Là giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lý tai trường THCS Lý Tự Trọngnhiều năm, tôi tự nhận thấy các vấn đề sau còn tồn tại, cản trở việc nâng caochất lượng dạy và học bộ môn Địa lý ở trường
Trang 1Đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu.
11222
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Các sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp đã sử dụng để giải
quyết vấn đề
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân và nhà trường.
223316
Danh mục các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được
hội đồng đánh giá xếp loại cấp phòng GD&ĐT, cấp sở
GD&ĐT và các cấp cao hơn xếp loại từ C trở lên
21
Trang 21 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài.
Là giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lý tai trường THCS Lý Tự Trọngnhiều năm, tôi tự nhận thấy các vấn đề sau còn tồn tại, cản trở việc nâng caochất lượng dạy và học bộ môn Địa lý ở trường THCS Lý Tự Trọng:
- Học sinh thiếu đam mê, coi trọng với bộ môn Địa lí: trong suy nghĩchung của học sinh và phụ huynh, vẫn coi Địa lí là môn phụ, ít có khả năng pháttriển trong tương lai
- Nhiều giáo viên Địa lý còn có tâm lí ngại cố gắng, ngại thay đổi, ngạitrau dồi nâng cao năng lực trình độ của đội ngũ giáo viên dạy Địa lí
- Vẫn tồn tại nhiều quan điểm thiếu tích cực trong cả giáo viên, học sinh
về bộ môn Địa lí, như: Địa lí là môn học thuộc lòng, không cần tư duy, học sinhchỉ cần chăm chỉ học thuộc lòng tốt là sẽ có kết quả cao, không cần nhiều đếnhọc liệu, phương tiện dạy học hiện đại, dẫn đến Địa lí trở thành bộ môn thiếuhấp dẫn, học cho có, học cho xong…
Chính vì thế, chất lượng dạy và học bộ môn Địa lý ở trường THCS chưacao Vậy làm cách nào để thu hút, để học sinh thực sự đam mê với bộ môn Địa líluôn là một bài toán không dễ giải với nhiều giáo viên dạy địa lí Với bản thântôi, để học sinh có chất lượng học tốt thực sự đam mê và tâm huyết với bộ mônĐịa lí, cần sự nỗ lực nhiều từ giáo viên trong việc nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn, biến Địa lí thành môn học hấp dẫn, đòi hỏi khả năng tư duy cao và đềcao tính tương tác giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh trong quátrình hình thành kiến thức, kỹ năng của bộ môn
Khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới, tất yếu phương pháp dạyhọc bộ môn cũng phải đổi mới theo Do đó, phương pháp dạy học Địa lí theođịnh hướng mới, sách giáo khoa mới không chỉ buộc học sinh phải “mới” trongcách học mà còn buộc giáo viên phải “mới” trong cách dạy Theo đó, giáo viêncần đầu tư nhiều hơn về thời gian và trí tuệ trong bài dạy, vừa để làm rõ nhữngnội dung kiến thức ẩn chứa ở kênh hình, kênh chữ, cũng như tìm ra cách thức vàphương pháp nhằm hướng dẫn cho học sinh cách tự khai thác và lĩnh hội kiếnthức Bên cạnh việc chú ý phát triển ở học sinh các kĩ năng bộ môn (kĩ năng làmviệc với các thiết bị dạy học, các nguồn tư liệu địa lí ) việc rèn luyện kĩ nănglàm việc độc lập, làm việc nhóm, kĩ năng trình bày, giải quyết vấn đề cũng hếtsức quan trọng và đặc biệt là phát triển kỹ năng tư duy
Bản đồ tư duy (BĐTD) là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập
vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày ý tưởng, tóm tắt, hệthống kiến thức của một bài học, một chủ đề, một chương một cách rõ ràng,mạch lạc, logic và đặc biệt là dễ phát triển ý tưởng
Việc áp dụng BĐTD trong dạy học không đòi hỏi quá nhiều thời gian,không phải đầu tư nhiều về kinh phí, vừa có thể dùng phương tiện đơn giản nhưphấn, bút màu, giấy nháp, bìa, , vừa có thể ứng dụng công nghệ thông tin (phầnmềm Iminmap) để thiết kế Dạy học với bản đồ tư duy mang lại hiệu quả cao màlại dễ dạy, dễ học thích hợp với điều kiện của mọi miền và có tính khả thi cao
Trang 3Đồng thời qua BĐTD để rèn luyện tư duy hệ thống, tư duy phân tích, khảnăng tự học, nhằm đáp ứng yêu cầu “ Đổi mới căn bản ngành giáo dục”, và phùhợp với chương trình thay sách giáo khoa đang được bộ giáo dục triển khai.
Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Địa lý
ở trường THCS Lý Tự Trọng”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Giáo viên biết sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học, từ đó giúp
học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo vàphát triển tư duy
- Học sinh sử dụng được bản đồ tư duy trong các tiết học địa lí cụ thể như
sau:
+ Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ
+ Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới
+ Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức
+ Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà
+ Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức 1 chương hoặc nhiều bài học
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh trường THCS Lý Tự Trọng- Thành phố Thanh Hóa.
- Sách giáo khoa Địa lý 6,7,8,9.
- Các phần mềm Tmind map, Mindrap
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp tổng hợp, khai thác: điều tra số liệu, khảo sát, so sánh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận:
- Quán triệt những đổi mới về mục tiêu, chương trình Địa lí Trung học cơ sở
được thiết kế thành 03 mảng lớn có quan hệ chặt chẽ với nhau Các bộ phận cơbản này của chương trình có mục đích cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về:
+ Trái Đất - Môi trường sống của con người
+ Thiên nhiên và con người ở các Châu lục
+ Địa lí Việt Nam
-Tất cả những kiến thức này đều có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn
nhau, đòi hỏi ở người học không chỉ khả năng tiếp nhận thông tin đơn thuần màcần biết cách phân tích, so sánh, liên kết các vấn đề để tìm ra kiến thức Phù hợpvới chương trình mới, sách giáo khoa được biên soạn theo hướng tạo điều kiện
để giáo viên tổ chức cho học sinh học tập một cách tự giác và tích cực Nếu nhưsách giáo khoa cũ được trình bày theo lối thông báo – giải thích – minh họa thìvới cách trình bày trong sách giáo khoa mới đòi hỏi giáo viên phải tổ chức cáchoạt động nhận thức cho học sinh, phải khai thác kênh chữ, kênh hình để cóthêm kiến thức
- Khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới, tất yếu phương pháp dạy
học bộ môn cũng phải đổi mới theo Do đó, phương pháp dạy học Địa lí theođịnh hướng mới, sách giáo khoa mới không chỉ buộc học sinh phải “mới” trong
Trang 4cách học mà còn buộc giáo viên phải “mới” trong cách dạy Theo đó, giáo viêncần đầu tư nhiều hơn về thời gian và trí tuệ trong bài dạy, vừa để làm rõ nhữngnội dung kiến thức ẩn chứa ở kênh hình, kênh chữ, cũng như tìm ra cách thức vàphương pháp nhằm hướng dẫn cho học sinh cách tự khai thác và lĩnh hội kiếnthức Bên cạnh việc chú ý phát triển ở học sinh các kĩ năng bộ môn (kĩ năng làmviệc với các thiết bị dạy học, các nguồn tư liệu địa lí ) việc rèn luyện kĩ nănglàm việc độc lập, làm việc nhóm, kĩ năng trình bày, giải quyết vấn đề cũng hếtsức quan trọng và đặc biệt là phát triển kỹ năng tư duy
- Việc phát triển tư duy cho học sinh luôn là một trong những ưu tiên hàng
đầu của mục tiêu giáo dục Để hướng học sinh có cách thức học tập tích cực và
tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà cònphải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựng được một
“hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi íchđáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng
và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nêncác “ hình ảnh liên kết” là BĐTD
- BĐTD luôn là một công cụ được sử dụng bởi rất nhiều cá nhân, tổ chức
trên toàn thế giới với nhiều lĩnh vực ứng dụng khác nhau Trong giáo dục, sửdụng BĐTD giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng mộtcách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin củamột bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăngcường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, lập kế hoạch học tập, kế hoạchcông
2.2 Thực trạng vấn đề:
- Trước đây, các tiết dạy bài mới, ôn tập giáo viên cũng như bản thân tôi
chưa chú trọng nhiều đến việc xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy họcđịa lý nên giờ học chưa thực sự sôi nổi và đạt hiệu quả như mong đợi Điều đóthể hiện trong chất lượng đại trà và mũi nhọn môn Địa lý của trường THCS Lý
Tự Trọng chưa cao
- Trong thực tế hiện nay ở trường THCS Lý Tự Trọng, đa số học sinh học
thụ động, không có hứng thú đối với việc học đặc biệt là một số môn ít giờ trong
đó có môn Đia Lý Các em không có khả năng tự học mà chỉ dựa vào kiến thức
do giáo viên truyền đạt rồi học thuộc lòng nên khi quên một chữ đầu là quên tất
cả, việc hiểu và ghi nhớ kiến thức là chưa cao
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong giới hạn của nghiên cứu này, tôi mạnh dạn đưa ra một số cách sửdụng BĐTD trong dạy học Địa lí Trung học cơ sở như là một gợi ý để giáo viêntham khảo, vận dụng trong dạy học có kết quả tốt hơn
2.3.1 Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ
- Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút
nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phântích, so sánh…để trả lời câu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lạimột phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáoviên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình
để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu Do
Trang 5đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh,yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu”.Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh,
đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụng BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm
tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm.
- Ví dụ: Trước khi học bài mới, giáo viên có thể yêu cầu 1 học sinh lên bảng
điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện BĐTD trong phần kiểm tra bài cũ nhưsau:
+Lớp 6: Trước khi học tiết ôn tập từ bài 15 đến bài 22 giáo viên yêu cầu 1
học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện BĐTD các đới khíhậu trên Trái Đất (nội dung phần 2 - Bài 22: Các đới khí hậu trên Trái Đất)
+ Lớp 7: Trước khi học bài 18: Thực hành- Nhận biết đặc điểm môi trường
đới ôn hòa, giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu đểhoàn thiện BĐTD về ô nhiễm không khí ở đới ôn hòa (nội dung phần 1 - Bài17: Ô nhiểm môi trường ở đới ôn hòa)
+ Lớp 8: Trước khi học bài 11: dân cư và đặc điểm kinh tế khu vực Nam
Á, giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn
Trang 6thiện BĐTD đặc điểm tự nhiên khu vực Nam á (Bài 10: Điều kiện tự nhiên khuvực Nam Á).
+ Lớp 9: Trước khi học bài 4: Lao động và việc làm Chất lượng cuộc sống,
giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiệnBĐTD phân bố dân cư ở nước ta (Bài 3: Phân bố dân cư và các loại hình quầncư)
- Yêu cầu chung:
+ GV chuẩn bị sẵn BĐTD trống
+ GV giao nhiệm vụ cho HS : Dùng các cụm từ ngắn gọn để điền các thôngtin còn thiếu, sau đó trình bày trước cả lớp nội dung của BĐTD Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên nên căn cứ vào đó đểđánh giá và nhận xét
Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản,không mất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền đượcthông tin hoặc điền không chính xác
Trang 72.3.2 Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới
- Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày mới Giáo viên thay vì
gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện được
1 phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan Toàn bộ nội dung
cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý Họcsinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoáchúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình Với cáchhọc này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tíchcực hơn
+ Lớp 6: Bài 10: Cấu tạo bên trong Trái Đất
GV dạy bài mới mục 1: Cấu tạo bên trong Trái Đất GV có thể đưa ra BĐTD
để dạy như sau:
Trang 8+ Lớp 7: GV có thể dung BĐTD để dạy toàn bộ bài mới để dạy bài 21: Môi
trường đới lạnh
+ Lớp 8: Bài 9: Khu vực Tây nam Á, trong mục 2: Đặc điểm tự nhiên GV
có thể dung bản đồ tư duy để dạy bài mới như sau:
nghiệp (Địa lý 9), có 2 nhóm nhân tố chính là nhóm nhân tố tự nhiên và nhómnhân tố kinh tế xã hội Trong mỗi nhóm nhân tố lại có các nhân tố nhỏ hơn,phần kiến thức không khó nhưng không dễ nhớ đối với học sinh Nếu giáo viên
sử dụng phương pháp trình bày truyền thống thì vấn đề vẫn được giải quyếtnhưng không hiệu quả vì vấn đề trình bày sẽ dàn trải Việc thể hiện tất cả cácnhân tố trên BĐTD xung quanh từ khóa đã mang lại cái nhìn tổng thể về sự phânchia các các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp của
Trang 9nước ta, học sinh nhìn vào bản đồ sẽ nhận biết được ngay từng nhân tố và có thểghi nhớ một cách dễ dàng không máy móc Sử dụng BĐTD để thể hiện phần nộidung này là hợp lí vì yêu cầu phù hợp với mọi đối tượng học sinh, thông tin đầy
đủ, không mất nhiều thời gian và nội dung được thể hiện rõ ràng
Trang 102.3.3 Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức
- Sử dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài học là vệc làm rất có hiệu quả.Giáo viên sử dụng BĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học,tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm Học sinh sử dụng BĐTD
để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồngthời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhậnthức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cáchtruyền đạt của mình cho phù hợp
- Yêu cầu: có 2 phương án mà GV có thể dùng để củng cố kiến thức bài
học
+ Phương án 1:
● GV chuẩn bị trước BĐTD đã hoàn thiện để củng cố cho HS
● HS nghe, nghi nhớ và khắc sâu kiến thức
+ Phương án 2:
● GV chuẩn bị sẵn BĐTD trống
● GV giao nhiệm vụ cho HS : Dùng các cụm từ ngắn gọn để điền các thông tin còn thiếu, sau đó trình bày trước cả lớp nội dung của BĐTD Học sinh khác nhận xét bổ sung, giáo viên chuẩn kiến thức
Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên nên căn cứ vào đó để đánh giá và nhận xét
Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản,không mất thời gian nhưng nếu học sinh khônghiểu bài thì sẽ không điền đượcthông tin hoặc điền không chính xác
- Ví dụ cho phương án 1: GV chuẩn bị trước BĐTD đã hoàn thiện để
củng cố cho HS:
+ Lớp 6: Bài 5- Kí hiệu bản đồ Cách biểu hiện địa hình trên bản đồ
Trang 11- Ví dụ cho phương án 2: GV chuẩn bị BĐTD trống để củng cố:
+ Lớp 7: Bài 17- Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa
+ Lớp 8: Bài 12- Đặc điểm tự nhiên khu vực Đông Á
Trang 12+ Lớp 9: Bài 36- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long( Tiếp theo)
Trang 13- Trong 2 phương án, tôi thấy phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào BĐTD Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học.
2.3.4 Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà
- Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài
liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh)trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độhọc sinh, thời gian, kinh tế…)
- Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu
tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thểhiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh Bàitập về nhà nên thiên về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cáchtìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cáchcung cấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác
Sau đó, mỗi học sinh tùy vào năng lực, trình độ và sự sáng tạo của bảnthân mình, sẽ thiết kế thêm được các nhánh thông tin bổ trợ cho nội dung chính
Ví dụ1: Sau khi học xong bài 1: Vị trí, hình dạng và kích thước của Trái Đất
(Địa lý 6), giáo viên yêu cầu học sinh về nhà hoàn thiện lại nội dung bài học trênBĐTD
+ Sản phẩm của học sinh: