SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN TỔNG KẾT BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN TỔNG KẾT BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
NHẰM TĂNG HIỆU QUẢ GIỜ HỌC
Người thực hiện: Phạm Viết Cương
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
Trang 2MỤC LỤC
2.1.1 Sơ đồ tư duy và lợi ích của việc sử dụng sơ đồ tư duy 3
2.1.2 Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy
học phần Tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học 3
2.3 Sơ đồ tư duy phần tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học trong
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một giờ lên lớp được coi là chuẩn mực khi giáo viên thực hiện đầy đủ các hoạt động:
- Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh;
- Tổ chức dạy và học bài mới;
- Luyện tập củng cố;
- Đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học;
- Hướng dẫn HS học bài và làm bài ở nhà (nếu có)
Trong các hoạt động nêu trên, hoạt động tổ chức dạy và học bài mới là quan trọng nhất bởi nó cung cấp tri thức bài học mới đến học sinh, đặc biệt là bài đọc hiểu văn bản văn học
Đối với bài đọc hiểu văn bản văn học, thông thường giáo viên chỉ chú trọng vào các phần: Tiểu dẫn, đọc hiểu văn bản còn phần tổng kết bài học, cô đọng những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật thì không được lưu tâm, chủ yếu là ghi
đề mục và yêu cầu học sinh đọc phần ghi nhớ trong sách giáo khoa mà không khái quát một cách cụ thể cho các em
Để giải quyết vấn đề này, bên cạnh việc nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, tôi còn sử dụng sơ đồ tư duy cho phần tổng kết bài học, vừa hệ thống kiến thức một cách trọn vẹn, vừa tạo tư duy logic cho học sinh, nhất là học sinh 12 và bước đầu thu được thành quả Vì vậy tôi chọn đê tài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn 12 nhằm tăng hiệu quả giờ học” cho SKKN của mình
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Góp phần đổi mới PPDH ở trường THPT Làm cho tiết học nhẹ nhàng, tự nhiên; tạo không khí học tập sôi nổi, phấn khởi
Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập nói chung và trong môn Ngữ văn nói riêng
Kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc trong các hoạt động
Trang 4Nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Ngữ văn của học sinh trong nhà trường
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh các lớp 12C5, 12C7 Trường THPT Triệu Sơn 4 trong năm học
2019 – 2020
- Chương trình Ngữ văn lớp 12
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tìm và nghiên cứu tài liệu:
Tìm kiếm những tài liệu để hiểu rõ về sơ đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ văn
- Phương pháp quan sát:
Quan sát hoạt động học của học sinh thông qua thực tế giảng dạy trên lớp của bản thân và dự giờ đồng nghiệp để thấy cái được, cái hạn chế và tìm ra biện pháp khắc phục
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
Theo dõi hoạt động học của học sinh nhằm tìm hiểu kỹ về mức độ hài lòng khi vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học phần tổng kết bài học
- Phương pháp thống kê toán học:
Lập bảng thống kê, phân tích, xử lí số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề chính xác, khoa học
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm:
Xem xét những thành quả của hoạt động thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm bổ ích trong dạy học
Trang 52 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1.1 Sơ đồ tư duy và lợi ích của việc sử dụng sơ đồ tư duy.
Sơ đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp ghi chép nhanh chóng, tận dụng khả năng nghe, nhìn, xử lý thông tin và hệ thống hóa chúng lại Trong học tập sử dụng sơ đồ tư duy là phương pháp sử dụng những ký hiệu, hình ảnh sinh động minh họa giúp cho chúng ta ghi nhớ bài dễ dàng và hiệu quả hơn Trong công việc, sơ đồ tư duy được sử dụng như một công cụ để phân tích vấn đề mang lại hiệu quả cao Phương pháp này giúp cho bạn dễ dàng nắm bắt, xâu chuỗi vấn đề, liên kết những đối tượng đơn lẻ Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp khai thác được các khả năng tư duy của não bộ
Cấu tạo chung của một sơ đồ tư duy bao giờ cũng gồm có chủ đề chính (chủ đề trung tâm), những keyword quan trọng - nội dung cốt lõi của chủ đề (nhánh cành, hay nhánh con), những keyword, hình ảnh minh họa, những mối liên hệ (thông qua các liên kết), màu sắc thể hiện và kích cỡ của mối liên kết Sử dụng sơ đồ tư duy giúp cho bạn có được cái nhìn tổng quát nhất về đối tượng và giúp bạn xử lý thông tin nhanh, chính xác, giải mã được những dữ liệu còn ẩn chứa, phát huy khả năng tư duy
Ưu điểm lớn nhất cho sơ đồ tư duy đẹp sáng tạo là giúp cho bạn nâng cao hiệu quả làm việc, tăng tính sáng tạo và tư duy khoa học Sơ đồ tư duy là công
cụ khá hoàn hảo cho bạn giúp tăng hiệu suất làm việc, lên kế hoạch và ý tưởng khoa học, hợp lý hơn Bạn dễ dàng xác định được mối liên hệ của các thông tin,
dữ liệu, cải thiện năng lực ghi nhớ
2.1.2 Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học phần Tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học.
Phần tổng kết bài học có vị trí tượng tự phần kết bài trong bài làm làm văn, là phần hệ thống lại một cách cô đọng nhất những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản văn học, giúp cho người học củng cố lại kiến thức một cách nhanh chóng và trọn vẹn
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần tổng kết, một mặt giúp trình diễn tri thức một cách lôgic, khoa học, dễ nắm bắt đối với người học, mặt khác thay đổi về hình thức diễn đạt sẽ đem lại hứng thú, để lại một ấn tượng cho học sinh, tránh nhàm chán, đi vào lối mòn của cách dạy thầy đọc trò chép
Trang 6Sơ đồ tư duy giúp phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các
em, tiết kiệm thời gian, người học nhìn thấy được bức tranh tổng thể giúp ghi nhớ tốt hơn tri thức bài học
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Môn Ngữ văn trong trường THPT hiện nay đã có sự đổi mới nhiều về phương pháp dạy học, song vẫn chưa đồng bộ, một số giáo viên ngại đổi mới vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống Một số giáo viên muốn áp dụng phương pháp dạy học mới nhưng cơ sở vật chất chưa thể đáp ứng theo yêu cầu Các phương pháp dạy học tích cực thường được sử dụng trong thực tế dạy học như phương pháp trò chơi, phương pháp vấn đáp, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, Phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai … nhưng do thời lượng tiết học chỉ 45 phút nên không thể phát huy hết tính tích cực của các phương pháp dạy học kể trên Có khi tổ chức giờ học theo các phương pháp tích cực, phát huy được sự chủ động của người học nhưng đến phần kết luận, tổng kết bài học lạ trở về với đọc chép, hoặc giáo viên ghi đề mục lên bảng và yêu cầu học sinh đọc phần ghi nhớ trong sách giáo khoa, giờ dạy theo phương pháp mới do vậy trở nên không trọn vẹn
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thờ ơ của một bộ phận giáo viên khi dạy phần tổng kết Thường là do tâm lí chủ quan, cho rằng kiến thức bài học mình đã cung cấp đủ cho học sinh, vậy nên không cần phải nhắc lại nữa Mặt khác do ỷ lại sách giáo khoa nên chỉ yêu cầu người học đọc là đủ Và nguyên nhân khách quan đem lại là thời lượng tiết học chỉ 45 phút, đôi khi không đủ để triển khai đầy đủ các phần của bài học, nhất là những bài dài, lượng kiến thức lớn…
Từ những nguyên nhân đó và từ thực tế giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THPT Triệu Sơn 4, đầu năm học 2019 – 2020, tôi tiến hành khảo sát về việc dạy phần tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học ở các lớp 10B1, 10B3, 12C5, 12C7, kết quả thu được như sau:
STT Lớp Sĩ số
Thích học phần tổng kết
Không thích học phần tổng kết
Lí do
1 10B1 44 12 32
- Đọc và chép lại phần ghi nhớ
- Chỉ ghi đề mục
- Phần tổng kết quá dài
Trang 72 10B3 44 10 34
- Đọc phần ghi nhớ trong SKG
- Ghi đề mục và chép lại phần ghi nhớ
3 12C5 45 15 30
- Đọc và chép lại phần ghi nhớ
- Phần tổng kết không rõ ràng, ghi nhiều
4 12C7 38 6 32
- Ghi lại đề mục và đọc phần ghi nhớ trong SGK
- Phải chép bài nhiều
Từ kết quả khảo sát, sau khi xác định nguyên nhân dẫn đến sự thờ ơ của người học đối với phần tổng kết bài học, tôi nhận thấy cần phải thay đổi cách dạy phần này, dù thời gian giành cho phần học chỉ là 05 phút trong mỗi bài học nhưng có vị trí rất quan trọng ứng với tên gọi của nó Tôi đã sử dụng sơ đồ tư duy như một hướng giải quyết cho những tồn tại mà thực tế giảng dạy đã chỉ ra
2.3 SƠ ĐỒ TƯ DUY PHẦN TỔNG KẾT BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12.
- Bài Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh
Trang 8- Bài Tây Tiến của Quang Dũng
- Bài Viêt Bắc của Tố Hữu
Trang 9- Bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
- Bài Sóng của Xuân Quỳnh
Trang 10- Bài Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo
- Bài Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Trang 11- Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Bài Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Trang 12- Bài Vợ nhặt của Kim Lân
- Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Trang 132.4 HIỆU QUẢ CÚA SKKN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG
Trong quá trình dạy học bài đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn 12, tôi đã sử dụng sơ đồ tư duy (như đã trình bày ở trên) vào dạy phần tổng tổng kết bài học Kết quả cho thấy học đã chú ý hơn, hào hứng, sôi nổi thảo luận, tranh luận khiến cho giờ học trở nên hứng thú, tích cực hơn Các em ghi nhớ nội dung và đặc sắc về nghệ thuật trong bài đọc hiểu được sâu hơn đồng thời khơi gợi được cho các em sự hứng thú, yêu thích hơn đối với môn học
Kết quả khảo sát cuối học kì 2 năm học 2019 – 2020 ở 02 lớp áp dụng sơ
đồ tư duy vào dạy phần tổng kết bài học, so với đầu năm học có sự thay đổi tích cực:
STT Lớp Sĩ số
Thích học phần tổng kết
Không thích học phần tổng kết
Lí do yêu thích
1 12C5 45 35 10
- Phần tổng kết không lặp lại nhiều nội dung phần ghi nhớ trong SGK
- Dễ hình dung nội dung cơ bản và đặc sắc về nghệ thuật
2 12C7 38 26 12
- Không lặp lại nội dung phần ghi nhớ trong SGK
- Có thể chụp ngay màn hình
TV nội dung bài học
Kết quả học lực học kỳ 2 của 2 lớp so với học kì 1 cũng chuyển biến theo hướng tích cực:
Kì thi Lớp Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
Học C5 2 4.44 18 40 25 55.56 0 0 0 0
Trang 14kỳ 1
Học
kì 2
C5 12 26.6 30 66.7 3 6.7 0 0 0 0
Kết quả trên không hoàn toàn do sự thay đổi trong sử dụng phương pháp dạy học mà đến từ sự nỗ lực học tập của học sinh, sự định hướng và giảng dạy của giáo viên Tuy vậy khi giáo viên thay đổi tư duy dạy học, tìm tòi sáng tạo trong dạy học sẽ được học sinh, đồng nghiệp ghi nhận và cùng nhau hoàn thiện
để áp dụng vào thực tiễn dạy học
Sáng kiến đã được chia sẻ và được đồng nghiệp trong nhà trường vận dụng để dạy học ở các lớp khối 10 và 11, bước đầu đã mang lại hiệu quả
Như vậy, chỉ cần một chút thay đổi trong cách sử dụng trang thiết bị dạy học sẵn có ở từng lớp học và tư duy dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn bài dạy sẽ đem lại hiệu quả tích cực Việc sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy phần tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học chỉ là một phần nhỏ trong tiến trình dạy học môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông, nhưng dù nhỏ phần này vẫn có vị trí quan trọng vì nó giúp người học hình dung và nắm được những nội dung cơ bản nhất được gợi ra từ tác phẩm và những đặc sắc về nghệ thuật được tác giả sử dụng, góp phần vào việc tổ chức thành công giờ dạy
Trang 153 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
3.1 KẾT LUẬN:
Qua quá trình nghiên cứu, điều tra, thử nghiệm, khảo sát thực tế, đề tài đã được thực hiện và đã đạt một số kết quả như sau:
- Sử dụng sơ đồ tư duy đã nêu trong SKKN vào dạy học phần Tổng kết bài đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn 12 đã nâng cao chất lượng dạy học
- Kích thích sự phát triển tư duy lô gic ở người học
- Khơi gợi hứng thú, kích thích, bồi dưỡng tình yêu đối với môn Ngữ văn
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng
Tuy nhiên đề tài vẫn có những hạn chế: Phạm vi đề tài chỉ thực hiện đối với lớp bản thân đang giảng dạy và một số lớp được lựa chọn Vì vậy, hướng phát triển tiếp tục của đề tài sẽ là vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy tất cả các bài học ở
cả 3 khối lớp 10, 11 và 12
3.2 KIẾN NGHỊ:
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi có một số kiến nghị sau:
- Để vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực nói chung,
sơ đồ tư duy nói riêng cần có sự hỗ trợ tích cực về cơ sở vật chất, trang thiết bị
từ phía nhà trường
- Các tổ nhóm chuyên môn cần tích cực nghiên cứu, đầu tư về thời gian và công sức để xây dựng ngân hàng sơ đồ tư duy ở các môn học để sử dụng trong quá trình dạy học
- Giáo viên cần liên tục trao đổi, thảo luận củng cố thêm kiến thức và phương pháp trong quá trình giảng dạy để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả dạy học
Trong quá trình thực hiện đề tài, do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được những đóng góp của đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 26 tháng 6 năm 2020
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Trang 16TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2002
2 Luật giáo dục năm 2005
3 Modul THPT 18: Phương pháp dạy học tích cực
4 Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường, NXB Giáo dục năm 2001
5 Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học – Bộ giáo dục và đào tạo theo Dự án Việt – Bỉ NXB Đại học sư phạm
6 Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT (Tài liệu dành cho giáo viên)
7 Nguồn internet
Trang 17Mẫu 1 (2)
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: PHẠM VIẾT CƯƠNG
Chức vụ và đơn vị công tác: TKHĐ - Giáo viên
Trường THPT Triệu Sơn 4 – Triệu Sơn – Thanh Hóa
TT Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá xếp
loại
(Ngành GD cấp huyện/tỉnh; Tỉnh )
Kết quả đánh giá xếp loại
(A, B, hoặc C)
Năm học đánh giá xếp loại
1
Tiếp cận và giảng dạy trích
đoạn Trao duyên theo cái
nhìn thời gian nghệ thuật
Cấp tỉnh C 2005-2006
2
“Giảng dạy truyện cổ tích
Tấm Cám ở lớp 10 THPT
dưới góc nhìn thi pháp
cổ tích thần kì”
Cấp tỉnh C 2011-2012
3
“Vận dụng kiến thức lịch sử
vào giải quyết một số tình
huống có vấn đề trong dạy
học hai tác phẩm Phú sông
Bạch Đằng và Đại cáo bình
Ngô” – Ngữ văn 10 tập 2
Cấp tỉnh C 2014-2015