Khái niệm quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan Theo Tổ chức Hải quan New Zealand định nghĩa: “Quản lý rủi ro là việc áp dụng một cách hệ thống các chính sách quản lý, quy trình thủ tụ
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I Lý thuyết 3
1 Khái niệm quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan 3
2 Sự cần thiết của quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan 3
3 Quy trình thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan 3
II Thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam 9
1 Chủ trương, chính sách của nhà nước và các biện pháp của ngành Hải quan trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống quản lí rủi ro 9
2 Khái quát thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam 10
III Thành tựu và hạn chế của quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam 16 1 Thành tựu: 16
2 Hạn chế: 16
IV Giải pháp nâng cao hoạt động quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam 17
C KẾT LUẬN 19
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh gia tăng các hoạt động thương mại quốc tế, cộng đồng quốc tế yêu cầu giảm thiểu sự can thiệp từ phía chính phủ khiến hải quan các nước phải đổi mới phương thức quản lý
Để tạo điều kiện thuận lợi thương mại nhưng vẫn phải kiểm soát chặt chẽ sự tuân thủ theo quy định của pháp luật thì quản lý rủi ro là một giải pháp tối ưu nhất Hải quan các nước, trong đó có Hải quan Việt Nam dù hoạt động dựa trên hệ thống tự động hay thủ công, đều có thể áp dụng các nguyên tắc quản lý rủi ro Đây là giải pháp đóng vai trò trung tâm trong tiến trình hiện đại hóa ngành Hải quan
Trang 3B NỘI DUNG
I Lý thuyết
1 Khái niệm quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan
Theo Tổ chức Hải quan New Zealand định nghĩa: “Quản lý rủi ro là việc áp dụng một cách hệ thống các chính sách quản lý, quy trình thủ tục nhằm xác định, phân tích, đánh giá và tiến hành các biện pháp đối phó với rủi ro”
2 Sự cần thiết của quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan
– Giúp tổ chức nhận dạng rủi ro và thực hiện các chương trình ngăn chặn, kiểm soát tổn thất hiệu quả
– Có cơ sở chặt chẽ, minh bạch trong việc lập kế hoạch chiến lược và ra các quyết định quản lý Giảm chi phí phát sinh không cần thiết
– Tạo tiền đề thuận lợi cho các khâu nghiệp vụ tiếp theo
Riêng đối với ngành hải quan, quản lý rủi ro là phương pháp quản lý khoa học mang tính logic và hệ thống nhằm:
– Giảm bớt áp lực về khối lượng công việc, thông qua đánh giá, xác định đối tượng có rủi ro cao, tập trung nguồn lực quản lý
– Tạo được sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp
– Doanh nghiệp được chủ động hơn trong việc lập kế hoạch kinh doanh và xuất nhập khẩu, tiết kiệm chi phí lưu kho, lưu bãi, giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi thế cạnh tranh và doanh thu
3 Quy trình thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan
a Thiết lập bối cảnh:
Thiết lập bối cảnh trong quản lý rủi ro là việc tổng hợp, phân tích, đánh giá, những thông tin đã thu được, từ đó biết được thực trạng tình hình liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu đặt ra
Đây được coi là bước quan trọng nhất trong quy trình quản lý rủi ro vì nó cung cấp nền tảng hoạt động cho các bước tiếp theo của chu trình và cũng là bước bị nhiều người bỏ sót khi tiến hành quản lý rủi ro, dẫn đến lập kế hoạch quản lý rủi ro thiếu hoàn chỉnh và chính xác Nhiệm vụ của bước này cần phải xác định mục tiêu quản lý
và thiết lập bộ tiêu chí quản lý rủi ro, làm cơ sở để xem xét, đánh giá và triển khai công tác quản lý rủi ro được thống nhất trong toàn hệ thống tổ chức
Trang 4Thông thường, các tiêu chí rủi ro của ngành hải quan được tập trung vào các yếu
tố như thông tin về doanh nghiệp (tình hình tài chính, ý thức chấp hành pháp luật), về hàng hoá xuất nhập khẩu, nước xuất xứ, cách thức mô tả, phương thức thanh toán, phương tiện vận chuyển, thuế suất thuế xuất nhập khẩu Mỗi tiêu chí được gắn với một điểm số nhất định Kết quả tổng hợp điểm tương ứng với sự tính toán về quy mô, hậu quả của rủi ro có thể xảy ra
b Xác định rủi ro
Nhận dạng rủi ro được coi là bước đơn giản nhất trong quy trình quản lý rủi ro nhằm tiên lượng các vấn đề có thể gây ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức, nguyên nhân và cách thức xảy ra
Yêu cầu đối với giai đoạn này là thông tin cập nhật đầy đủ, chính xác, toàn diện Ngoài ra, can nhận dạng chính xác các rủi ro mang tính tiêu cực đẻ có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế sự xuất hiện của chúng và tận dụng các yếu tố rủi ro tích cực Đôi khi, việc không nắm bắt và tận dụng triệt để các cơ hội có thể xem là rủi ro lớn nhất trong các loại rủi ro
Bước 1: Thu thập, phân tích thông tin dữ liệu, xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng lĩnh vực rủi ro
Thông tin vi phạm pháp luật hải quan từ hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành
Các vụ việc vi phạm pháp luật hải quan được phát hiện và xử lý
Thông tin nghiệp vụ được khai báo, phản hồi từ các đơn vị
Bước 2: Báo cáo, phê duyệt đăng ký vào hồ sơ rủi ro
Công thức làm công tác quản lý rủi ro kiểm tra, đối chiếu rủi ro được xác định với hồ sơ rủi ro hiện có:
Trường hợp rủi ro này đã được đăng ký trong hồ sơ rủi ro thì đối chiếu các dấu hiệu và các yếu tố liện quan của rủi ro được xác định với rủi ro đang trong quản lý
để xem xét điều chỉnh, bổ sung hoặc phục hồi hồ sơ đã đăng ký trước đây
Trường hợp rủi ro được xác định là rủi ro mới phát hiện thì báo cáo xác lập rủi ro theo mẫu MQLRRĐT - 4
Bước 3: Người có thẩm quyền căn cứ vào đề xuất của công thức, xem xét tính xác thực của thông tin để quyết định việc điều chỉnh, hoặc bổ sung, phục hồi hồ sơ đăng ký rủi ro hoặc phê duyệt xác lập hồ sơ rủi ro mới
Trang 5c Phân tích rủi ro
– Lựa chọn các trường dữ liệu từ bảng dữ liệu thu thập nêu trên có liên quan đến rủi ro cần phân tích
– Sử dụng công cụ Excel để thống kê xác định số lần (tần suất) cũng như thiệt hại (hậu quả) đã hoặc có thể xảy ra.tần suất và hậu quả được xác định theo 03 cấp độ: Cao, trung bình, thấp
– Kết hợp giữa tần suất và hậu quả để xác định mức độ của rủi ro theo bảng dưới đây:
– Trong thực tế có nhiều trường hợp công chức thực hiện phân tích rủi ro không có đủ dữ liệu để đưa ra các số liệu chính xác Trong các trường hợp này, công chức phân tích có thể vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm để phán đoán khả năng
và hậu quả mà rủi ro có thể gây ra; từ đó xác định mức độ của rủi ro Tuy vậy việc phán đoán cần phải đảm bảo tính hợp lý, có độ tin cậy và được thực hiện trên những nhận định khách quan, nghiêm cấm mang tính định kiến cá nhân
– Ví dụ qua thông tin thu thập được cho thấy giá thịt bò nhập khẩu trong nước thấp hơn giá thịt bò trên thị trường thế giới, một số doanh nghiệp (chưa xác định) đang tìm cách nhập khẩu mặt hàng thịt bò và chế phẩm từ bò có xuất xứ từ các nước Anh, Đức có nguy cơ bị bệnh dịch bò điên bằng hình thức chuyển tải qua nước thứ ba (chẳng hạn như Philipin) Như vậy rủi ro được xác định ở đây là thịt bò và chế phẩm
từ bò có nguy cơ bị bệnh dịch bò điên Các chỉ số rủi ro giúp cho việc nhận diện ra
Trang 6tình huống rủi ro đó là: mặt hàng thịt bò, nhập khẩu có xuất xứ từ Anh, Đức hoặc chuyển tải (nhập khẩu) từ Philipin
d Đánh giá rủi ro
–Việc đánh giá rủi ro nhằm xác định mức độ ưu tiên cần xử lý đối với rủi ro.Quá trình đánh giá phải căn cứ vào các yếu tố sau đây:
Mức độ rủi ro được xác định
Yêu cầu cho việc quản lý đối với loại rủi ro này
Các rủi ro đã xử lý trước đó
Khả năng về nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả đối với rủi ro
–Lập danh sách thứ tự ưu tiên các loại rủi ro cần xử lý
–Lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp với tính chất, mức độ,đặc điểm của từng loại rủi ro
–Ví dụ như mặt hàng tân dược nếu xác định có nguy cơ rủi ro về giấy phép hoặc gian lận về trị giá thì cần tập trung kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra sau thông quan Nhưng nếu xác định rủi ro liên quan đến chất gây nghiện thì cần phải áp dụng kiểm tra
hồ sơ và hàng hóa ngay thời điểm làm thủ tục nhập khẩu
e Xử lý rủi ro:
Các cấp, đơn vị Hải quan thực hiện:
– Cung cấp kịp thời những rủi ro được phát hiện trong quá trình tổng hợp và phân tích thông tin theo lĩnh vực được phân công;
– Phân tích, đánh giá lại rủi ro đã được xác định theo định kỳ và cung cấp kết quả cho đơn vị quản lý rủi ro cùng cấp; đề xuất biện pháp xử lý,và đưa ra các chỉ dẫn nghiệp vụ
Trên cơ sở nội dung đề xuất của các đơn vị nghiệp vụ và kết quả phân tích, đánh giá rủi ro của mình, đơn vị quản lý rủi ro tiến hành đánh giá lại:
– Cấp độ rủi ro
– Mức độ ưu tiên xử lý rủi ro
– Tổ hợp dấu hiệu rủi ro
– Hiệu quả áp dụng biện pháp xử lý; xem xét yếu tố về nguồn lực với kết quả đạt được
– Tác động ảnh hưởng dây chuyền
Trang 7– Lựa chọn và đề xuất biện pháp xử lý thích hợp đối với những rủi ro được ưu tiên xử lý
– Lựa chọn và đề xuất biện pháp xử lý đối với các rủi ro khác
– Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện xử lý rủi ro
Kế hoạch xử lý rủi ro được thực hiện tại 2 cấp, đơn vị:
– Đơn vị quản lý rủi ro cấp Tổng cục lập kế hoạch xử lý đối với rủi ro áp dụng tổng thể trong toàn ngành
– Đơn vị quản lý rủi ro cấp Chi cục Hải quan điện tử lập kế hoạch xử lý đối với rủi ro trong phạm vi cấp Chi cục trên cơ sở thống nhất và đảm bảo thực hiện các nội dung theo kế hoạch của Tổng cục
Nội dung kế hoạch xử lý rủi ro:
– Danh sách các rủi ro cần xử lý
– Biện pháp xử lý rủi ro dự kiến
– Các biện pháp, phương án hỗ trợ đảm bảo việc xử lý có hiệu quả
– Thời gian thực hiện xử lý rủi ro bao gồm thời gian bắt đầu và kết thúc
– Đơn vị hoặc công chức thực hiện
– Các điều kiện về phương tiện, trang thiết bị, kinh phí cần thiết
– Kế hoạch theo dõi, đánh giá kết quả xử lý và thực hiện báo cáo phản hồi thông tin
Lãnh đạo có thẩm quyền tại các cấp, đơn vị căn cứ cứ vào kế hoạch xử lý rủi ro
do cán bộ, công chức báo cáo xem xét tính phù hợp, hiệu quả và yếu tố khả thi của kế hoạch để quyết định phê duyệt thực hiện
Trên cơ sở kế hoạch được lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị quản lý rủi
ro chuyển giao yêu cầu, phương án xử lý cho các đơn vị liên quan thực hiện
Áp dụng các biện pháp xử lý rủi ro: Triển khai biện pháp phòng ngừa
– Xây dựng các chương trình tuyên truyền, phổ biến đối với doanh nghiệp nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật
– Thông báo cho doanh nghiệp những dấu hiệu rủi ro, những nguy cơ đối với việc tuân thủ của doanh nghiệp, trong trường hợp cần thiết, đơn vị quản lý rủi ro có thể hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp tự xử lý các tình huống rủi ro hoặc tự chấm dứt các hoạt động có dấu hiệu dẫn tới vi phạm
Trang 8– Thông qua quy trình quản lý rủi ro, đơn vị quản lý rủi ro cần xác định những rủi ro đến từ hệ thống chính sách, pháp luật và quy trình thủ tục để đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc có biện pháp quản lý phù hợp, kịp thời
f Theo dõi và đánh giá lại:
– Bước cuối cùng rất quan trọng trong quy trình quản lý rủi ro là theo dõi và đánh giá kết quả bởi đây là động tác cần thiết nhằm xem xét tính hiệu quả và lợi ích do quản lý rủi ro mang lại, rà soát lại toàn bộ quy trình, đánh giá, so sánh hiệu quả và mục đích ban đầu đề ra với kết quả xử lý rủi ro, từ đó, rút ra bài học và tìm giải pháp hoàn thiện quy trình Chức năng này cần được thực hiện liên tục, gắn liền với từng bước trong quy trình quản lý rủi ro và quán triệt đến từng cấp quản lý rủi ro cụ thể
– Kiểm tra hiệu lực áp dụng của tiêu chí tại các chi cục Hải quan Nếu phát hiện lô hàng có chỉ số rủi ro tương ứng nhưng không bị điều chỉnh bởi tiêu chí phân tích thì kiểm tra nguyên nhân của của hiện tượng trên Nguyên nhân có thể là do các trường hợp sau:
Việc thiết lập hoặc cập nhật tiêu chí không hợp lệ, do chỉ số không phù hợp hoặc các thao tác cập nhật không đúng
Chi cục Hải quan không cập nhật kịp thời phiên bản mới nhất của hệ thống quản lý rủi ro vào hệ thống nghiệp vụ của chi cục
– Theo dõi, tổng hợp tình hình phân luồng của hệ thống và kết quả kiểm tra đối với các lô hàng đã được lựa chọn kiểm tra theo tiêu chí đã phân tích, theo các nội dung sau:
Số lượng lô hàng được lựa chon theo tiêu chí
Số lượng, tỷ lệ lô hàng phát hiện vi phạm từ lựa chọn theo tiêu chí so với số lượng các trường hợp được lựa chọn
Số lượng, tỷ lệ các trường hợp lô hàng được lựa chọn, nhưng chi cục Hải quan chuyển luồng, làm rõ lý do chuyển luồng
– Những trường hợp sau đây sẽ được đánh giá là việc áp dụng tiêu chí phân tích không có hiệu quả:
Tiêu chí thiết lập trùng lặp với các tiêu chí khác do cùng một đơn vị cập nhật
Không có lô hàng được lựa chọn đánh giá trong thời gian hiệu lực áp dụng của tiêu chí
Trang 9 Số lượng lô hàng bị lựa chọn nhiều nhưng không phát hiện vi phạm hoặc tỷ
lệ vi phạm được phát hiện dưới 20%;
Chi cục Hải quan chuyển luồng nhưng không có lý do chính đáng
II Thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam
1 Chủ trương, chính sách của nhà nước và các biện pháp của ngành Hải quan trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống quản lí rủi ro.
a Hệ thống khuôn khổ pháp lý:
Là cơ quan thực thi pháp luật, với nền tảng là Luật Hải quan ban hành năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2005 với các điều khoản số 29, điều 30, điều 32; Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005, các Nghị định, Thông tư, Quyết định và các văn bản hướng dẫn dưới Luật khác có liên quan, chính thức cho phép Hải quan Việt Nam áp dụng quy trình quản lý rủi ro, coi đó như một phương pháp quản lý hiện đại cần thiết của cơ quan hải quan
b Quy trình thủ tục hải quan:
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Hải quan (2005) được ban hành, cùng với Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về “Quy chế áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại”, quản lý rủi ro chính thức được công nhận là công cụ quản lý của Hải quan Việt Nam kể từ ngày 01/01/2006
c Hoạt động kiểm tra sau thông quan:
Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan được hình thành từ năm 2002 Sau 4 năm triển khai đã chứng tỏ tính hiệu quả và là nghiệp vụ không thể thiếu khi tiến hành hiện đại hoá ngành hải quan, là nhân tố cốt yếu trong quy trình quản lý rủi ro
Từ tháng 6/2006, mô hình kiểm tra sau thông quan có sự thay đổi với Cục kiểm tra sau thông quan được tổ chức quản lý theo hướng chuyên sâu, tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục về hoạch định chính sách, chỉ đạo xây dựng chiến lược và nâng cấp quản
lý phòng kiểm tra sau thông quan tại các địa phương thành Chi cục kiểm tra sau thông quan, nhằm đảm bảo đúng bản chất về tổ chức, nhiệm vụ chức năng, tạo thuận lợi và hiệu quả cao, nâng cao tính chủ động cho các đơn vị này
d Nguồn nhân lực:
Tổng cục Hải quan luôn chú trọng đầu tư đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thường xuyên tổ chức tuyển dụng mới nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức năng động,
Trang 10sáng tạo trong thời đại mới Do đó, số lượng và chất lượng cán bộ công chức hải quan
đã tăng lên nhiều qua thời gian
e Cơ sở vật chất:
Được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới trong dự án Hiện đại hoá Hải quan, Tổng cục Hải quan đã tiến hành trang bị thêm các phương tiện, thiết bị hiện đại như hệ thống máy vi tính đồng bộ có nối mạng Internet, các thiết bị giám sát hàng hiện đại, phục vụ công tác kiểm soát, thay thế dần các trang thiết bị, phương tiện làm việc cũ, giảm thao tác thủ công, tiết kiệm thời gian, sức lao động với kết quả kiểm tra chính xác, kiểm soát hiệu quả
f Hệ thống công nghệ thông tin:
Hiện nay, phần lớn các Cục và Chi cục hải quan địa phương đều đã được trang bị
hệ thống máy tính hiện đại có mạng kết nối khu vực diện rộng (WAN) để kết nối với
cơ quan Tổng cục Hải quan
Một số chương trình phần mềm ứng dụng nghiệp vụ đa chức năng được triển khai trên toàn quốc đã phát huy hiệu quả, đơn giản hoá thao tác nghiệp vụ, là cơ sở để tiến tới thực hiện thông quan điện tử trên toàn quốc
2 Khái quát thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam.
a Quá trình tiếp cận quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam
Trước năm 1997, khái niệm quản lý rủi ro nói chung còn rất xa lạ không chỉ với các công chức trong ngành mà với cả cá nhân, tổ chức có liên quan
Trong giai đoạn 1997 – 2001, với chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, yêu cầu đơn giản hoá thủ tục hải quan ngày càng trở nên cấp thiết, Hải quan Việt Nam đã áp dụng phân luồng hành khách tại các cửa khẩu sân bay quốc tế thành 3 nhóm:16 luồng xanh, luồng vàng và luồng đỏ, nhưng chỉ mang tính chất sao chép thuần tuý,tự phát và
ở mức sơ khai, chưa thể hiện được các nguyên tắc quản lý rủi ro
Trong Luật Hải quan (2001) cũng đã quy định về hình thức, căn cứ để tiến hành kiểm tra thực tế hàng hoá, nhưng chưa chính thức công nhận phương pháp quản lý rủi
ro mà phải đến khi Luật hải quan sửa đổi năm 2005, đặc biệt với Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005 đã bổ sung, cụ thể hoá Luật Hải quan, tạo cơ sở để ngành Hải quan áp dụng quy trình quản lý rủi ro kể từ ngày 01/01/2006
Điểm nhấn trong công tác quản lí rủi ro năm 2011, đó là ngày 7-6-2011, Bộ trưởng Bộ Tài chính kí Quyết định số 1402/QĐ-BTC về việc thành lập Ban quản lí rủi