Với lợi thế đó, chắc chắn môn Văn sẽ phát huy tiềm năng và tác dụng của nó trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành, phát triển năng lực văn học cho thế hệ trẻ, trong đ
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Văn học là tinh hoa văn hoá nhân loại, lưu truyền những điều tốt đẹp của
con người qua các thời đại, mà con người bao giờ cũng hướng về cái đẹp, tìm
đến cái đẹp trong cuộc sống Mác từng nói: “ Con người sản xuất theo quy luật
của cái đẹp” [1] Văn học nhận thức, phản ánh đời sống theo quy luật của cái
đẹp nhằm thỏa mãn những nhu cầu về tình cảm vô cùng phong phú của con người”[2] Ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác nhau cơ bản giữa môn Văn và các môn học khác: nếu các môn Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh… được viết ra bằng tư duy khoa học thì tác phẩm văn chương lại được viết ra bằng tư duy nghệ thuật Tư
duy khoa học bao giờ cũng cung cấp kiến thức cho người học, còn tư duy nghệthuật thì đem đến cho họ Cái Đẹp Xét về bản chất môn Văn, ta thấy có hai đặc
điểm: môn Văn vừa là môn học nghệ thuật lại vừa là môn công cụ Môn học nghệ thuật là môn học về Cái Đẹp, nhằm đem đến Cái Đẹp cho học sinh để giáo
dục óc thẩm mỹ và bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho các em Nhưng từ Cái Đẹp
đó, nó sẽ mang đến cho thế hệ trẻ nhiều tố chất để làm người, hoàn thiện nhân cách như lòng yêu nước, thương dân, vị tha, nhân ái, trung thực, dũng cảm… Từ
trong Cái Đẹp đã chứa đựng biết bao tư tưởng và tình cảm mà nhà văn muốn gửitới người đọc Cái Đẹp của văn chương đã trở thành cái đẹp của con người và
cuộc sống Môn công cụ là môn học mang ý nghĩa thực hành, mà ở đây chính là
cách đọc hiểu văn bản, cách tạo lập văn bản, cách diễn đạt sao cho đúng, chohay (cả nói và viết) Nó phải trở thành mẫu mực, phải nâng lên mức kỹ năngthuần thục để có thể hỗ trợ cho các môn khác một cách dễ dàng, tự nhiên Chức
năng công cụ của môn Văn trong việc hỗ trợ cách diễn đạt cho các môn khác là
không thể thiếu được
Với hai đặc điểm trên đây, môn Văn giữ một vị trí quan trọng đặc biệttrong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, kể cả về nội dung tiếp nhận
cũng như về thực hành kỹ năng Là môn học nghệ thuật, nó vượt xa các môn
nghệ thuật khác như Âm nhạc và Mỹ thuật vốn chỉ nặng về mặt thực hành và
cũng chỉ có ở bậc tiểu học và trung học cơ sở; là môn công cụ, nó có thể sánh ngang với môn Toán: một bên là công cụ để diễn đạt, một bên là công cụ để tính toán Với lợi thế đó, chắc chắn môn Văn sẽ phát huy tiềm năng và tác dụng của
nó trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành, phát triển năng lực văn
học cho thế hệ trẻ, trong đó đáng chú ý nhất là năng lực thẩm mỹ, biết phát hiện
và khám phá Cái Đẹp và năng lực biết đọc hiểu, biết tạo lập văn bản - những
năng lực cần phải có của con người trong cuộc sống hiện đại ngày nay
Đề án đổi mới Chương trình và Sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau
2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển Chương trình theo
định hướng năng lực Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt
và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, … nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất
định[3].Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của
Trang 2người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của
cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó
Nghị quyết 88/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông nêu rõ mục tiêu “chuyển nền giáo dục nặngvề truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất
và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềmnăng của mỗi học sinh” và yêu cầu “đổi mới toàn diện mục tiêu, nộidung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánhgiá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và nănglực học sinh; khắc phục tình trạng quá tải; tăng cường thực hành và gắnvới thực tiễn cuộc sống”
Chương trình Ngữ văn 12 có nhiều tác phẩm đặc sắc, trong đó Vợ nhặt - Là
tác phẩm tiêu biểu của một trong những nhà văn “thuộc hàng những cây bút
truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại” Vợ nhặt ra đời bởi nỗi ám ảnh của Kim Lân về nạn đói lịch sử Ất Dậu (1945) và tác phẩm cũng đã tạo nên
nỗi ám ảnh cũng như làm dấy lên nhiều nỗi niềm cảm xúc trong lòng người đọc.Qua quá trình khảo sát, dự giờ thực tế, tôi nhận thấy các giáo án của giáoviên hay các phương pháp được sử dụng trong giờ học mới chỉ dừng lại ởviệc dạy học theo một vài thiết kế bài học quen thuộc Dạy học vẫn mang tínhhàn lâm, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo Để một tác phẩm văn học
thực sự hấp dẫn, phát huy được năng lực của người học, tôi chọn đề tài “Một số
kinh nghiệm khai thác tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân theo định hướng phát
triển năng lực học sinh”nhằm đề xuất một số giải pháp dạy học tác phẩm Vợ
nhặt phát huy sự sáng tạo, năng lực của học sinh, giáo dục ý thức đạo đức, lòng
nhân ái, sự sẻ chia…
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài :
– Giúp người dạy văn , học văn tìm ra một hướng khai thác sâu hơn, thú vịvà hiệu quả hơn đối với tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân
– Giúp học sinh tiếp cận tác phẩm theo khuynh hướng “ mở”– Học ít hơn nhưng
tiếp cận tri thức được nhiều hơn nhằm hỗ trợ phát triển năng lực của bản thân
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài :
- Tác phẩm “Vợ nhặt”của Kim Lân trong chương trình sách giáo khoa Ngữvăn lớp 12
– Học sinh lớp 12 cấp THPT
4 Phương pháp nghiên cứu :
4.1 Nghiên cứu lý thuyết :
* Đọc, tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu viết về phát triển năng lực của
học sinh và khả năng phát triển năng lực của học sinh đối với môn Ngữ văn
* Đọc nghiên cứu tác phẩm “Vợ nhặt”của Kim Lân trong chương trình
sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12
4 2 Nghiên cứu thực tiễn :
Trang 3* Dự một số tiết dạy tác phẩm “Vợ nhặt” của đồng nghiệp
* Khảo sát các đề thi trung học phổ thông Quốc Gia, đề thi học sinh giỏicủa tỉnh Thanh Hoá trong các năm học
* Chọn 2 lớp cơ bản có trình độ ngang nhau , một lớp chú ý rèn luyện nănglực của học sinh trong các giờ học và một lớp không nhấn mạnh đến vấn đề đó
So sánh, đối chiếu kết quả để rút ra kết luận
5 Những luận điểm bảo vệ :
* Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩmchất người học
* Nội dung đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa
* Thực trạng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay
* Một số phương pháp, kĩ thuật khai thác tác phẩm Vợ nhặt theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh
* Kết quả thực nghiệm
* Kết luận
6 Những đóng góp cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
* Đối với giáo viên :
– Đề tài sẽ đem đến một phương pháp mới giúp giáo viên trong quá trìnhdạy văn tự sự hướng dẫn học sinh nắm vững tác phẩm hiểu được ý nghĩa tưtưởng của câu truyện, từ đó giúp học sinh phát triển năng lực của bản thân, và đểcho giờ học văn sinh động , thú vị hơn
* Đối với học sinh :
– Nhằm nâng cao năng lực trong việc chiếm lĩnh tác phẩm, phát huy tiềmnăng và tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành, pháttriển năng lực văn học, trong đó đáng chú ý nhất là năng lực thẩm mỹ, biết phát
hiện và khám phá Cái Đẹp và năng lực biết đọc hiểu, biết tạo lập văn bản.
– Tăng tính thực hành của học sinh
+ Năng lực: Năng lực là một khái niệm then chốt chi phối việc đổi mới căn
bản chương trình giáo dục mới Nội hàm khái niệm năng lực cũng tùy vào cáchtiếp cận và lĩnh vực áp dụng mà hiểu khác nhau Từ điển tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên có giải thích: Năng lực là:“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng
cao” [4].
Trang 4Tài liệu tập huấn về dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng pháttriển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 nhấn
mạnh: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của
người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt độngcủa cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm cácyếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là
các năng lực chung,cốt lõi”.
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã xác địnhmột số năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: Năng lực tự học, nănglực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý bản thân
- Năng lực xã hội, bao gồm: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
- Năng lực công cụ, bao gồm: Năng lực tính toán, năng lực sử dụng ngônngữ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT)
+ Về phẩm chất: Phẩm chất (giá trị) của cá nhân là động
cơ, ý thức trách nhiệm, hứng thú hành động, đạo đức, niềmtin….của cá nhân đó Những phẩm chất cần rèn luyện cho ngườihọc bao gồm: Yêu đất nước; Yêu con người; Chăm học, chăm làm;Trung thực, trách nhiệm
1.1.2 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học
Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộmôn, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng vớithái độ, tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầuphức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định
Trong định hướng phát triển chương trình sau 2015, môn Ngữ văn được coilà môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởngthức văn học, cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thù của môn học.Ngoài ra, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấnđề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũngđóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học.Ngoài những năng lực chung mà môn Ngữ văn cũng như các môn học khác đềuhướng đến, môn Ngữ văn còn hướng đến những năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực đọc hiểu văn bản : Đọc hiểu văn bản chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là học sinh, trong môi trường lớp học, có hướng dẫn và đánh giá Có 4 cấp độ yêu cầu cơ bản của hoạt động đọc hiểu:
Nhận biết Kể lại câu chuyện, tóm tắt cổ truyện, nhớ tên nhân vật, tên
Trang 5tác giả, thuộc lòng bài thơ, đoạn thơ
Thông hiểu Hiểu được đặc điểm thể loại, hình thức, bố cục,tình huống,
tư tưởng, nội dung, nghệ thuật tác phẩm
+ Năng lực tạo lập văn bản: Năng lực tạo lập văn bản chính là khả năng tự
tạo nên một chỉnh thể văn bản đạt được mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp rõràng và có thái độ của người giao tiếp
+ Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ : Năng lực cảm thụ
thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra ñược các giá trịthẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảmnhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ,hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện
Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành vàphát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việcrèn luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói Với đặc trưng của mônhọc, môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dung bao gồm các phân môn Vănhọc, Tiếng Việt, Tập làm văn nhằm hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bảnvà tạo lập được các văn bản theo các kiểu loại khác nhau
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Nội dung đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa
Một trong những định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng lầnthứ XI đã nêu là “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và pháttriển nhanh giáo dục đào tạo”, trong đó nhấn mạnh vào việc đổi mới mãnh mẽ nộidung và phương pháp, chương trình dạy và học ở tất cả các cấp, các bậc học
Theo Đề án được phê duyệt, chương trình mới, sách giáo khoa mới đượcxây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cảphẩm chất và năng lực Bên cạnh đó là chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước,lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện và bồi dưỡng năngkhiếu, định hướng nghề nghiệp cho mỗi học sinh Đồng thời tăng cường nănglực ngoại ngữ, tin học, kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế
2.2 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay.
Thực tiễn đổi mới giáo dục ở nhiều quốc gia trong vài thập niên gần đây đãkhẳng định cách xây dựng chương trình giáo dục theo định hướng phát triển nănglực là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người trong bốicảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có và nền kinh tế trithức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia Thế nhưng hiện
Trang 6nay, nhiều môn học ở trường phổ thông tại Việt Nam, trong đó có môn Ngữ vănvẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực cho xã hội Thực tế này đã được chỉ ra
từ nhiều năm nay, đòi hỏi các nhà giáo dục cần quan tâm thực hiện thay đổi nộidung, đặc biệt là phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường hướng tới pháttriển các năng lực cần thiết trong cuộc sống cũng như tạo điều kiện thích nghi vớimôi trường làm việc trong tương lai cho các em học sinh
Về phương pháp giáo dục phổ thông, điều 28 luật giáo dục quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồidưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứngthú học tập cho học sinh” (Luật giáo dục 2005)
Trong khi đó, thực trạng dạy học Ngữ văn tại Việt Nam trong thời gian gầnđây cho thấy cách dạy học Ngữ văn theo lối bình giảng và cung cấp cho họcsinh các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt không đáp ứng được nhu cầu họctập của giới trẻ ngày nay và không còn phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại.Kinh nghiệm đổi mới chương trình theo hướng tích hợp và đa dạng hóa cácthể loại văn bản được đưa vào nhà trường trong chương trình giáo dục hiện hànhcũng đặt cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng đó trong bốicảnh xây dựng chương trình phát triển năng lực nói chung Nhiều điểm tích cực,tiến bộ của chương trình hiện hành sẽ phải được kế thừa và phát huy hơn nữa.Như vậy, để có thể dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực,đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực
xã hội, năng lực cá thể Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiếnthức cần truyền thụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyếtcác vấn đề trong thực tiễn; đặc biệt trong xây dựng câu hỏi định hướng cho họcsinh chuẩn bị bài, tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa
3 Một số phương pháp, kĩ thuật khai thác tác phẩm Vợ nhặt theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh.
3.1 Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học.
Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thứcđược lợi ích của việc học để tạo động cơ học tập Ngoài việc khai thác sự lí thútrong chính nội dung dạy học, hứng thú của học sinh còn được hình thành vàphát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợpvới sở thích của các em Đó chính là cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thiđố, các trò chơi, tổ chức hoạt động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổchức dạy học dự án, tổ chức dạy học ngoài không gian lớp học, xem các tríchđoạn phim, video clip Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũngđều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn Nghiên cứu chothấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng, kíchthích sự phát triển trí tuệ của các em
Trang 7Nhà văn Kim Lân là một gương mặt quen thuộc với học sinh, bởi trong
chương trình Ngữ văn THCS các em đã được học truyện ngắn “Làng”, vì vậy,
thay bằng tạo ra trò chơi ô chữ, ghép hình đoán tên tác giả tôi sử dụng trích đoạnphim tư liệu,hình ảnh về nạn đói năm 1945 và đặt câu hỏi để khởi động bài học.Những hình ảnh, thước phim sống động đã lôi cuốn bước vào không gian ảmđạm, cái đói bủa vây làm nền cho nhân vật xuất hiện của tác phẩm
3.2 Khai thác thông tin từ nhan đề đặc biệt của tác phẩm
Nhan đề tác phẩm là cửa sổ nhìn thế giới do nghệ sĩ mở ra, là “chìa khoá
nghệ thuật” giúp người đọc mở ra cánh cửa chìm của tác phẩm Nhan đề như
một một mã của thông điệp thẩm mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểunghĩa của văn bản văn học, cho độc giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, cóthể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào Vì vậy tìm hiểu ý nghĩanhan đề của tác phẩm là một cách hay để tạo sự chú ý, kíchthích hứng thú của các em
Ở truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân đã tạo sự tò mò ngay bởi nhan đề tác phẩm vừa lạ lẫm vừa chứa dựng điều gì đó oái oăm, éo le, nghịch cảnh.
“Vợ nhặt” nghĩa là gì? Sao tác giả không gọi là “Nhặt vợ”? Cáikhác biệt là ở chỗ: “nhặt vợ” là một động từ, còn “vợ nhặt” làmột danh từ Và đọc xong tác phẩm, người đọc mới thấy hếtđược tính chất vừa hài hước, vừa xót xa, bi thảm trong cái nhan
đề ấy
Với kỹ thuật dẫn dắt khéo léo, giáo viên có thể tạo ra một tình huống thảo
luận đầy hứng thú từ nhan đề qua một số câu hỏi hoặc để học sinh tự đặt câu
hỏi, chẳng hạn:
- “Vợ nhặt” và “Nhặt vợ” khác nhau như thế nào?
- Có thể đổi nhan đề thành “Nhặt vợ” không? Tại sao?
- Thông điệp nhà văn muốn gửi gắm qua nhan đề là gì?
“Vợ nhặt” vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có ý nghĩa nhân đạo rất lớn Nói
như nhà văn Kim Lân “Nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ Trong cảnh đói năm
1945 người nông dân dường như khó ai thoát khỏi cái chết Bóng tối của nó phủxuống mọi xóm làng.Trong hoàn cảnh ấy, giá trị một con người thật vô cùng rẻrúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là
nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”
Đằng sau nhan đề ấy, Kim Lân muốn gửi gắm một thông điệp khác: “Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường
sống”[5] Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát
khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ởtương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra con người
Vợ nhặt là một nhan đề hàm súc Nó có ý nghĩa tố cáo xã hội đã gây ra nạn
đói hủy diệt con người Mặt khác, nhan đề ấy cũng nói lên rằng, trong hoàn cảnhkhắc nghiệt của cuộc sống, trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết,con người vẫn hướng về sự sống, về hạnh phúc, tương lai Tình yêu thương,
Trang 8khát vọng hạnh phúc vẫn mạnh hơn cái chết Đó là ý nghĩa sâu sắc của nhan đề
Vợ nhặt
3.3 Sử dụng linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung và nghệ thuật tác phẩm
3.3.1 Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm
Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cốmột chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới Ở mức độ cao,
có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm học sinh hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnhvực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những học sinh khác ở dạng bài giảng.Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nênhình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và pháthuy sự sáng tạo Điều quan trọng là học sinh cần phải biết mình làm gìvà làm như thế nào khi tham gia làm việc nhóm
Tùy theo hoạt động học tập, có lúc học sinh sẽ làm việc theo cặptrong nhóm Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm là những hoạtđộng nhằm giúp học sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường
sự chia sẻ và tính cộng đồng
Ví dụ: Giáo viên tổ chức thảo luận nhóm: Chia lớp thành 4 nhóm, phát
phiếu học tập và cùng thảo luận một nội dung : Cảm nhận của anh (chị) về diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng (lúc quyết định để người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ).
Để tìm hiểu các nhân vật trong truyện, giáo viên chia lớp thành 3 nhóm,
mỗi nhóm tìm hiểu một nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ.Lần lượt đại
diện từng nhóm trình bày, các nhóm khác góp ý bổ sung ( nhóm sau không nhắclại nội dung nhóm trước đã trình bày) Giáo viên định hướng, nhận xét và nhấnmạnh những ý cơ bản
3.3 2 Thiết kế và sử dụng phiếu học tập
Sử dụng phiếu học tập cần kết hợp với các tài liệu và phương tiện dạy họckhác như sách giáo khoa, tranh ảnh, tài liệu tham khảo Giáo viên công bố đáp
án kịp thời, đúng cách Đặc biệt, không được lạm dụng phiếu học tập
Nội dung phiếu học tập cần lựa chọn hình thức biểu hiện phù hợp, cónhững dữ liệu nên trình bày bằng văn bản bình thường, có loại đưa vào sơ đồ,biểu mẫu, bài tập thực hành, bài tập xử lí tình huống Tất cả đều phải phù hợpvới đối tượng học sinh và nội dung bài học
VD: Anh/ chị hãy điền vào khoảng trống các chi tiết miêu tả nhân vật thị :
Trang 9nhân vật
Lai lịch ………
………
… … Ngoại hình
…………
…………
……
…………
…………
……
…………
…………
……
…………
…………
……
…………
…………
……
………
………
Tính cách ………
………
Trang 10Ví dụ : Có người nói rằng nhân vật người vợ nhặt theo không Tràng chỉ vì
miếng ăn, vì muốn thoát khỏi cảnh chết đói nhưng có người lại nói, người đàn
bà đó theo Tràng là đi theo tiếng gọi của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc?
Em nghiêng về ý kiến nào hơn? Vì sao?
Việc đưa câu hỏi nêu vấn đề này vào quá trình phân tích người vợ nhặt sẽgiúp cho học sinh có cái nhìn đa chiều sự vật, sự việc, tránh việc nhìn nhận vấnđề một cách phiến diện, từ đó có sự cảm thông cũng như phát hiện ra những khíacạnh tốt đẹp trong phẩm chất của nhân vật này
Tuy nhiên, để dẫn dắt được học hiểu và trả lời những câu hỏi mang tínhkhám phá như thế này đòi hỏi giáo viên phải nắm vững nội dung bài giảng vàtrọng tâm bài dạy để đặt câu hỏi hướng vào nội dung bài học Việc đặt câu hỏinêu vấn đề phải phù hợp với từng điều kiện có thể có Tránh đặt câu hỏi máymóc, đơn điệu Nêu vấn đề phải hợp lí
3.3.4 Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua hình thức đối thoại
Đối thoại - lắng nghe là một hình thức phổ biến trong mọi hoạt động sốngvà làm việc trong xã hội hiện nay Trong dạy học, đối thoại là cách tốt nhất đểgiáo viên thu nhận thông tin ngược về những vấn đề có nhiều người học quantâm, mảng kiến thức người học còn thiếu, còn yếu, Từ đó có những cơ sở đềvạch ra hướng điều chỉnh phương pháp, giải pháp cho phù hợp với sự phát triển
tư duy, kiến thức và nhu cầu của người học
Trang 11Giỏo viờn cú thể tổ chức cho học sinh đụ́i thoại vờ̀ cỏc vấn đờ̀ mà tỏc phẩmđặt ra như: nhan đờ̀, tỡnh huụ́ng truyện, giỏ trị hiện thực và nhõn đạo của tỏcphẩm hoặc đụ́i thoại vờ̀ cỏc nhõn vật, cỏc vấn đờ̀ nhõn văn đặt ra trong truyện
ngắn Vợ nhặt nhằm tạo bầu khụng khớ thõn thiện, khụng gian đậm chất văn học.
Với phương phỏp này, học sinh được thỏa sức tranh luận , trỡnh bày ý kiến, quanđiểm của mỡnh, giỳp phỏt triển năng lực giao tiếp, tư duy, khả năng hựng biện,
sự tự tin khi trỡnh bày quan điểm cỏ nhõn
3.3.5 Phỏt triển năng lực tư duy, sỏng tạo bằng Bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy là cụng cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và trỡnh bày cỏc khỏiniệm trong lớp học Bản đồ tư duy giỳp giỏo viờn tập trung vào vấn đờ̀ cần traođổi cho sinh viờn, cung cấp một cỏi nhỡn tổng quan vờ̀ chủ đờ̀ mà khụng cúthụng tin thừa Sinh viờn sẽ khụng phải tập trung vào việc đọc nội dung trờnSlide,thay vào đú sẽ lắng nghe những gỡ giỏo viờn diễn đạt Hiệu quả giảng bài
sẽ được tăng lờn
Bản đồ tư duy cú thể thực hiện bằng phần mờ̀m trờn mỏy tớnh hoặc cú thểsỏng tạo trờn giấy, kết hợp trang trớ những hỡnh ảnh, màu sắc sụ́ng động, thu hỳt
sự quan tõm của học sinh trong quỏ trỡnh dạy học
I Mục tiờu bài học:
1 Kiến thức: Giỳp học sinh :
- Hiểu được tỡnh cảm thờ thảm của người nụng dõn nước ta trong nạn đúikhủng khiếp năm 1945 do thực dõn Phỏp và phỏt xớt Nhật gõy ra
- Hiểu được niờ̀m khỏt khao hạnh phỳc gia đỡnh, niờ̀m tin bất diệt vào cuộcsụ́ng và tỡnh thương yờu đựm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động ngốokhổ ngay trờn bờ vực thẳm của cỏi chết
2 Kĩ năng:
- Nắm được những nột đặc sắc vờ̀ nghệ thuật của thiờn truyện: sỏng tạo tỡnhhuụ́ng, gợi khụng khớ, miờu tả tõm lớ, dựng đụ́i thoại từ đó biết đọc mộttruyện ngắn hiện đại
3 Thái độ:
- Trõn trọng cảm thụng trước khỏt vọng hạnh phỳc của con người; biết ơn
cỏch mạng đó đem lại sự đổi đời cho những người nghốo khổ, nạn nhõn của chế
độ cũ
4 Phỏt triển năng lực :
- Năng lực thu thập thụng tin liờn quan đến tỏc giả, tỏc phẩm của Kim Lõn