Nếu giáo viên gây được hứng thú trong giờ dạysẽ tạo cho học sinh sự phấn chấn, hào hứng để tiếp thu bài học một cách có hiệuquả.. Từ thực tiễn giảng dạy tin học cũng như việc học của h
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ VÀ NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 7
TRƯỜNG THCS ĐIỆN BIÊN”
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Điện Biên SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 3
2.1.2 Tầm quan trọng của hứng thú đối với hoạt động học 3
2.1.3 Khái niệm động cơ học tập 3
2.2 Thực trạng hứng thú học tập môn Tin học của học sinh ở trường THCS Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 3
2.2.1 Mục đích học tập của học sinh trường THCS Điện Biên 3
2.2.2 Thái độ và những nguyên nhân khiến học sinh lớp 7 trường THCS Điện Biên chán, lười học môn Tin học 4
2.2.3 Những lý do để học sinh học môn này tốt hơn 4
2.2.4 Thực trạng cụ thể ban đầu 4
2.2.5 Phân tích nhiệm vụ 5
2.3 Các giải pháp giải quyết vấn đề 6
2.3.1 Sử dụng giáo án điện tử có hiệu quả và tận dụng tối đa các giờ học tại phòng thực hành 6
2.3.2 Tích cực dự giờ 7
2.3.3 Gây hứng thú cho học sinh trong các tiết học bằng các trò chơi đơn giản 7
2.3.4 Gây hứng thú ngay từ phần mở đầu bài học, phần giới thiệu đề mục mới 8
2.3.5 Yêu cầu đưa ra của giáo viên phải vừa sức với học sinh 9
2.3.6 Gây hứng thú cho học sinh trong các tiết học bằng Biểu đồ tư duy.10 2.3.7 Thường xuyên củng cố và phát triển hứng thú của học sinh trong giờ học bằng cách cho học sinh tiến hành thảo luận nhóm 12
2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm 14
3 Kết luận, kiến nghị 17
3.1 Kết luận 17
3.2 Kiến nghị 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 41 Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài
Qua nghiên cứu của các nhà tâm lí học ta biết rằng hứng thú là động lựcthúc đẩy chủ thể tạo ra các sản phẩm góp phần vào sự phát triển của xã hội Khiđược làm việc phù hợp với hứng thú dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảmthấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Trong hoạt động học tập, hứng thú cóvai trò hết sức quan trọng, nếu không có hứng thú thì hoạt động khó đạt hiệu quảcao
Trong các trường Trung học cơ sở (THCS) hiện nay, bên cạnh những họcsinh vui thích, đam mê với việc học tập thì cũng có một bộ phận không nhỏ các
em không thích học, chán học, nguyên nhân là do mất hứng thú học tập Tìnhtrạng chán học, không thích học do mất hứng thú học này đã ảnh hưởng khôngnhỏ tới kết quả học tập của các em nói riêng và chất lượng giáo dục ở bậc THCSnói chung, điều này có có ảnh hưởng lớn tới tương lai của các em Bởi vì hứngthú học tập, nhất là hứng thú với môn học thường có liên hệ chặt chẽ với việcchọn nghề Tin học chính là nền tảng và tiền đề quan trọng để sau này các em cóthể học tập và làm việc một cách năng động, chuyên nghiệp hơn
Tâm lý lứa tuổi học sinh THCS nói chung và học sinh lớp 7 nói riêng là lứa tuổinhạy cảm, hiếu động, ham chơi Nếu giáo viên gây được hứng thú trong giờ dạysẽ tạo cho học sinh sự phấn chấn, hào hứng để tiếp thu bài học một cách có hiệuquả
Xuất phát từ yêu cầu của việc đổi mới phương pháp là phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Xuất phát từ việc “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Từ thực tiễn giảng dạy tin học cũng như việc học
của học sinh trong các năm qua, đặc biệt là tình hình và kết quả trong năm họcvừa qua tôi nhận thấy rằng việc tạo cho học sinh hứng thú trong học tập là mộtđiều hết sức cần thiết, bản thân tôi nhận thấy việc gây hứng thú cho học sinhtrong học tập môn Tin học là một trong những giải pháp hết sức quan trọng gópphần nâng cao chất lượng dạy và học, nếu giáo viên tạo được hứng thú trong giờdạy sẽ giúp cho học sinh say sưa hơn trong quá trình học tập Đây chính là động
lực giúp tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp tạo hứng thú và nâng
cao kết quả học tập môn Tin học cho học sinh lớp 7, trường THCS Điện Biên, thành phố Thanh Hóa”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hứng thú cũng như kết quả học tập của học sinhlớp 7 trường THCS Điện Biên đối với môn Tin học Từ đó tìm ra hình thức thíchhợp, xây dựng những giải pháp gây hứng thú học tập nhằm phát huy tốt năng lựccủa học sinh lớp 7 đối với môn Tin học nói riêng và đi đến áp dụng cho học sinhtoàn trường đối với môn Tin học (thậm chí với cả một số môn học khác nóichung) nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh THCS
1.3 Đối tượng nghiên cứu
88 học sinh hai lớp 7E, 7H của trường THCS Điện Biên, thành phố ThanhHóa, tỉnh Thanh Hóa trong năm học 2018-2019
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin;
Trang 5- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm hứng thú
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ýnghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trongquá trình hoạt động
Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nộidung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú Hứng thú làm nảy sinhkhát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làmviệc
* Khái niệm hứng thú học tập môn Tin học
Là thái độ lựa chọn đặc biệt của người học đối với quá trình của sự lĩnhhội tri thức cũng như kỹ năng của môn Tin học do thấy được sự hấp dẫn và ýnghĩa thiết thực của môn học đối với bản thân
2.1.2 Tầm quan trọng của hứng thú đối với hoạt động học
Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảmgiác dễ chịu với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực
và sáng tạo hơn vào hoạt động đó Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hànhđộng gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao
Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không
có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chíxuất hiện cảm xúc tiêu cực
2.1.3 Khái niệm động cơ học tập
Khi con người có nhu cầu học tập, xác định được đối tượng cần đạt thìxuất hiện động cơ học tập Động cơ học tập được thể hiện ở đối tượng của hoạtđộng học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những kích thích đối với hoạtđộng học tập của các em
Có thể hiểu động cơ học tập của trẻ như là sự định hướng của các em đốivới việc lĩnh hội tri thức, với việc dành điểm tốt và sự ngợi khen của cha mẹ,giáo viên…
2.2 Thực trạng hứng thú học tập môn Tin học của học sinh ở trường THCS Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
2.2.1 Mục đích học tập của học sinh trường THCS Điện Biên
Khi được hỏi về mục đích và nguyên nhân thúc đẩy học tập của 88 học
sinh hai lớp 7E và 7H trường THCS Điện Biên (Qua các gợi ý: Học tập để tiếp thu kiến thức, để làm vui lòng gia đình, để được kính trọng, không muốn thua kém ai hay học vì tương lai của chính bản thân các em) tôi thấy rằng mục đích
học tập vì tương lai có tỷ lệ cao nhất, tỷ lệ mục đích làm vui lòng gia đình, đượcmọi người kính trọng, không thua kém ai thấp hơn
Qua đó chứng tỏ mục đích học tập chủ yếu của học sinh THCS hiện nay
là chuẩn bị cho các em học có thể thi đỗ vào THPT, tương lai là thi đỗ đại học
và có việc làm ổn định, thỏa mãn ước muốn bản thân, để giúp đỡ gia đình
Trang 62.2.2 Thái độ và những nguyên nhân khiến học sinh lớp 7 trường THCS Điện Biên chán, lười học môn Tin học
* Thái độ của học sinh:
Không phải hiện nay mà đã từ lâu sự thay đổi về mặt tâm sinh lý lứa tuổi
và một số học sinh còn xem môn tin học là một môn phụ, các em chỉ quan tâmđến môn học mà các em đã định hướng cho thi vào THPT và nghề nghiệp tươnglai sau này nên một số học sinh chưa thực sự hứng thú với môn học, tạo nên tâmlý coi thường trong môn học
* Nguyên nhân chủ yếu của sự chán, lười học môn tin học của học sinh lớp 7 THCS Điện Biên:
Qua tìm hiểu tôi nhận thấy nguyên nhân chủ yếu của sự chán, lười họcmôn tin học của học sinh là vì các lí do sau đây:
+ Do các em cảm thấy môn học khó và không có khả năng đối với mônhọc
+ Khó tập trung học tập do nhiều yếu tố bên ngoài tác động, không giữđược ý chí quyết tâm học tập
+ Do môn học không đủ sức hấp dẫn với học sinh…
2.2.3 Những lý do để học sinh học môn này tốt hơn
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng ngoài những nguyên do gắn liền vớimục đích học tập, còn có một số nguyên do khác như:
+ Giáo viên tạo được không khí học tập vui vẻ, hấp dẫn
+ Các em có được niềm đam mê với môn học
+ Các em nhận thức được học để tìm tòi những điều mới mẻ, tư duy logic,sáng tạo hơn
+ Bản thân các em nhận thấy được tầm quan trọng của việc học
Tóm lại, sau khi tìm được những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượngchán, lười học và mức độ ảnh hưởng ít hay nhiều của các nguyên do thúc đẩyviệc học tập mà ta có thể đề ra được những biện pháp phù hợp hơn nhằm khuyếnkhích học sinh học tập tốt hơn
2.2.4 Thực trạng cụ thể ban đầu
Trường THCS Điện Biên là một trường thuộc khu vực thành phố nhưngcòn gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy và học, đặcbiệt là môn Tin học Năm học 2018 – 2019 toàn trường có 11/24 lớp học mônTin học, trong đó có 01 phòng máy vi tính với 17 máy và chưa có điều kiện đểlắp máy chiếu và máy in cho phòng máy thực hành Giáo viên giảng dạy lýthuyết phải dạy trên phòng học của các lớp, còn phòng thực hành không có máychiếu nên việc giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn Không những thế trongtrường hợp mất điện hoặc không có sự can thiệp thì sẽ không có sự trợ giúp củacông nghệ thông tin
Vào năm học 2018 – 2019 tôi được phân công dạy môn tin học cho họcsinh toàn khối 8 và 04 lớp 7, trong đó có hai lớp mà tôi thử nghiệm để nghiêncứu cho đề tài này là lớp 7E và lớp 7H Nhìn chung các em đều ngoan và có thái
độ kính trọng thầy cô giáo, cả hai lớp đều có sĩ số như nhau nên cũng dễ sosánh Số tiết dạy học kỳ 1 và học kỳ 2 là 2 tiết/lớp/tuần
Trang 7Khảo sát chất lượng đầu năm: Trong tổng số 88 học sinh của hai lớp 7E
và 7H thì số điểm từ trung bình là 53 học sinh, điểm khá là 12, điểm giỏi là 5,điểm dưới trung bình là 18 học sinh Để dễ dàng so sánh kết quả của quá trình
áp dụng sáng kiến tôi có thể đưa ra bảng tổng hợp số lượng khảo sát đầu nămcủa hai lớp cụ thể như sau:
Lớp
Sau khoảng 3 tuần giảng dạy, trong các giờ học trên mỗi lớp trung bình có
05 - 10 học sinh không chú ý hoặc giả vờ chú ý, các em không chịu phát biếu ýkiến để xây dựng bài, nhiều học sinh không chuẩn bị bài ở nhà Các học sinh khigọi lên kiểm tra bài cũ thì số lượng thuộc bài rất ít
Với đặc thù rất quan trọng của môn Tin học cho học sinh là bắt buộc thựchành trên máy tính và thực hành là một cấu thành của bài giảng lý thuyết Đốivới môn tin học sẽ là rất khó dạy khi giáo viên hoàn toàn không được dùng máytính để minh họa hay thực hành các thao tác mẫu của bài học Nếu thầy và tròtrên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay), cộng thêm vớiđiều kiện gia đình, sự quan tâm về tinh thần từ phía gia đình đối với các emkhông được đồng đều, sự khập khiễng về ý thức, nhận thức giữa học sinh cũnggây không ít khó khăn cho cả thầy và trò trong quá trình dạy và học
Việc tạo hứng thú học tập môn tin học cho các em cần phải căn cứ vàocác tiêu chí sau:
+ Học sinh đi học đầy đủ, đúng giờ và nghiêm túc
+ Học sinh thuộc bài khi kiểm tra bài cũ
+ Học sinh hào hứng phát biểu xây dựng bài
+ Học sinh tập trung chú ý cao, học bài và làm bài đạt kết quả tốt
Từ đây ta hoàn toàn có thể xây dựng các biện pháp để giải quyết vấn đềđặt ra
Trang 82.3 Các giải pháp giải quyết vấn đề
Để đánh giá mức độ hiệu quả của các biện pháp được xây dựng, tôi đãtiến hành thực hiện khảo sát với thời gian là 12 tuần thực dạy đầu tiên trong nămhọc 2018-2019 gồm có 2 lớp 7E và 7H (học sinh hai lớp có sức học ngang
nhau) Trong đó 44 học sinh lớp 7E được chọn làm nhóm đối chứng và 44 học sinh lớp 7H được chọn làm nhóm thực nghiệm Các phương pháp được tôi sử
dụng cho nhóm thực nghiệm như sau:
2.3.1 Sử dụng giáo án điện tử có hiệu quả và tận dụng tối đa các giờ học tại phòng thực hành
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và bùng nổ công nghệ thông tinlàm cho tất cả các lĩnh vực đều ảnh hưởng trong đó có giáo dục Nếu như trướcđây hoạt động dạy và học chủ yếu theo phương pháp truyền thống và kiến thức
mà học sinh thu nhận được chủ yếu là từ giáo viên thông qua phương tiện truyềntải chính là sách giáo khoa thì giờ đây
trong giờ học học sinh không phải
nhàm chán chỉ với riêng cuốn sách giáo
khoa mà còn rất nhiều phương tiện
khác truyền tải thông tin hay và hấp
dẫn, trong đó có bài giảng điện tử của
giáo viên
Giáo án điện tử là phương tiện hỗ
trợ cho giáo viên (GV), giúp bài giảng
sinh động hơn, học sinh (HS) hứng thú
học tập và dễ dàng tiếp thu bài Vì vậy,
để giúp HS khắc sâu kiến thức, kích
thích nguồn cảm hứng học tập, khi
giảng dạy GV cần phải kết hợp hài hòa
giữa màn hình với lời giảng và giữa
màn hình với ghi bảng sao cho linh
hoạt uyển chuyển Giáo viên phải thật
sự có ý thức học hỏi, khai thác và sử
dụng có chọn lọc những tư liệu quý trên
internet phù hợp với nội dung bài học
chứ đừng quá tham lam tư liệu, có bao
nhiêu cũng đưa vào bài giảng, làm cho
bài giảng dễ bị loãng, không cô đọng
Ví dụ ở hình 1 và hình 2 nêu trên tôi đã sử dụng phần mềm Violet để tạo
sự tương tác của bài giảng đối với giáo viên và học sinh thông qua các câu hỏitrắc nghiệm, bài tập ô chữ, bài tập kéo thả chữ, kéo thả hình ảnh giúp giờ họcđạt hiệu quả cao, kích thích sự hứng thú trong tiết học của học sinh, còn giáoviên chủ động lựa chọn nội dung thích hợp để đổi mới phương pháp dạy học.Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy hầu hết các em đều rất thích được lênphòng máy để thực hành, thích được học tại phòng lý thuyết để được học các bàigiảng điện tử, có âm thanh, hình ảnh, màu sắc sinh động Nếu chúng ta chuẩn bị
Hình 1 Kéo rê kết quả
Hình 2 Học sinh tương tác với bài giảng
Trang 9được thật nhiều những giờ dạy trên các phòng chức năng này cũng là một trongnhững biện pháp tạo hưng phấn cho học trò
Chúng ta cũng cần phải chú ý tận dụng tối đa các tiết học thực hành trênphòng máy nhằm hạn chế cách dạy thông báo khô khan, tẻ nhạt, hay giáo viênchiếu – học sinh chép Ví dụ như nếu giáo viên chỉ sử dụng bài giảng điện tử đểhướng dẫn các bài thực hành hay những bài học lý thuyết mang tính thực hành
là không nên; Vì bản thân bộ môn thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin, các emcần được tiếp cận trực tiếp các thao tác mà chúng ta không nên cắt, dán các biểutượng, các thao tác thực hiện vào bài giảng điện tử
Phương châm dạy học đặc trưng của bộ môn Tin học là “Học đi đôi với
hành”, vì thế các hoạt động học tập linh hoạt là tránh trình bày một phương
pháp lặp đi, lặp lại đơn điệu nhằm giúp học sinh tạo được niềm vui khi đến lớpđồng thời giúp các em cảm nhận được sự thiết thực của môn học đối với bảnthân
2.3.3 Gây hứng thú cho học sinh trong các tiết học bằng các trò chơi đơn giản
Học sinh bao giờ cũng thích vừa học vừa chơi, chơi để lĩnh hội tri thứcmới từ trò chơi, chơi để làm cho không khí lớp học trở nên vui vẻ, tạo ra sự đoànkết giữa các em, giảm căng thẳng trong các giờ học Nếu chúng ta chịu khó nghĩ
ra các trò chơi có hàm ý nội dung cần truyền đạt trong trò chơi ấy chắc chắn các
em sẽ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả và không thấy chán mỗi khi đến giờtin học, nếu giáo viên biết cách sắp xếp thời gian hợp lý tổ chức trò chơi cho họcsinh thì học sinh rất hào hứng học
* Ví dụ: Trong giờ học “Bài 4: Sử dụng các hàm để tính toán”- Tiết 14
theo PPCT Tin 7 ở phần cuối bài GV có thể cho học sinh chơi trò chơi như sau: Chọn 2 đội lên bảng (khoảng 3 học sinh/ đội) để viết tất cả cấu trúc và ý nghĩa các hàm tính toán đã học Học sinh còn lại dưới lớp được chia ra làm cổ động viên tinh thần cho 2 đội chơi Như vậy sau trò chơi các em vừa nhớ hết các các
hàm tính toán trong tin học cũng như ý nghĩa của từng hàm để chuẩn bị kỹ năngcho tiết thực hành tiếp theo
Khi thiết kế nội dung một trò chơi ta có thể lấy nội dung bài học hoặc một
bài tập thuộc bài trọng tâm trong Sách giáo khoa Sau đó, bằng sự “chế biến”
của mình chúng ta sẽ có nhiều đơn vị kiến thức, nhiều bài tập tương tự ở mức độvừa phải, đủ để học sinh bình thường có thể giải quyết được trong thời gian
Trang 10ngắn, đồng thời có thêm nhiều bài tập để học sinh trong lớp cùng tham gia Đặcbiệt trong trò chơi nên có một bài tập hoặc một ý trở lên có nội dung khó nhằmgiúp học sinh phải vận dụng những kiến thức một cách có hệ thống, linh hoạt vàsáng tạo hơn
* Ví dụ: Khi học “Bài 5: Thao tác với bảng tính” nếu là thao tác sao
chép công thức không khó, học sinh hoàn toàn có thể làm được nhưng sự thayđổi địa chỉ trong công thức (địa chỉ tương đối) có thể khó hiểu đối với học sinh.Giáo viên cần dành thời gian để giải thích kĩ vấn đề này, có thể cho học sinhthảo luận một số tình huống để nắm chắc vấn đề này
Chẳng hạn như, hỏi một học sinh A một câu hỏi: Các bạn ngồi cùng bàn bên trái em tên là gì?
Học sinh A liệt kê ra tên các bạn ngồi bên trái mình là B, C, D.
Giáo viên đề nghị học sinh A chuyển sang bàn khác, nhưng vẫn hỏi câu hỏi đó, lúc này học sinh A sẽ đọc tên các bạn ngồi bên trái mình là E, G, H.
Như vậy, vẫn là học sinh A, vẫn câu hỏi đó nhưng ở vị trí khác nhau, kết quả khác nhau Giáo viên khẳng định “các bạn ngồi bên trái em” chỉ vị trí tương đối giữa chỗ ngồi của học sinh A và các bạn Cho nên khi học sinh A thay đổi chỗ ngồi thì “các bạn ngồi bên trái” là các bạn mới, không phải các bạn lúc đầu.
Từ đó GV có thể dễ dàng kết luận khi sao chép công thức, địa chỉ trongcông thức được điều chỉnh để giữ nguyên quan hệ tương đối về vị trí so với ôchức công thức Ngoài ra giáo viên có thể đưa thêm một số tình huống về côngthức có chứa địa chỉ tương đối và sao chép sang ô tính khác rồi yêu cầu học sinhcho biết sự thay đổi địa chỉ khi sao chép công thức sang ô tính mới Đây cũng cóthể là một hoạt động cho học sinh làm việc theo nhóm hoặc theo cặp để trao đổi,thảo luận về nội dung này Với cách thực hiện như trên giáo viên sẽ giảm bớt sựtrừu tượng trong cách giải thích khái niệm về địa chỉ tương đối, học sinh thấyđược sự khác nhau giữa địa chỉ tương đối và địa chỉ tuyệt đối
Và như vậy, chính các em sẽ bị cuốn vào hoạt động và lời giảng của giáoviên cũng như giúp các em nắm rõ về kiến thức trọng tâm của bài học và khôngcòn tâm lý sợ tìm hiểu nội dung mới của bài học mà các em cho là khô khan,khó hiểu
2.3.4 Gây hứng thú ngay từ phần mở đầu bài học, phần giới thiệu đề mục mới
Rõ ràng ngay từ bước chân của giáo viên vào lớp với thái độ vui vẻ thânmật đối với học sinh đã tạo nên không
khí hào hứng chung của cả lớp để chuẩn
bị bước vào bài học mới, sự hứng thú
học tập chỉ thực sự bắt đầu với phần giới
thiệu gây hấp dẫn đối với học sinh
* Ví dụ 1: Để bước vào tiết học
“Bài thực hành 3: Bảng điểm của em”
(Tiết 11 Tin học 7) giáo viên vào lớp có
thể phát cho học sinh một phiếu tính tiền
tiết kiệm gửi ngân hàng của bố mẹ bạn nào Hình 3: Lãi suất tiết kiệm ngân hàng