác định sự phân bố dân cư trên Thế giới qua lược đồ:

Đặc biệt đối với bài thực hành: Phân tích bản đồ phân bố dân cư trên thế giới thì việc học sinh biết khai thác bản đồ, lược đồ để lĩnh hội kiến thức càng trở

Trang 8

nên quan trọng Vì nội dung bài học không thể hiện qua kênh chữ mà hoàn toàn dựa trên lược đồ để khai thác kiến thức Do đó việc học sinh biết sử dụng bản đồ, lược đồ để nâng cao hiệu quả học tập của mình lại càng cần thiết hơn

Hình 25 – Phân bố dân cư thế giới, năm 2000

Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào bản đồ phân bố dân cư hoặc hình 25( lược đồ phân bố dân cư thế giới, năm 2000) và xác định các khu vực dân cư tập trung đông đúc và những khu vực dân cư thưa thớt Giáo viên gợi ý cho các

em, dựa vào lược đồ phần chú giải với màu sắc tương ứng để xác định khu vực có mật độ dân số cao và nơi có mật độ dân số thấp Khi khai thác lược đồ phần này sẽ bổ sung, củng cố cho học sinh lí thuyết ở bài 24 khi tìm hiểu đặc điểm phân bố dân cư không đều trong không gian Các em sẽ được khẳng định lại bằng hình ảnh trực quan những nơi dân cư đông đúc như: Đông Á( phía đông Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), Nam Á( Ấn Độ, Nê Pan…), Châu Âu, Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Ngược lại có nơi dân cư rất thưa thớt như: Bắc Á( Phía Đông nước Nga), Trung Á( Mông Cổ, Cadăctan,…) Bắc Phi( An giê ri, Li

Bi, Xu Đăng,…) phần lớn khu vực Bắc Mĩ( Canađa, phía Tây Hoa Kì), Nam Mĩ( Pê ru, Achentina, Braxin…)

2.3.6 Xác định sự phân bố của các cây lương thực chính qua lược đồ:

Chương địa lí Nông nghiệp, khi học bài 28: Địa lí ngành trồng trọt, ở phần II.1 – Các cây lương thực: đặc biệt khi tìm hiểu các cây lương thực chính trên thế giới, ngoài việc học sinh biết được các cây lương thực chủ yếu trên Thế giới như: Cây lúa gạo, cây lúa mì; cây ngô thì cần biết thêm sự phân bố của chúng Giáo viên dựa vào lược đồ phân bố các cây lương thực chính trên thế giới để hướng dẫn các em lĩnh hội kiển thức Dựa vào lược đồ kết hợp với chú

Trang 9

giải các em biết được vùng tô màu xanh là trồng lúa gạo, được trồng ở miền nhiệt đới đặc biệt là châu Á gió mùa, trong đó có các nước trồng nhiều như: Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam…; Lúa mì kí hiệu màu vàng được trồng ở miền ôn đới và cận nhiệt, với các nước trồng nhiều như: Trung Quốc,

Ấn Độ, Hoa Kì, Pháp, LB Nga…Cây ngô, kí hiệu bằng chấm vàng, được trồng rộng rãi hơn, trồng cả miền nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới nóng, các nước trồng nhiều như: Hoa Kì, Trung Quốc, Bra-xin, Mê-hi-cô,Pháp…

Hình 28.2 – SGK địa lí 10: Phân bố các cây lương thực chính trên thế giới

2.3.7 Xác định sự phân bố đàn gia súc trên thế giới:

Cũng ở chương địa lí Nông nghiệp, khi học bài 29: Địa lí ngành chăn nuôi, ở phần II – Các ngành chăn nuôi: ngoài việc học sinh biết được các vật nuôi chủ yếu trên Thế giới như: gia súc lớn có: Bò, trâu; gia súc nhỏ có: lợn, cừu, dê và gia cầm chủ yếu là gà thì cần biết thêm sự phân bố của chúng Giáo viên dựa vào lược đồ phân bố đàn gia súc trên thế giới để hướng dẫn các em lĩnh hội kiến thức Học sinh dựa vào các kí hiệu trên lược đồ để xác định được Bò nuôi nhiều ở Châu Âu, Châu Mĩ với các nước sản xuất nhiều thịt và sữa bò có Hoa Kì, Bra-xin, các nước EU, ngoài ra có Trung Quốc…; Trâu lại được nuôi nhiều ở vùng nóng ẩm như: Trung Quốc, các nước Nam Á như: Ấn Độ, Pa-kit-xtan, Nê-pan; các nước Đông Nam Á như; In –đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Thái lan, Việt Nam…; Lợn được nuôi rất phổ biến, đặc biệt các nước nuôi nhiều nhất thế giới như: Trung Quốc, Hoa Kì, Bra-xin, Đức, Tây Ban Nha, Việt Nam cũng là nước nuôi nhiều lợn Hoặc cừu được nuôi ở các vùng khô hạn của Trung Quốc,

Trang 10

Ô-xtrâ-li-a, Ấn Độ; I-ran…; ngược lại dê được nuôi chủ yếu ở vùng có điều kiên tự nhiên khắc nghiệt như Châu Phi với các nước nuôi nhiều như: Xu-đăng, Ê-ti-ô-pi-a; Ni-giê-ri-a; ngoài ra con được nuôi ở các vùng khô hạn của Ấn Độ, Trung Quốc…

Hình 29.3 – Phân bố đàn gia súc trên thế giới

2.3.8 Xác định sự phân bố dầu mỏ và sản lượng khai thác dầu thô:

Trong chương Địa lí công nghiệp: Bài 32 – Địa lí các ngành công nghiệp Khi tìm hiểu về công nghiệp năng lượng trong đó có ngành khai thác dầu, ngoài biết vai trò quan trọng của dầu mỏ đối với sự phát triển kinh tế thế giới hiện nay Học sinh cần biết được ở đâu trên thế giới có trữ lượng dầu mỏ lớn và biết được các nước đang khai thác nhiều Giáo viên dựa vào lược đồ sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức Dựa vào kí hiệu màu sắc học sinh xác định khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất là Trung Đông với 92,5 tỉ tấn dầu; đứng thứ 2 là Châu Phi với 13,2 tỉ tấn; thứ 3 là LB Nga với 11,3 tỉ tấn, đứng thứ

4 là Mĩ La Tinh với 10,3 tỉ tấn Tương tự dựa vào kí hiệu sản lượng khai thác học sinh biết được nước nào có sản lượng lớn Chẳng hạn, sản lượng khai thác dầu mỏ lớn nhất thế giới thời kì 2000 – 2003 là: A-rập –xê-ut, LB Nga trung bình > 350 triệu tấn/năm; đứng thứ 2 là Hoa Kì với sản lượng 201 – 350 triệu tấn/năm; sau đó là Mê-hi-cô, Na-Uy, Iran, Trung Quốc…

Ngày đăng: 10/07/2022, 06:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w