1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận cho học sinh lớp 8 trường THCS nam ngạn

22 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 252,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kĩ năngthường được rèn luyện cho học sinh trong nhà trường phổ thông khi tạo lậpvăn bản nghị luận là: kĩ năng phân tích đề và định hướng; kĩ năng xây dựngluận điểm và lập chương tr

Trang 1

MỤC LỤC Trang

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4

2.1.1 Văn bản nghị luận 4

2.1.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận 4

2.1.1.2 Đặc điểm của văn bản nghị luận 4

2.1.1.3 Sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận 4

2.1.2 Phương thức biểu cảm trong văn nghị luận 5

2.1.2.1 Phương thức biểu cảm 5

2.1.2.2 Vai trò của phương thức biểu cảm trong văn nghị luận 6

2.1.3 Cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận 62.1.3.1 Các từ có khả năng biểu đạt cảm xúc rõ ràng nhất là những từ, 6ngữ cảm thán

2.1.3.2 Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với các loại câu nhiều thành 7phần có kết cấu cân xứng

2.1.3.3 Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với một số biện pháp tu từ 72.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 8

2.3.1 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu 10cảm vào bài văn nghị luận

2.3.1.1 Bài tập nhóm 1: Nhận biết và phân tích tác dụng của các yếu tố

biểu cảm trong bài văn nghị luận

11

2.3.1.2 Bài tập nhóm 2: Tạo lập văn bản nghị luận có sử dụng yếu tố

biểu cảm

12

2.3.1.3 Bài tập nhóm 3: Bài tập phát hiện và chữa lỗi về kĩ năng sử

dụng yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

15

2.3.2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng phương thức biểu cảm trong

văn nghị luận

16

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Một trong những yêu cầu của việc dạy học hiện nay là đổi mới phươngpháp dạy học Luật giáo dục 2005 quy định tại điều 5 “Phương pháp giáo dụcphải phát huy tính tích cực chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồidưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê họctập và ý chí vươn lên” [1] Chính vì thế, việc học sinh phải chủ động tích cực,sáng tạo trong học tập luôn được đề cao Để thực hiện được yêu cầu này, các

em không những được trang bị kiến thức mà còn cần trang bị những kĩ năngcần thiết, cần được hình thành các năng lực trong suốt quá trình học tập

Theo tinh thần đổi mới, hiện nay, các môn học đã tăng cường những nộidung dạy học có tính thực hành, tăng cường những hoạt động dạy học có tínhứng dụng, nhằm rèn luyện các kĩ năng, hình thành và phát triển những nănglực cần thiết cho học sinh Môn Ngữ văn là một trong những môn học đã vàđang đổi mới theo tinh thần này

Dạy học Làm văn cấp THCS (một trong ba phân môn của môn Ngữ văn)nói chung và dạy học Làm văn nghị luận nói riêng, bản chất là dạy tạo lậpmột văn bản hoàn chỉnh, tức là hình thành cho học sinh năng lực tạo ra nhữngvăn bản đạt hiệu quả giao tiếp và thẩm mĩ cao cả ở hai dạng nói và viết Côngviệc này đòi hỏi người giáo viên không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức màcần rèn luyện cho học sinh những kĩ năng về tạo lập văn bản Những kĩ năngthường được rèn luyện cho học sinh trong nhà trường phổ thông khi tạo lậpvăn bản nghị luận là: kĩ năng phân tích đề và định hướng; kĩ năng xây dựngluận điểm và lập chương trình biểu đạt (lập dàn ý); kĩ năng huy động kiếnthức, tập hợp tài liệu; kĩ năng lập luận, trình bày lí lẽ và dẫn chứng; kĩ năngviết đoạn văn; kĩ năng viết câu; kĩ năng dùng từ…Và đặc biệt còn có thêmmột kĩ năng nữa đó là: Kĩ năng sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạttrong tạo lập văn bản nghị luận Việc đưa các loại kĩ năng này vào rèn luyệncho học sinh THCS là phù hợp và rất cần thiết, góp phần rèn luyện cho họcsinh cách diễn đạt phong phú, chính xác và đạt hiệu quả giao tiếp cao

Văn bản nghị luận sử dụng phương thức biểu đạt chính là nghị luận Tuynhiên, đây là loại văn bản vừa tác động vào lí trí vừa tác động tình cảm nênkhông chỉ sử dụng phương thức nghị luận mà còn cần sử dụng kết hợp nhiềuphương thức biểu đạt khác như: Thuyết minh, miêu tả, biểu cảm, tự sự…Trong đó cần thiết nhất là phương thức biểu cảm vì đây là phương thức nhằm

hỗ trợ cho phương thức nghị luận, tăng cường tính biểu cảm cho văn bản nghịluận

Về mặt lý thuyết là vậy Còn thực tế của việc học văn trong các nhàtrường hiện nay, nhất là ở bậc THCS thì sao? Quả thật là một nan giải vì họcsinh không thích học văn, chưa say mê với môn văn hoặc có chăng chỉ là đốiphó Đặc biệt trong các giờ dạy Làm văn, qua các bài kiểm tra của học sinh,

Trang 3

tôi nhận thấy rằng kĩ năng tạo lập văn bản, nhất là kĩ năng sử dụng kết hợpcác phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận học sinh gặp nhiều khó

khăn Vì vậy dẫn đến bài viết văn nghị luận của học sinh thường khô khan,thiếu sức thuyết phục hoặc viết theo văn mẫu

Xuất phát từ lí do trên tôi đã tìm tòi, suy nghĩ và nghiên cứu áp dụngkinh nghiệm: Rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận cho học sinh lớp 8 trường THCS Nam Ngạn.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này, tôi mong muốn góp một vài kinh nghiệm của bản thântrong việc rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận chohọc sinh lớp 8, để từ đó:

- Cung cấp kiến thức cơ bản về đặc điểm và cách tạo lập văn bản nghịluận

- Hình thành năng lực tạo lập văn bản nghị luận, kĩ năng đưa yếu tốbiểu cảm vào bài văn nghị luận đạt hiệu quả cao nhất

- Thông qua việc rèn luyện kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm trong bàivăn nghị luận, góp phần hoàn thiện các năng lực cho học sinh Bởi vì, vănbản nói chung và văn bản nghị luận nói riêng vừa là phương tiện vừa là sảnphẩm giao tiếp

Như chúng ta biết, văn bản nghị luận có vai trò vô cùng quan trọngtrong việc hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh.Ngoài những năng lực như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, nănglực hợp tác, năng lực tự quản bản thân thì “ năng lực đọc, viết; năng lực giaotiếp; năng lực làm chủ ngôn ngữ; năng lực tư duy; năng lực văn hóa và liênvăn hóa” cũng rất cần thiết cho học sinh [2]

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học là thực hiệnđúng tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Banchấp hành Trung ương Đảng “ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và ĐàoTạo” Qua đó, góp phần thực hiện một số mục tiêu:

- Học sinh: Nắm vững và vận dụng được các kiến thức, phát triển đượccác năng lực cần có trong bài học

- Giáo viên:

+ Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân;

+ Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong thực hiện nhiệm vụchuyên môn

1.3 Đối tượng nghiên cứu

+ Đề tài đã được nghiên cứu trong quá trình tham gia giảng dạy mônNgữ văn cấp THCS, phân môn Làm văn ở phần văn nghị luận, mà cụ thể nhất

là qua hai tiết giảng dạy theo phân phối chương trình ( Lưu hành nội bộ)tháng 8 năm 2019 Đó là: Tiết 109 “ Tìm hiểu yếu tố biểu cảm vào bài vănnghị luận” và tiết 113 “ Luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghịluận” ( SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Trang 4

+ Phạm vi thực hiện: Học sinh lớp 8A, 8B năm học 2019 – 2020 của Trường THCS Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa.

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến bài học

- Phương pháp phân tích, tổng hợp vấn đề

- Phương pháp điều tra, khảo sát nắm bắt tình hình thực tế

- Phương pháp thực nghiệm trong các tiết dạy

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Văn bản nghị luận

2.1.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là loại văn bản quan trọng, cần thiết và cũng rấtquen thuộc với chúng ta Ta có thể gặp văn nghị luận dưới dạng các ý kiếnnêu ra trong cuộc họp, các bài xã luận, bình luận, bài phát biểu ý kiến trên báochí…về mọi lĩnh vực, từ đời sống xã hội đến văn học nghệ thuật

Khái niệm văn bản nghị luận có nhiều cách hiểu Theo chương trìnhSGK của Bộ Giáo dục thì “ Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lậpcho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, vănnghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục” [3] Nhưvậy, văn nghị luận là loại văn trình bày ý kiến của người viết, thuyết phụcngười đọc, người nghe chủ yếu bằng lí lẽ, dẫn chứng và lập luận

2.1.1.2 Đặc điểm của văn bản nghị luận

Khác với các loại văn bản khác - sản phẩm của tư duy hình tượng thìvăn bản nghị luận – sản phẩm của tư duy lôgic có những đặc điểm riêng

Theo chương trình SGK của Bộ Giáo dục thì: “ Mỗi bài văn nghị luậnđều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận; Luận điểm là ý kiến thể hiện tưtưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hayphủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán Luận điểm là linh hồncủa bài viết, nó thống nhất đoạn văn thành một khối Luận điểm phải đúngđắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục; Luận cứ

là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Luận cứ phải chân thật,đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục; Lập luận

là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thìbài văn mới có sức thuyết phục” [4]

Như vậy, luận điểm trong văn nghị luận là hết sức quan trọng nhưng đểbài văn có sức thuyết phục cao thì riêng luận điểm chưa đủ mà còn phải cầnđến vai trò của luận cứ và lập luận Bên cạnh đó, những yếu tố miêu tả, tự sự,biểu cảm cũng rất cần được đưa vào, khiến cho bài viết vừa lôgic trong tư duyvừa có sự sinh động, hấp dẫn của những hình ảnh hình tượng Bài văn nghịluận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lí, vừa giàu hình ảnh Hìnhảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lí sáng tỏ, thấm thía

Trang 5

2.1.1.3 Sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận

Như chúng ta đều biết, mỗi kiểu loại văn bản thường sử dụng một

phương thức biểu đạt chính, chủ đạo Ngoài phương thức biểu đạt chính

còn có các phương thức biểu đạt phụ trợ khác Việc xác định phương thức nàochủ đạo hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung, mục đích chủ yếu mà người nói,người viết cần đạt tới Chính vì vậy, nội dung khác nhau thì cần phương thứckhác nhau để biểu đạt Có tài liệu thì cho rằng khi muốn thuật lại, kể lại diễnbiến của sự việc nào đó hoặc khắc họa tính cách nhân vật và nêu lên nhữngnhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người, cuộc sống thì dùngphương thức tự sự Viết về cảnh vật, miêu tả hoàn cảnh tự nhiên và xã hội,khắc hoạ hình tượng nhân vật thì vận dụng phương thức miêu tả Bình luận vềngười và việc, nêu rõ lí lẽ thì dùng phương thức nghị luận Giải thích, trìnhbày về tính chất, trạng thái, đặc trưng, công dụng, cách dùng của sự vật thì sửdụng phương thức thuyết minh Bày tỏ tình cảm thì dùng phương thức biểucảm (trữ tình)…[5]

Theo quan điểm nêu trên, văn bản nghị luận có phương thức biểu đạtchính là nghị luận và các phương thức biểu đạt phụ trợ là tự sự, miêu tả, biểucảm và thuyết minh

Khi sử dụng kết hợp các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm và thuyếtminh trong văn nghị luận cần lưu ý rằng: những yếu tố thuộc các phương thứcbiểu đạt này chỉ đóng vai trò phụ trợ, không được tách biệt khỏi quá trìnhnghị luận và không được làm mờ nhạt vai trò của nghị luận Khi kết hợp cácyếu tố tự sự, miêu tả, thuyết minh, đặc biệt là biểu cảm vào bài văn nghị luậnthì nội dung nghị luận trở nên rõ ràng, đáng tin cậy và sắc bén hơn

2.1.2 Phương thức biểu cảm trong văn nghị luận

2.1.2.1 Phương thức biểu cảm

Theo cuốn tài liệu chủ đề Tự chọn bám sát “ Biểu cảm là một nhu cầucủa con người trong cuộc sống Bởi vì trong thực tế sống, luôn luôn có nhữngđiều khiến tâm hồn ta rung động (cảm) và ta luôn muốn bộc lộ (biểu) sự rungđộng ấy với một hay nhiều người khác” [6] Như vậy, biểu cảm là mộtphương thức được thấy tương đối nhiều, bởi việc bộc lộ những cảm xúc,những tâm tư, nguyện vọng là một nhu cầu thiết yếu của con người trong cuộcsống

Phương thức biểu cảm là việc dùng những từ ngữ thể hiện thái độ, cảmxúc, tình cảm của người viết về những sự việc được nói đến, những nhân vậttrong tác phẩm hay là cảm xúc của người viết về chính mình Hiện nay, biểucảm được coi là một phương thức biểu đạt, sử dụng khi người viết muốn biểuhiện trực tiếp hoặc gián tiếp những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái độ, sựđánh giá của mình với đối tượng được nói tới

Biểu cảm trực tiếp là cách thức bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ thầm kínbằng những từ ngữ trực tiếp gợi lên những tình cảm ấy

Biểu cảm gián tiếp là cách biểu hiện tình cảm thông qua những hình ảnh

Trang 6

miêu tả, những câu chuyện hoặc gợi ra những suy nghĩ liên tưởng (nghĩa là không gọi thẳng cảm xúc ra).

Khi biểu cảm bằng phương tiện ngôn ngữ, tức là biểu cảm bằng văn, chúng ta cần phải lưu ý rằng không phải tình cảm nào cũng đưa vào văn.Những tình cảm đưa vào văn phải là tình cảm cao đẹp, nhân ái, cao thượng,tinh tế

2.1.2.2 Vai trò của phương thức biểu cảm trong văn nghị luận

Nghị luận và biểu cảm là hai phương thức biểu đạt và là hai kiểu văn bản

có nhiều đặc điểm khác biệt nhau Biểu cảm thiên về tư duy hình tượng, bộc

lộ cảm xúc và tác động vào tình cảm Nghị luận thiên về tư duy lôgic, trìnhbày lí lẽ, thuyết phục bằng lập luận và tác động vào lí trí Nhưng thực tếchúng không hoàn toàn khác biệt nhau mà liên quan đến nhau, hoà hợp vớinhau, bổ trợ cho nhau

Sử dụng biểu cảm trong văn nghị luận là đưa những yếu tố biểu cảm vàobài văn nghị luận Tác dụng của biểu cảm là tác động mạnh mẽ tới tình cảmcủa người nghe người đọc Tác dụng đó thể hiện ở khả năng "gây được hứngthú hoặc cảm xúc đẹp đẽ, mãnh liệt, sâu lắng", nghĩa là có khả năng nhiềunhất trong việc làm nên cái hay, tạo nên sự hấp dẫn cho văn bản nghị luận Do

đó biểu cảm giúp văn nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục cao hơn

Nếu thiếu yếu tố biểu cảm sức thuyết phục của nghị luận nhất định sẽgiảm đi Tuy nhiên, không phải cứ biểu cảm, cứ sử dụng bất kì yếu tố biểucảm nào cũng làm cho sức thuyết phục của bài nghị luận tăng lên Vì thế yêucầu sử dụng biểu cảm chỉ với vai trò phục vụ cho công việc của nghị luận.Yếu tố biểu cảm trong một bài văn nghị luận sẽ không được xem là có giá trịkhi nó làm mạch nghị luận bị phá vỡ, đứt đoạn, quẩn quanh Và người nghịluận sẽ không thể biểu cảm với ai nếu bản thân không có cảm xúc chân thành

Do vậy người làm bài nghị luận phải thực sự có tình có tình cảm, cảm xúc đốivới điều mình nói ra

Tóm lại, biểu cảm không thể thiếu trong văn nghị luận Biểu cảm gópphần quan trọng vào thành công của bài nghị luận Nhờ biểu cảm, bài nghịluận không chỉ thuyết phục người đọc bằng lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép,bằng chứng xác thực mà còn thuyết phục người đọc bằng tình cảm, cảm xúcchân thành tha thiết Tức là thuyết phục bằng cả trái tim và khối óc

2.1.3 Cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận

Có nhiều cách để đưa yếu tố biểu cảm vào bài nghị luận Tuy nhiên vớihọc sinh Trung học Cơ sở, đặc biệt là học sinh lớp 8 thì chỉ cần tập trung vàocác cách chủ yếu sau:

2.1.3.1 Các từ có khả năng biểu đạt cảm xúc rõ ràng nhất là những

từ, ngữ cảm thán

Loại từ có khả năng biểu đạt cảm xúc rõ ràng nhất là những từ, ngữ cảmthán như: Chao ôi, hỡi ôi, than ôi, biết bao, xiết bao, biết chừng nào Loại từnày được sử dụng để bày tỏ trực tiếp cảm xúc của người viết (người nói)

Để tạo ra tính truyền cảm và thu hút sự chú ý của người nghe (người

Trang 7

đọc), chúng ta cũng có thể sử dụng loại từ này để tạo nên các câu cảm thán hay kết hợp với một nội dung thông báo nào đó trong bài văn nghị luận.

Bên cạnh đó, các đại từ nhân xưng trong Tiếng việt cũng có khả năng bộc lộ thái độ, tình cảm của người nói (người viết) một cách rất mạnh mẽ Vìthế, loại từ này cũng có thể sử dụng và phát huy hiệu quả biểu cảm trong bàivăn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội.Trong đó, các đại từ ngôi thứ nhất sốnhiều như: Nhân dân ta, đất nước ta, ta, chúng ta, đồng bào thường biểu thịtinh thần đoàn kết, thống nhất trong suy nghĩ và hành động Các đại từ ngôithứ hai, thứ ba số ít hoặc số nhiều như: Bọn, bọn bay, chúng, chúng bay, bọnchúng thường bày tỏ sự căm thù, khinh bỉ, đối nghịch

Để công khai bày tỏ quan điểm, thái độ của mình, người làm văn nghịluận cũng có thể sử dụng các từ mang ý nghĩa khẳng định (sự thật là, tin rằng,chắc chắn rằng, quả quyết rằng ) hay phủ định (không, không chịu, khôngđược ), các từ biểu thị sự quyết tâm, kiên quyết (nhất định, quyết, phảiđược ) Những từ này vừa có khả năng biểu đạt cảm xúc, thái độ mạnh mẽvừa làm cho lời văn trở nên đanh thép hơn

Ngoài ra, trong bài làm văn nghị luận, người viết còn có thể sử dụngthêm những từ, cụm từ đậm phong cách khẩu ngữ vào câu văn nghị luậnnhằm tạo được sự chú ý cho người đọc

2.1.3.2 Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với các loại câu nhiều thành phần có kết cấu cân xứng

Ngoài từ ngữ, sức mạnh biểu cảm trong bài văn nghị luận còn được tạonên bởi cách sử dụng và tạo lập câu của người viết Trong văn nghị luận,người viết phải cố gắng đi tìm những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo

Bên cạnh những câu ngắn dùng để nhấn mạnh, người viết có thể sử dụngnhững câu dài, nhiều thành phần có kết cấu cân xứng nhằm ra nhịp điệu vàsức lan tỏa mạnh hơn

Trong một số trường hợp, người viết có thể dùng câu đơn không gắn vớicác thành phần phụ hay tách các vế câu ra thành câu độc lập nhằm mục đíchnhấn mạnh một nội dung nào đó Ngoài ra, người viết văn nghị luận cũng cầnđặt những câu có tính chất hội thoại, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngàynhằm thu hút sự chú ý và hứng thú của người đọc, từ đó góp phần tăng thêmtính biểu cảm cho lời nói Để tạo ra tính biểu cảm cho bài văn nghị luận, đôikhi không cần quá cầu kì trong câu văn nhưng người viết vẫn có thể tạo ramột bài văn nghị luận chặt chẽ, sâu sắc và truyền cảm

2.1.3.3 Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với một số biện pháp tu từ

Biểu cảm và tạo hình là hai chức năng chính của các biện pháp tu từ Bất

cứ biện pháp tu từ nào, ngoài tác dụng gợi hình, còn có tác dụng gợi cảm.Trong mỗi loại văn bản, biện pháp tu từ được sử dụng với những mục đíchkhác nhau Nếu như trong ngôn ngữ nghệ thuật, việc sử dụng biện pháp tu từchỉ cốt yếu tạo ra tính hình tượng thì trong văn bản nghị luận, nó lại được sửdụng nhằm tăng thêm sức mạnh cho sự đánh giá, bình luận và tăng thêm tính

Trang 8

truyền cảm cho lời văn Chính vì thế, không một bài văn nghị luận nào, nhất

là các văn bản chính luận lại không sử dụng các biện pháp tu từ

Một số biện pháp tu từ thường được sử dụng trong bài văn nghị luận nhằm tạo ra hiệu quả biểu cảm:

So sánh trong văn nghị luận chủ yếu làm cho vấn đề nghị luận hiện lên

cụ thể, vừa gần gũi vừa ấn tượng, dễ đi vào lòng người đọc hơn

Điệp ngữ là sự “lặp đi lặp lại có ý thức những từ, ngữ nhằm mục đíchnhấn mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúctrong lòng người đọc, người nghe Nhờ điệp ngữ, câu văn mới tăng thêmtính cân đối, nhịp nhàng, hài hòa, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ýnghĩa, tình cảm nào đó, làm nổi bật những từ quan trọng, khiến cho lời nói trởnên sâu sắc, thấm thía, có sức thuyết phục mạnh Với khả năng đó, điệp ngữđược sử dụng nhằm tạo ra được tính truyền cảm cho văn bản nghị luận

Câu hỏi tu từ là loại câu có hình thức nghi vấn nhưng nội dung của nó đãbao hàm ý trả lời Xét về hiệu quả biểu cảm, câu hỏi tu từ dùng để khẳng địnhhay phủ định một vấn đề nào đó được đề cập đến trong câu và tăng cườngtính diễn cảm của lời nói

Ngoài ra, người viết cũng có thể sử dụng thêm nhiều phương tiện và biệnpháp tu từ khác nhằm tăng thêm tính biểu cảm và thuyết phục cho văn bảnnghị luận như phép đối, phép sóng đôi, liệt kê

Như vậy, biểu cảm thể hiện một cách hết sức đa dạng trong văn nghịluận Muốn sử dụng hiệu quả yếu tố này, học sinh không những phải hiểu rõ

về khả năng biểu cảm của các đơn vị ngôn ngữ, các biện pháp tu từ mà cònphải có một thái độ nghiêm túc, một tình cảm chân thành thiết tha với vấn đềnghị luận Sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm nói riêng và các phương thức biểuđạt nói chung là yêu cầu tất yếu của quá trình tạo lập văn bản nghị luận

2.2 Thực thạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Thực tế, chương trình SGK Ngữ văn THCS, nhất là phân môn Tập làmvăn được xây dựng và biên soạn theo nguyên tắc đồng tâm, nâng cao Trongnhững kiểu văn bản học sinh được học thì kiểu văn bản nghị luận chiếm mộtdung lượng lớn và được học trong một quá trình lâu dài từ lớp 7 đến lớp 9 vớicác nội dung:

- Lớp 7: Đặc điểm và cách tạo lập văn bản nghị luận; luận điểm luận cứ,phương pháp lập luận; nghị luận giải thích và nghị luận chứng minh Thựchành nói viết đoạn, bài nghị luận giải thích hoặc chứng minh

- Lớp 8: Triển khai luận điểm, luận cứ trong văn nghị luận; các yếu tốbiểu cảm, tự sự, miêu tả trong văn nghị luận Thực hành nói, viết đoạn bài vănnghị luận có sử dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả

Trang 9

- Lớp 9: Nghị luận về một hiện tượng, sự việc trong đời sống, về một vấn

đề tư tưởng, đạo lí, về một tác phẩm truyện (đoạn trích), về một bài thơ (đoạnthơ); Cách làm bài nghị luận về một hiện tượng, sự việc trong đời sống,vềmột vấn đề tư tưởng, đạo lí, về một tác phẩm truyện, thơ; Thực hành nói, viếtvăn bản nghị luận về một hiện tượng, sự việc trong đời sống, về một vấn đề tưtưởng, đạo lí, về một tác phẩm truyện, thơ

Nhìn nhận lại nội dung chương trình SGK Ngữ văn THCS về phần Làmvăn chúng tôi thấy, học sinh được cung cấp tri thức về các kiểu văn bản vàđược hình thành các kĩ năng để tạo lập các kiểu văn bản đó Càng lên cao thìyêu cầu về tạo lập các kiểu văn bản càng cao Riêng kiểu văn bản nghị luậnTHCS, học sinh được học cả kiến thức lí thuyết và kĩ năng thực hành Lớp 8,bước đầu học sinh được rèn luyện kĩ năng đưa các yếu tố biểu cảm, tự sự,miêu tả vào bài văn nghị luận Tuy nhiên thời lượng dành cho rèn luyện kĩnăng không nhiều Mỗi loại kĩ năng chỉ được luyện tập trong một tiết Điều đódẫn đến những khó khăn không thể tránh khỏi đối với cả người dạy và ngườihọc

Đối chiếu với chuẩn kiến thức, kĩ năng do Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành về mức độ cần đạt của học sinh lớp 8 khi học kiểu văn bản nghị luận(Hình thành kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận / Hiểu yêu cầu và biết cách đưacác yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả vào bài văn nghị luận), tôi thấy nhiệm vụ

và trách nhiệm của giáo viên khi dạy phần làm văn lớp 8 là vô cùng nặng.Giáo viên cần suy nghĩ lựa chọn và tìm ra phương pháp dạy học thích hợpnhất mới có thể đáp ứng được yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng nêu trên.Nguyên tắc dạy học tạo lập văn bản là phải gắn lí thuyết với thực hành

Do vậy, sau mỗi bài học lí thuyết đều có bài tập thực hành và giờ luyện tậpthực hành Tuy nhiên, qua tìm hiểu SGK, sách bài tập và một số sách thamkhảo về Ngữ văn 8, chúng tôi cũng nhận thấy rằng bài tập luyện tập thực hành

chưa nhiều, chưa biên soạn thành hệ thống Riêng đối với bài Luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận (Tiết 113 theo PPCT, Lưu hành nội

bộ, năm 2019, Ngữ văn 8) tôi thấy sách giáo khoa chỉ đưa ra một bài tậpluyện tập Nếu vậy rất khó giúp học sinh hình thành được kĩ năng Do đó, đểviệc rèn luyện kĩ năng vận dụng tốt cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài vănnghị luận thì cần xây dựng các bài tập phong phú, hệ thống và cụ thể hơn

Có một thực tế mà giáo viên nào cũng nhận thấy khi chấm bài văn nghịluận phần lớn bài làm của các em không có cảm xúc, khô khan Điều đó phảichăng do học sinh chưa được rèn nhiều kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bàivăn nghị luận Chính vì vậy mà kết quả học tập chưa cao Đây là bảng thống

Trang 10

kê kết quả bài viết Tập làm văn số 6 – văn nghị luận ( Tiết 106, 107) và bàiviết Tập làm văn số 7 – văn nghị luận ( Tiết 125, 126) theo PPCT, Lưu hành nội bộ, năm 2019, Ngữ văn 8) của học sinh khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Bảng 1: Kết quả bài viết Tập làm văn số 6 của học sinh

Lớp Tổng HS

Điểm dướitrung bình

được cách thức luyện tập thực hành Nội dung luyện tập thực hành chính là hệ thống bài tập Còn cách thức luyện tập là phương pháp tổ chức cho học sinh

luyện tập của giáo viên

Để rèn luyện tốt kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận chohọc sinh lớp 8, vấn đề trọng tâm là phải xây dựng được hệ thống bài tập vàphải sử dụng được hệ thống bài tập đó vào thực tiễn dạy học Đây là loại kĩnăng khó, phức tạp nhưng có ý nghĩa quyết định sự thành công của bài vănnghị luận xét trên quan điểm giao tiếp

Hệ thống bài tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận được tôi xâydựng thành 3 nhóm chính:

Nhóm 1: Bài tập nhận biết và phân tích tác dụng của các yếu tố biểu cảm

trong văn nghị luận

Nhóm 2: Bài tập tạo lập văn bản nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm

Trang 11

Nhóm 3: Bài tập phát hiện và chữa lỗi về kĩ năng sử dụng yếu tố biểu

cảm trong văn nghị luận

Trong 3 nhóm bài tập nêu trên, nhóm bài tập thứ 2 là nhóm bài tập cần được tổ chức rèn luyện nhiều và lâu dài, bởi mục tiêu của dạy học làm vănlớp

8 là hình thành năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh Nhóm bàitập 1 là cơ sở để thực hiện nhóm bài tập 2 và nhóm bài tập 3 là phương tiện

để củng cố hoàn thiện cho nhóm bài tập 2

2.3.1.1 Bài tập nhóm 1: Nhận biết và phân tích tác dụng của các yếu

tố biểu cảm trong bài văn nghị luận

Mục đích của bài tập nhóm 1: Giúp học sinh nắm vững đặc trưng cơ

bản của văn bản nghị luận là tác động đến người đọc bằng cả lí trí và tìnhcảm; Giúp học sinh xác định được các yếu tố biểu cảm sử dụng trong bài văn(đoạn văn) nghị luận và phân tích được tác dụng của các yếu tố biểu cảm đótrong việc nâng cao hiệu quả thuyết phục của văn bản nghị luận

* Bài tập nhận biết và phân tích tác dụng của yếu tố biểu cảm trong đoạn văn nghị luận

Bài tập

"Ngày còn nhỏ, tôi đã được nghe một câu chuyện rất xúc động Chuyện

kể về một cậu bé nghèo với bài văn tả mẹ - người phụ nữ đã che chở cuộc đời

em Cậu bé viết về một người mẹ với mái tóc pha sương, với đôi tay ram ráp nhăn nheo nhưng hiền dịu và ấm áp Cậu kết luận răng: bà ngoại là người phụ nữ đã nâng đỡ em trong suốt hành trình của cuộc đời Bài văn lạc đề, phải về nhà viết lại Nhưng đó mới chính là một tác phẩm thành công, bởi đó chất chứa tình yêu thương của đứa cháu mồ côi dành cho bà ngoại Liệu có thành công nào, tình cảm nào thiêng liêng hơn thế?"

Yêu cầu: Hãy đọc đoạn văn và cho biết cảm xúc của em? Cảm xúc đó

được khơi gợi từ những yếu tố nào trong đoạn văn? Hãy chỉ ra yếu tố đó vàphân tích tác dụng biểu đạt của chúng? Theo em, đoạn văn đó thuộc kiểu vănbản gì, vì sao?

Định hướng làm bài tập :

Trình bày cảm xúc của mình khi đọc đoạn văn: Cảm xúc ấy là cảm giácxúc động rưng rưng nước mắt khi đọc đoạn văn

Xác định yếu tố biểu cảm: Cảm xúc được gợi lên từ câu chuyện xúc động

về cậu bé nghèo với bài văn tả mẹ Đó là hình ảnh cậu bé nghèo với tình yêuthương vô hạn dành cho mẹ (là người bà ngoại của em) mà tác giả đã kể rabằng tất cả tình cảm yêu thương, trân trọng, ngưỡng mộ chân thành nhất Cảmxúc ấy còn gợi lên từ ý kiến nhận định của tác giả về bài văn lạc đề, phải về

nhà viết lại: Đó mới chính là tác phẩm thành công, bởi ở đó chất chứa tình yêu thương của đứa cháu mồ côi dành cho bà ngoại Liệu có thành công nào, tình cảm nào thiêng liêng hơn thế? Câu hỏi tu từ khép lại đoạn văn, chứa chất

biết bao tình cảm dâng lên nghẹn ngào! Như vậy, biểu cảm đâu phải là bằng

Ngày đăng: 10/07/2022, 06:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9 của Nguyễn Khắc Phi (Tổng Chủ biên), NXB Giáo dục Khác
2. Sách hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THCS, Tập hai của Bộ GD & ĐT, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
3. Bài tập Ngữ văn 6,7, 8, 9 của Nguyễn Khắc Phi - Nguyễn Hoành Khung - Nguyễn Minh Thuyết - Trần Đình Sử , NXB Giáo dục Khác
4. Giáo trình Làm văn của Lê A - Nguyễn Trí, NXB Giáo dục, 2001 Khác
5. Phương pháp dạy học tạo lập văn bản của Lê A - Bài giảng chuyên đề, 2008 Khác
6. Ngữ văn nâng cao 8 của Nguyên Đăng Điệp - Đỗ Việt Hùng - Vũ Băng Tú, NXB Giáo dục, 2008 Khác
7. Phương pháp phát triển lời nói cho học sinh của Nguyễn Quang Ninh - Bài giảng chuyên đề, 2008 Khác
8. Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận xã hội, Tập 1, NXB Giáo dục, 2009 9. Để học tốt các kiểu bài nghị luận THPT của Lê Đình Mai, NXB Giáo dục, 1995 Khác
10. 150 bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn của Nguyễn Quang Ninh, NXB Giáo dục, 1993 Khác
11. Làm văn từ lý thuyết đến thực hành của Đỗ Ngọc Thống , NXB Giáo dục, 1997 12. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên ( Lưu hành nội bộ), Sở GD & ĐT Thanh Hóa, tháng 11 năm 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w