Luật Giáo dục, điều 24.2:“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học,bồi d
Trang 11 MỞ ĐẦU
Môn Vật lý là môn khoa học nghiên cứu những sự vật, hiện tượng xảy ra hàng ngày, có tính ứng dụng thực tiễn cao Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức , hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học của bộ môn Học vật lý là
để hiểu và giải thích được các vấn đề của tự nhiên trong cuộc sống thông qua các kiến thức đã được học Học sinh phải có một thái độ học tập nghiêm túc, có
tư duy sáng tạo về những vấn đề mới nảy sinh để tìm ra hướng giải quyết phù hợp
Để đạt được mục đích của học vật lý trong trường phổ thông thì người giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng là nhân tố tham gia quyết định chất lượng Do vậy ngoài những hiểu biết về kiến thức vật lý thì người giáo viên dạy vật lý còn phải có phương pháp truyền đạt gây hứng thú cho học sinh, người giáo viên phải biết vừa tổ chức vừa lãnh đạo điều khiển mọi hoạt động nhận thức của học sinh Vậy phương pháp dạy học giữ vị trí quan trọng trong việc nắm kiến thức của học sinh
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện mục tiêu đào tạo môn Vật lý ở trường trung học phổ thông, cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, có hệ thống và tương đối toàn diện
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển của khoa học vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức vật lý có giá trị lớn trong đời sống và trong sản xuất, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luật Giáo dục, điều 24.2:“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học,bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Vật lý còn có một sắc thái riêng, phải huớng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết một số vấn đề vật lý trong thực tế Do vậy giáo viên cần có phương pháp dạy học phù hợp mới phát huy tốt trí tưởng tượng óc sáng tạo nhanh nhạy đối với những tình huống có vấn đề trong kiến thức cũng như trong thực tế của học sinh
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Tìm ra phương pháp giảng dạy mới khắc phục lối truyền thụ một chiều, cách dạy mới khi liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn để học sinh vận dụng vào trong cuộc sống giúp các em yêu thích môn học, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 21.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Qúa trình giảng dạy bộ môn vật lý tại các lớp 10C2,10C4,10C5 của trường THPT Lam Kinh
- Các phương pháp dạy học mới, phương pháp tổ chức thảo luận nhóm, phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học tích hợp
- Các phần mềm tin học ứng dụng trong soạn giáo án
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Tham khảo các tài liệu, sách giáo khoa, sách giáo viên
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế tại các lớp giảng dạy
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh
-Điều tra, khảo sát kết quả học tập của học sinh trước và sau khi vận dụng phương pháp dạy học mới tại lớp 10C2,10C4 Điều tra kết quả học tập của học sinh giữa lớp được vận dụng và lớp không được vận dụng phương pháp mới, từ
đó thấy dược mức độ và hiệu quả đạt được khi thực hiện đề tài
2 NỘI DUNG
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đào tạo của đất nước hiện nay.
Phải đào tạo ra thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ đất nước, có trình độ văn hóa cơ bản, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Những con người có trí tuệ và năng lực sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt Để đạt được mục tiêu đó thì trong giảng dạy ở nhà trường phổ thông điều quan trọng nhất là phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Hoạt dộng giáo dục phải lấy học sinh làm trung tâm, làm chủ thể của việc nhận thức với sự hướng dẫn giúp đỡ giảng dạy tích cực có hiệu quả của giáo viên và việc học tập tích cực,tự giác, sáng tạo của học sinh Vì vậy việc dạy học không chỉ quan tâm đến nhiệm vụ làm cho học sinh tiếp thu được một số kiến thức nào đó,
mà còn phải quan tâm tới nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho học sinh, người giáo viên phải có phương pháp dạy học phát triển được ở học sinh năng lực áp dụng kiến thức trong tình huống mới, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Từ thực tế giảng dạy hiện nay, không ít giáo viên chỉ chăm lo cung cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết để các em làm bài điểm cao, chưa quan tâm tới việc phát huy trí lực, óc sáng tạo, tự tìm tòi của học sinh, dẫn tới việc nhiều em sau khi học xong các hiện tượng vật lý, các định luật vật lý các em không biết vận dụng các hiện tượng, định luật đó vào giải thích các hiện tượng tự nhiện và không chỉ ra được rộng rãi của nó trong khoa học kỹ thuật Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phải lấy học sinh làm trung tâm, có như vậy mới phát huy được năng lực của học sinh, năng lực của học sinh phải được hình thành từ thường phổ thông
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Lam Kinh tôi nhận thấy đa số học sinh cho rằng môn vật lý là một môn học khó, học sinh ít hứng thú học tập, nhất
là đối với học sinh mới vào học lớp 10, khi thi vào lớp 10 các em thi ba môn
Trang 3Toán, Ngữ Văn, Ngoại Ngữ , do vậy trong thời gian dài ở THCS các em chú tâm vào học ba môn thi trên, một số em xem môn Vật lý là môn phụ chưa chú tâm học, đa số các em quên kiến thức cơ bản môn Vậy Lý đã học ở lớp dưới, Vậy làm thế nào để các em yêu thích môn Vật Lý, cảm thấy giờ học vật lý không quá nặng nề, không gây căng thẳng, mệt mỏi cho học sinh, qua quá trình dạy tôi đã mạnh dạn đưa ra một số đổi mới trong phương pháp dạy nhằm kích thích tư duy sáng tạo của học sinh và gây hứng thú cho học sinh trong giờ học vật lý, từ đó hình thành cho các em năng lực tư duy ,tự học, tự nghiên cứu Trong những năm gần đây qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy khi lồng ghép cách dạy này vào quá trình dạy học bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực nhất định Một trong
những phương pháp dạy học mà tôi đã áp dụng đó là “ Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức vật lý giải thích các hiện tượng thực tế trong cuộc sống khi dạy vật lý 10- chương trình cơ bản”
2.3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
2.3.1 Đặt vấn đề vào bài mới bằng các câu hỏi, sau khi học sinh tiếp thu kiến thức mới giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm vận dụng kiến thức trả lời các câu hỏi.
Giáo viên đặt vấn để vào bài mới bằng các câu hỏi thông qua phiếu học tập phát cho học sinh nhằm mục đích tạo ra nhu cầu hứng thú, kích thích sự ham muốn hiểu biết của học sinh, tư duy chỉ bắt đầu khi trong đầu học sinh xuất hiện một câu hỏi mà chưa có lời giải đáp ngay, khi học sinh gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên là trình
độ kiến thức hiện có không đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần xây dựng kiến thức mới, tìm giải pháp mới, lúc đó học sinh ở trạng thái hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khao khát vượt qua khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được trình độ cao hơn trên con đường nhận thức
Sau đây là một số phiếu học tập mà tôi đã thực hiện khi dạy các bài lý thuyết mới Học xong kiến thức giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhóm (6 học sinh một nhóm) vận dụng giải thích các câu hỏi trên, giáo viên có thể chiếu các hình ảnh video minh họa để học sinh quan sát trực quạn vận dụng kiến thức giải thích dễ hơn
Phiếu học tập bài 10: Ba định luật Niu-Tơn
Câu 1: Khi bị trượt chân hay bị vấp người ta ngã như thế nào? [3]
Câu 2: Tại sao lúc rơi xuống, các vận động viên thể thao nhảy cao và nhảy xa
phải co hai chân lại? [3]
Câu 3: Tại sao chạy lấy đà trước ta lại nhảy được xa hơn là đứng tại chổ nhảy
ngay? [3]
Hướng dẫn học sinh giải thích.
Câu 1: Khi một người bị vấp thì hai chân ngừng bước đột ngột, theo quán tính
thân người vẫn tiếp tục chuyển động,vì thế người sẽ bị ngã đập mặt xuống, còn khi bị trượt chân thì sẽ bị ngã ngửa
Câu 2: Nhờ co hai chân ở giai đoạn cuối bước nhảy, vận động viên tạo thêm
được đường để hãm nà nhờ thế giảm bớt được lực va xuống đất
Trang 4Câu 3: Khi ta chạy lấy đà thì chuyển động theo quán tính được cộng thêm vào
chuyển động xuất hiện do việc đẩy người rời khỏi măt đất, do vậy nhảy được xa hơn
Phiếu học tập bài 13: Lực ma sát
Câu 1: Tại sao khó cầm được con cá còn sống trên tay? [3]
Câu 2: Vì sao các đôi giày, đôi dép dưới mặt đế lại có nhiều các rãnh nhỏ?
Câu 3: Vì sao khi ta đi trên nền nhà lát gạch hoa có nước thì rất dễ ngã?
Câu 4: Vì sao các lốp xe ô tô, xe máy, xe đạp lại được khía các rãnh và mặt
lốp ô tô vận tải lại được khía sâu hơn mặt lốp xe đạp? [1]
Câu 5: Tại sao khi ta sơn nhà thì sơn bám được lên tường nhà, hoặc khi ta viết
bảng thì phấn bám vào bảng, muốn phấn bám vào bảng nhiều hơn để nhìn rõ thì
ta phải làm gì?
Hướng dẫn học sinh giải thích.
Câu 1: Do ma sát giữa cá và tay nhỏ, do đó cá dễ tuột khỏi tay.
Câu 2: Các đôi giày (đôi dép) dưới mặt đế lại có khía nhiều các rãnh nhỏ để
tăng ma sát giữa giày (dép) với mặt đất khi ta bước đi đễ ta đỡ bị trượt ngã
Câu 3: Khi ta đi trên nền nhà lát gạch hoa có nước thì rất dễ ngã do ma sát giữa
bàn chân và nền nhà giảm
Câu 4: Các lốp xe ô tô, xe máy, xe đạp lại được khía các rãnh để bánh xe bám
được trên mặt đường, xe ô tô vận tải thường chở hàng nặng nên cần phải có lực
ma sát lớn hơn xe đạp
Hình 1: Lốp xe máy Hình 2: Lốp xe ô tô
Câu 5: Khi ta sơn nhà thì sơn bám được lên tường nhà là do giữa Rulo với mặt
tường có lực ma sát lăn cho nên khi ta sơn thì sơn mới bám được vào tường
Khi ta viết bảng thì phấn bám vào bảng do có ma sát giữa viên phấn với mặt bảng, muốn phấn bám vào bảng nhiều hơn để nhìn rõ thì ta phải tăng ma sát bằng cách tăng độ nhám của mặt bảng
Phiếu học tập bài 20: Các dạng cân bằng Cân bằng của một vật có mặt chân đế.
Trang 5Câu 1: Vì sao khi võ sĩ thi đấu người ta lại đứng ở tư thế khuỵu gối xuống một
chút và hai chân dạng ra so với mức bình thường?
Câu 2: Tại sao khi có gió bão thì cây có lá lại dễ bị bật gốc hoặc gãy, đổ hơn
cây đã rụng lá?
Câu 3: Một người ở tư thế nào thì vững vàng hơn: Ngồi hay đứng? [3]
Câu 4: Nghệ sĩ xiếc lúc đang đi trên dây có cầm trong tay một cái gậy nặng
nhằm mục đích gì? [3]
Câu 5:Tại sao vận động viên lúc nâng tạ bao giờ cũng bước lên phía trước một
bước?
Hướng dẫn học sinh giải thích.
Câu 1: Võ sĩ thi đấu người ta lại đứng ở tư thể khuỵu gối xuống một chút và hai
chân dạng ra là để trọng tâm người ở mức thấp hơn và tăng diện tích mặt chân
đế, nhờ thế đứng vững hơn
Câu 2: Khi có gió bão thì cây có lá lại dễ bị bật gốc hoặc gãy, đổ hơn cây đã
rụng lá, vì cây có lá trọng tâm của cây cao hơn nên kém vững vàng hơn khi có gió bão dễ đổ hơn
Câu 3: Một người ở tư thế ngồi thì vững vàng hơn đứng vì trọng tâm thấp hơn Câu 4: Nghệ sĩ xiếc lúc đang đi trên dây có cầm trong tay một cái gậy nặng
nhằm mục đích điều chỉnh trọng tâm của cơ thể, phải luôn đi qua dây, người nghệ sĩ xiếc điều chỉnh độ nghiêng của cái gậy về phía này hay phía kia tạo khả năng nhanh chóng chuyển dịch trọng tâm mà nhờ đó giữ được cân bằng
Hình 3: Nghệ sĩ xiếc lúc đang đi trên dây
Câu 5: Vận động viên lúc nâng tạ bao giờ cũng bước lên phía trước một bước
để tăng mặt chân đế, và nhờ đó vận động viên vững vàng hơn trên mặt phẳng thẳng góc với cần ngang của tạ
Trang 6Hình 4: Vận động viên lúc nâng tạ
Phiếu học tập bài 28: Cấu tạo chất Thuyết động học phân tử chất khí.
Câu 1: Tại sao khói tan mất trong không khí? [2]
Câu 2: Tại sao khi pha nước chanh, người ta thường làm cho đường tan trong
nước rồi mới bỏ đá lạnh vào, tại sao không nên bỏ đá lạnh vào trước rồi mới bỏ đường? [1]
Câu 3:Việc tách hai tấm ván gỗ úp lên nhau dễ hơn nhiều so với việc tách hai
tấm kính chồng lên nhau Tại sao vậy? [5]
Hướng dẫn học sinh giải thích.
Câu 1: Do các phân tử khói chuyển động hỗn độn về mọi phía và tách ra xa dần
nhau, thể tích của khối khói tăng lên và khối lượng riêng giảm đi
Hình 5: Khói bốc lên tan dần trong không khí
Trang 7Câu 2: Khi pha nước chanh, người ta thường làm cho đường tan trong nước rồi
mới bỏ đá lạnh vào,vì nhiệt độ càng cao, các phân tử chuyển động càng nhanh nên đường dễ hòa tan hơn, nếu ta bỏ đá lạnh vào trước rồi mới bỏ đường do nhiệt độ thấp qua trình hòa tan của đường diễn ra chậm hơn
Cau 3: Hai tấm kính đặt úp vào nhau có lực liên kết giữa các phân tử mạnh hơn,
do chúng có bề mặt nhẵn, các phân tử của hai tấm kính ở rất gần nhau đến mức chúng có thể hút nhau Điều này không xảy ra với hai tấm ván
Phiếu học tập bài 36: Sự nở vì nhiệt của vật rắn.
Câu 1: Tại sao các tấm tôn lợp mái nhà lại có dạng lượn sóng? [1]
Câu 2: Tại sao ở chổ tiếp nối hai đầu thanh ray xe lửa lại có một khoảng hở?
Vì sao giữa các nhịp cầu có khe hở?
Câu 3: Tại sao khi rót nước vào cốc thủy tinh dày thì cốc thủy tinh dày dễ vở
hơn cốc thủy tinh mỏng? [2]
Câu 4: Tại sao các con đường đổ bằng bê tông không đổ liền thành một dải mà
đổ thành các tấm tách biệt với nhau bằng các khe hở?
Câu 5: Tại sao khi lắp khâu dao, khâu liềm người ta phải nung nóng khâu lên
rồi mới lắp vào chuôi dao, chuôi liềm? [5]
Hướng dẫn học sinh giải thích.
Câu 1: Các tấm tôn lợp mái nhà lại có dạng lượn sóng vì khi trời nắng nóng, các
tấm tôn sẽ nở ra, nếu mái tôn thẳng thì các cây đinh sẽ bị bung ra, còn nếu mà tôn hình gợn sóng thì sẽ đủ diện tích để giãn nở
Câu 2: Chổ tiếp nối hai đầu thanh ray xe lửa có một khoảng hở để khi trời nắng
nóng thanh ray nở ra, nếu không có khe hở, sự nở vì nhiệt của đường ray sẽ bị ngăn cản gây ra lực lớn làm cong đường ray Khi thi công các cây cầu cũng vậy giữa các nhịp cầu có khe hở
Hình 6: Khe hở đường ray
Trang 8Hình 7: Khe hở các nhịp cầu
Câu 3: Khi rót nước vào cốc thủy tinh dày thì cốc thủy tinh dày, lớp thủy tinh
bên trong đã nóng lên và bắt đầu nở ra, trong khi đó lớp thủy tinh bên ngoài chưa nóng lên và chưa nở ra, vậy nên lớp thủy tinh bên trong nở ra làm vỡ cốc, với thủy tinh mỏng thì sự dẫn nhiệt dễ dàng hơn nên khó vỡ hơn
Câu 4: Các con đường bê tông không đổ liền thành một dải mà đổ thành các
tấm tách biệt với nhau bằng các khe hở vì khi nóng lên bê tông nở ra, nếu không
để hở, bê tông ngăn cản sinh ra lực lớn làm nứt đường
Hình 8: Đường bê tông
Trang 9Câu 5: Khi lắp khâu dao, khâu liềm người ta phải nung nóng khâu lên rồi mới
lắp vào chuôi dao, chuôi liềm, sau đó dội nước lạnh vào Khi nung nóng khâu, chúng sẽ nở ra để có thể lắp vào chuôi dao(liềm) dễ dàng, sau đó dội nước lạnh, chúng co lại bó chặt vào chuôi dao (liềm)
Phiếu học tập bài 37: Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng.
Câu 1: Dân gian thường có câu;“ nước đổ đầu vịt” dùng cho những người
không nghe lời dạy bảo của cha mẹ, thầy cô, câu này liên quan đến kiến thức vật
lý nào? Em hãy giải thích? [3]
Câu 2: Trong nông nghiệp, tại sao người nông dân thường xuyên xới đất giữa
những hàng cây mới trồng, làm mất lớp đất cứng trên mặt đi? [3]
Câu 3: Tại sao khi trời vừa mưa xong, nước đọng lại trên các tàu lá sen, lá khoai
lại có dạng hình cầu dẹt? [2]
Hướng dẫn học sinh giải thích.
Câu 1: Câu “ nước đổ đầu vịt” liên quan đến kiến thức vật lý là hiện tượng
không dính ướt, nước không dính ướt đầu con vịt
Câu 2: Đất chưa xới có nhiều lổ nhỏ giống như ống mao dẫn làm cho nước ở
dưới bị hút lên và bay hơi, vậy thì đất sẽ bị khô đi, người nông dân thường xuyên xới đất giữa những hàng cây mới trồng, làm mất lớp đất cứng trên mặt là mục đích làm mất các “ống mao dẫn”, giữ nước lại trong đất để nuôi cây
Câu 3: Tại sao khi trời vừa mưa xong, nước đọng lại trên các tàu lá sen, lá khoai
lại có dạng hình cầu dẹt
Hình 9: Nước đọng lại trên các tàu lá sen
2.3.2 Giao các câu hỏi về nhà để học sinh tự vận dụng giải thích sau đó kiểm tra vào đầu tiết học sau.
Vì thời lượng mỗi tiết học có hạn nên giáo viên ra các câu hỏi về nhà và yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học giải thích, khi học xong bài học mà hoc
Trang 10sinh thấy được kiến thức đó được ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, sẽ hứng thú, tò mò và chủ động tư duy để tìm hiểu, qua đó kiến thức sẽ nhớ lâu hơn, và cũng nhờ thế giúp giáo viên thu được thông tin phản hồi từ học sinh về mức độ hiểu bài của học sinh
Sau đây là một số câu hỏi mà học sinh về nhà đã giải thích được khá tốt
Câu hỏi về nhà bài 10: Ba định luật Niu-Tơn.
Câu 1: Có nhiều động vật khi ở dưới nước lên đều lắc mình rũ nước Các động
vật đó đã áp dụng định luật vật lý nào, giải thích? [3]
Câu 2: Tại sao ô tô chở nặng đi trên các đoạn đường đá gồ ghề lại êm hơn ô tô
không chở hàng? [1]
Câu 3: Định luật III Niu-Tơn đã được vận dụng thế nào trong sự chuyển động
của con cá trong nước [5]
Câu 4: Màng bơi ở chân vịt hay ngỗng có tác dụng gì?
Học sinh giải thích.
Câu 1: Có nhiều động vật khi ở dưới nước lên đều lắc mình rũ nước Các động
vật đó đã áp dụng định luật quán tính, khi lắc mình thì các hạt nước chuyển động theo quán tính nên bắn ra ngoài
Hình 10: Động vật đều lắc mình rũ nước
Câu 2: Ô tô chở nặng đi trên các đoạn đường đá gồ ghề lại êm hơn ô tô không
chở hàng vì ô tô chở hàng có tổng khối lượng lớn hơn nên theo định luật II Niu-Tơn thì gia tốc thu được khi tương tác với đường ( chổ gồ ghề) bé hơn, sự thay đổi vận tốc theo phương thẳng đứng của xe rất bé nên xe đi cảm giác êm hơn