1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích chi tiết tất cả các tác phẩm lớp 12

411 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Chi Tiết Tất Cả Các Tác Phẩm Lớp 12
Định dạng
Số trang 411
Dung lượng 907,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tây Tiến Sóng Việt Bắc Đất Nước Ai đã đặt tên cho dòng sông Người lái đò sông Đà Vợ chồng A Phủ Vợ nhặt Chiếc thuyền ngoài xa Hồn Trương Ba Da hàng thịt TÂY TIẾN Quang Dũng Câu 18: Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến : Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở: từ Hoà Bình, Sơn La đến Sầm Nứa Lào. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm. Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành Tõy Tiến . Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986) tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Câu 19. Nhan đềbài thơ Tây Tiến : Lúc đầu bài thơ có tên là “Nhớ Tây Tiến” sau đó nhà thơ lược đi chữ “Nhớ” chỉ còn lại chữ Tây Tiến. Tác phẩm được in trong tập “Mây đầu ô” “Nhớ Tây tiến” là nhan đề nói được cảm xúc chủ đạo của bài thơ nhưng không làm toát lên được hình tượng trung tâm của tác phẩm. Đồng thời lại làm cho nhan đề thêm ủy mị, quá mềm mại không phù hợp với tư thế, phong thái của người lính. Quang Dũng đổi tên bài thơ không phải ngẫu nhiên mà là dụng ý nghệ thuật QD đã lược đi chữ “Nhớ” làm cho nhan đề thêm hàm súc mà vẫn gợi nhiều ý nghĩa: bản thân hai chữ Tây tiến đã bao hàm nỗi nhớ, bên cạnh đó Tây Tiến gợi ra hình tượng trung tâm bài thơ đó là người lính Tây Tiến hào hùng, gợi lên cả vùng đất mà người lính từng gắn bó. Hai chữ Tây tiến rắn rỏi, chắc khỏe phù hợp với bước quân hành, với tư thế hiên ngang, vững chãi của người lính. Vì thế tên bài thơ như một khúc quân hành như khúc “Tiến quân ca”, hay “Nam tiến”. => Đặt cho bài thơ một cái tên giàu ý nghĩa như vậy chứng tỏ Quang Dũng là nhà thơ tài năng và sáng tạo. Câu 20. Phân tích đoạn 1 của bài thơ Tây Tiến A. Mở bài: Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài. Tài năng của ông được thể hiện ở nhiều mặt: viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc, làm thơ... Nhưng ông được biết đến trước hết là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng thể hiện ở một hồn thơ hào hoa, lãng mạn, phóng khoáng mà cũng rất hồn hậu đặc biệt là khi viết về xứ Đoài mây trắng và người lính. Tên tuổi của ông đã gắn với thi phẩm “Tây Tiến”, tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung. Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tác giả dành cho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó. Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy đã trào dâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến”. Đây là bài thơ của người lính viết về người lính anh vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống P. Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tác giả dành cho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó. Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy đã trào dâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến”. Đoạn thơ mở đầu là đoạn đặc sắc thể hiện nỗi nhớ của tác giả về con đường hành quân đầy gian khổ của người lính trên nền thiên nhiên Tây Bắc. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ..... Mai Châu mùa em thơ nếp xôi B. Thân bài: Hai câu thơ đầu : Hai câu thơ mở đầu khơi gợi cảm xúc cho toàn bài thơ . Đoạn thơ mở đầu bằng tiếng gọi, nỗi nhớ trào dâng như không ghìm nén nổi và bật ra thành tiếng gọi tha thiết: “ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” Hình ảnh sông Mã: con sông chảy dọc suốt chặng đường hành quân của người lính. Nó không chỉ là con sông vô hồn của địa lí mà như một chứng nhân lịch sử từng chứng kiến bao kỷ niệm buồn vui của người linh nên nhớ về Tây Tiến nhà thơ không thể không nhớ đén con sông. Sông Mã đại diện cho

Trang 1

LỚP 12

KHÁI QUÁT VHVN TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT TK XX

Câu 1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của văn học Việt Nam từ 1945-1975:

a Xã hội:

- CMT8 thành công mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam

- Nhân dân ta tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

=> Nền kinh tế và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc , đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã tác động tới nền văn học

- Nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển

Câu 2 Quá trình phát triểncủa văn học Việt Nam từ 1945-1975:

a Giai đoạn 1945-1954 (giai đoạn kháng chiến chống Pháp)

* Chủ đề bao trùm: các sáng tác văn học tập trung phản ánh cuộc sống kháng chiến chống thực dân

Pháp Văn học đi sâu vào đời sống cách mạng và kháng chiến, hướng tới đại chúng, phản ánh sứcmạnh của quần chúng nhân dân; thể hiện niềm tự hào và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộckháng chiến

* Nội dung:

- Văn học phán ánh được không khí hồ hởi, vui sướng của nhân dân khi đất nước ta vừa giành được độc lập.VD:Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt của Tố Hữu; Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông của Xuân Diệu…

- Từ cuối năm 1946 : văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp VD: Phá đường, Việt Bắc, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên….

- Khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của quần chúng nhân dân VD: Đồng chí, Đôi mắt.

- Thể hiện niềm tự hào dân tộc và thể hiện niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến

* Thể loại:

+ Văn xuôi: truyện ngắn và kí là những thể loại rất “cơ động” trong giai đoạn này, những tác

phẩm tiêu biểu: Một lần rời thủ đô (Trần Đăng); Đôi mắt, Nhật kí ở rừng (Nam Cao); Làng (Kim Lân), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm); Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc); Truyện Tây Bắc (Tô Hoài).

+ Thơ ca: Thơ Hồ Chí Mình, Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Tây Tiến (Quang Dũng), Đồng chí (Chính Hữu), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Việt Bắc (Tố Hữu).

+ Kịch: Kịch Bắc Sơn, Những người ở lại (Nguyễn Huy Tưởng), Chị Hòa (Học Phi)

+ Lí luận phê bình: Nhận đường, Mấy vấn đề nghệ thuật (Nguyễn Đình Thi) Các tập phê bình, tiểu luận của Hoài Thanh, Đặng Thai Mai…

VD: Gió lộng, ánh sáng-phù xa, đất nở hoa, Mùa lạc, sông Đà, Cái sân gạch, sống mãi với thủ đô…

- Thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt, nói lên nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước VD: Mồ anh hoa nở, Quê hương, Một chuyện chép ở bệnh viện…

* Thể loại:

+ Văn xuôi: truyện ngắn và tiểu thuyết rất phát triển

Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Cao điểm cuối cùng (Hữu Mai), Mùa lạc (Nguyễn Khải),

Vợ nhặt (Kim Lân), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Cửa biển (Nguyên Hồng)…

+Thơ:

Trang 2

Gió lộng (Tố Hữu), ánh sáng và phù sa (Chế Lan Viên), Những cánh buồm (Hoàng Trung Thông) Thơ Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Thanh Hải, Giang Nam…

+ Kịch:

Một đảng viên (Học Phi), Chị Nhàn và Nổi gió (Đào Hồng Cẩm)

c Giai đoạn 1965-1975

* Chủ đề: văn học giai đoạn này tập trung viết về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ với chủ đề ca

ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hung cách mạng

*Thể loại:

+ Văn xuôi: truyện ngắn, kí, tiểu thuyết, các tác phẩm tiêu biểu như:

Người mẹ cầm sung (Nguyễn Thi), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc)), Hòn đất (Anh Đức), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quáng Sáng)

+ Thơ: Các tập thơ: Ra trận, Máu và Hoa (Tố Hữu); Đầu súng trăng treo (Chính Hữu); Vầng trăng quầng lửa (Phạm Tiến Duật); Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm); Gió Lào cát trắng (Xuân Quỳnh); Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa).

+ Kịch: Quê hương Việt Nam, Thời tiết ngày xuân (Xuân Trình); Đại đội trưởng của tôi (Đào Hồng Cẩm); Đôi mắt (Vũ Dũng Minh)

+ Phê bình văn học: Các công trình nghiên cứu của Đặng Thai Mai, Xuân Diệu, Chế Lan

Viên…

* Văn học vùng địch tạm chiếm:

- Sáng tác chính thống- yêu nước

- Sáng tác phản động

Câu 3 Thành tựu của văn học Việt Nam từ 1945-1975: Dù đất nước đã trải qua nhiều khó khăn gian

khổ kể cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng văn học vẫn cố gắng để hoàn thành sứ mạnh cao cả của mộtnền văn học trong thời đại mới

- Văn học hướng về quần chúng nhân dân, Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội

- Cổ vũ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước

- Xây dựng đội ngũ nhà văn nhiều thế hệ có tài năng và được trải nghiệm trong thực tế

- Văn học nối tiếp và phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc; chủ nghĩa nhânđạo, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng

- Phát triển mạnh mẽ và đồng bộ các thể loại: văn xuôi, thơ ca, kịch, phê bình văn học

Các thể loại phát triển đồng bộ nhưng phát triển hết sức mạnh mẽ và có nhiều thành tựu là truyệnngắn, kí và thơ ca

Câu 4 Đặc điểm cơ bảncủa văn học Việt Nam từ 1945-1975:

a Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước:

- Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa:

+ Hiện thực cách mạng đem lại nguồn cảm hững mới cho văn học, trở thành nguồn đề tài, nguồncảm hứng sáng tạo cho các nhà văn

+ Nền VH mới được tiến hành theo mô hình:

“Vhoá nghệ thuật cũng là 1 mặt trận….ấy”

- Hồ Chí

Minh-Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền

- Sóng Hồng- (Trường Chinh)

=> Nền VH giai đoạn này ra đời cùng sự khai sinh của nhà nước VNCDCH, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ nên sớm được kiến tạo theo mô hình: VHNT cũng là 1 mặt trận,cùng kiểu nhà văn mới- nhà văn chiến sĩ Khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của nền văn học mới là là tư tưởng CM, VH trước hết phải phục vụ cho sự nghiệp CM, ý thức trách nhiệm công dân của mỗi nhà văn được đề cao

+ ý thức trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao, tình cảm gắn bó của họ gắn với nhân dân và đất nước

- Gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước nên VH gần như song hành với từng chặng đường của lịch sử dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước Tập chung vào 2 đề tài:

Trang 3

+ Tập trung vào đề tài Tổ quốc: VH phản ánh cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc vơi nhân vật TT là người chiến sĩ TQ là nguồn cảm hứng lớn trong các bài thơ của TH, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm… Trong các tiểu thuyết truyện ngắn của NMC, Anh Đức, Nguyên Ngọc (đất nước đứng lên, Rừng xà nu) Nhân vật trung tâm là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang.

+ Đề tài CNXH: đề cao cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc với nhân vật TT là hình ảnh con người mới với những khát vọng lớn lao những phẩm chất tốt đẹp như : “Tầm nhìn xa”, “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, “Bão biển” – Chu Văn, “Cái sân gạch”- Đào Vũ, “Cỏ non”- Hồ Phương, các bài thơcủa HTT, HC, CLV…

=> VH như một tấm gương phản chiếu đời sống văn học

b.Nền văn học hướng về đại chúng:

- Các nhà văn có sự thay đổi trong cách nhìn nhân dân từ đó hình thành ở họ 1 quan điểm mới về đất nước: nhân dân là người làm nên đất nước và đất nước này là đất nước của nhân dân:

+ Quần chúng hoàn toàn có khả năng làm cách mạng (Đôi mắt, Làng)

+ Quần chúng đã có sự đổi đời nhờ CM: Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ

- Để quần chúng hiểu và yêu thích, VH thời kỳ này phải tìm đến những hình thức nghệ thuật quen thuộc và thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng: ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu, dung lượng ngắn, chủ đề rõ ràng

- VH thời kỳ này đã phát hiện và bồi dưỡng được 1 đội ngũ sáng tác xuất thân từ đội ngũ lao động

- VH có tính nhân dân sâu sắc và nội dung nhân đạo mới:

+ Hướng về nhân dân trong xã hội cũ và niềm vui tự hào của họ về cuộc đời mới

+ Phát hiện ở nhân dân lao động nghèo khổ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng

+ Xây dựng hình tượng quần chúng cách mạng: anh bộ đội, em bé, chị công nhân…

c Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:

*Khuynh hướng sử thi: Xét trên 3 phương diện:

- Đề tài (phạm vi phản ánh): phản ánh vấn đề chung của cả cộng đồng, liên quan đến vận mệnh chung của dân tộc, mang ý nghĩa lịch sử lớn lao VD: VB, RXN, Những đứa con trong gia đình

- Nhân vật trung tâm :Nhân vật chính thường là những con người tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, kết tinh phẩm chất cao quý của cộng đồng, gắn bó số phận mình với số phận của đất nước VD: Tnú, Việt, Chiến…

- Nghệ thuật:

+ Hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp to lớn kỳ vĩ

+ Lời văn mang giọng điệu trang trọng, hào hùng, thiên về ngợi ca, ngưỡng mộ

* Cảm hứng lãng mạn:

- Cảm hứng lãng mạn là hướng đến cái đẹp mang tính lí tưởng tuyệt đối

- Lãng mạn cách mạng là trong gian khổ vẫn hướng đến ngày mai tươi sáng

VH thời kỳ này mang cảm hứng lãng mạn để động viên tinh thần nhân dân:

+ Ca ngợi lý tưởng, cuộc sống mới, con người mới: Bài ca mùa xuân 61, VCAP, Bên kia sống Đuống, Đất nước…

+ Cảm hứng lãng mạn đã tạo nên 1 sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua gian khổ, hướng

về tương lai với 1 niềm tin mãnh liệt:

Ôi đất anh hùng biết mấy mươi Chìm trong khói lửa vẫn xanh tươi Mưa bom, bão đạn, lòng thanh thản Nhạt muối, vơi cơm miệng vẫn cười

Rũ bùn đứng dậy sáng loà

Trang 4

Nguyễn Đình Thi => Cảm hứng lãng mạn gắn liền với khuynh hướng sử thi:

Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây

Câu 5: Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa VHVN từ 1975 đến hết TK XX:

- Cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc thắng lợi, mở ra cho dân tộc một kỉnguyên mới độc lập, tự do, thống nhất đất nước Tuy nhiên, đất nước còn gặp nhiều khó khăn do hậuquả nặng nề của chiến tranh cả về kinh tế, văn hóa, xã hội…

- Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới Từ năm 1986, nền kinh tế của nước ta từng bước chuyểnsang kinh tế thị trường, văn hóa cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa thế giới

- Đất nước bước vào công cuộc đổi mới đã ảnh hưởng tới sự phát triển của văn học, văn học phải đổimới cho phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và độc giả Văn học dịch, các phương tiện truyền thôngkhác cũng phát triển, tác động không nhỏ tới sự phát triển của văn học

Câu 6 Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu của VHVN từ 1975 đến hết TK XX:

a Các giai đoạn:

- 1975-1985: giai đoạn văn học chuyển tiếp trăn trở tìm kiếm đường đổi mới

- Từ 1986- hết TK XX: VH đổi mới mạnh mẽ sâu sắc, khá toàn diện và đạt được một số thành tựu

b Thành tựu:

- Nội dung: từ sau 1975, nhất là từ 1986 cùng với sự đổi mới của đất nước, văn học đã bước vào thời

kì đổi mới Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc, có tínhchất hướng nội, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp đời thường

- Nghệ thuật: cũng có nhiều tìm tòi đổi mới để phù hợp với thị hiếu của độc giả; đa dạng về đề tài,

chủ đề; phong phú mới mẻ về thủ pháp nghệ thuật

- Đội ngũ sáng tác: đề cao cá tính sáng tạo của các nhà văn, đổi mới cách nhìn về con người, đời sống,tình cảm của cá nhân, cộng đồng

- Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu:

+ Đề tài, chủ đề phong phú, mới mẻ, đa dạng

+ Thể loại:

• Thơ không còn tạo được sự hấp dẫn lôi cuốn như giai đoạn trước Tuy nhiên vẫn có những tácgiả tạo được sự chú ý của người đọc như Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, HữuThỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu… Hiện tượng nở rộ đáng chú ý là trường ca sau 1975

như Những người đi biển (Thanh Thảo); Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh); Trường ca sư đoàn (Nguyễn Đức Mậu)

• Văn xuôi: khởi sắc hơn thơ ca, nhạy cảm với những vấn đề đời sống, thực sự muốn đổi mới về

tư duy, cách nhìn hiện thực và bắt đầu chú ý tới sự thu hút với người đọc: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh); Đất trước biển, Cù Lao Chàm (Nguyễn Mạnh Tuấn); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê (Nguyễn Minh Châu); Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường); Bến không chồng (DƯơng Hướng).

• Phóng sự điều tra cũng phát triển mạnh và thu hút sự chú ý của người đọc

Kịch nói: từ sau 1975 cũng phát triển mạnh mẽ và gây được tiếng vâng như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ); mùa hè ở biển (Xuân Trình)…

• Lí luận nghiên cứu, phê bình văn học cũng có nhiều triển vọng

• Sự nở rộ ở thể loại trường ca: “Những người lính đi tới biển”(Thanh Thảo); “Đất nước hìnhtia chớp” (Trần Mạnh Hảo)…

+ Từ năm 1986 văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, văn học gắn bó hơn, cập nhật hơn những vấn đề của đời sống hàng ngày: “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu); Bút kí

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường); hồi kí “Cát bụi chân ai” (Tô Hoài).

=> Tóm lại, nền kinh tế thị trường đã có tác động tích cực đối với văn học, kích thích các tài năng sángtác, đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi nhiều mặt của độc giả Nhưng cũng có không ít những tiêu cực khi một

bộ phận của giới viết văn, làm báo chạy theo thị hiếu tầm thường, biến sáng tác thành thứ hàng hóa đểcâu khách, nội dung thiếu lành mạnh

Trang 5

NGUYỄN ÁI QUỐC- HỒ CHÍ MINH

Câu 7: Quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh :

HCM là nhà văn- chiến sĩ Đặc điểm này ảnh hưởng đến quan điểm nghệ thuật của Người:

a Người xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả của sự

nghiệp Cách mạng Nhà văn cũng là chiến sĩ góp phần đắc lực vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển

xã hội

- Quan điểm nghệ thuật này được thể hiện trong : Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”:

Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió trăng hoa tuyết núi sông Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong

Bài thơ có ý nghĩa như 1 tuyên ngôn:

+ Thơ ngày trước nói nhiều đến thiên nhiên, và viết thật hay thật hấp dẫn về vẻ đẹp thiên nhiên Nhưng chính vì vậy mà không quan tâm đầy đủ, không chú ý tới đời sống của con người

+ Còn thơ ca thời đại mới – thời đại CMVS thì thơ ca cần phải có nội dung mới mẻ, nội dung phải thể hiện được tinh thần tranh đấu góp phần tiêu diệt cái xấu, cái ác để xây dựng xã hội công bằngdân chủ văn minh Muốn thế thì người làm thơ làm văn không thể “khép cửa phòng văn hì hục viết”

mà phải thực sự là người chiến sĩ CM trên mặt trận văn hoá tư tưởng Người đã xác định vị trí trách nhiệm lớn lao của người cầm bút trong cuộc đấu tranh CM Cho nên chất thép là xu hướng cách mạng,

là tiến bộ về tư tưởng tình cảm và là nguồn cảm hứng đấu tranh tích cực của thơ ca

- Quan điểm văn chương là vũ khí nhà văn là chiến sĩ sau này trong cuộc kháng chiến chống P, qua thư

gửi các hoạ sĩ (1951) Bác lại khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng là 1 mặt trận, anh chị em phải là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

+ Nghĩa là: văn hoá nghệ thuật là 1 thứ thứ vũ khí trong nhiều thứ vũ khí chúng ta đang sử dụng

để đánh thực dân P xâm lược Muốn thế người nghệ sĩ phải là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng

Vì vậy, mà văn học phải là vũ khí và nhà văn là chiến sĩ

=> Quan điểm nghệ thuật của HCM là sự tiếp nối và phát triển những những quan điểm nghệ thuật tiến

bộ của cha ông trong quá khứ Đó là quan điểm văn chương chuyên chú ở con người mà Nguyễn Siêu

đã từng đề cao: “Văn chương có 2 loại đáng thờ và không đáng thờ: loại đáng thờ là văn chương chuyến chú ở con người, loại không đáng thờ là văn chương chuyến chú ở văn chương”.

Đây còn là quan điểm tiếp nối từ Nguyễn Đình Chiểu :

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Quan điểm nghệ thuật của HCM được những chiến sĩ CM vận dụng với tinh thần:

Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền

b Người luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật và tính dân tộc:

- Nội dung: Phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn những đề tài phong phú của hiện thực

-> Tính chân thật trong văn chương là vấn đề quan tâm đến cái gốc của thơ ca xưa nay

- Hình thức: phải giản dị, trong sáng hấp dẫn, ngôn từ chọn lọc, tránh lối viết cầu kỳ, xa lạ, nặng nề

Văn chương phải thể hiện được tính dân tộc, tính nhân dân, được nhân dân yêu thích

c Người cho rằng văn chương trong thời đại cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tựơng phục vụ:

- Muốn văn chương phát huy tác dụng thì phải chú ý đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận tác phẩm.Viết không đúng không phù hợp đối tượng sẽ làm giảm tác dụng và khả năng to lớn của văn chương

Vì thế trước khi viết, nhà văn phải xác định rõ đối tượng và mục đích sáng tác (Viết cho ai? Viết

để làm gì?) rồi đến nội dung và hình thức nghệ thuật (Viết cái gì? Viết như thế nào?)

Nhìn vào cách viết của Bác có thể thấy chính đối tượng và mục đích sẽ quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm Đó đã trở thành kinh nghiệm viết cho các văn nghệ sĩ

Trang 6

- D/c: Quan điểm nghệ thuật và cách nói trên của bác được thể hiện trong các sáng tác của Người:

+ Truyện và kí: viết trong thời kỳ hoạt động CM ở P, đối tượng chủ yếu là người dân P nên viết bằng tiếng P theo lối văn xuôi hiện đại phương Tây Cũng chính vì viết cho người P nên tác giả tránh lối thoá mạ trực tiếp mà dùng hình thức châm biếm nhẹ nhàng, hỏm hỉnh nhưng sâu cay

+ Thơ ca tuyên truyền CM đối tượng chủ yếu là quần chúng nhân dân nên viết bằng Tiếng Việt, lời văn giản dị dễ hiểu Những bài thơ tuyên truyền CM của bác gần với ca dao, hò, vè

Câu 8: Di sản văn họccủa Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh :

NAQ- HCM không chỉ là lãnh tụ thiên tài của dân tộc VN mà còn nhà thơ nhà văn hoá lớn Trong di sản tinh thần Người để lại bên cạnh sự nghiệp chính trị là sự nghiệp thơ văn lớn lao về tầm vóc, đa dạng về thể loại, đặc sắc về phong cách Tác phẩm của Người được viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Việt với 3 loại hình nổi bật: văn chính luận, truyện và kí, thơ ca

a Văn chính luận:

- Tác phẩm tiêu biểu:

+ Từ 1920-1925: Người viết nhiều bài văn chính luận đăng trên các báo “Người cùng khổ”,

“Nhân đạo”, “Đời sống thợ thuyền”, đặc biệt là thiên phóng sự “Bản án chế độ thực dân Pháp”…

mang bút danh Nguyễn ái Quốc Những tác phẩm này thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ, lên án nhữngchính sách tàn bạo của chế độ thực dân Pháp đối với các nước thuộc địa, kêu gọi những người nô lệ bị

áp bức liên hiệp lại, đoàn kết đấu tranh

+1945 -1969: Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có

gì quý hơn độc lập tự do (1966), Di chúc (1969) Đây là những văn kiện trọng đại được người viếttrong giờ phút đầy thử thách, cam go của dân tộc Đó là những áng văn chính luận hào hùng, đanh thépđối với kẻ thù; vừa hào sảng, thiết tha làm rung động hàng triệu trái tim con người Việt Nam Nó có tácdụng cổ vũ, động viên, thôi thúc tinh thần yêu nước của toàn dân tộc đứng lên đánh thắng kẻ thù xâmlược Nó được kết tinh từ trí tuệ sáng suốt, từ tấm lòng yêu nước nồng nàn của một trái tim vĩ đại– HồChí Minh

- Mục đích:

+ nhằm tấn công trực diện với kẻ thù.

+ phục vụ tuyên truyền các nhiệm vụ của đất nước, thể hiện những nhiệm vụ Cách mạng qua các chặng đường lịch sử

- Nghệ thuật:

+ Tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn hoá

+ Lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực

+ Vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biểu hiện

=> Những áng văn chính luận tiêu biểu của HCM cho thấy tác giả viết không chỉ bằng lý trí sáng suốt,trí tuệ sắc sảo mà còn bằng cả tấm lòng yêu, ghét sâu sắc, mãnh liệt, nồng nàn

b Truyện và kí:

- Các tác phẩm tiêu biểu: Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói

(1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925)…

-Mục đích: Truyện và kí viết ra cũng nhằm tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo, xảo trá của bọn

thực dân và phong kiến, tay sai đối với nhân dân lao động các nước thuộc địa, đồng thời đề cao nhữngtấm gương yêu nước và cách mạng

- Nghệ thuật:

+ Viết cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo

+ Mỗi truyện đều có 1 tư tưởng riêng, hấp dẫn

+ Chất trí tuệ toả sáng trong từng hình tượng, tính hiện đại cũng là nét đặc sắc trong truyện ngắn của Người

=> Qua những thiên truyện này, người đọc nhận thấy đây là cây bút tài năng với một vốn văn hóa sâurộng, một trí tuệ sắc sảo và một trái tim tràn đầy tình yêu nước và cách mạng

c Thơ ca: Gồm 3 tập thơ Là mảng sáng tác số lượng lớn

- Tác phẩm tiêu biểu : Là mảng sáng tác nổi bật của Hồ Chí Minh Thơ của Người khoảng trên 250

bài (134 bài – Nhật kí trong tù, 84 bài thơ tiếng Việt, 36 bài thơ chữ Hán) Người sáng tác trong cả haithời kì trước và sau Cách mạng tháng Tám

Trang 7

- Nội dung : Tên tuổi của Người gắn liền với tập thơ chữ Hán Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù)

được viết trong khoảng thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ ở Trung Quốc từ mùa thunăm 1942 đến mùa thu năm 1943 Tập thơ đã tái hiện một cách chân thật, chi tiết bộ mặt tàn bạo củachế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch và xã hội Trung Quốc những năm 1942 – 1943 với ý nghĩa phê phánsâu sắc Tuy nhiên, cuốn nhất kí bằng thơ chủ yếu đã ghi lại cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của tác giả,phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của Người Có thể coi cuốn nhật kí là bức chân dung tự họacủa Hồ Chí Minh Đó là một con người có nghị lực phi thường, tâm hồn luôn khát khao hướng về Tổquốc; một tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên và con người; một phong thái ung dung, tự tại, lạc

quan, yêu đời trước mọi khó khăn, gian khổ Người đọc tìm thấy qua tập thơ “một tâm hồn vĩ đại của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng” (Viên Ưng – Trung Quốc).

- Nghệ thuật:

+ thể thơ tứ tuyệt vừa cô đúc, vừa linh hoạt tài hoa

+ Thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh thể hiện tấm lòng yêu nước của vị lãnh tụ và ngợi ca sức mạnh quân dân trong kháng chiến

+ Thơ chữ Hán viết về đề tài kháng chiến, tình bạn, tâm tình riêng

Câu 9 Phong cách nghệ thuậtcủa Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh :

Phong cách văn chương Hồ Chí Minh đa dạng mà thống nhất, kết hợp được sâu sắc từ bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, tư tưởng và nghệ thuật, truyền thống và hiện đại Một loại hình văn học đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững

1 Văn chính luận: Mang cốt cách, đặc điểm của văn chính luận hiện đại của giai cấp vô sản: ngắn

gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ ,tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn hoá, gắn lý luận với thực tiễn, giàu

tính luận chiến và đa dạng về bút pháp (vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biểu hiện): văn

chính luận mà vẫn giàu tình cảm, giàu hình ảnh (TNĐL), giọng văn đa dạng: khi ôn tồn thấu tình đạt

lý, khi đanh thép mạnh mẽ hùng hồn (TNĐL)

2 Truyện và ký: hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén Ngòi

bút chủ động và sáng tạo, khi là lối kể chân thực, tạo không khí gần gũi; khi là giọng điệu sắc sảo, châm biếm thâm thuý sâu cay

-> Phạm Huy Thông nhận xét: “Văn tiếng Pháp của NAQ có đặc điểm nổi bật là dí dỏm, hài hước Điều đó không ngăn Người đã viết viết lên những lời thắm thiết trữ tình khi xúc động”

3 Thơ ca: Phong cách đa dạng

+Thơ nghệ thuật: hàm súc, uyên thâm, ý tại ngôn ngoại, đạt chuẩn mực cao của nghệ thuật

thơ ca phương Đông: Nhật ký trong tù, Thơ chúc tết Cú sự hũa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển vàbút pháp hiện đại; giữa chất trữ tỡnh và chất thộp; giữa sự trong sỏng giản dị và sự hàm sỳc, sõu sắc

=> Nhà phê bình người Pháp Rô-giê Đơ-nuy nhận xét: “Thơ Người nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, có âm thanh trầm lặng, không phô diễn mà như cố khép lại trong đường nét để cho người đọc tự thưởng thức lấy cái phần ý ở ngoài lời”.

+ Thơ tuyên truyền cách mạng: lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắc dân gian hiện

đại, vận dung linh hoạt nhiều thể loại và phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ Cách mạng

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

- Hồ Chí Câu 10 Hoàn cảnh sáng tác của "Tuyên ngôn độc lập":

Minh Từ 14Minh 8 Minh > 28Minh 8 dưới sự lãnh đạo của tổng bộ VM mà đứng đầu là HCM cuộc tổng khởi nghĩa CMT8của nhân dân ta giành được thắng lợi trong cả nước 26-8 Người dời căn cứ địa VB về thủ đô HN đếncăn nhà số 48- Hàng Ngang, tại đây Bác đã chủ trì 1 số cuộc họp quan trọng của thường vụ TW Đảng

và viết “TNĐL” chuẩn bị cho sự ra mắt của chính phủ lâm thời 2-9-1945 Bác đã đọc bản “Tuyên ngônđộc lập” tại Quảng trường Ba Đình khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa

- Khi đó, chính quyền Cách mạng còn vô cùng non trẻ, thành tựu của Cách mạng còn nguy cơ bị pháhoại bởi các thế lực thực dân- đế quốc

+ Phía Bắc: 20 vạn quân Tưởng- tay sai đế quốc Mỹ đang ngấp nghé ở biên giới

+ Phía Nam: Quân đội Anh, núp sau là quân viễn chinh Pháp đang tiến vào với danh nghĩa là giảigiáp quân đội Nhật - Quân đồng minh có thể nhân nhượng cho Pháp trở lại Đông Dương

+ Bản thân Pháp đang tung ra luận điệu: Việt Nam là thuộc địa của Pháp thì Pháp trở lại ĐôngDương là đương nhiên

Trang 8

=> Bản tuyên ngôn độc lập ra đời trong thời điểm lịch sử trọng đại và đặc biệt đó.

Câu 11 ý nghĩa/ giá trị "Tuyên ngôn độc lập"

- ý nghĩa lịch sử: là văn kiện lịch sử vĩ đại, khai sinh ra nước VNDCCH, chấm dứt vĩnh viễn 80 năm

đô hộ của thực dân Pháp, ngàn năm chế độ phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc

- Đối tượng: quốc dân đồng bào, nhân dân tiến bộ thế giới, đặc biệt là bọn thù địch và thực dân đế

quốc đáng mang dã tâm xâm lược lại nước ta

- Mục đích:

+ Bản Tuyên ngôn tuyên bố độc lập, tự do, chủ quyền của một đất nước trước đồng bào và nhândân trong nước

+ Bản tuyên ngôn còn hướng tới nhân dân toàn thế giới đặc biệt là những đối tượng thù địch và

cơ hội quốc tế đang mang dã tâm nô dịch nước ta Nhà cầm quyền Pháp lúc đó đã tuyên bố: ĐôngDương là thuộc địa của Pháp bị quân Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh thì ĐôngDương đương nhiên phải thuộc quyền “bảo hộ” của Pháp Mục đích sâu xa của bản Tuyên ngôn cươngquyết đập tan luận điệu này

+ Tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới

Câu 12: Phân tích phần 1 cuả "Tuyên ngôn độc lập"

A Mở bài:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc mà Người còn là nhà thơ,

nhà văn lớn của dân tộc Bác đã để lại một sự nghiệp văn học vô cùng đồ sộ, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung và độc đáo về phong cách Sự nghiệp văn học ấy đã chứng minh tài năng nhiềumặt của Bác như sáng tác truyện và kí theo bút pháp hiện đại, thơ tuyên truyền cách mạng và đặc biệt

là nghệ thuật viết văn chính luận đã đạt đến trình độ mẫu mực

- Văn chính luận nói chung và “TNĐL” nói riêng thể hiện 1 tư duy sắc sảo, giàu tính luận chiến

“TNĐL” là văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn, vừa là tác phẩm văn học chính luận có giá trị,

là áng văn yêu nước lớn của thời đại đồng thời là tác phẩm sáng ngời tư tưởng nhân văn

B Thân bài:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi văn học là sự nghiệp chính nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã ý thức được vai trò quan trọng của văn học và coi nó như một thứ vũ khí phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Người Tuyên ngôn đã được Bác sáng tác vì mục đích chính trị trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt: cuộc cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỉ nguyênmới, kì nguyên độc lập tự do cho dân tộc, Bác đã viết Tuyên ngôn độc lập không nhũng nhằm tuyên bốvới nhân dân thế giới về việc nước ta đã giành được độc lập mà còn ngầm ngăn chặn âm mưu tái chiếm của kẻ thù Để đạt được mục đích ấy, Bác đã vận dụng những lập luận vô cùng sắc bén ngay từ phần mở đầu

Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn: Tác giả khẳng định quyền độc lập dân tộc trên cơ sở pháp

lý, trên cơ sở lẽ phải không thể chối cãi

Áng hùng văn của thời đại cách mạng vô sản VN được mở đầu bằng một câu văn ngắn gọn, giọng văn tha thiết: "Hỡi đồng bào cả nước!" Xác định đối tượng trưc tiếp mà bản tuyên ngôn

hướng tới là quốc dân đồng bào Từ “đồng bào” gợi lên mối quan hệ ruột thịt, cùng chung huyết thốnggiữa bác với nhân dân ta, cho thấy tình đoàn kết thân ái của dân tộc Câu văn tạo được tâm thế giaotiếp gần gũi, cởi mở giữa người nói- một vị lãnh tụ với người nghe- toàn thể nhân dân mà vẫn giữđược không khí trang nghiêm, trang trọng cần thiết của buổi lễ mừng độc lập

Sau đó, Bác trích dẫn nguyên văn một đoạn trong “Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mỹ và

“Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp Ta thấy đây là cách đặt vấn đề độc đáo ,

thú vị bởi Người không ôn lại những trang sử vẻ vang của dân tộc mà đã trích dẫn những câu nói nổitiếng trong 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ Nội dung của 2 bản tuyên ngôn này hướng về quyềncon người:

Mĩ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá đã cho họ những quyền không

ai có thể chối cãi được Trong những quyền ấy, có quyền sống quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”.

Trang 9

Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn được tự do bình đẳng vè quyền lợi….”

Sự sắp xếp trình tự trích dẫn 2 bản tuyên ngôn không chỉ vì lí do thời gian mà chủ yếu bởiNgười viết đã hiểu sâu sắc mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa quyền bình đẳng của các dân tộc vớiquyền tự do, hạnh phúc của con người, trong đó có quyền bình đẳng của dân tộc mới có quyền tự do,hạnh phúc của cá nhân Các lập luận như vậy là rất khoa học vì thế mới có tính thuyết phục cao Điều

đó chứng tỏ Người rất sắc xảo và trí tuệ trong cuộc đối thoại lịch sử này bởi những câu nói này có 1giá trị vĩnh hằng, đã được cả loài người tiến bộ công nhận, đánh dấu buổi bình minh của cuộc CM TS,lật đổ chế độ phong kiến đã có công lao nêu thành nguyên tắc pháp lý, quyền cơ bản của con người.Bác đã khẳng định cơ sở pháp lý về nhân quyền

Từ những lẽ phải về quyền con người, Bác đã suy rộng ra về quyền dân tộc của nước VN:

“Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền

tự do” Với cách suy rộng ấy Bác không chỉ khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc VN mà còn

khẳng định quyền tự do của các dân tộc đang bị thuộc địa trên toàn thế giới: tất cả các dân tộc đều cóquyền quyết định vận mệnh của mình Đây là một lập luận có ý nghĩa sáng tạo, phản ánh sự thức tỉnhcủa các dân tộc thuộc địa đứng lên đòi độc lập, tự do, được nhân loại khâm phục, ngưỡng mộ tôn vinh:

Người đâu phải chỉ yêu đất mẹ Nước VN xinh đẹp kiên cường Người sống vì Á - Phi non trẻ Lửa tình yêu nối những đại dương.

Chính vì vậy 1 nhà văn hoá nước ngoài trong cuốn “HCM trong lòng nhân dân TG” đã viết: “cống hiến lớn nhất của HCM là ở chỗ Người đã phát triển quyền của con người thành quyền lợi dân tộc” Như vậy tất cả các dân tộc đều có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình

Cách lập luận của tác giả vừa kiên quyết vừa khéo léo vì:

Kiên quyết sắc sảo: Khi dẫn lời bản tuyên ngôn của Pháp và của Mĩ làm cơ sở để bảo vệ cho

quyền độc lập của dân tộc mình, người viết đã ngầm cảnh báo nếu Pháp và Mĩ nếu cố tình xâm lược việt Nam thì có nghĩa là họ đi ngược lại với truyền thống đạo lý của cha ông họ, đã làm vấy bẩn lá cờ bình đẳng tự do bác ái mà cha ông họ đã đứng cắm lên đỉnh vinh quang Chính họ đã đi trái với cơ sở pháp lí đã được cả loài người công nhận

Khéo léo: Sử dụng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông"- dùng lời lẽ của đối phương để bác bỏ

đối phương Ở đây tác giả đã dùng cây gậy độc lập để đập vào lưng những kẻ đi xâm lược mà miệng lại rêu rao: tự do, bình đẳng, bác ái.Khi dẫn lời bản tuyên ngôn của P và M Bác đã tỏ ra rất khách quanrất trân trọng những danh ngôn, những chân lí cho dù nó là của P và M Cách trích dẫn này đã tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận tiến bộ ở P và M, chứng tỏ người viết không hề có sự nhầm lẫn giữa thực dân Pháp, ĐQ mĩ với những người P và M tiến bộ.Cách trích dẫn ấy cũng đã đặt cuộc cách mạng của ta ngang hàng với các cuộc cách mạng có ý nghĩa thời đại có nghĩa là khẳng định tư thế đầy tự hàocủa dân tộc Cũng như xưa LTK đã đưa nước VN lên ngôi hoàng đế, ngang hàng với TRQ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Nguyễn Trãi đã đặt lịch sử nước ta cân xứng với TRQ:

giải phóng thuộc địa khỏi ách thực dân trên phạm vi toàn TG (Giành độc lập dân tộc bởi Mĩ là mảnh

đất 13 quốc gia Châu âu đến đây khai hoá Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhưng lại chịu sự thống trị của thực dân Anh 13 nước đã nổi dậy đấu tranh giành độc lập , lật đổ chế độ thực dân giành độc lập-

nữ thần tự do là biểu tượng của đất nước này) và của Pháp (đánh đổ chế độ phong kiến, lập chế độ

dân chủ bởi đó là cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế của Pháp bảo thủ, cổ hủ,lạc hậu và trì trệ Nhân dân chịu ảnh hưởng của luồng triết học ánh sáng đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế)

Sáng tạo ở chỗ: Người nâng vấn đề nhân quyền, dân quyền lên tầm vóc cao hơn, rộng hơn Từ

quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc cá nhân lên thành vấn đề quyền của các dân tộc: “Suy rộng ra…Tất

cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng

Trang 10

và quyền tự do…” Cụm từ “suy rộng ra” thật thông minh, chặt chẽ, đanh thép như: “một phát súng lệnh khởi đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa thế giới” (Nguyễn Đăng Mạnh), là đòn đánh phủ

đầu vào âm mưu tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của các thế lực vào nền độc lập, tự chủ của ViệtNam; đồng thời tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế

Cách nêu vấn đề sắc sảo, mang tính khách quan, sức thuyết phục và tính chiến đấu mạnh mẽ chođoạn văn mở đầu và hình thành vững chắc cơ sở pháp lý cho bản tuyên ngôn Có thể thấy Người đãbắn phát súng lệnh, đã thổi bùng lên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, đồngthời tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của nhân đân tiến bộ trên TG đối với nền độc lập của VN

C Kết bài:

Phần mở đầu TNDL , HCM đã đặt cơ sở chính nghĩa, nền tảng pháp lí vững chắc cho toàn bộ tác

phẩm Đoạn văn mở đầu này vừa thể hiện sự khéo léo, thái đọ kiên quyết trong cuộc đấu tranh chính

trị, ngoại giao vừa bộc lộ tình cảm yêu nước và niềm tự hào dân tộc Nó chứng tỏ sự sáng suốt, trí tuệ

và bản lĩnh của Bác Phần mở đầu cũng khẳng định tài năng viết văn chính luận của HCM: Lập luận

khoa học,dẫn chứng không ai chối cãi được, lí lẽ sắc sảo, giọng văn linh hoạt Những đặc sắc nghệthuật này đã góp phần làm cho“TNĐL” trở thành áng thiên cổ hùng văn thứ 2 của dân tộc sau

“BNĐC” của NTrãi Bản TNĐL với những dòng mở đầu đã cho thấy không chỉ tài năng lớn của ngòibút chính luận, qua nghệ thuật lập luận, mà còn cho thấy tầm nhìn bao quát lịch sử dân tộc cũng nhưđời sống nhân loại ở HCM Nếu không phải là người từng thấu hiểu cuộc sống của trên một nửa nhânloại đau thương trên khắp các châu lục qua suốt 30 năm bôn ba thì khó có thể có được những khái quátnhư chân lý đi trước thời đại

Câu 13: Phân tích phần 2 cuả "Tuyên ngôn độc lập"

A Mở bài:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc mà Người còn là nhà thơ,

nhà văn lớn của dân tộc Bác đã để lại một sự nghiệp văn học vô cùng đồ sộ, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung và độc đáo về phong cách Sự nghiệp văn học ấy đã chứng minh tài năng nhiềumặt của Bác như sáng tác truyện và kí theo bút pháp hiện đại, thơ tuyên truyền cách mạng và đặc biệt

là nghệ thuật viết văn chính luận đã đạt đến trình độ mẫu mực

- Văn chính luận nói chung và “TNĐL” nói riêng thể hiện 1 tư duy sắc sảo, giàu tính luận chiến

“TNĐL” là văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn, vừa là tác phẩm văn học chính luận có giá trị,

là áng văn yêu nước lớn của thời đại đồng thời là tác phẩm sáng ngời tư tưởng nhân văn ĐIều đó thể hiện roxqua phần 2 của tác phẩm

B Thân bài:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi văn học là sự nghiệp chính nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã ý thức được vai trò quan trọng của văn học và coi nó như một thứ vũ khí phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Người Tuyên ngôn đã được Bác sáng tác vì mục đích chính trị trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt: cuộc cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỉ nguyênmới, kì nguyên độc lập tự do cho dân tộc, Bác đã viết Tuyên ngôn độc lập không nhũng nhằm tuyên bốvới nhân dân thế giới về việc nước ta đã giành được độc lập mà còn ngầm ngăn chặn âm mưu tái chiếm của kẻ thù Để đạt được mục đích ấy, Bác đã vận dụng những lập luận vô cùng sắc bén ngay từ

phần mở đầu Bác trích dẫn nguyên văn một đoạn trong “Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mỹ và

“Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp Ta thấy đây là cách đặt vấn đề độc đáo ,

thú vị bởi Người không ôn lại những trang sử vẻ vang của dân tộc mà đã trích dẫn những câu nói nổi tiếng trong 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ

Nội dung của 2 bản tuyên ngôn này hướng về quyền con người Từ những lẽ phải về quyền con người, Bác đã suy rộng ra về quyền dân tộc của nước VN Cách lập luận của tác giả vừa kiên quyết

vừa khéo léo vì:Kiên quyết sắc sảo: Khi dẫn lời bản tuyên ngôn của Pháp và của Mĩ làm cơ sở để bảo

vệ cho quyền độc lập của dân tộc mình, người viết đã ngầm cảnh báo nếu Pháp và Mĩ nếu cố tình xâm lược việt Nam thì có nghĩa là họ đi ngược lại với truyền thống đạo lý của cha ông họ, đã làm vấy bẩn

lá cờ bình đẳng tự do bác ái mà cha ông họ đã đứng cắm lên đỉnh vinh quang Chính họ đã đi trái với

cơ sở pháp lí đã được cả loài người công nhận Khéo léo: Sử dụng chiến thuật “gậy ông đập lưng

ông"- dùng lời lẽ của đối phương để bác bỏ đối phương Ở đây tác giả đã dùng cây gậy độc lập để đập vào lưng những kẻ đi xâm lược mà miệng lại rêu rao: tự do, bình đẳng, bác ái.Khi dẫn lời bản tuyên ngôn của P và M Bác đã tỏ ra rất khách quan rất trân trọng những danh ngôn, những chân lí cho dù nó

là của P và M Cách trích dẫn này đã tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận tiến bộ ở P và M, chứng tỏ

Trang 11

người viết không hề có sự nhầm lẫn giữa thực dân Pháp, ĐQ mĩ với những người P và M tiến bộ.Cách trích dẫn ấy cũng đã đặt cuộc cách mạng của ta ngang hàng với các cuộc cách mạng có ý nghĩa thời đại

có nghĩa là khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc Cũng như xưa LTK đã đưa nước VN lên ngôi hoàng đế, ngang hàng với TRQuốc:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Nguyễn Trãi đã đặt lịch sử nước ta cân xứng với TRQ:

Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn: Tác giả khẳng định tư tưởng yêu nước độc lập trên cơ

sở thực tiễn:

Có thể nói “TNĐL” HCM đã tạo ra 1 cuôc đối thoại lịch sử ý nghĩa giữa nhân dân VN với nhân dân tiến bộ TG Bởi lẽ HCM viết bản tuyên ngôn này không chỉ hướng đến đồng bào cả cá mà còn hướng đến nhân dân tiến bộ TG, bọ TD ĐQ và đặc biệt là thực dân P mang dã tâm xâm lước nước ta lần 2 Vì vậy lời văn khi uyển chuyển, khi đanh thép, hào hùng kết cấu mạch lạc rõ ràng

Nếu như ở phần mở đầu bản tuyên ngôn, Bác đã trích dẫn 2 bản tuyên ngôn của P và M để khẳng định quyền bình đẳng các dân tộc thì ở phần 2 này Người đưa ra những cơ sở thực tế, tố cáo tội

ác của thực dân P, khẳng định P không còn quyền hạn gì trên đất nước VN Người đã đối chiếu những nguyên lý chung đó với tình hình thực tế ở Việt Nam để phơi bày trước dư luận thế giới về bộ mặt tàn

ác và xảo trá của thực dân Pháp Chúng luôn tung ra luận điệu là “khai hoá” “bảo hộ” nay quay trở lại nắm quyền thay Fx Nhật là điều đương nhiên

Bằng cách lập luận theo lối phản đề , HCM đập tan luận điệu bịp bợm của thực dân P giữa 1 bên

là lời lẽ cao thượng “khai hoá”, “bảo hộ” với 1 bên là hành động của 1 kẻ tham lam, xâm lược “Thế

mà hơn 80 năm nay”, chỉ 1 câu nói chuyển tiếp Người đã mở ra 1 nội dung hoàn toàn tương phản đối lập với những gì là văn minh, nhân đạo mà kẻ thù đã nêu ở 2 bản tuyên ngôn của chúng Câu văn cũng

là lời tố cáo nghiêm khắc buộc kẻ thù phải phơi bày bộ mặt tàn ác trước dư luận TG

Tội ác của thực dân Pháp: cụ thể, chính xác, tiêu biểu ở tất cả các lĩnh vực.Để chuẩn bị cho

cuộc xâm lược lần thứ 2, thực dân P đã đưa ra 1 chiêu bài rất dễ đánh lừa dư luận quốc tế: P có công

“khai hoá” DD, đây vốn là đất thuộc địa của P bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng đồng minh thì Pđương nhiên có quyền quay trở lại DD thay thế quân đội Nhật.Tác giả đã lập bản cáo trạng đanh théptội ác của thực dân Pháp trước công luận quốc tế và toàn thể nhân dân VN

Pháp kể công "khai hóa"(đem lại văn minh ánh sáng) P lợi dụng lá cờ “Tự do- bình đẳng- bác

ái” đến “cướp đất nước ta, áp bức bóc lột đồng bào ta” bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng của chúng qua những từ “thế mà”, “lợi dụng”, “trái hẳn”: Về chính trị: tuyệt đối

không cho dân ta 1 chút quyền tự do dân chủ nào, lập nhà tù nhiều hơn trường học, chém giết nhữngngười yêu nước thương nòi Về kinh tế: giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, không chocác nhà tư sản của ta ngóc đầu lên Về văn hóa: chính sách ngu dân, đầu độc dân ta bằng rượu cồn vàthuốc phiện…Tội ác của TDP cùng với tội ác của fx Nhật đã làm nên thảm hoạ nạn đói 1945 Sự vônhân đạo của chúng cùng những thứ thuế vô lý đã được cụ Phan tố cáo:

Trăm thứ thuế thứ gì cũng ngặt Thắt chặt dần như thắt chỉ se Miền kẻ chợ, phía nhà quê Của di có lối, của về thì không

Dưới sự bóc lột của thực dân P, nhân dân ta ngày càng cơ cực, lầm than năm 1945 đã có 2 triệu đồngbào chết đói, nạn đói khủng khiếp ấy còn in dấu trong thơ:

Con đói lả ôm lưng mẹ khóc

Mẹ địu con đấu thóc cầm hơi

Trang 12

Kiếp người cơm vãi cơn rơi Biết đâu nèo đất phương trời mà đi

Tố Hữu

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa

Pháp kể công "bảo hộ", bản tuyên ngôn kể tội hai lần chúng dâng Đông Dương cho Nhật.Khi N vào xâm lược Đông Dương chúng đã mở cửa nước ta cho N, khi N đảo chính P thì hoặc

bỏ chạy hoặc đầu hàng, trước khi bỏ chạy chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở CaoBằng, Yên Bái Bản tuyên ngôn nói rõ: Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập từ tay Nhật chứ khôngphải từ tay Pháp Bằng những lí lẽ giàu sức thuyết phục, tác giả đã chỉ rõ: P chẳng những không bảo

hộ được VN mà chỉ trong 5 năm chúng đã bán nước ta 2 lần cho Nhật Với việc để Nhật vào VN, P đãkhiến nhân dân VN phải chịu thêm 1 tầng áp bức, đẩy cuộc sống của người dân VN vào tình trạng đaukhổ chưa từng có Hình ảnh đó đã lột tả được tội ác cùng với bản chất đớn hèn , nhu nhược tàn bạo củathực dân P

Pháp nhân danh Đồng minh đã chiến thắng pháp xít, giành lại Đông Dương, bản tuyên ngôn

kể tội chúng phản bội đồng minh: đầu hàng Nhật, khủng bố Cách mạng Việt Nam đánh Nhật cứunước

Nghệ thuật: Ở đoạn tố cáo tội ác của TDP, tác giả đã sử dụng hàng loạt các câu văn ngắn, cùng

1 kiểu kết cấu câu, câu văn nào cũng mở đầu bằng từ “chúng” tạo nên sự trùng điệp, khiến câu vănvang lên mạnh mẽ, dứt khoát vạch trần những tội ác của kẻ thù Những câu văn ấy còn như những lờikết tội trong 1 phiên toà Bọn TDP kẻ đã cai trị ngót 100 năm giờ đây đã trở thành 1 tội nhân, và nhândân VN - những con người bị đoạ đày áp bức giờ đây đã đứng lên trong tư thế của 1 quan toà Nhữngcâu văn tố cáo tội ác của giặc không chỉ đanh thép mà còn truyền cảm Tác giả viết: “Chúng tắm cáccuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu” đã vừa diễn tả được bộ mặt quỷ sứ và khát máu của kẻ thù vừakhắc hoạ được tình cảnh thê thảm của người dân mất nước đang phải quằn quại trong bể máu đau

thương.Điệp kiểu câu: “14 câu, câu nào cũng có chữ “chúng” mở đầu nặng như búa tạ” (Chế Lan

Viên), kết hợp với ngôn từ giản dị nhưng chọn lọc “quỳ gối”, “rước N”, HCM không chỉ kết tội P màcòn khẳng định P không có quyền nói chuyện bảo hộ Đông Dương

Với lí lẽ đó tác giả đã khẳng định Pháp không còn vị trí vai trò trên đất nước Việt Nam, bảntuyên ngôn đã xoá bỏ mọi vai trò vị trí đặc quyền đặc lợi của Pháp

Thực tiễn thứ 2: Nhân dân VN đã giành được độc lập.

Bản tuyên ngôn không chỉ vạch trần tội ác của P mà còn phản ánh khát vọng độc lập tự do vàtinh thần nhân đạo, quá trình đấu tranh kiên cường anh dũng, nhân dân ta đã lập nên nước VNDCCH.Với các luận điểm luận cứ, với cách lập luận chặt chẽ khoa học, HCM chứng tỏ nhân dân đã phát huytruyền thống nhân ái kẻ thù càng hung bạo, man rợ bao nhiêu thì chúng ta lại càng khoan dung vànhân ái bấy nhiêu Đối với kẻ thù với bàn tay nhuốm máu, những con người VN vẫn “giúp cho người Pchạy qua biên thuỳ, lại cứu cho người P ra khỏi nhà giam N, bảo vệ tính mạng và tài xản cho họ”.Những động từ “cứu”, “giúp”, “bảo vệ” gọi ra 3 tình thế bi thảm của P và cũng là 3 hành động caothượng của nhân dân ta Nhân dân có quyền hưởng tự do độc lập bởi trong thực tế nhân dân đã đứng

về phe đồng minh chống fxít Nhật Vì thế nhân dân VN có quyền được hưởng những thành quả màphe đồng minh mang lại.Trong thực tế nhân dân VN đã giành được tự do độc lập từ tay N chứ khôngphải từ tay P Để khẳng định điều này tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật loại suy (loại dần để đưađến kết luận):VN không còn là thuộc địa của P vì P đã bán cho Nhật VN không còn là thuộc địa củaNhật vì Nhật đã đầu hàng đồng minh.Nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật Vua Bảo đạithoái vị Việt Minh còn lật đổ chế độ phong kiến hàng nghìn năm để lập nên nước VNDCCH

Tác giả đã đưa ra “Sự thật là…” đứng đầu ở các câu văn với cách lập luận sắc sảo của B đã thểhiện thái độ của người dân VN, công khai bác bỏ luận điệu bịp bợm xảo trá của thực dân p trước TG.Ở

VN có 1 chính phủ lâm thời đại diện chân chính cho nhân dân VN Đây là một tổ chức chính nghĩa.Những chiến công mà dân tộc nào cũng có quyền kiêu hãnh và xứng đáng được dư luận quốc tế ủng

hộ Không chỉ là lí lẽ mà còn là hiện thực không thể chối cãi: Việt Nam đã thoát ly hẳn quan hệ vớiPháp, Pháp không có quyền gì nữa đối với Việt Nam

Nghệ thuật khẳng định:Tác giả chỉ sử dụng 1 câu văn ngắn gọn (9 chữ): “Pháp chạy, Nhật

hàng, vua Bảo Đại thoái vị” mà phản ánh được cả 1 gia đoạn lịch sử đầy biến động Nhân dân ta đãvùng lên đánh đổ cả 3 lực lượng: TD, fx, pk.Khi khẳng định nhân dân VN đã giành được độc lập tác

Trang 13

giả điệp lại nhiều lần từ “sự thật” Hai từ này vang lên như 1 điệp khúc, tăng têm âm hưởng hào hùng ,thuyết phục cho bản tuyên ngôn.

Lí lẽ đanh thép, bằng chứng hùng hồn trong phần 2 của bản tuyên ngôn đã bác bỏ hoàn toàn luận

điệu của kẻ thù và đưa đến kết luận không ai có thể chối cãi được “Nước VN có quyền hưởng tự do độc lập và sự thực đã trở thành 1 nước tự do độc lập”.

Câu 14: Phận tich bản "Tuyên ngôn độc lập" của Hồ Chí Minh:

A Mở bài:

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc mà Người còn là nhà thơ,

nhà văn lớn của dân tộc Bác đã để lại một sự nghiệp văn học vô cùng đồ sộ, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung và độc đáo về phong cách Sự nghiệp văn học ấy đã chứng minh tài năng nhiềumặt của Bác như sáng tác truyện và kí theo bút pháp hiện đại, thơ tuyên truyền cách mạng và đặc biệt

là nghệ thuật viết văn chính luận đã đạt đến trình độ mẫu mực Văn chính luận nói chung và “TNĐL” nói riêng thể hiện 1 tư duy sắc sảo, giàu tính luận chiến “TNĐL” là văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch

sử to lớn, vừa là tác phẩm văn học chính luận có giá trị, là áng văn yêu nước lớn của thời đại đồng thời

là tác phẩm sáng ngời tư tưởng nhân văn

B Thân bài:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi văn học là sự nghiệp chính nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã ý thức được vai trò quan trọng của văn học và coi nó như một thứ vũ khí phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Người Tuyên ngôn đã được Bác sáng tác vì mục đích chính trị trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt: cuộc cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỉ nguyênmới, kì nguyên độc lập tự do cho dân tộc, Bác đã viết Tuyên ngôn độc lập không nhũng nhằm tuyên bốvới nhân dân thế giới về việc nước ta đã giành được độc lập mà còn ngầm ngăn chặn âm mưu tái chiếm của kẻ thù Để đạt được mục đích ấy, Bác đã vận dụng những lập luận vô cùng sắc bén ngay từ phần mở đầu

Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn: Tác giả khẳng định quyền độc lập dân tộc trên cơ sở pháp

lý, trên cơ sở lẽ phải không thể chối cãi

Áng hùng văn của thời đại cách mạng vô sản VN được mở đầu bằng một câu văn ngắn gọn, giọng văn tha thiết: "Hỡi đồng bào cả nước!" Xác định đối tượng trưc tiếp mà bản tuyên ngôn

hướng tới là quốc dân đồng bào Từ “đồng bào” gợi lên mối quan hệ ruột thịt, cùng chung huyết thốnggiữa bác với nhân dân ta, cho thấy tình đoàn kết thân ái của dân tộc Câu văn tạo được tâm thế giaotiếp gần gũi, cởi mở giữa người nói- một vị lãnh tụ với người nghe- toàn thể nhân dân mà vẫn giữđược không khí trang nghiêm, trang trọng cần thiết của buổi lễ mừng độc lập

Sau đó, Bác trích dẫn nguyên văn một đoạn trong “Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mỹ và

“Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp Ta thấy đây là cách đặt vấn đề độc đáo ,

thú vị bởi Người không ôn lại những trang sử vẻ vang của dân tộc mà đã trích dẫn những câu nói nổitiếng trong 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ Nội dung của 2 bản tuyên ngôn này hướng về quyềncon người:

Mĩ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá đã cho họ những quyền không

ai có thể chối cãi được Trong những quyền ấy, có quyền sống quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn được tự do bình đẳng vè quyền lợi….”

Sự sắp xếp trình tự trích dẫn 2 bản tuyên ngôn không chỉ vì lí do thời gian mà chủ yếu bởiNgười viết đã hiểu sâu sắc mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa quyền bình đẳng của các dân tộc vớiquyền tự do, hạnh phúc của con người, trong đó có quyền bình đẳng của dân tộc mới có quyền tự do,hạnh phúc của cá nhân Các lập luận như vậy là rất khoa học vì thế mới có tính thuyết phục cao Điều

đó chứng tỏ Người rất sắc xảo và trí tuệ trong cuộc đối thoại lịch sử này bởi những câu nói này có 1

Trang 14

giá trị vĩnh hằng, đã được cả loài người tiến bộ công nhận, đánh dấu buổi bình minh của cuộc CM TS,lật đổ chế độ phong kiến đã có công lao nêu thành nguyên tắc pháp lý, quyền cơ bản của con người.Bác đã khẳng định cơ sở pháp lý về nhân quyền.

Từ những lẽ phải về quyền con người, Bác đã suy rộng ra về quyền dân tộc của nước VN:

“Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền

tự do” Với cách suy rộng ấy Bác không chỉ khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc VN mà còn

khẳng định quyền tự do của các dân tộc đang bị thuộc địa trên toàn thế giới: tất cả các dân tộc đều cóquyền quyết định vận mệnh của mình Đây là một lập luận có ý nghĩa sáng tạo, phản ánh sự thức tỉnhcủa các dân tộc thuộc địa đứng lên đòi độc lập, tự do, được nhân loại khâm phục, ngưỡng mộ tôn vinh:

Người đâu phải chỉ yêu đất mẹ Nước VN xinh đẹp kiên cường Người sống vì Á - Phi non trẻ Lửa tình yêu nối những đại dương.

Chính vì vậy 1 nhà văn hoá nước ngoài trong cuốn “HCM trong lòng nhân dân TG” đã viết: “cống hiến lớn nhất của HCM là ở chỗ Người đã phát triển quyền của con người thành quyền lợi dân tộc” Như vậy tất cả các dân tộc đều có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình

Cách lập luận của tác giả vừa kiên quyết vừa khéo léo vì:

Kiên quyết sắc sảo: Khi dẫn lời bản tuyên ngôn của Pháp và của Mĩ làm cơ sở để bảo vệ cho

quyền độc lập của dân tộc mình, người viết đã ngầm cảnh báo nếu Pháp và Mĩ nếu cố tình xâm lược việt Nam thì có nghĩa là họ đi ngược lại với truyền thống đạo lý của cha ông họ, đã làm vấy bẩn lá cờ bình đẳng tự do bác ái mà cha ông họ đã đứng cắm lên đỉnh vinh quang Chính họ đã đi trái với cơ sở pháp lí đã được cả loài người công nhận

Khéo léo: Sử dụng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông"- dùng lời lẽ của đối phương để bác bỏ

đối phương Ở đây tác giả đã dùng cây gậy độc lập để đập vào lưng những kẻ đi xâm lược mà miệng lại rêu rao: tự do, bình đẳng, bác ái.Khi dẫn lời bản tuyên ngôn của P và M Bác đã tỏ ra rất khách quanrất trân trọng những danh ngôn, những chân lí cho dù nó là của P và M Cách trích dẫn này đã tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận tiến bộ ở P và M, chứng tỏ người viết không hề có sự nhầm lẫn giữa thực dân Pháp, ĐQ mĩ với những người P và M tiến bộ.Cách trích dẫn ấy cũng đã đặt cuộc cách mạng của ta ngang hàng với các cuộc cách mạng có ý nghĩa thời đại có nghĩa là khẳng định tư thế đầy tự hàocủa dân tộc Cũng như xưa LTK đã đưa nước VN lên ngôi hoàng đế, ngang hàng với TRQ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Nguyễn Trãi đã đặt lịch sử nước ta cân xứng với TRQ:

giải phóng thuộc địa khỏi ách thực dân trên phạm vi toàn TG (Giành độc lập dân tộc bởi Mĩ là mảnh

đất 13 quốc gia Châu âu đến đây khai hoá Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhưng lại chịu sự thống trị của thực dân Anh 13 nước đã nổi dậy đấu tranh giành độc lập , lật đổ chế độ thực dân giành độc lập-

nữ thần tự do là biểu tượng của đất nước này) và của Pháp (đánh đổ chế độ phong kiến, lập chế độ

dân chủ bởi đó là cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế của Pháp bảo thủ, cổ hủ,lạc hậu và trì trệ Nhân dân chịu ảnh hưởng của luồng triết học ánh sáng đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế)

Sáng tạo ở chỗ: Người nâng vấn đề nhân quyền, dân quyền lên tầm vóc cao hơn, rộng hơn Từ

quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc cá nhân lên thành vấn đề quyền của các dân tộc: “Suy rộng ra…Tất

cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng

và quyền tự do…” Cụm từ “suy rộng ra” thật thông minh, chặt chẽ, đanh thép như: “một phát súng lệnh khởi đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa thế giới” (Nguyễn Đăng Mạnh), là đòn đánh phủ

đầu vào âm mưu tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của các thế lực vào nền độc lập, tự chủ của ViệtNam; đồng thời tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế

Cách nêu vấn đề sắc sảo, mang tính khách quan, sức thuyết phục và tính chiến đấu mạnh mẽ chođoạn văn mở đầu và hình thành vững chắc cơ sở pháp lý cho bản tuyên ngôn Có thể thấy Người đã

Trang 15

bắn phát súng lệnh, đã thổi bùng lên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, đồngthời tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của nhân đân tiến bộ trên TG đối với nền độc lập của VN.

Phần mở đầu TNDL , HCM đã đặt cơ sở chính nghĩa, nền tảng pháp lí vững chắc cho toàn bộ tác

phẩm Đoạn văn mở đầu này vừa thể hiện sự khéo léo, thái đọ kiên quyết trong cuộc đấu tranh chính

trị, ngoại giao vừa bộc lộ tình cảm yêu nước và niềm tự hào dân tộc Nó chứng tỏ sự sáng suốt, trí tuệ

và bản lĩnh của Bác Phần mở đầu cũng khẳng định tài năng viết văn chính luận của HCM: Lập luận

khoa học,dẫn chứng không ai chối cãi được, lí lẽ sắc sảo, giọng văn linh hoạt Những đặc sắc nghệthuật này đã góp phần làm cho“TNĐL” trở thành áng thiên cổ hùng văn thứ 2 của dân tộc sau

“BNĐC” của NTrãi Bản TNĐL với những dòng mở đầu đã cho thấy không chỉ tài năng lớn của ngòibút chính luận, qua nghệ thuật lập luận, mà còn cho thấy tầm nhìn bao quát lịch sử dân tộc cũng nhưđời sống nhân loại ở HCM Nếu không phải là người từng thấu hiểu cuộc sống của trên một nửa nhânloại đau thương trên khắp các châu lục qua suốt 30 năm bôn ba thì khó có thể có được những khái quátnhư chân lý đi trước thời đại

Nếu như ở phần mở đầu bản tuyên ngôn, Bác đã trích dẫn 2 bản tuyên ngôn của P và M để khẳng định quyền bình đẳng các dân tộc thì ở phần 2 này Người đưa ra những cơ sở thực tế, tố cáo tội

ác của thực dân P, khẳng định P không còn quyền hạn gì trên đất nước VN Người đã đối chiếu những nguyên lý chung đó với tình hình thực tế ở Việt Nam để phơi bày trước dư luận thế giới về bộ mặt tàn

ác và xảo trá của thực dân Pháp Chúng luôn tung ra luận điệu là “khai hoá” “bảo hộ” nay quay trở lại nắm quyền thay Fx Nhật là điều đương nhiên

Bằng cách lập luận theo lối phản đề , HCM đập tan luận điệu bịp bợm của thực dân P giữa 1 bên

là lời lẽ cao thượng “khai hoá”, “bảo hộ” với 1 bên là hành động của 1 kẻ tham lam, xâm lược “Thế

mà hơn 80 năm nay”, chỉ 1 câu nói chuyển tiếp Người đã mở ra 1 nội dung hoàn toàn tương phản đối lập với những gì là văn minh, nhân đạo mà kẻ thù đã nêu ở 2 bản tuyên ngôn của chúng Câu văn cũng

là lời tố cáo nghiêm khắc buộc kẻ thù phải phơi bày bộ mặt tàn ác trước dư luận TG

Tội ác của thực dân Pháp: cụ thể, chính xác, tiêu biểu ở tất cả các lĩnh vực.Để chuẩn bị cho

cuộc xâm lược lần thứ 2, thực dân P đã đưa ra 1 chiêu bài rất dễ đánh lừa dư luận quốc tế: P có công

“khai hoá” DD, đây vốn là đất thuộc địa của P bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng đồng minh thì Pđương nhiên có quyền quay trở lại DD thay thế quân đội Nhật.Tác giả đã lập bản cáo trạng đanh théptội ác của thực dân Pháp trước công luận quốc tế và toàn thể nhân dân VN

Pháp kể công "khai hóa"(đem lại văn minh ánh sáng) P lợi dụng lá cờ “Tự do- bình đẳng- bác

ái” đến “cướp đất nước ta, áp bức bóc lột đồng bào ta” bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng của chúng qua những từ “thế mà”, “lợi dụng”, “trái hẳn”: Về chính trị: tuyệt đối

không cho dân ta 1 chút quyền tự do dân chủ nào, lập nhà tù nhiều hơn trường học, chém giết nhữngngười yêu nước thương nòi Về kinh tế: giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, không chocác nhà tư sản của ta ngóc đầu lên Về văn hóa: chính sách ngu dân, đầu độc dân ta bằng rượu cồn vàthuốc phiện…Tội ác của TDP cùng với tội ác của fx Nhật đã làm nên thảm hoạ nạn đói 1945 Sự vônhân đạo của chúng cùng những thứ thuế vô lý đã được cụ Phan tố cáo:

Trăm thứ thuế thứ gì cũng ngặt Thắt chặt dần như thắt chỉ se Miền kẻ chợ, phía nhà quê Của di có lối, của về thì không

Dưới sự bóc lột của thực dân P, nhân dân ta ngày càng cơ cực, lầm than năm 1945 đã có 2 triệu đồngbào chết đói, nạn đói khủng khiếp ấy còn in dấu trong thơ:

Con đói lả ôm lưng mẹ khóc

Mẹ địu con đấu thóc cầm hơi Kiếp người cơm vãi cơn rơi Biết đâu nèo đất phương trời mà đi

Tố Hữu

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa

Pháp kể công "bảo hộ", bản tuyên ngôn kể tội hai lần chúng dâng Đông Dương cho Nhật.Khi N vào xâm lược Đông Dương chúng đã mở cửa nước ta cho N, khi N đảo chính P thì hoặc

bỏ chạy hoặc đầu hàng, trước khi bỏ chạy chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở CaoBằng, Yên Bái Bản tuyên ngôn nói rõ: Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập từ tay Nhật chứ khôngphải từ tay Pháp Bằng những lí lẽ giàu sức thuyết phục, tác giả đã chỉ rõ: P chẳng những không bảo

Trang 16

hộ được VN mà chỉ trong 5 năm chúng đã bán nước ta 2 lần cho Nhật Với việc để Nhật vào VN, P đãkhiến nhân dân VN phải chịu thêm 1 tầng áp bức, đẩy cuộc sống của người dân VN vào tình trạng đaukhổ chưa từng có Hình ảnh đó đã lột tả được tội ác cùng với bản chất đớn hèn , nhu nhược tàn bạo củathực dân P.

Pháp nhân danh Đồng minh đã chiến thắng pháp xít, giành lại Đông Dương, bản tuyên ngôn

kể tội chúng phản bội đồng minh: đầu hàng Nhật, khủng bố Cách mạng Việt Nam đánh Nhật cứunước

Nghệ thuật: Ở đoạn tố cáo tội ác của TDP, tác giả đã sử dụng hàng loạt các câu văn ngắn, cùng

1 kiểu kết cấu câu, câu văn nào cũng mở đầu bằng từ “chúng” tạo nên sự trùng điệp, khiến câu vănvang lên mạnh mẽ, dứt khoát vạch trần những tội ác của kẻ thù Những câu văn ấy còn như những lờikết tội trong 1 phiên toà Bọn TDP kẻ đã cai trị ngót 100 năm giờ đây đã trở thành 1 tội nhân, và nhândân VN - những con người bị đoạ đày áp bức giờ đây đã đứng lên trong tư thế của 1 quan toà Nhữngcâu văn tố cáo tội ác của giặc không chỉ đanh thép mà còn truyền cảm Tác giả viết: “Chúng tắm cáccuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu” đã vừa diễn tả được bộ mặt quỷ sứ và khát máu của kẻ thù vừakhắc hoạ được tình cảnh thê thảm của người dân mất nước đang phải quằn quại trong bể máu đau

thương.Điệp kiểu câu: “14 câu, câu nào cũng có chữ “chúng” mở đầu nặng như búa tạ” (Chế Lan

Viên), kết hợp với ngôn từ giản dị nhưng chọn lọc “quỳ gối”, “rước N”, HCM không chỉ kết tội P màcòn khẳng định P không có quyền nói chuyện bảo hộ Đông Dương

Với lí lẽ đó tác giả đã khẳng định Pháp không còn vị trí vai trò trên đất nước Việt Nam, bảntuyên ngôn đã xoá bỏ mọi vai trò vị trí đặc quyền đặc lợi của Pháp

Thực tiễn thứ 2: Nhân dân VN đã giành được độc lập.

Bản tuyên ngôn không chỉ vạch trần tội ác của P mà còn phản ánh khát vọng độc lập tự do vàtinh thần nhân đạo, quá trình đấu tranh kiên cường anh dũng, nhân dân ta đã lập nên nước VNDCCH.Với các luận điểm luận cứ, với cách lập luận chặt chẽ khoa học, HCM chứng tỏ nhân dân đã phát huytruyền thống nhân ái kẻ thù càng hung bạo, man rợ bao nhiêu thì chúng ta lại càng khoan dung vànhân ái bấy nhiêu Đối với kẻ thù với bàn tay nhuốm máu, những con người VN vẫn “giúp cho người Pchạy qua biên thuỳ, lại cứu cho người P ra khỏi nhà giam N, bảo vệ tính mạng và tài xản cho họ”.Những động từ “cứu”, “giúp”, “bảo vệ” gọi ra 3 tình thế bi thảm của P và cũng là 3 hành động caothượng của nhân dân ta Nhân dân có quyền hưởng tự do độc lập bởi trong thực tế nhân dân đã đứng

về phe đồng minh chống fxít Nhật Vì thế nhân dân VN có quyền được hưởng những thành quả màphe đồng minh mang lại.Trong thực tế nhân dân VN đã giành được tự do độc lập từ tay N chứ khôngphải từ tay P Để khẳng định điều này tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật loại suy (loại dần để đưađến kết luận):VN không còn là thuộc địa của P vì P đã bán cho Nhật VN không còn là thuộc địa củaNhật vì Nhật đã đầu hàng đồng minh.Nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật Vua Bảo đạithoái vị Việt Minh còn lật đổ chế độ phong kiến hàng nghìn năm để lập nên nước VNDCCH

Tác giả đã đưa ra “Sự thật là…” đứng đầu ở các câu văn với cách lập luận sắc sảo của B đã thểhiện thái độ của người dân VN, công khai bác bỏ luận điệu bịp bợm xảo trá của thực dân p trước TG.Ở

VN có 1 chính phủ lâm thời đại diện chân chính cho nhân dân VN Đây là một tổ chức chính nghĩa.Những chiến công mà dân tộc nào cũng có quyền kiêu hãnh và xứng đáng được dư luận quốc tế ủng

hộ Không chỉ là lí lẽ mà còn là hiện thực không thể chối cãi: Việt Nam đã thoát ly hẳn quan hệ vớiPháp, Pháp không có quyền gì nữa đối với Việt Nam

Nghệ thuật khẳng định:Tác giả chỉ sử dụng 1 câu văn ngắn gọn (9 chữ): “Pháp chạy, Nhật

hàng, vua Bảo Đại thoái vị” mà phản ánh được cả 1 gia đoạn lịch sử đầy biến động Nhân dân ta đãvùng lên đánh đổ cả 3 lực lượng: TD, fx, pk.Khi khẳng định nhân dân VN đã giành được độc lập tácgiả điệp lại nhiều lần từ “sự thật” Hai từ này vang lên như 1 điệp khúc, tăng têm âm hưởng hào hùng ,thuyết phục cho bản tuyên ngôn

Lí lẽ đanh thép, bằng chứng hùng hồn trong phần 2 của bản tuyên ngôn đã bác bỏ hoàn toàn luận

điệu của kẻ thù và đưa đến kết luận không ai có thể chối cãi được “Nước VN có quyền hưởng tự do độc lập và sự thực đã trở thành 1 nước tự do độc lập”.

Phần 3: Lời tuyên bố độc lập (Kết hợp lý luận và thực tiễn):Tác giả khẳng định tư tưởng yêu

nước, độc lập trên cả 2 cơ sở:

Cơ sở pháp lý: VN đã thoát hẳn quan hệ với TDP để trở thành 1 quốc gia độc lập.Công luận

quốc tế đã thừa nhận quyền tự quyết của cá dân tộc tại 2 hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn thì nhấtđịnh phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của nhân dân VN: “Chúng tôi tin rằng….” -> Lời nói mềm

Trang 17

mỏng ràng buộc Đây là yêu cầu nhân danh lẽ phải, là tiếng nói đòi quyền sống , tự do của 1 dân tộc

có sức manh chính nghĩa

Thực tiến: Nước VN có quyền hưởng tự do độc lập và thực sự đã trở thành 1 nước TDDL:

“Một dân tộc đã gan góc… phải được độc lập” Trong 1 đoạn văn tác giả đã 2 lần dùng điệp từ “gangóc”, 4 lần điệp từ “dân tộc” đến đoạn cuối câu văn lặp lại tăng tiến như 2 nhát văn chém xuống mỗi

lúc 1 mạnh hơn: “Dân tộc đó… độc lập” Nếu TDP bất chấp cả lẽ phải , luật pháp Qtế quyết tâm xâm lược VN thì : chúng phải nhìn thẳng vào thực tế: VN có truyền thống yêu nước bất khất sẽ quyết tâm

chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền tự do “ Chúng tôi….” -> Giọng điêụ đanh thép và dứt khoát Chính

vì vậy bản tuyên ngôn đã kết thúc trong âm hưởng hào hùng của lời thề “Quyết tử cho Tquốc quyếtsinh”: “Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vữngquyền tự do độc lập ấy”->Lời lẽ ấy ý chí ấy thể hiện ý chí quyết tâm của dân tộc Việt Nam để bảo vệnền tự do độc lập ấy, giống như 1 tiếng kèn xung trận tỏ rõ khí phách hào hùng của dân tộc VN trướcTG

C Kết luận:

Tác phẩm là áng văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, đi từ ràng buộc này đến ràng buộckhác, với hệ thống luận cứ toàn diện, kết cấu trùng điệp, văn phong sâu sắc, đồng thời còn là 1 vănkiện lịch sử có giá trị muôn đời đối với cả dân tộc nói chung và toàn nhân loại nói chung Tphẩm xứngđáng là áng văn chính luận hào hùng lưu truyền muôn thuở.Khẳng định tư tưởng yêu nước, độc lậpdân tộc “TNĐL” của HCM là sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc VN từngđược thể hiện trong các áng thiên cổ hùng văn Từ “NQSH” đến “ĐCBN” đến “TNĐL” là nhữngchặng đường phát triển khác nhau của 1 chân lý : “Không có gì quý hơn độc lập tư do”

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU- NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC

-Phạm Văn Câu 15: Hoàn cảnh ra đời của bài "Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc":

Đồng Bài được viết nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888 – 3/7/1963), giữalúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ cứu nước của nhân dân ta, nhất là đồng bào Nam Bộ đang

diễn ra hết sức mạnh mẽ (Mĩ tiến hành chiến tranh đặc biệt)

- Bài viết được in trong Tạp chí Văn học tháng 7 – 1963 sau được in trong tập tiểu luận “Tổ quốc ta;

nhân dân ta; sự nghiệp ta và người nghệ sĩ”

Đạo luật 10/59 của Mỹ lê máy chém đi khắp nơi, hàng loạt phong trào đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Miền Nam nổi lên Tác giả đã phát huy trí tưởng tượng và cảm xúc để vừa đắm mình trong không khí của những năm đau khổ thời NĐC sống, chiến đấu và viết văn, vừa kết hợp ới hiện thực đất nước- tkỳ đấu tranh chống giặc ngoại xâm để từ đó ông đánh giá Nguyễn Đình Chiểu bằng cả tấm lòng cảm thông trân trọng, chân thành với cái nhìn của người hướng về quá khứ, tìm trong quá khứ những giá trị tinh thần cao quý để làm tốt nhiệm vụ trong hiện tại và tương lai.

Câu 16 Bố cục bài "Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc":

- Phần 1:Mở bài: “Từ đầu…100 năm” Tác giả nêu luận điểm: phải có cách nhìn đúng đắn về NguyễnĐình Chiểu và thơ văn của ông Cách nhìn đó là: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường,nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơcủa Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”

- Phần 2: Thân bài: “tiếp….vì văn hay của Lục Vân Tiên” :

+ Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu (chủ yếu là bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

+ Tác phẩm Truyện Lục Văn Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (cả nội dung và nghệ thuật

- Phần 3: Còn lại: Kết bài: Tác giả nêu luận điểm kết luận: đánh giá đúng vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc theo cách nhìn mới mẻ đã nêu ở phần mở đầu, “Nguyễn Đình Chiểu

là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng”

Câu 17 Phân tích bài "Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc"

A Mở bài:

Phạm Văn Đồng nhà cách mạng xuất sắc, nhà văn hóa lớn, đồng thời là nhà lí luận văn nghệ lớn của nước ta trong thế kỉ XX Văn phong nghị luận của ông đầy nhiệt tình lôi cuốn người đọc bằng những

Trang 18

luận điểm mới mẻ, sâu sắc, lời văn trong sáng đầy hình ảnh… Ông viết nhiều bài nghị luận đặc sắc về

các nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu Bài "Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong

văn nghệ dân tộc" được viết nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888 – 3/7/1963), giữa lúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ cứu nước của nhân dân ta, nhất là đồng bào

Nam Bộ đang diễn ra hết sức mạnh mẽ (Mĩ tiến hành chiến tranh đặc biệt)

B Thân bài:

Cái nhìn mới mẻ và đúng mức của PVĐ về NĐC và thơ văn của ông:

Tác giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường”, “con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy” Đó là một phát hiện có ý nghĩa phương pháp luận trong cách nhìn về nhà thơ yêu nước lớn này “Những vì sao có ánh sáng khác thường”: ánh sáng đẹp nhưng ta chưa quen nhìn nên khó phát hiện ra vẻ đẹp ấy Cái ánh sáng khác

thường ở đây chính là vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, dân dã của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, vẻ đẹp của hai loại văn chương hướng về đại chúng, găn bó máu thịt với nhân dân, phục vụ cuộc sống của người dân, mang tính chất nhân dân sâu sắc Văn chương Đồ Chiểu không óng mượt, nõn nà mà chân chất, phác thực, có chỗ tưởng như thô kệch nhưng lại chứa đựng trong đó những tư tưởng, tình cảm nồng hậu, cao quý của nhân dân “Nó không phải là vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng” (Nguyễn Đình Chú)

Vẻ đẹp khác thường này rất đáng quý, và đáng quý hơn khi ta biết nhà thơ đã sáng tác trong hoàn cảnh

mù lòa, cuộc sống gặp nhiều khó khăn và bất hạnh “Con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy” chính là vì thế! Bởi lâu nay, chúng ta quen nhìn loại ánh sáng khác, vẻ đẹp khác Đó là văn

chương trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mĩ với hình tượng hùng vĩ, tráng lệ, phi thường… Cách nhìn như vậy thật khó đến với văn chương Đồ Chiểu, nói chi đến việc cảm nhận được tình ý sâu xa để thấy hết vẻ đẹp đích thực của văn thơ ông Vì vậy, “phải chăm chú nhìn thì mới thấy”, tức là phải dày công, kiên trì nghiên cứu thì mới khám phá được vẻ đẹp ấy, nhưng phải chăm chú nhìn theo một cách khoa học, đúng đắn về Nguyễn Đình Chiểu

Điều này có ý nghĩa phương pháp luận trong việc nghiên cứu đánh giá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, nó là một sự điều chỉnh về cách nhìn để có một định hướng đúng đắn trong việc nghiên cứu, tiếp cận một nhà thơ như Nguyễn Đình Chiểu Trên cách nhìn mới mẻ này, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về Nguyễn Đình Chiểu như Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao càng nhìn càng sáng của Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc của Đoàn Lê Giang

ánh sáng khác thường của NĐC trên bầu trời văn nghệ VN qua cái nhìn của PVĐ:

Trước hêt tác giả nhận ra ánh sáng khác thường của ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu được thể hiện qua cuộc đời thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu- một chiến sỹ hi sinh phấn đấu vì lẽ lớn.

Nói về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng không viết về tiểu sử mà chỉ nhấn mạnh vào khítiết của một chiến sĩ yêu nước, trọn đời phấn đấu hi sinh về lẽ lớn Đó là một tâm hồn “cao quý màtrong sáng đến lạ thường” Đất nước, hoàn cảnh riêng càng đen tối thì khí tiết thanh cao của NguyễnĐình Chiểu càng bộc lộ rạng rỡ và cao cả Điều đó thể hiện trong thơ văn của ông:

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương”

Câu thơ thể hiện khí tiết thanh cao như một tấm gương sáng luôn giữ trọn đạo lí của NguyễnĐình Chiểu Không chỉ ở khí tiết mà Phạm VĂn Đồng còn nói về thơ ca Nguyễn Đình Chiểu VớiNguyễn Đình Chiểu văn với đời là một, văn phảI là một vũ khí chiến đấu phục vụ đạo lí chính nghĩa

“đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôI tớ của chúng”

Chắc hẳn khi đọc Nguyễn Đình Chiểu chúng ta không thể quên câu thơ ông nói về quan niệmvăn chương:

“Học theo người bút chí công Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân Thu”

Trang 19

Để chứng minh cho vẻ đẹp của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc đời, con người và quan niệm vănchương tác giả sử dụng kiểu câu tăng tiến “càng…càng” mượn câu chữ Hán “kiên nghĩa bất vô dòngdã” hay sử dụng từ ngữ đưọc chọn lọc kĩ lưỡng.

Để khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là vì sao có ánh sáng khác thường tác giả chứng minh qua thơ văn yêu nước của nhà thơ Nam bộ này Phạm Văn Đồng đặt tá phẩm của Nguyễn Đình

Chiểu lên cái nền của hoàn cảnh lịch sử lúc đó Bởi nhà văn chỉ thực sự lớn khi tác phẩm của họ phảnánh trong thành những đặc điểm bản chất của lịch sử có ý nghĩa đối với đời sống đất nước nhân dân.văn thơ Nguyễn Đình Chiểu không nằm ngoài quy luật đó Bởi thơ văn của ông làm sống lại “phongtrào kháng chiến oanh liệt bền bỉ của nhân dân Nam bộ”

Đọc thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu ta thấy hiện lên cả một thời kì lịch sử với sự phản bội đàuhàng hèn hạ của Tự Đức mà tác giả phảI kín đáo thốt lên:

“Hỏi trang dẹp loạn dày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

(Chạy giặc)Hơn thế chúng ta thấy được phong trào nổi dậy của nhân dân khắp 6 tỉnh Nam bộ

“Khởi nghĩa Trương Định ở Gò Công, Thủ Khỏa huân ở Mĩ Tho, Phan Liêm và Phan Tôn ởBến Tre, Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá…” Đặc biệt thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu thangia tích cực vào cuộc chiến tranh của thời đại Các tác phẩm ca ngợi lòng tận chung với nước của cácanh hùng hay thể hiện những hình ảnh “sôi nổi và não nùng tình cảm của dân tộc với người chiến sĩcủa nghĩa quân” Điều nay Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ nhất qua bài thơ “văn tế nghĩa sỹ CầnGiuộc”

“Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngòn đèn khuya leo lét trong lều

Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”

Hay:

“Thác mà trả nước non rồi nợ(…) ai cũng mộ”

Chính vì vậy “văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc” là khúc công an của người anh hùng thất thế, nhưngvẫn sống hiên ngang, “sống đánh giặc thác cũng đánh giặc”

Với đam mê tìm hiểu, cách đánh giá mới mẻ Phạm Văn Đồng đã nhìn thấy sự sáng tạo củaNguyễn Đình Chiểu trong “văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc” Tác giả còn khẳng định đó là tập thơ xuất phát

từ bầu nhiệt huyết của tâm hồn Nguyễn Đình Chiểu trào ra từ đàu ngòi bút “ngòi bút tức là tâm hồntrung yếu của Nguyễn Đình Chiểu” Thật mới mẻ và sâu sắc khi đánh giá về thơ văn yêu nước củaNguyễn Đình Chiểu tác giả không nhắc lại các vần thơ mà chỉ khát quát và đI sâu vào phan tích các tácphẩm tiêu biểu như “văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc” chứng tỏ tác giả có trí tuệ hiểu biết sâu sắc vềNguyễn Đình Chiểu

Qua truyện thơ « Lục Vân Tiên » : ở đây có sự kết hợp con tim và khối óc của tác giả để tạo

câu văn vào hàng cao nhất nhằm rung động lòng người Xây dựng kết cấu văn bản này Nguyễn ĐìnhChiểu không đi theo trình tự thời gian mà đi theo mức đọ quan trọng nặng nhẹ của vấn đề Vì thế cuốicùng tác giả nhắc đến tác phẩm “Lục Vân Tiên” mà không thể kỹ càng như phần thơ văn yêu nước.Tuy nhiên nhắc đến “Lục Vân Tiên” tác giả nhằm chứng minh cho luận điểm ban đầu: “Nguyễn Đình

Chiểu là vì sao có ánh sáng khác thường” Vậy ánh sáng khác thường ấy thể hiện qua truyện “Lục Vân Tiên” như thế nào?

Đây là bản trường ca ngợi ca ý nghĩa và những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi nhữngngười trung nghĩa Các nhân vật trong “Lục Vân Tiên” là những người đáng kính, đáng yêu, trọngnghĩa khinh tài Họ là những tấm gương dũng cảm và đạo đức tiêu biểu như Hớn Minh, Ông Quán, TừTrực, Vân Tiên, Nguyệt Nga Truyện LVT nôm na dễ hiểu dễ nhớ truyền bá rộng rãi trong nhân dân,lối kể giản dị

Tác giả nêu ra những hạn chế của LVT để rồi kết luận LVT là một tác phẩm có ấn tượng sâusắc đối với người dân Nam bô

Từ những luận điểm trên Phạm Văn Đồng làm sáng tỏ những luận điểm bao trùm “NguyễnĐình Chiểu ngôI sao sáng trong văn nghệ dân tộc” một vì sao có ánh sáng khác thường càng nhìn càngthấy sáng, ở dây là khám phá qua cuộc đời thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu Qua tác phẩm người đọckhông chỉ hiểu thêm về Nguyễn Đình Chiểu đáng giá đúng vị trí của ông trong nền văn nghệ của dântộc mà còn hiểu thêm về bác Tô - Phạm văn Đồng, qua cách nghị luận sắp xếp luận điểm lôgic chặtchẽ đạt được mục đích nghệ thuật Lời văn câu văn với hình ảnh so sánh thể hiện hình ảnh tha thiết gây

Trang 20

xúc động trong lòng người đọc Người đọc thấy được cách nhìn nhận khách quan của tác giả vầNguyễn Đình Chiểu thể hiện cáI nhìn thấu hiểu của người hôm nay với người xưa.

Cùng với Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc, tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sángrong văn nghệ của dân tộc đã thể hiện đưuọc đánh giá cao cảu Phạm Văn Đồng về cuộc đời thơ văncủa Nguyễn Đình Chiểu thông qua cách lập luận trữ tình xác đáng cái nhìn mới mẻ tiến bộ và tấm lòngkính trọng nâng niu đối với Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông cũng có giá trị văn hóa của dântộc Bác Tô đã đi xa nhưng người dân VN vẫn nhớ tới bác không chỉ ở sự nghiệp chính trị, ngoại giaotài tình mà con là cương vị của một nhà lí luận văn hóa để công an ngợi bác Tô xin mượn lời HoàngPhê “ hạnh phúc biết bao khi tổ quốc có những người như anh Tô”

Khẳng định vẻ đẹp nhân cách, vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc và nhấnmạnh ý nghĩa, giá trị to lớn của cuộc đời, văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu đối với đương thời và

hôm nay.

Phạm Văn Đồng không chỉ thành công ở con đường ngoại giao chính trị mà còn thể hiện tài

năng trong sự nghiệp giáo dục, lí luận văn hóa nghệ thuật Mặc dù bận trăm công nhìn việc, ông vẫndành thời gian tìm hiểu về nhà thơ nhà văn lớn của VN như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ ChíMinh Đặc biệt trong Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc, người đọc không chỉnhận thúc được tầm quan trọng giá trị to lớn cuả thơ văn Nguyễn Đình Chiểu mà khẳng định đây làánh văn nghị luận mẫu mực.Trước khi muốn nghị luận một vấn đề gì đó người nghị luận phảI xác địnhđược mục đích yêu cầu nghị luận, PVĐ viết tác phẩm trong quy luật đó.Theo tác giả nghị luận nhằmđánh giá vè cuộc đời thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đây là bài nghị luận về một tác phẩm văn chươngcủa tác giả đó vì vậy muốn nghị luận trước hết người viết cần phải đọc tìm tòi nghiên cứu sâu sắc

Xác định được mục đích yêu cầu nghị luận tác giả đã sử dụng phương pháp lập luận Để khẳngđịnh đây là áng văn nghị luận mẫu mực phải kể đến nhan đề của tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôisao sáng trong văn nghệ dân tộc” đây được xem như một luận đề vừa bao quát vừa gợi hình ảnh vàkhẳng định.Nhan đề ở đây là một cụm danh từ thể hiện rõ nội dung cần phân tích

Tiếp theo cách đăỵ nhan đề là cách sắp xếp bài viết Ngoài những câu mở đầu kết thúc bài vănđưọc chia làm 3 phần chính: phần nói về cuộc đời và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểuhay truyện của LVT Cách xây dựng và đặt quan điểm trong bài viết rất độc đáo tác phẩm không trìnhbày theo trật tự thời gian Truyện LVT được xác định là một tác phẩm lớn nhưng không được viết kĩbằng phần thơ văn yêu nước bởi phần thơ văn yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có vai tròquan trọng hơn

Ngoài ra đề làm rõ phần mở đầu của Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng mà đó là ngôI sao cóánh sáng khác thường, có ánh sáng của hàng ngàn ngôi sao tác giả đã đi vào 3 luận điểm chính:Luậnđiểm 1: cuộc đời và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình ChiểuLuận điểm 2: thơ văn yêu nướccủa Nguyễn Đình Chiểu Luận điểm 3: truyện LVTTùy theo mức độ vai trò tầm quan trọng mà mỗiluận điểm đưọc tác giả đặt cho mỗi chỗ đứng thích hợp trong bài văn nghị luận và cách viết kỹ cànghay sơ qua.Điều này ta thấy rõ nhất qua 2 luận điểm: thơ văn yeu nước Nguyễn Đình Chiểu và truyệnLục Vân Tiên.Tuy nhiên cả 3 vấn đề này đều hướng vào làm rõ luận điểm “Nguyễn Đình Chiểu là ngôisao sáng khác thường càng nhìn càng thấy sáng” Chính điều nay làm cho bài viết chặt chẽ logic nhấtquán thống nhất.tính chất mẫu mực của bài văn này còn thể hiện ở chỗ chọn lập cứ và chọn dẫn chứng

Có thể khẳng định luận cứ dẫn chứng chính xác logic thuyết phục Ví dụ để chứng minh cho luậnđiểm cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một ông đồ luôn luôn và đạo đức chính nghĩa nên quan điểmsáng tác của ông cũng thể hiện điều đó Tác giả chọn hai câu tiếng Hán “kiên nghị bất vi vô dũng dã”

“Than đạo- Nguyễn Đình Chiểu)Hay để chứng minh cho thơ văn yeu nước của Nguyễn Đình Chiểu táI hiện cả cuộc đời lịch sử bitráng hào hùng tác giả đã chọn dẫn chứng và phân tích kỹ “văn tế nghĩa sỹ cần giuộc” và còn so sánhvới “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi để cuối cùng kết luận đay là áng văn thơ công an ngợi nhữngngười chiến sỹ thất thế nhưng vẫn hiên ngang

ở luận điểm thứ 3 khi nói về tác phẩm LVT để chứng minh cho nội dung truyện LVT đề cao đạođức tác giả đã muốn câu Hán ngữ của Nguyễn Đình Chiểu “trượng phu có trí ngang tàng”

Hay nêu tên các nhân vật của LVT: Lục vân tiên, Nguyệt Nga, tiêu đông…những luận cứ đượctác giả chọn rất chính xác, cần thiết gắn bó với vấn đề đưuọc nêu ra Làm nên sự mẫu mực của áng vănghị luận này đó là đoạn văn và câu văn từ ngũ, hình ảnh đặc biệt là cái tôi tác giả thể hiện rõ nét

Trang 21

Đọc tác phẩm chắc chắn chúng ta không thể quên được những đoạn văn câu văn đầy hình ảnh

“ngòi bút tức là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả đầy sinh dộng và não nùng… ,

có lẽ dưới suối vàng linh hồn (…) hả dạ, những vì sao có ánh sáng khác thường…” có những câu vănnày như chiếc chìa khóa để mở cái hay cái đẹp của văn chương

Tác giả không viết về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu bằng giọng điệu “ khách quan” khô khan củangười ngoài cuộc, ngược lại trong bài viết của mình PVĐ đã phát huy trí tưởng tượng của mình và cảmxúc để đắm chìm trong bầu không khí của những năm tháng gian khổ hào hùng

Tác giả không viết về Nguyễn Đình Chiểu như nỗi tiếc thương của người hoài cổ Tác giả luônnhìn người xưa từ hôm nay chính vì thế mà con người đang sống hết mình giữa trung tâm của cuộcchiến đấu hào hung tất thắng chống đế quốc xâm lược lại có điều kiện để thông cảm hơn với mộtngười cũng đang sống hết mình cho cuộc đấu tranh chống thực dân oanh liệt mà đau thương đồng thờicũng thấu hiểu những giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu Tác giả kết hợp giữa quá khứ và hiệntại, thể hiện tấm lòng cảm thông, trân trọng với những giá trị văn hóa của người xưa

Nội dung và hình thức là hai mặt cso quan hệ mật thiết với nhau trong mỗi bài viết hay tác phẩmvăn học Đánh giá đến một tác phẩm văn học không chỉ chú ý đến nội dung mà không quan tâm đếnhình thức Nguyễn Đình Chiểu ngôI sao sáng trong văn nghệ dân tộc là bài nghị luận đạt chuẩn mực cảhình thức lẫn nội dung Bài viết đã thể hiện cách nhận thức khá cao về Nguyễn Đình Chiểu và thơ văncủa ông, bài viết thể hiện sự mẫu mực về thê laoij văn nghị luận, Tác phẩm khẳng định sự đóng gópcủa PVĐ đối với nền văn học dân tộc Cùng với Tố Hữu và một số nhà thơ khác PVĐ đã thể hiện tìnhcảm ngợi ca đối với Nguyễn Đình Chiểu với giá trị văn hóa dân tộc

C Kết bài:

Qua bài viết, Phạm Văn Đồng muốn khẳng định : Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là cuộc đời

của một người chiến sĩ đó phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Sự nghiệpthơ văn của Nguyễn Đỡnh Chiểu là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của vănhọc nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc đời Cuộc đời và văn nghiệp củaNguyễn Đình Chiểu không chỉ là bài học cho hôm qua mà cho cả hôm nay

TÂY TIẾN

Quang Dũng Câu 18: Hoàn cảnh ra đời bài thơ "Tây Tiến" :

Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ

biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc

- Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở: từ Hoà Bình, Sơn La đếnSầm Nứa- Lào Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét vănhoá đặc sắc

- Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên Họ sinh hoạt

và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm

- Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vịkhác Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ “Nhớ Tây

Tiến” sau đổi thành Tõy Tiến

- Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986) tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông

cũ, nay là Hà Nội)

Câu 19 Nhan đềbài thơ "Tây Tiến" :

- Lúc đầu bài thơ có tên là “Nhớ Tây Tiến” sau đó nhà thơ lược đi chữ “Nhớ” chỉ còn lại chữ TâyTiến Tác phẩm được in trong tập “Mây đầu ô”

Trang 22

- “Nhớ Tây tiến” là nhan đề nói được cảm xúc chủ đạo của bài thơ nhưng không làm toát lên đượchình tượng trung tâm của tác phẩm Đồng thời lại làm cho nhan đề thêm ủy mị, quá mềm mại khôngphù hợp với tư thế, phong thái của người lính

- Quang Dũng đổi tên bài thơ không phải ngẫu nhiên mà là dụng ý nghệ thuật QD đã lược đi chữ

“Nhớ” làm cho nhan đề thêm hàm súc mà vẫn gợi nhiều ý nghĩa: bản thân hai chữ Tây tiến đã bao hàmnỗi nhớ, bên cạnh đó Tây Tiến gợi ra hình tượng trung tâm bài thơ đó là người lính Tây Tiến hào hùng,gợi lên cả vùng đất mà người lính từng gắn bó Hai chữ Tây tiến rắn rỏi, chắc khỏe phù hợp với bướcquân hành, với tư thế hiên ngang, vững chãi của người lính Vì thế tên bài thơ như một khúc quân hànhnhư khúc “Tiến quân ca”, hay “Nam tiến”

=> Đặt cho bài thơ một cái tên giàu ý nghĩa như vậy chứng tỏ Quang Dũng là nhà thơ tài năng vàsáng tạo

Câu 20 Phân tích đoạn 1 của bài thơ "Tây Tiến"

A Mở bài:

Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông được thể hiện ở nhiều mặt: viết văn, vẽtranh, soạn nhạc, làm thơ Nhưng ông được biết đến trước hết là một nhà thơ Thơ Quang Dũng thểhiện ở một hồn thơ hào hoa, lãng mạn, phóng khoáng mà cũng rất hồn hậu đặc biệt là khi viết về xứĐoài mây trắng và người lính Tên tuổi của ông đã gắn với thi phẩm “Tây Tiến”, tác phẩm tiêu biểucho hồn thơ Quang Dũng nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm củatác giả dành cho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm

ấy đã trào dâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến” Đây là bài thơ của người lính viết về ngườilính- anh vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống P Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tác giả dànhcho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy đã tràodâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến” Đoạn thơ mở đầu là đoạn đặc sắc thể hiện nỗi nhớcủa tác giả về con đường hành quân đầy gian khổ của người lính trên nền thiên nhiên Tây Bắc

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Mai Châu mùa em thơ nếp xôi

B Thân bài:

Hai câu thơ đầu : Hai câu thơ mở đầu khơi gợi cảm xúc cho toàn bài thơ Đoạn thơ mở đầu

bằng tiếng gọi, nỗi nhớ trào dâng như không ghìm nén nổi và bật ra thành tiếng gọi tha thiết:

“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”

Hình ảnh sông Mã: con sông chảy dọc suốt chặng đường hành quân của người lính Nó khôngchỉ là con sông vô hồn của địa lí mà như một chứng nhân lịch sử từng chứng kiến bao kỷ niệm buồnvui của người linh nên nhớ về Tây Tiến nhà thơ không thể không nhớ đén con sông Sông Mã đại diệncho vùng đất miền Tây vì vậy Sông Mã và Tây Bắc là hai hình tượng song song kết đọng nỗi nhớ Bên cạnh Sông Mã, Hình ảnh Tây Tiến cũng hiện lên qua nỗi nhớ của nhà thơ Tây Tiến: Đoànquân nơi nhà thơ đã từng tham gia chiến đấu , nơi gắn bó với những kì niệm đẹp Khi cảm nhận được

sự xa xăm ấy thì tác giả đã bật ra thành tiếng gọi “ TT ơi…” với tất cả sự cồn cào da diết Nhà thơ gọitên 1 đoàn quân mà như gọi tên 1 người bạn tạo sự man mác bâng khuâng

Câu 2: Nỗi nhớ của nhà thơ chuyển từ dòng sông lên vùng rừng núi cao:

“Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Điệp từ “nhớ”: thể hiện nỗi nhớ trào dâng, một nỗi nhớ thường trực trong lòng nhà thơ.“Nhớ chơivơi” là nỗi nhớ nao nao khó tả, nhớ đến cồn cào da diết, nỗi nhớ như bao trùm cả cảnh vật núi rừng

và con người Từ láy đã mở ra không gian mênh mông,vời vợi của nỗi nhớ diễn tả tinh tế một cảmgiác khó định hình, mơ hồ mà rất thực, rất ám ảnh hồn người Ấn tượng hơn cả là hiệp vần “ơi”- “ơi-chơi- vơi” và từ láy “chơi vơi” khiến nỗi nhớ vừa như có chiều sâu, vừa có chiều rộng, nỗi nhớ nhưlan toả khắp không gian thời gian, nhớ về 1 vùng bồng bềnh sương khói với núi cao dốc sâu vựcthẳm 3 thanh bằng liên tiếp mang âm hưởng vọng dài lan toả vời vợi Tiếng gọi như vọng ra từ vách

Trang 23

2 câu tiếp: Trong nỗi nhớ của QD, miền Tây hiện lên như 1 miền đất lạ vừa thơ mộng vừa trữ tình Hai câu thơ vẽ lên khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ, huyền bí Điều đó được gợi

lên từ tên đất tên làng Đó là Sài Khao ,Mường Lát, những cái tên lạ lẫm đối với người lính vốn từthành thị lên đây :

Sài Khao sương lấp… đêm hơi

Đoạn thơ xuất hiện những địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha luông, mường Hịch….những địadanh này từng gắn bó với đoàn quân TT, chỉ cần gọi tên những địa danh ấy là biết bao nhiêu kỷ niệm

của 1 thời trận mạc hiện về Những địa danh này gợi sự xa xôi bí ẩn mà “chỉ mới nghe thôi đã thấy mỏi chân chùn gối”- (Trần Lê Văn).

Những địa danh thấm đẫm kỉ niệm của 1 thời binh lửa 2 câu thơ, 2 địa danh mở ra 2 ấn tượngtrái chiều: Nhớ về Sài Khao: là nhớ đến “sương lấp đoàn quân mỏi”: gợi cái hoang vu buốt giá củanhững màn sương dày đặc (sương muối như trong “Đồng chí”- hiện thực), cả đoàn quân thoáng ẩnthoáng hiện trong sương khói gợi lên sự gian lao vất vả (LM) Mường Lát: “hoa về trong đêm hơi”toàn thanh bằng gợi cái hư ảo mộng mơ.ám ảnh làm sao 2 chữ “hoa về” :Đó là ngọn đuốc hoa củangười dân vùng biên giới đón bộ đội về làng bản.Những cô gái sơn cước- những đoá hoa rừng đangchào đón các anh.Cũng có thể là hình ảnh những bông hoa rừng rung rinh đón chào người lính Đoànquân TT hành quân trên núi cao khi đi giữa đêm sương nên đến thật gần mới chợt nhận ra sự hiện diệncủa một nhành hoa rừng khiến thiên nhiên trở nên có sức sống và linh hồn, tưởng như cành hoa kia từđâu đó tìm về với cuộc sống con người Dường như trong thơ của QD đã bao hàm tất cả

4 câu tiếp: Con đường TT dữ dộ gian nan- Vẻ đẹp của người chiến binh TT: Thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ dữ dội và hiểm trở:

Dốc lên……mưa xa khơi

Tác giả đã sử dụng những từ láy và những từ giàu tính chất tạo hình : “khúc khuỷu”: gợi hình thế quanh co gập ghềnh “thăm thẳm”: gợi độ sâu hun hút và cho thấy những con dốc được nhìn từ trên đỉnh xuống “heo hút”: mở ra chiều cao vắng vẻ “súng ngửi trời”: độ cao ngất trời của thiên nhiên TB Không gian 3 chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi thành 1 bức hoạ điêu hùng về núi rừng miền Tây

Cách ngắt nhịp 4/3 gợi lên sự hiểm trở gập ghềnh của những con đường hành quân: có đoạn caochót vót, có đoạn dốc thăm thẳm, có đoạn khúc khuỷu.Câu thơ chỉ có 7 chữ thôi mà có đến 5 thanhtrắc, đọc lên thấy con đường gập ghềnh hiểm trở và dường như có cả hơi thở nặng nhọc của ngườilính Điệp từ “dốc” ở 2 vế thơ đem đến cho ta 1 cảm nhận về 1 địa hình hiểm trở chỉ có dốc và dốc Bẻđôi câu thơ: Ngàn…/ngàn…-> Địa thế hiểm trở vút lên cao rồi lại đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìnlên cao thăm thăm nhìn xuống sâu hun hút Âm điệu thơ của QD như 1 trò chơi bập bềnh chóng mặtgiữa 2 sườn dốc núi cheo leo.Khiến người đọc hình dung những con đường quanh co, dốc rồi lại dốc,những đỉnh đèo hoang vắng khuất vào mây trời

Thiên nhiên thơ mộng trữ tình: Câu thơ cuối dùng toàn thanh bằng->Mở ra 1 nốt nhạc bâng

khuâng man mác trong lòng người tạo nét vẽ mềm mại cho bức tranh, mở ra hình ảnh 1 miền sơn cước

xa mờ trong mưa Mưa trắng trời trắng đất thành biển khơi và những ngôi nhà sàn như trôi trong biển mưa khơi ấy Nhịp thơ êm ái góp phần thể hiện sự thư thái của đoàn binh sau chặng đường hàh quân vất vả Người lính đang ở lưng chừng núi phóng tầm mắt ra xa để cảm nhận vẻ đẹp của nhà ai đó đang bồng bềnh giữa biển sương rừng mưa núi và không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp như mơ của miền sơncước

Từ góc độ hội hoạ ta có thể thấy đây là 4 câu thơ tuyệt bút, “thi trung hữu hoạ” Bên cạnhnhững nét vè gân guốc, những nét vẽ mềm mại làm dịu mát cả bức tranh núi rừng miền Tây Nhữngcâu thơ trên đẹp cả cảnh lẫn tình, rất chân thực mà lãng mạn Nhà thơ đã khắc hoạ được cái dữ dội hàohùng lại vừa diễn tả được cái tươi mát lắng sâu

Hình tượng người lính:Thấp thoáng giữa mây trời trên đỉnh núi cao chót vót của miền Tây là

hình tượng người lính TT:Cách nói: “súng ngửi trời” thể hiện sự sáng tạo và tài hoa của QD khi viết vềngười lính Cách nói ấy vừa diễn tả được địa bàn hoạt động của lính Tây Tiến dữ dội và hiểm trở, họ hành quân trên núi cao mũi súng như chạm đến đỉnh trời, vừa cho ta thấy sự tinh nghịch và hóm hỉnh, gợi cái vẻ tếu táo rất lính dám trêu ghẹo cả tạo hoá , diễn tả được tư thế của người lính vụt lên trên cái nền của vùng rừng núi hùng vĩ, sánh ngang cùng trời đất, sự thắng thế của con người trước hoàn cảnh

(giống hình ảnh tráng sĩ trong “Thuật hoài”) Điệp từ “dốc” đi liền với nhứng thanh trắc vừa diễn tả

Trang 24

sự gập ghềnh của con đường hành quân vừa diễn tả được hơi thở nặng nhọc của người lính sau chặng đường vượt dốc.

6 câu tiếp: Tiếp tục diễn tả sự hoang sơ bí ẩn của núi rừng miền Tây và hình ảnh người lính hiện lên trong chặng đường hành quân gian khổ nhưng thắm thiết tình quân dân:

2 câu đầu: Nhớ về người lính TT:QD không hề né tránh hiệ thực kháng chiến với bao gian

khổ:

“Anh bạn… quên đời”

Câu thơ có 2 cách hiểu:Giấc ngủ trên đường hành quân của người lính trong phút nghỉ chân Giấc ngủ ngàn thu của họ trên chặng đường hành quân đầy nắng mưa gian khổ Dù hiểu theo cách nào thì câu thơ cũng cho thấy những gian lao vất vả mà người lính phải trải qua, cũng làm ngời lên vẻ đẹp thanh thản của người lính Tác giả không dùng từ “mất” hay “hi sinh” mà dùng “bỏ quên đời” Cách diễn đạtnày vừa như ghìm nén nỗi đau thương vừa làm tôn lên sự hi sinh cao cả của người chiến si Với các anh gian khổ mỏi mệt hi sinh là điều không đáng sợ, cái chết của các anh giống như giấc ngủ say giữa núi rừng miền Tây hoang dại Cụm từ này mang chất LM bay bổng, người lính ra đi thanh thản, coi cáichết nhẹ tựa lông hồng và ngay khi chết họ vẫn trong tư thế đội hình đánh giặc “gục lên súng mũ”

2 câu sau: Nhớ về vùng rừng núi thâm u, hoang dã và chứa nhiều bí ẩn:

Sự hoang sơ dữ dội của núi rừng miền Tây không chỉ mở ra theo chiều không gian vời vợi vớinhững “dốc lên khúc khuỷu” mà còn được miêu tả theo chiều thời gian:

“Chiều chiều….trêu người”

Câu thơ phảng phất âm hưởng “Nhớ rừng” của Thế Lữ Chỉ có điều trong thơ của Thế Lữ, cảnh TBắc

là ở trong mơ của con mãnh thú còn trong “TT” là cảnh hiện thực và rất nguy hiểm:“Chiềuchiều”,”Đêm đêm” của núi rừng heo hút là thời điểm chứa đầy sự đe doạ nguy hiểm bất chắc với conngười Nhà thơ đã tạo cho người đọc 1 ấn tượng thật đặc biệt về dòng thác dữ qua phếp nhân hoá :

“trêu”, “gầm thét”-> Núi rừng miền Tây như rung chuyển trong bản giao hưởng hùng vĩ của đại ngànvới tiếng thác gầm dữ dội Tô đậm ấn tượng về vùng rừng núi hoang vắng đã ngự trị và chiếm vai tròchúa tể Địa danh “Mường Hịch” gợi sự xa xôi Tiếng “Hịch” đọc lên như nghe thấy cả tiếng bướcchân cọp nặng nề trong đêm khuay thanh vắng

Hoang dại là vậy, hiểm nguy là thế nhưng người lính vẫn đùa tếu lạc quan.Thác gầm dữ dội, cọptrêu người cũng không hù doạ được những chiến binh, “cọp trêu người” là cách nói đùa vui tếu táo Sự

dữ dội và bí ẩn của thiên nhiên chỉ là những thử thách để người chiến sĩ vượt qua hiểm nguy chết chócgiành được chiến thắng

2 câu cuối:Nếu ở những câu thơ trước QD nhớ về sương rừng mưa núi , dốc đèo cao gợi cảm

giác lạnh lẽo âm u, bí hiểm thì ở 2 câu cuối đột ngột mở ra 1 thế giới ấm áp tình người, tình quân dânthắm thiết:

Nhớ ôi….nếp xôi

Câu 1: Nếu câu mở đầu : “Sông Mã….” thể hiện sự tiếc nuối khi tất cả đã xa rồi, thì câu thơ này

lại thể hiện 1 giọng thơ thắm thiết ân tình “Nhớ ôi”: nỗi nhớ chân thành thắm thiết được thốt lên từđáy lòng, ta như hình dung thấy cả những làn khói bốc lên nghi ngút từ những mái đầu dãi dầu sươnggió và như nghe thấy tiếng xuýt xoa cảm động của những người lính trẻ Sau những câu thơ nói về

miền Tây với núi rừng, sương mờ… thoáng gợi cảm giác lạnh thì hình ảnh “cơm lên khói” lại tạo 1

cảm giác ấm lòng Có lẽ nhà thơ đang nhớ đến 1 lần dừng chân của trung đoàn, nơi dừng chân là 1làng bản ở Mai Châu, ở đó đã có kỉ niệm rất riêng tư với cô gái ở miền đất này

Câu 2: Nhưng câu thơ “ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đã thực sự vượt ra khỏi những kỉ

niệm riêng tư để hướng tới những gì khái quát hơn về tình quân dân: đó là giây phút êm đềm, lãng mạn, tình cảm quen thuộc của một thời kháng chiến Không còn nữa núi cao vực thẳm sương dày, thác gầm thét, cọp trêu người… Giờ đây các chiến sĩ TT trở về với cuộc sống bình dị ấm áp, được nhân dân cưu mang đùm bọc chở che, những dáng hồng sơn cước trao tận tay những người lính trẻ gói cơmnếp mang hương vị núi rừng Cơm nếp xôi cũng là lòng thơm thảo của lòng người, xua tan đi mệt mỏi trên khuân mặt người lính khiến họ tươi tỉnh hẳn lên

Trong đoạn 1 của bài thơ nói rất nhiều đến địa danh , có địa danh gợi sự thăm thăm xa xôi, hoang

dã, còn “Mai Châu” lại tạo ra âm hưởng khác hẳn giống như Vũ Quần Phương nhận xét: “Hai chữ Mai Châu thanh nhẹ như đã ủ sẵn một loài hương” Đâu phải tác giả định nói đến 1 sản vật của quê hương

Mai Châu mà nhà thơ muốn nói đến cái thơm thảo nghĩa tình Câu thơ có tới 6 thanh bằng gợi cảmgiác bâng khuâng vương vấn trước nghĩa tình con người 1 miền đất:

Trang 25

Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

về nối nhớ, song cũng đó kịp ghi lại những vẻ đẹp rất riêng của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc trên nềncủa bức tranh thiên nhiên dữ dội ấy, những người lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp Sự gắn bó của nhàthơ với thiên nhiên và con người nơi ấy là biểu hiện của tấm lòng gắn bó với quê hương, đất nước,đồng thời là tấm lòng trĩu nặng yêu thương với những người đồng đội, đồng chí của mình

Câu 21 Phân tích đoạn 2 của bài thơ "Tây Tiến"

A Mở bài:

Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông được thể hiện ở nhiều mặt: viết văn, vẽtranh, soạn nhạc, làm thơ Nhưng ông được biết đến trước hết là một nhà thơ Thơ Quang Dũng thểhiện ở một hồn thơ hào hoa, lãng mạn, phóng khoáng mà cũng rất hồn hậu đặc biệt là khi viết về xứĐoài mây trắng và người lính Tên tuổi của ông đã gắn với thi phẩm “Tây Tiến”, tác phẩm tiêu biểucho hồn thơ Quang Dũng nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm củatác giả dành cho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm

ấy đã trào dâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến” Đây là bài thơ của người lính viết về ngườilính- anh vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống P Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tác giả dànhcho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy đã tràodâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến” Đoạn thơ mở đầu là đoạn đặc sắc thể hiện nỗi nhớcủa tác giả về con đường hành quân đầy gian khổ của người lính trên nền thiên nhiên Tây Bắc

Doanh trai bừng lên hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

B Thân bài:

Nhà thơ như đang nhớ về nới đóng quân của trung đoàn ở miền Tây Đó là 1 điểm dừng chânbất chợt với đống lửa đêm rừng bập bùng Nhưng hiện thực ấy đã đi vào thơ Quang Dũng với tát cảnhững gì là trang trọng và rực rỡ Đêm liên hoan văn nghệ với những ngọn đuốc hoa hiện lên thật lunglinh huyền ảo Người lính Tây Tiến hoà chung niềm vui với đồng bào địa phương nơi mình đóng quân

Ở đây ta bắt gặp những câu thơ vừa giàu chất nhạc vừa giàu chất hoạ:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Nơi trú quân tạm thời thành “doanh trại” uy nghiêm hoành tráng Thực tế ra đây chỉ là trong tưởng tượng bởi người lính trong những năm tháng ấy với sự thiếu thốn gian khổ như Hồng Nguyên đãtừng miêu tả:

Chúng tôi đi Nắng mưa sờn mép ba lô Tháng năm bạn cùng thôn xóm

… Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động Qua nhiều nơi, không nhớ hết tên làng”

Vì thế ta càng thấy 2 chữ “doanh trại” chỉ là hoành tráng ảo mà thôi Cái nhìn của QD đã nâng hiênthực bình dị thành cái lớn lao

Đêm liên hoan văn nghệ: núi rừng ánh sáng “bừng” của đêm liên hoan văn nghệ “Bừng” động

từ mạnh giúp ta hình dung được sự sáng lên 1 cách bất ngờ của những ngọn đuốc, đẩy lùi bóng tối vàkhí lạnh nơi núi rừng làm dậy lên cả 1 không khí của 1 lễ hội tưng bừng náo nhiệt Đó không đơnthuần là ánh lửa rừng mà còn là sự bừng sáng trong tâm hồn, của niềm vui rạng rỡ Đặc bịêt là “hộiđuốc hoa”- 1 hình ảnh diễn tả ngọn lửa đuốc trong đêm lửa trại gợi ta liên tưởng đến 1 lễ hội hoa đăngvui tươi, 1 bữa tiệc ánh sáng giữa rừng sâu TB

Trang 26

Câu thơ còn cho ta thấy cả tâm trạng của QD: trong tâm tưởng của nhà thơ cũng đang bừng lênnhững kỉ niệm về đêm hội hoa đăng như đang sống trong tâm trạng của người lính năm xưa: đang ngấtngây nghiêng ngả trong tiếng khèn điệu múa miền Tây Ngọn đuốc của đem liên hoan văn nghệ quaccái nhìn LM thành “đuốc hoa”- xua đi bóng đêm sự lạnh lẽo của núi rừng, gợi không khí náo nứctưng bừng.

Nổi bật lên trong đêm hội hoa đắng ấy là những cô gái miền sơn cước:

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Tuy nhiên lại xuất hiện những cách giải thích không giống nhau về “em”: có 2 cách hiểu:Thiếu

nữ TB duyên dáng tham gia vào đêm liên hoan văn nghệ của người lính Trong cái nhìn đắm say củangười lính trẻ, “em” hiện lên đẹp đẽ lộng lẫy với xiêm áo rực rỡ sắc màu, vừa duyên dáng tình tứ, vừadịu dàng e ấp Người lính TT đóng vai để đùa vui với nhau, để vợi bớt đi những khó khăn gian khổ, hisinh khi trong đêm liên hoan văn nghệ chỉ toàn là lính cả Cách hiểu này cũng tô đậm nét hào hoa củangười lính TT

Trong nỗi nhớ của QD không chỉ ấn tượng về “em” mà còn ấn tượng về “xiêm áo” và vẻ “eấp”:Xiêm áo rực rỡ của cô gái vùng cao càng nổi bật trước hình ảnh đoàn quân “xanh màu lá”.Hai chữ

“e ấp” nói đến nét duyên dáng của cô gái Sự hiện diện của “em” đã làm dịu đi hiện thực khốc liệt củacuộc kháng chiến Người lính Tây Tiến bị hút tầm mắt và ngỡ ngàng ngây ngất “kìa” trước sự xuấthiện với vẻ đẹp quyến rũ tình tứ, lộng lẫy của thiếu nữ trong trang phục ngày hội

Âm thanh: Lính TT không chỉ say mê với vẻ đẹp xiêm áo , vẻ đẹp của người thiếu nữ mà cònsay mê với tiếng kèn miền Tây

“Khèn lên…hồn thơ”

Khèn: 1 loại nhạc cụ vùng cao.“Man điệu” có thể hiểu là giai điệu của miền đất lạ nhưng cũng có thể

là vũ điệu của sơn nữ , đã gợi đúng cái thần độc đáo của tiếng khèn nghe như hoang dã bí ẩn mà đầyquyến rũ

Người lính Tây Tiến nhìn, ngắm, lắng nghe để rồi mơ màng thả hồn bay bổng về miền xa xôi

“Viên Chăn” mơ tưởng tới ngày mai tươi đẹp, chắp cánh cho tâm hồn họ với những cảm xúc phiêu dubay bổng

Qua đêm liên hoan văn nghệ ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ của người chiến binh: giankhổ mà vẫn hào hoa, nhọc nhằn dọc đường nhưng vẫn bâng khuâng xao xuyến với những rung độngđầy chất thơ Họ bước vào cuộc chiến không chỉ bằng gươm đao súng ống mà còn với tất cả nhu cầu

về văn hoá tinh thần Họ biết thưởng thức điệu múa của đồng bào dân tộc, biết đắm say trong âm thanhcủa tiếng khèn vùng cao Vẻ đẹp ấy cũng được tôn lên khi đặt trong hoàn cảnh khốc liệt của chiếntranh với những cơn sốt rét rừng đến rụng tóc, những hi sinh đau khổ đến tột cùng… Tất cả nhữngđiều đó đã in dấu trong tâm trí QD để đến hôm nay trong niềm vui được gặp lại những người đồng đội

cũ những kỉ niệm ấy sống dậy, thôi thúc nhà thơ viết lên những dòng thơ chân thực và hết sức LM này

Cảnh sông nước miền Tây mênh mang mờ ảo:

Đến 4 câu thơ này mạch cảm xúc đã có sự thay đổi Nếu như 4 câu thơ đầu là nỗi nhớ của nhàthơ về những đêm lửa trại, về 1 lần dừng chân của trung đoàn thì 4 câu thơ này nhân vật trữ tình lạinhớ đến con đường Tây Tiến Vẻ mơ màng huyền ảo của bức tranh sông nước miền Tây được gợi rangay từ câu thơ đầu tiên: Cái nền của bức tranh là màn sương núi mịt mờ lúc chiều buông xuống:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

“Người” gợi sự mơ hồ không xác định “Chiều sương”: không phải “buổi chiều”- đặc trưng của núirừng miền Tây, sương giăng mắc klhắp nơi đem đến 1 sự bình yên tĩnh lặng Tính chất hư ảo và thơmộng của thiên nhiên , người đi trong chiều mà như đi trong màn sương mờ ảo

Trên cái nền không gian mơ màng ấy QD đã chấm phá rất tài hoa nét đẹp của cảnh vật TB Cảnhvật như có linh hồn và phảng phất trong gió mây:

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Sông nước bên bờ đẹp và hoang dại như một bờ tiền sử, chỉ có “hồn lau” phơ phất trong gió Lau gợi nét đặc trưng của thiên nhiên miền Tây, lau mọc khắp các triền sông vách đá thung sâu Cảnh vật sinh động, đơn sơ mà lộng lẫy.Nhà thơ không tập trung miêu tả cây lau mà nắm bắt vào “hồn lau”- thần thái của cảnh vật, thiên nhiên như cũng có linh hồn Câu thơ gợi nhớ đến “Vệt Bắc”:

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Trang 27

Từ bức tranh thiên nhiên ấy con người xuất hiện với hình ảnh : con người trên những con thuyền độc mộc:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Con người không rõ nét mà nhoè mờ lôi cuốn qua cách diễn đạt phiếm chỉ “người đi” “dáng người”

mờ xa trên con thuyền độc mộc làm cho bức tranh thiên nhiên thêm hư ảo Những câu hỏi tu từ như đưa ta vào cõi hoài niệm để rồi từ đó hiện lên vẻ đẹp mơ màng, tĩnh lặng của sông nước miền Tây

Đã lùi dần và khuất hẳn những “Chiều chiều… trêu người” chỉ còn lại là buổi chiều thơ mộngvới đôi bờ phơ phất ngàn lau

Cảnh sông nước miền Tây được tác giả miêu tả bằng bút pháp gợi Cũng như Nguyễn Tuân, QD

có cái nhìn thấu đáo tới tận tậm linh của cảnh sông nước miền Tây Nhưng nếu Nguyễn Tuân miêu tả

bằng cả 1 đoạn văn: “Thuyền tôi… cổ tích xưa” thì QD chỉ bằng vài nét thoáng gợi : 1 chiều sương, 1

ngàn lau, 1 con thuyền độc mộc, 1 dáng người, 1 bến bờ xa xăm đã gợi rõ cái hồn của cảnh vật nơinày

Sự sáng tạo lớn nhất của khổ thơ này được dồn vào câu thơ cuối:

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Câu thơ tạo ra sự tương phản : dòng nước được miêu tả là 1 dòng nước cuộn trào mạnh mẽ với tất cảsức mạnh của sự hoang dại Nhưng trên dòng nước lũ ấy lại là hình ảnh 1 bông hoa trôi nhẹ nhàngđong đưa Tác giả không dùng “đung đưa” mà dùng “đong đưa” khiến những bông hoa kia như nhữngsinh thể có linh hồn không vô tình“đong đưa” như làm duyên, tình tứ trên dòng nước lũ.Sự đối lậptương phản này đã làm nên vẻ đẹp LM trữ tình của vùng sông nước.Phản ánh tâm hồn người lính:trong gian khổ hi sinh họ vẫn nhậy cảm tinh tế trước thiên nhiên, cảm nhận và qua sát vẻ đẹp của conngười

C Kết bài:

Không phải ngẫu nhiên mà XD đã có nhận xét: “Đọc thơ QD như ngậm nhạc trong miệng”, phảichẳng XD muốn nói tới chính những khổ thơ này?Quả thực đoạn thơ giàu chất nhạc và chất hoạ Nhạcđiệu được cất lên từ âm thanh của tiếng khèn, từ tâm hồn rạo rực của những người lính trẻ Hình ảnhđược gợi lên với ánh sáng lung linh của lửa đuốc và đường nét duyên dáng của những điệu múa xoè.Thơ QD “thi trung hữu hoạ”, tâm hồn của người lính cũng được xây đắp bằng chất hoạ chất thơ

Câu 22 Phân tích đoạn 3 của bài thơ "Tây Tiến"

A Mở bài:

Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông được thể hiện ở nhiều mặt: viết văn, vẽtranh, soạn nhạc, làm thơ Nhưng ông được biết đến trước hết là một nhà thơ Thơ Quang Dũng thểhiện ở một hồn thơ hào hoa, lãng mạn, phóng khoáng mà cũng rất hồn hậu đặc biệt là khi viết về xứĐoài mây trắng và người lính.Tên tuổi của ông đã gắn với thi phẩm “Tây Tiến”, tác phẩm tiêu biểu chohồn thơ Quang Dũng nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tácgiả dành cho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy

đã trào dâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến” Đây là bài thơ của người lính viết về ngườilính- anh vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống P Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ rất tự nhiên củanhà thơ về chiến trường và đồng đội của một thời đánh giặc vô cùng gian khổ mà rất đỗi hào hùng.Chính nỗi nhớ ấy đã “xâu chuỗi” các ý thơ trong từng đoạn với nhau để thành Tây Tiến của 1 thời kỳlịch sử không thể nào quên Ở đoạn 3 tác giả đã trực tiếp dựng lên bức tượng đài bi tráng và bất tử vềngười lính qua dáng vẻ bên ngoài và đời sống tâm hồn bên trong của họ

Tâu Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quang Dũng đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến để tạo nên bức tượngđài tập thể, khái quát được gương mặt chung cho cả quân đoàn Cái bi và cái hùng ở hai chất liệu chủyếu tạo nên vẻ đẹp bi tráng của bức tượng đài

Trang 28

Dáng vẻ và đời sống tâm hồn của người lính Tây Tiến:

Dáng vẻ- ngoại hình: Tác giả không không khắc hoạ 1 người lính cụ thể mà khắc hoạ họ trong

khuôn mặt số đông- những người đồng đội:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

“TT” được đặt ở đầu câu nhằm nhấn mạnh về 1 niềm tự hào kiêu hãnh “đoàn binh” từ Hán Việt gợi

âm vang khoẻ khắn và khí thế xung trận mạnh mẽ Đó là hình ảnh của 1 đoàn quan TT kiêu dũng anh hùng.Đã có 1 thời câu thơ này bị nhiều người phê phán Họ cho rằng câu thơ này đã thể hiện hình ảnh anh vệ quốc thật lạ lùng kì dị Sự thực cần phải thấy rằng đây là câu thơ không thể hiện vẻ ngoài của người chiến sĩ vệ quốc theo cách diễn đạt riêng của QD

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm

Hình ảnh “không mọc tóc”:Có ý kiến cho rằng người lính Tây Tiến đã phải cạo trọc đầu để

tiện cho những trận cận chiến Cũng có ý kiến cho rằng nhà thơ muốn thể hiện hình ảnh anh “vệ trọc” thời kháng chiến chống Pháp Đây là kết quả của những trận sốt rét rừng triền miên nơi rừng thiêng nước độc Người lính TT không chỉ hiện ra với vẻ ngoài kì dị “không mọc tóc” mà còn hiện ra qua

hình ảnh Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Cũng xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về hình ảnh thơ này: Có người cho rằng QD muốn nói đến người lính có quân phục màu xanh Có người cho đó là màu xanh của lá nguỵ trang Có ý kiến lại cho rằng đó là làn da xanh tái do những cơn sốt rét rừng hành hạ, sự vất vả thiếu thốn và khí hậu nơi rừng thiêng nước độc làm cho tóc rụng, da 1 màu xanh tái như những lá cây rừng

Hình ảnh đoàn quân khác thường có 1 không 2 đầy ấn tượng: Bệnh sốt rét đã làm biết bao chiến

sĩ rụng cả tóc, da dẻ xanh xao Có những đoàn quân số người chết vì sốt rét còn nhiều hơn số người nằm xuống nơi chiến trường

Thủ pháp tương phản đối lập: “không mọc tóc”, “xanh màu lá” >< “dữ oai hùm” đã phát huy hiệu quả, làm át đi vẻ ốm đau thiếu thốn, làm nổi bật lên sức mạnh lẫm liệt dữ dội oai hùng như con hổgiữa chốn rừng thiên Rõ ràng là Quang Dũng đã tả lính ốm mà không yếu, tiều tuỵ mà vẫn oai phong, sức mạnh tinh thần làm cho kẻ thù phải khiếp sợ

Các nhà thơ chống P miêu tả căn bệnh này như trong “Đồng chí” của Chính Hữu:

Tôi với anh… mồ hôi

Tố Hữu trong “Cá nước”:

“Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ”

Chỉ có điều các nhà thơ miêu tả bằng bút pháp HT thì QD lại miêu tả bằng bút pháp LM Dưới cái nhìn

LM của nhà thơ thì : mái đầu “không mọc tóc” lại mang vẻ dữ dội bất cần Da dẻ xanh xao nhưng qua cái nhìn LM lại liên tưởng đến màu xanh của rừng đại ngàn, lính TT hiện lên với vẻ kiêu dũng như chúa sơn lâm giữa chốn rừng thiêng

Đời sống tâm hồn: Trong bài thơ, bút pháp LM và cảm hứng bi tráng hoà quện vào nhau

Những người lính TT được khắc hoạ vẻ ngoài gân guốc, mạnh mẽ ấy lại có đời sống tâm hồn thật mộng mơ LM

Hình ảnh “mắt trừng”: Lính TT đa phần là HSSV Hà Nội, tuổi đời còn rất trẻ nên hành trang

vào chiến trường của họ không chỉ là súng ống gươm đao mà cả 1 tâm hồn LM:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

“mắt trừng” : ánh mắt mở to, dữ dằn khi đối diện với quân thù ánh mắt ấy “gửi mộng qua biên giới”.Những anh hùng hào kiệt ấy họ không phải là những cỗ máy sắt thép lạnh lùng mà là những con ngườiđằm thắm trong tình cảm Chiến đấu ở miền viễn xứ họ vẫn gửi mộng qua biên giới, giấc mộng khaokhát giệt giặc lập công bảo vệ miền biên cương xa xôi của TQ

Người lính TT vừa hào hùng mà hào hoa, quả cảm mà lãng mạn Chỉ mới qua 1 câu thơ thôi mà

đã thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người lính Ta hiểu vì sao có người lại cho rằng câu thơ như chứađựng 2 thế giới Cái nhìn của nhà thơ về người lính không đơn giản 1 chiều, nhà thơ đã cố gắng biểuhiện không chỉ vẻ ngoài mà còn cả đời sống tinh thần của người lính

Tác giả đi sâu vào để thể hiện những mộng mơ của người lính:

Đêm mơ Hà nội dáng Kiều thơm

Họ nhớ về “HN dáng kiều thơm”, những góc phố cũ mái trường xưa, những thiếu nữ kiều diềmkiêu sa của Hà thành Những giấc mơ ấy tưởng như đơn giản bình thường thôi nhưng thực ra lại là

Trang 29

động lực để các anh chiến đấu Ban ngày giấc mộng của các anh hướng về trận mạc nhưng khi đêmđến, bom đạ qua rồi giấc mơ của các anh lại hướng về phía sau, nhưng thực tế lại là tương lai phíatrước – 1 ngày mai đất nước sạch bóng quân thù các anh lại trở về quê hương để nối lại giấc mơ xưa.Những câu thơ nói về vẻ đẹp tâm hồn người lính có thời bị phê phán là thiếu chân thực, là mộngrớt uỷ mị Thực ra viết như QD mới phản ánh đúng hình tượng người lính vốn xuất thân từ tầng lớp trí

thức Cũng nói về nỗi nhớ này, Chính Hữu nhớ về: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, Hồng

Nguyên:

ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya

Những anh lính xuất thân từ nông dân nên nhớ về những gì gần gũi quen thuộc, còn những anhlính TT lại rất đỗi hào hoa Đó là những phút giây họ sống thực với lòng mình, hướng về thủ đô yêudấu Giấc mơ ấy thật dịu dàng LM hào hoa Những yêu thương ấy không làm cho con người ta uỷ mịyếu hèn mà trái lại còn làm cho họ giàu lòng yêu đời hơn, có thêm sức mạnh để đối diện với những hisinh gian khổ Tình yêu gia đình và tình yêu đất nước luôn hòa quyện, bổ sung, nâng đỡ tâm hồn ngườilính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ Quang Dũng diễn tả rất tinh tế, biện chứng tâm hồn người línhtrong cuộc kháng Pháp nói riêng và người lính trong các cuộc chiến tranh li tán nói chung Bởi trongcác anh, ai cũng có một trái tim biết yêu tha thiết đất nước quê hương, một trái tim biết căm thù quânxâm lược… thật đẹp, thật hào hùng và lãng mạn! Những hình ảnh thơ thể hiện tâm hồn mộng mơ,

lãng mạn của người lính - những chàng trai ra đi từ đất Hà Nội thanh lịch Thiếu thốn mà vẫn mơ mộng, những giấc “mộng” và “mơ” ấy như tiếp thêm sức mạnh để các anh vượt gian khổ để lập nên

nhiều chiến công

Bốn câu thơ sau: Sự hy sinh của người lính Tây Tiến: Vẻ đẹp bi tráng

Nếu như 4 câu thơ trước nói về khó khăn thử thách mà người lính TT phải trải qua thì đến 4 câuthơ này nói đến những mất mát hi sinh người lính phải đối mặt Đoạn thơ đã thể hiện cảm hứng bihùng, bi tráng: Thắng lợi thành công và vinh quang nào chẳng phải trả giá bằng hi sinh mất mát Sự hisinh của người lính TT được thể hiện:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Thơ viết về chiến tranh người ta thường viết về cái hùng hơn cái bi QD 1 lần nữa không hề nétránh thực tế khắc nghiệt của cuộc chiến đấu và không hề né tránh cả sự hi sinh Cái bi thương đượcgợi lên từ những nấm mồ hoang nằm rải rác nơi chốn biên cương miền viễn xứ gợi 1 nỗi xót xa đauđớn Câu thơ phản ánh 1 thực tế cuộc sông chiến đấu của những ngày Tây Tiến: Chỉ riêng ở nơi cótrạm quân y của trung đoàn đã có tới 200 nấm mồ lịêt sĩ Nỗi bi thương như vợi đi khi tác giả dùng từ

Hán Việt: biên cương- mồ- viễn xứ Những từ Hán Việt cổ kính trang trọng này đã biến những nấm mồ

hoang nơi rừng sâu biến giới thành những ngôi mộ chí trang nghiêm cõi vĩnh hằng Hình ảnh nấm mồmiền viễn xứ thoáng gợi 1 cảm giác ảm đạm nhưng mỗi khi chìm trong đau thương hồn thơ QD lại vútlên âm hưởng hào hùng bi tráng:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Câu thơ mạnh mẽ và quyết liệt như 1 lời tuyên thệ “Đời xanh” với bao khát vọng hoài bão và ước mơ chỉ có 1 lần trong đời ấy vậy mà không hề tiếc nuối Hai từ “chẳng tiếc” đặt ở giữa câu thơ diễn tả thái

độ tự nguyện, dứt khoát của những con người ra đi “Quyết tử cho TQ quyết sinh” Lý tưởng của họ khi

đặt bên cạnh những nấm mồ kia thì cảm giác bi thương không còn nữa mà đã nâng lên thành cảm hứng

bi hùng Đời xanh hay tuổi trẻ - tuổi hai mươi-tuổi của chí tang bồng dặm nghìn da ngựa thì xá gì cáichết!

“ Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

(Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”

(Thanh Thảo)

Những câu thơ nói về lí tưởng của người lính thật xúc động biết bao!

Câu thơ phảng phất giống hình ảnh người tráng sĩ trong VH cổ như Kinh Kha vượt sông Dịch

giết Tần Thuỷ Hoàng:

Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê

Tráng sĩ 1 đi không trở về

Nhưng lại mang tinh thần thời chống Pháp:

“Đoàn vệ quốc quân 1 lòng ra đi… chớ lui”

Trang 30

Thử hỏi còn sự hi sinh nào cao đẹp hơn như thế?

Nói về cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến QD đã khép lại:

áo bào thay chiếu anh về đất

Đây chính là sự thực nghiệt ngã : những người lính trẻ trung, hào hoa đã gửi thân mình nơi biêncương xa xôi, đồng đội đã chôn cất các anh bằng những manh chiếu hay bằng chính tấm áo của cácanh đã rách vai bạc màu vì sương gió Nếu nhìn bằng hiện thực đơn thuần thì cái chết của người lính

TT thật xót xa đau đớn bởi khi các anh về cõi vĩnh hằng thì mảnh chiếu bọc thây cũng không có Nhưng dưới cái nhìn LM thì tấm áo rách vai bạc màu vì sương gió ấy lại thành tấm áo bào sangtrọng, làm cho cái chết của các anh thêm trang trọng thiêng liêng, như phủ ánh hào quang lấp lánh

Chính QD đã từng nói câu thơ áo bào thay chiếu anh về đất là cách nói riêng của người lính TT, mượn

cách nói LM của thơ cổ để an ủi đồng chí vừa ngã xuống Với cách diễn đạt ấy người lính TT đã trởthành những người tráng sĩ hào kiệt bỏ mình chốn sa trường Trong bài thơ chưa 1 lần QD dùng từ

“chết” mà nhà thơ đã dùng biện pháp nói giảm Lần này “anh về đất” như để xoa dịu nỗi đau, vừa bất

tử hoá cái chết, vừa ca ngợi sự hi sinh thầm lặng Với các anh chết không phải là hết mà là 1 cuộc hànhtrinh trở về đất mẹ Mẹ hiền TQ dang rộng vòng tay đón nhận những đứa con thân yêu sau khi đã hoànthành nghĩa lớn Các anh “về đất” là hoá thân vào sông núi, các anh sẽ còn mãi mãi với nhân dân TQ.Nói theo cách nói của NKĐ thì:

“Ôi đất nước sau 4000 năm… núi sông ta”.

Tiếng gầm dòng sông Mã:

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Người nằm lại miền viễn xứ chỉ có áo bào thay chiếu nhưng đã có đất mẹ đón các anh về Người

về đất chẳng tiếc đời xanh còn người ở lại thì sống trong xúc cảm đặc biệt Đồng đội cùng với dòngsông vô tận và lòng đất vô biên lại nghe như có gì rạn vỡ bên trong, đồng đội không khóc nhưng nghenhư có gì gầm than trầm uất Đó là biểu hiện cao độ của nỗi đau.SM gắn với lịch sử đoàn binh TT,chứng kiến những khó khăn gian khổ và sự kiêu hùng của các anh nay lại chứng kiến sự hi sinh củacác anh Khi các anh về cõi vĩnh hằng không có tiếng kèn đưa tiễn thì đã có tiếng gầm SM Nó là tiếngkèn đưa tiễn anh linh người lính, là sự đau thương căm hờn để tiễn đưa các anh về cõi vình hằng.Tiếng gầm ấy làm rung động cả 1 chốn hoang sơ, đã nâng cái chết của người lính lên tầm vóc sử thihoành tráng, cái chết lớn cần có 1 sự đưa tiễn lớn như thế

Người lính hi sinh vì lý tưởng cao đẹp, cái chết của họ tạo được sự cảm thông sâu sắc của thiênnhiên, trời đất Đồng đội cùng dòng sông chứng giám người lính về với cõi trường tồn bất tử Chắc hẳn

sự hi sinh của đồng đội đã để lại cho QD ấn tượng mạnh mẽ, và cũng chắc hẳn người lính ấy nằm lạibên dòng sông Mã cho nên cứ nhớ những ngày TT là QD lập tức nhớ về dòng sông Mã

Bút pháp hiện thực và lãng mạn.

C Kết bài: Đoạn thơ như bức tượng đài thi ca về người lính bất tử Hình ảnh người lính trong cõi

sống và cả cõi hi sinh đều bi tráng, lãng mạn hào hùng Giọng điệu đoạn thơ trang trọng, thể hiện tìnhcảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng chí Bài thơđược xem như một kiệt tác, nó ra đời và lưu truyền rộng rãi trong quân đội và những người yêu thơtrong suốt thế kỉ qua, ghi lại chặng đường anh hùng của một đơn vị anh hùng và cũng là tinh thầnchung của quân và dân ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp xâm lược.Với đoạn thơ này nhà thơ đãtạc 1 bức tượng đài bất tử sừng sững về người lính: những con người bất khuất kiên cường nhưng hàohoa LM, những chiến sĩ ra đi từ thủ đô HN mang tinh thần “Quyết tử… sinh” như nhà thơ Giang Namviết:

Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và đoàn binh ấy con người ấy Sống mãi muôn đời với núi sông

Câu 23 Phân tích bài thơ "Tây Tiến" ( hay Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ)

Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông được thể hiện ở nhiều mặt: viết văn, vẽtranh, soạn nhạc, làm thơ Nhưng ông được biết đến trước hết là một nhà thơ Thơ Quang Dũng thểhiện ở một hồn thơ hào hoa, lãng mạn, phóng khoáng mà cũng rất hồn hậu đặc biệt là khi viết về xứ

Trang 31

Đoài mây trắng và người lính.Tên tuổi của ông đã gắn với thi phẩm “Tây Tiến”, tác phẩm tiêu biểu chohồn thơ Quang Dũng nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tácgiả dành cho đồng đội và mảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy

đã trào dâng để rồi Quang Dũng đã viết nên “Tây Tiến” Đây là bài thơ của người lính viết về ngườilính- anh vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống P Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ rất tự nhiên củanhà thơ về chiến trường và đồng đội của một thời đánh giặc vô cùng gian khổ mà rất đỗi hào hùng.Chính nỗi nhớ ấy đã “xâu chuỗi” các ý thơ trong từng đoạn với nhau để thành Tây Tiến của 1 thời kỳlịch sử không thể nào quên Viết về họ, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài về người lính trong cuộckháng chiến chống Pháp với hai vẻ đẹp: bi tráng và lãng mạn, hào hoa

B Thân bài:

Tây Tiến được viết theo bút pháp lãng mạn Bút pháp này có khuynh hướng tô đậm những

cái khác thường và sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập nhằm tác động mạnh vào cảm quan của ngườiđọc Cái khác thường, cái đặc biệt cũng để khêu gợi trí tưởng tượng vốn là đặc trưng của cảm hữnglãng mạn Chính vì vậy, bức tượng đài về người lính Tây Tiến được nhà thơ xây dựng bằng hai chấtliệu: bi tráng và lãng mạn, hào hùng và hào hoa

Hình tượng người lính Tây Tiến ẩn hiện trong bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ

dội (đoạn đầu)

Trong đoạn thơ, Quang Dũng nhắc tới hàng loạt các địa danh: Sài Khao, Mường Lát, PhaLuông, Mường Hịch, Mai Châu không theo một trình tự nhất định nào, nó hiện về trong nỗi nhớ vơiđầy và ấn tượng về những chặng đường Tây Tiến đã phải hành quân nếm trải bao gian khổ, hi sinh.Trong tâm trí nhà thơ, ông không thể quên được những cuộc hành quân phải leo dốc núi, cả đoàn quânchìm lấp trong sương rừng mây núi dày đặc, mà còn phải trải qua bao núi, dốc, vực, rừng vô cùng dữdội, hiểm ác

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Nói đến cái cao, sâu, heo hút, hiểm trở của núi rừng cũng là để nói lên cái gian khổ của ngườilính Những câu thơ nhiều thanh trắc đọc lên nghe trúc trắc, gồ ghề cảm giác như nghe thấy cả hơi thởgấp gáp, mệt nhọc của người lính đang hành quân, lúc leo lên, lúc trượt xuống, dốc dựng đứng váchthành biết bao hiểm nguy Nhưng nét vẽ của nhà thơ không để hình ảnh người lĩnh chìm trong bi lụy

mà vút lên bằng cụm từ “súng ngửi trời” thật bạo, thật lạ và đầy sức gợi Chẳng phải khi người lính đãđạt tới đỉnh cao của những ngọn núi chót vót thì cả người và súng tưởng như chạm vào mây trời đósao!

Hình ảnh người lính khi đạt được độ cao như bay giữa ngàn mây, tâm hồn nhẹ lâng trút hết mọimệt nhọc để phóng tầm mắt ra bốn hướng ngắm nhìn: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Dường nhưcâu thơ đã được phủ lên màn sương lãng mạn của những nốt nhạc, đẩy tâm hồn người lính vượt lên cáikhốc liệt của chiến tranh Trong bài thơ Lên Tây Bắc, nhà thơ Tố Hữu cũng vẽ lên hình ảnh rất đẹp vàlãng mạn của người lính:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo”

-Trong chiến tranh, người lính phải chịu đựng gian khổ, hi sinh nhiều nhất nhưng qua cái nhìnlãng mạn, Quang Dũng nói về điều đó thật nhẹ nhàng:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Câu thơ trước đó, nhà thơ đã nói đến hình ảnh “đoàn quân mỏi”, thực tế trên bước đường hànhquân, người lính mỏi mệt tới kiệt sức vì dãi dầu mưa nắng ngày này đêm khác, vì đói rét, bệnh tật.Trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, nhà thơ đã nói thật chân xác về những hi sinh mất mát

ấy của các anh:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường là mỗi bước hi sinh”

Trang 32

Đúng vậy! Mỗi bước đường là mỗi bước hi sinh nhưng Quang Dũng không nhìn sự mất mát ấy

ở chiều quá lụy Nhà thơ nói rất nhẹ nhàng “không bước nữa”, “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Cácanh “gục lên súng mũ” chìm vào giấc ngủ tạm thời để lấy lại sức, hay chìm hẳn vào giấc mộng ngànthu, bỏ lại phía sau sự mất – còn? Dù thế nào thì các anh đã hiểu dấn thân là chấp nhận, coi cái chếtnhẹ tựa lông hồng (gieo Thái Sơn nhẹ tựa lông mao) Đó là vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến nóiriêng và người lính trong các cuộc chiến tranh vệ quốc nói chung

Sự hoang sơ dữ dội của núi rừng miền Tây không chỉ mở ra theo chiều không gian vời vợi vớinhững “dốc lên khúc khuỷu” mà còn được miêu tả theo chiều thời gian:

“Chiều chiều….trêu người”

“Chiều chiều” , đêm đêm” của núi rừng heo hút là thời điểm chứa đầy sự đe doạ nguy hiểm bấtchắc với con người Nhà thơ đã tạo cho người đọc 1 ấn tượng thật đặc biệt về dòng thác dữ qua phếpnhân hoá : “trêu”, “gầm thét”-> Núi rừng miền Tây như rung chuyển trong bản giao hưởng hùng vĩ củađại ngàn với tiếng thác gầm dữ dội Tô đậm ấn tượng về vùng rừng núi hoang vắng đã ngự trị và chiếmvai trò chúa tể Hoang dại là vậy, hiểm nguy là thế nhưng người lính vẫn đùa tếu lạc quan.Thác gầm

dữ dội, cọp trêu người cũng không hù doạ được những chiến binh, “cọp trêu người” là cách nói đùavui tếu táo Sự dữ dội và bí ẩn của thiên nhiên chỉ là những thử thách để người chiến sĩ vượt qua hiểmnguy chết chóc giành được chiến thắng

Cuối đoạn thơ, xua đi tất cả nỗi ám ảnh về những ngày hành quân gian khổ, ta lại thấy trong tâmhồn người lính chan chứa bao cảm xúc khi được sưởi ấm trong cuộc sống vui vầy, đầm ấm trong giađình của nhân dân:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

“Nhớ ôi”: nỗi nhớ chân thành thắm thiết được thốt lên từ đáy lòng, ta như hình dung thấy cảnhững làn khói bốc lên nghi ngút từ những mái đầu dãi dầu sương gió và như nghe thấy tiếng xuýt xoacảm động của những người lính trẻ Sau những câu thơ nói về miền Tây với núi rừng, sương mờ…

thoáng gợi cảm giác lạnh thì hình ảnh “cơm lên khói” lại tạo 1 cảm giác ấm lòng

Nhưng câu thơ “ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đã thực sự vượt ra khỏi những kỉ niệm riêng

tư để hướng tới những gì khái quát hơn về tình quân dân: đó là giây phút êm đềm, lãng mạn, tình cảm quen thuộc của một thời kháng chiến Không còn nữa núi cao vực thẳm sương dày, thác gầm thét, cọp trêu người… Giờ đây các chiến sĩ TT trở về với cuộc sống bình dị ấm áp, được nhân dân cưu mang đùm bọc chở che, những dáng hồng sơn cước trao tận tay những người lính trẻ gói cơm nếp mang hương vị núi rừng Cơm nếp xôi cũng là lòng thơm thảo của lòng người, xua tan đi mệt mỏi trên khuânmặt người lính khiến họ tươi tỉnh hẳn lên

Chất hào hoa, lãng mạn của người lính đặc biệt được thể hiện ở đoạn 2:Trong chiến tranh,

thật hiếm có điểm dừng chân bên xóm núi, được giao lưu văn nghệ giữa quân với dân đầm ấm, tươivui, bình yên như thế này

Nhà thơ như đang nhớ về nới đóng quân của trung đoàn ở miền Tây Đó là 1 điểm dừng chânbất chợt với đống lửa đêm rừng bập bùng Nhưng hiện thực ấy đã đi vào thơ Quang Dũng với tát cảnhững gì là trang trọng và rực rỡ Đêm liên hoan văn nghệ với những ngọn đuốc hoa hiện lên thật lunglinh huyền ảo Người lính Tây Tiến hoà chung niềm vui với đồng bào địa phương nơi mình đóng quân

Ở đây ta bắt gặp những câu thơ vừa giàu chất nhạc vừa giàu chất hoạ:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Nơi trú quân tạm thời thành “doanh trại” uy nghiêm hoành tráng Thực tế ra đây chỉ là trongtưởng tượng bởi người lính trong những năm tháng ấy với sự thiếu thốn gian khổ như Hồng Nguyên đãtừng miêu tả:

Chúng tôi đi

Nắng mưa sờn mép ba lô

Tháng năm bạn cùng thôn xóm

Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động

Qua nhiều nơi, không nhớ hết tên làng”

Vì thế ta càng thấy 2 chữ “doanh trại” chỉ là hoành tráng ảo mà thôi Cái nhìn của QD đã nânghiên thực bình dị thành cái lớn lao

Đêm liên hoan văn nghệ:

Trang 33

núi rừng ánh sáng “bừng” của đêm liên hoan văn nghệ “Bừng” động từ mạnh giúp ta hình dungđược sự sáng lên 1 cách bất ngờ của những ngọn đuốc, đẩy lùi bóng tối và khí lạnh nơi núi rừng làmdậy lên cả 1 không khí của 1 lễ hội tưng bừng náo nhiệt Đó không đơn thuần là ánh lửa rừng mà còn

là sự bừng sáng trong tâm hồn, của niềm vui rạng rỡ Đặc bịêt là “hội đuốc hoa”- 1 hình ảnh diễn tảngọn lửa đuốc trong đêm lửa trại gợi ta liên tưởng đến 1 lễ hội hoa đăng vui tươi, 1 bữa tiệc ánh sánggiữa rừng sâu TB.Câu thơ còn cho ta thấy cả tâm trạng của QD: trong tâm tưởng của nhà thơ cũngđang bừng lên những kỉ niệm về đêm hội hoa đăng như đang sống trong tâm trạng của người lính nămxưa: đang ngất ngây nghiêng ngả trong tiếng khèn điệu múa miền Tây Ngọn đuốc của đem liên hoanvăn nghệ qua ccái nhìn LM thành “đuốc hoa”- xua đi bóng đêm sự lạnh lẽo của núi rừng, gợi khôngkhí náo nức tưng bừng

Nổi bật lên trong đêm hội hoa đắng ấy là những cô gái miền sơn cước:

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Tuy nhiên lại xuất hiện những cách giải thích không giống nhau về “em”: có 2 cách hiểu:Thiếu

nữ TB duyên dáng tham gia vào đêm liên hoan văn nghệ của người lính Trong cái nhìn đắm say củangười lính trẻ, “em” hiện lên đẹp đẽ lộng lẫy với xiêm áo rực rỡ sắc màu, vừa duyên dáng tình tứ, vừadịu dàng e ấp Người lính TT đóng vai để đùa vui với nhau, để vợi bớt đi những khó khăn gian khổ, hisinh khi trong đêm liên hoan văn nghệ chỉ toàn là lính cả Cách hiểu này cũng tô đậm nét hào hoa củangười lính TT.Trong nỗi nhớ của QD không chỉ ấn tượng về “em” mà còn ấn tượng về “xiêm áo” và vẻ

“e ấp”:Xiêm áo rực rỡ của cô gái vùng cao càng nổi bật trước hình ảnh đoàn quân “xanh màu lá”.Hai chữ “e ấp” nói đến nét duyên dáng của cô gái Sự hiện diện của “em” đã làm dịu đi hiện thựckhốc liệt của cuộc kháng chiến Người lính Tây Tiến bị hút tầm mắt và ngỡ ngàng ngây ngất “kìa”trước sự xuất hiện với vẻ đẹp quyến rũ tình tứ, lộng lẫy của thiếu nữ trong trang phục ngày hội

Âm thanh: Lính TT không chỉ say mê với vẻ đẹp xiêm áo , vẻ đẹp của người thiếu nữ mà còn say

mê với tiếng kèn miền Tây

“Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Khèn: 1 loại nhạc cụ vùng cao.“Man điệu” có thể hiểu là giai điệu của miền đất lạ nhưng cũng có thể

là vũ điệu của sơn nữ , đã gợi đúng cái thần độc đáo của tiếng khèn nghe như hoang dã bí ẩn mà đầyquyến rũ

Người lính Tây Tiến nhìn, ngắm, lắng nghe để rồi mơ màng thả hồn bay bổng về miền xa xôi

“Viên Chăn” mơ tưởng tới ngày mai tươi đẹp, chắp cánh cho tâm hồn họ với những cảm xúc phiêu dubay bổng

Qua đêm liên hoan văn nghệ ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ của người chiến binh: gian khổ

mà vẫn hào hoa, nhọc nhằn dọc đường nhưng vẫn bâng khuâng xao xuyến với những rung động đầychất thơ Họ bước vào cuộc chiến không chỉ bằng gươm đao súng ống mà còn với tất cả nhu cầu vềvăn hoá tinh thần Họ biết thưởng thức điệu múa của đồng bào dân tộc, biết đắm say trong âm thanhcủa tiếng khèn vùng cao Vẻ đẹp ấy cũng được tôn lên khi đặt trong hoàn cảnh khốc liệt của chiếntranh với những cơn sốt rét rừng đến rụng tóc, những hi sinh đau khổ đến tột cùng… Tất cả nhữngđiều đó đã in dấu trong tâm trí QD để đến hôm nay trong niềm vui được gặp lại những người đồng đội

cũ những kỉ niệm ấy sống dậy, thôi thúc nhà thơ viết lên những dòng thơ chân thực và hết sức LM này Giã từ đêm liên hoan văn nghệ, giã từ những phút giây êm đềm thắm tình quân dân cá nước,Tây Tiến lại lên đường, lặng lẽ hành quân trong chiều sương ấy Lòng “người đi” trào dâng nỗi niềmnhớ thương “nhớ hồn lau nẻo bến bờ”, “nhớ dáng người trên độc mộc”, nhớ “dòng nước lũ hoa đongđưa” Đời lính nay đây mai đó nhưng “Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương”? “Khi ta ở, chỉ là nơiđất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn” Rời xa thiên nhiên, con người miền Tây biết bao quyến luyến,thiên nhiên thơ mộng, thi vị, thấm vào hồn người hay chính tâm hồn con người mộng mơ nhạy cảmtrước cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước? Để từ đó càng thêm yêu cuộc sống, sàng thôi thúc hơn ý chí

ra đi bảo vệ sự bình yên cho đất nước muôn đời Lời thơ mênh mang, bay bổng thể hiện nét đẹp trongtâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến

Đến đoạn 3, Chân dung người lính hiện lên rất hào hùng, hào hoa, bi tráng.

Nếu ở các đoạn trước, hình ảnh người lính còn ẩn hiện trong bức tranh hùng vĩ, dữ dội và thơmộng của thiên nhiên miền Tây thì ở đoạn này hình ảnh người lính được hiện lên rõ nét Quang Dũng

đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến để tạo nên bức tượng đài tập thể, khái

Trang 34

quát được gương mặt chung của cả đoàn quân Cái hào hùng, cái hào hoa lãng mạn là những chất liệuchủ yếu tạo nên vẻ đẹp bi tráng của bức tượng đài.

Bốn câu thơ đầu: Dáng vẻ và đời sống tâm hồn của người lính Tây Tiến:

Dáng vẻ- ngoại hình: Tác giả không không khắc hoạ 1 người lính cụ thể mà khắc hoạ họ trong

khuôn mặt số đông- những người đồng đội:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

“TT” được đặt ở đầu câu nhằm nhấn mạnh về 1 niềm tự hào kiêu hãnh “đoàn binh” từ Hán Việt gợi

âm vang khoẻ khắn và khí thế xung trận mạnh mẽ Đó là hình ảnh của 1 đoàn quan TT kiêu dũng anh hùng.Đã có 1 thời câu thơ này bị nhiều người phê phán Họ cho rằng câu thơ này đã thể hiện hình ảnh anh vệ quốc thật lạ lùng kì dị Sự thực cần phải thấy rằng đây là câu thơ không thể hiện vẻ ngoài của người chiến sĩ vệ quốc theo cách diễn đạt riêng của QD

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm

Hình ảnh “không mọc tóc”:Có ý kiến cho rằng người lính Tây Tiến đã phải cạo trọc đầu để

tiện cho những trận cận chiến.Cũng có ý kiến cho rằng nhà thơ muốn thể hiện hình ảnh anh “vệ trọc” thời kháng chiến chống Pháp Đây là kết quả của những trận sốt rét rừng triền miên nơi rừng thiêng nước độc Người lính TT không chỉ hiện ra với vẻ ngoài kì dị “không mọc tóc” mà còn hiện ra qua

hình ảnh Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Cũng xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về hình ảnh thơ này: Có người cho rằng QD muốn nóiđến người lính có quân phục màu xanh.Có người cho đó là màu xanh của lá nguỵ trang Có ý kiến lại cho rằng đó là làn da xanh tái do những cơn sốt rét rừng hành hạ, sự vất vả thiếu thốn và khí hậu nơi rừng thiêng nước độc làm cho tóc rụng, da 1 màu xanh tái như những lá cây rừng Hình ảnh đoàn quân khác thường có 1 không 2 đầy ấn tượng: Bệnh sốt rét đã làm biết bao chiến sĩ rụng cả tóc, da dẻ xanh xao Có những đoàn quân số người chết vì sốt rét còn nhiều hơn số người nằm xuống nơi chiến trường

Thủ pháp tương phản đối lập: “không mọc tóc”, “xanh màu lá” >< “dữ oai hùm” đã phát huy hiệu quả, làm át đi vẻ ốm đau thiếu thốn, làm nổi bật lên sức mạnh lẫm liệt dữ dội oai hùng như con hổgiữa chốn rừng thiên Rõ ràng là Quang Dũng đã tả lính ốm mà không yếu, tiều tuỵ mà vẫn oai phong, sức mạnh tinh thần làm cho kẻ thù phải khiếp sợ

Các nhà thơ chống P miêu tả căn bệnh này như trong “Đồng chí” của Chính Hữu:

Tôi với anh… mồ hôi

Tố Hữu trong “Cá nước”:

“Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ”

Chỉ có điều các nhà thơ miêu tả bằng bút pháp HT thì QD lại miêu tả bằng bút pháp LM Dưới cái nhìn LM của nhà thơ thì : mái đầu “không mọc tóc” lại mang vẻ dữ dội bất cần Da dẻ xanh xao nhưng qua cái nhìn LM lại liên tưởng đến màu xanh của rừng đại ngàn, lính TT hiện lên với vẻ kiêu dũng như chúa sơn lâm giữa chốn rừng thiêng

Đời sống tâm hồn: Trong bài thơ, bút pháp LM và cảm hứng bi tráng hoà quện vào nhau.

Những người lính TT được khắc hoạ vẻ ngoài gân guốc, mạnh mẽ ấy lại có đời sống tâm hồn thậtmộng mơ LM

Hình ảnh “mắt trừng”: Lính TT đa phần là HSSV Hà Nội, tuổi đời còn rất trẻ nên hành trang

vào chiến trường của họ không chỉ là súng ống gươm đao mà cả 1 tâm hồn LM:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

“mắt trừng” : ánh mắt mở to, dữ dằn khi đối diện với quân thù ánh mắt ấy “gửi mộng qua biên giới” Những anh hùng hào kiệt ấy họ không phải là những cỗ máy sắt thép lạnh lùng mà là những con người đằm thắm trong tình cảm Chiến đấu ở miền viễn xứ họ vẫn gửi mộng qua biên giới, giấc mộng khao khát giệt giặc lập công bảo vệ miền biên cương xa xôi của TQ

Người lính TT vừa hào hùng mà hào hoa, quả cảm mà lãng mạn Chỉ mới qua 1 câu thơ thôi mà

đã thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người lính Ta hiểu vì sao có người lại cho rằng câu thơ như chứađựng 2 thế giới Cái nhìn của nhà thơ về người lính không đơn giản 1 chiều, nhà thơ đã cố gắng biểuhiện không chỉ vẻ ngoài mà còn cả đời sống tinh thần của người lính

Tác giả đi sâu vào để thể hiện những mộng mơ của người lính:

Đêm mơ Hà nội dáng Kiều thơm

Trang 35

Họ nhớ về “HN dáng kiều thơm”, những góc phố cũ mái trường xưa, những thiếu nữ kiều diềmkiêu sa của Hà thành Những giấc mơ ấy tưởng như đơn giản bình thường thôi nhưng thực ra lại làđộng lực để các anh chiến đấu Ban ngày giấc mộng của các anh hướng về trận mạc nhưng khi đêmđến, bom đạ qua rồi giấc mơ của các anh lại hướng về phía sau, nhưng thực tế lại là tương lai phíatrước – 1 ngày mai đất nước sạch bóng quân thù các anh lại trở về quê hương để nối lại giấc mơ xưa.Những câu thơ nói về vẻ đẹp tâm hồn người lính có thời bị phê phán là thiếu chân thực, là mộngrớt uỷ mị Thực ra viết như QD mới phản ánh đúng hình tượng người lính vốn xuất thân từ tầng lớp trí

thức Cũng nói về nỗi nhớ này, Chính Hữu nhớ về: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, Hồng

Nguyên:

ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya

Những anh lính xuất thân từ nông dân nên nhớ về những gì gần gũi quen thuộc, còn những anhlính TT lại rất đỗi hào hoa Đó là những phút giây họ sống thực với lòng mình, hướng về thủ đô yêudấu Giấc mơ ấy thật dịu dàng LM hào hoa Những yêu thương ấy không làm cho con người ta uỷ mịyếu hèn mà trái lại còn làm cho họ giàu lòng yêu đời hơn, có thêm sức mạnh để đối diện với những hisinh gian khổ

Những hình ảnh thơ thể hiện tâm hồn mộng mơ, lãng mạn của người lính - những chàng trai ra

đi từ đất Hà Nội thanh lịch Thiếu thốn mà vẫn mơ mộng, những giấc “mộng” và “mơ” ấy như tiếp

thêm sức mạnh để các anh vượt gian khổ để lập nên nhiều chiến công

Bốn câu thơ sau: Sự hy sinh của người lính Tây Tiến: Vẻ đẹp bi tráng

Nếu như 4 câu thơ trước nói về khó khăn thử thách mà người lính TT phải trải qua thì đến 4 câuthơ này nói đến những mất mát hi sinh người lính phải đối mặt Đoạn thơ đã thể hiện cảm hứng bihùng, bi tráng.Thắng lợi thành công và vinh quang nào chẳng phải trả giá bằng hi sinh mất mát Sự hisinh của người lính TT được thể hiện:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Thơ viết về chiến tranh người ta thường viết về cái hùng hơn cái bi QD 1 lần nữa không hề nétránh thực tế khắc nghiệt của cuộc chiến đấu và không hề né tránh cả sự hi sinh Cái bi thương đượcgợi lên từ những nấm mồ hoang nằm rải rác nơi chốn biên cương miền viễn xứ gợi 1 nỗi xót xa đauđớn Câu thơ phản ánh 1 thực tế cuộc sông chiến đấu của những ngày Tây Tiến: Chỉ riêng ở nơi cótrạm quân y của trung đoàn đã có tới 200 nấm mồ lịêt sĩ Nỗi bi thương như vợi đi khi tác giả dùng từ

Hán Việt: biên cương- mồ- viễn xứ Những từ Hán Việt cổ kính trang trọng này đã biến những nấm mồ

hoang nơi rừng sâu biến giới thành những ngôi mộ chí trang nghiêm cõi vĩnh hằng

Hình ảnh nấm mồ miền viễn xứ thoáng gợi 1 cảm giác ảm đạm nhưng mỗi khi chìm trong đauthương hồn thơ QD lại vút lên âm hưởng hào hùng bi tráng:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Câu thơ mạnh mẽ và quyết liệt như 1 lời tuyên thệ “Đời xanh” với bao khát vọng hoài bão và ước mơ chỉ có 1 lần trong đời ấy vậy mà không hề tiếc nuối Hai từ “chẳng tiếc” đặt ở giữa câu thơ diễn tả thái

độ tự nguyện, dứt khoát của những con người ra đi “Quyết tử cho TQ quyết sinh” Lý tưởng của họ khi

đặt bên cạnh những nấm mồ kia thì cảm giác bi thương không còn nữa mà đã nâng lên thành cảm hứng

bi hùng Đời xanh hay tuổi trẻ - tuổi hai mươi-tuổi của chí tang bồng dặm nghìn da ngựa thì xá gì cáichết!

“ Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

(Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”

(Thanh Thảo)

Những câu thơ nói về lí tưởng của người lính thật xúc động biết bao!

Nói về cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến QD đã khép lại:

áo bào thay chiếu anh về đất

Đây chính là sự thực nghiệt ngã : những người lính trẻ trung, hào hoa đã gửi thân mình nơi biên cương

xa xôi, đồng đội đã chôn cất các anh bằng những manh chiếu hay bằng chính tấm áo của các anh đãrách vai bạc màu vì sương gió Nếu nhìn bằng hiện thực đơn thuần thì cái chết của người lính TT thậtxót xa đau đớn bởi khi các anh về cõi vĩnh hằng thì mảnh chiếu bọc thây cũng không có

Nhưng dưới cái nhìn LM thì tấm áo rách vai bạc màu vì sương gió ấy lại thành tấm áo bào sangtrọng, làm cho cái chết của các anh thêm trang trọng thiêng liêng, như phủ ánh hào quang lấp lánh

Trang 36

Chính QD đã từng nói câu thơ áo bào thay chiếu anh về đất là cách nói riêng của người lính TT, mượn

cách nói LM của thơ cổ để an ủi đồng chí vừa ngã xuống Với cách diễn đạt ấy người lính TT đã trởthành những người tráng sĩ hào kiệt bỏ mình chốn sa trường Trong bài thơ chưa 1 lần QD dùng từ

“chết” mà nhà thơ đã dùng biện pháp nói giảm Lần này “anh về đất” như để xoa dịu nỗi đau, vừa bất

tử hoá cái chết, vừa ca ngợi sự hi sinh thầm lặng Với các anh chết không phải là hết mà là 1 cuộc hànhtrinh trở về đất mẹ Mẹ hiền TQ dang rộng vòng tay đón nhận những đứa con thân yêu sau khi đã hoànthành nghĩa lớn Các anh “về đất” là hoá thân vào sông núi, các anh sẽ còn mãi mãi với nhân dân TQ.Nói theo cách nói của NKĐ thì:

“Ôi đất nước sau 4000 năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.

Tiếng gầm dòng sông Mã:

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Người nằm lại miền viễn xứ chỉ có áo bào thay chiếu nhưng đã có đất mẹ đón các anh về Người vềđất chẳng tiếc đời xanh còn người ở lại thì sống trong xúc cảm đặc biệt Đồng đội cùng với dòng sông

vô tận và lòng đất vô biên lại nghe như có gì rạn vỡ bên trong, đồng đội không khóc nhưng nghe như

có gì gầm than trầm uất Đó là biểu hiện cao độ của nỗi đau

SM gắn với lịch sử đoàn binh TT, chứng kiến những khó khăn gian khổ và sự kiêu hùng của cácanh nay lại chứng kiến sự hi sinh của các anh Khi các anh về cõi vĩnh hằng không có tiếng kèn đưatiễn thì đã có tiếng gầm SM Nó là tiếng kèn đưa tiễn anh linh người lính, là sự đau thương căm hờn đểtiễn đưa các anh về cõi vình hằng Tiếng gầm ấy làm rung động cả 1 chốn hoang sơ, đã nâng cái chếtcủa người lính lên tầm vóc sử thi hoành tráng, cái chết lớn cần có 1 sự đưa tiễn lớn như thế

Người lính hi sinh vì lý tưởng cao đẹp, cái chết của họ tạo được sự cảm thông sâu sắc của thiênnhiên, trời đất Đồng đội cùng dòng sông chứng giám người lính về với cõi trường tồn bất tử Chắc hẳn

sự hi sinh của đồng đội đã để lại cho QD ấn tượng mạnh mẽ, và cũng chắc hẳn người lính ấy nằm lạibên dòng sông Mã cho nên cứ nhớ những ngày TT là QD lập tức nhớ về dòng sông Mã

Đoạn cuối: Hình tượng người lính được hướng tới cái cao cả, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc:

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Dường như đây là ý chí, tư thế của tất cả những anh vệ quốc quân trong hồi đầu kháng Pháp.Thái độ dứt khoát, kiên quyết: “một đi không trở về”, “không hẹn ước”, “một chia phôi”, “chẳng vềxuôi” thề hi sinh để bảo vệ quê hương, đất nước Đó là lí tưởng cao đẹp của “chí làm trai” thời đạicách mạng Giọng thơ thoáng buồn pha chút bâng khuâng nhưng vẫn toát lên vẻ hào hùng đầy khíphách của người lính Tây Tiến

C Kết bài:

Đã qua đi hơn nửa thế kỉ nhưng bài thơ “Tây Tiến” vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm trí người đọcbức tượng đài thi ca về người lính bất tử Hình ảnh người lính trong cả cõi sống và chết đều bi tráng,lãng mạn, hào hùng, hào hoa Vẻ đẹp ấy không chỉ là vẻ đẹp riêng của người lính Tây Tiến mà còn làtinh thần, vẻ đẹp chung của hình tượng người lính trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc vĩ đại củadân tộc

Câu 24: Nghệ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ trong bài "Tây Tiến" của Quang Dũng

A Mở bài:

- Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông được thể hiện ở nhiều mặt: viết văn, vẽ tranh,soạn nhạc, làm thơ Nhưng ông được biết đến trước hết là một nhà thơ Thơ Quang Dũng thể hiện ởmột hồn thơ hào hoa, lãng mạn, phóng khoáng mà cũng rất hồn hậu đặc biệt là khi viết về xứ Đoàimây trắng và người lính

- Tên tuổi của ông đã gắn với thi phẩm “Tây Tiến”, tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng nóiriêng và thơ ca chống Pháp nói chung Cả bài thơ đã bộc lộ tình cảm của tác giả dành cho đồng đội vàmảnh đát Tây Bắc mà ông đã từng gắn bó Khi phải xa đơn vị, tình cảm ấy đã trào dâng để rồi QuangDũng đã viết nên “Tây Tiến” Đây là bài thơ của người lính viết về người lính- anh vệ quốc quân thời 9năm kháng chiến chống P

Trang 37

- Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ rất tự nhiên của nhà thơ về chiến trường và đồng đội của một thờiđánh giặc vô cùng gian khổ mà rất đỗi hào hùng Chính nỗi nhớ ấy đã “xâu chuỗi” các ý thơ trong từngđoạn với nhau để thành Tây Tiến của 1 thời kỳ lịch sử không thể nào quên Về phương diện nghệthuật, Tây Tiến còn thể hiện một trình độ tổ chức vật liệu ngôn từ xuất sắc với một cấu trúc thơ, có thểnói đã đủ các sắc độ chơi vơi trong nỗi nhớ về một thời kì ấy của các lớp sóng ngôn từ chủ yếu đượcthể hiện qua những nét cơ bản sau:

B Thân bài:

1 Trước hết sử dụng các địa danh một cách hợp lý:

- Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, trải dài từ Mai Châu đến Mộc Châu – Hòa

Bình và vòng về Miền Tây Thanh Hóa Đó là một vùng đất hoang vu đầy bí hiểm, Quang Dũng khôngtrao cho nỗi nhớ của mình những địa chỉ “vu vơ” mà ông đã điểm danh từng tên đất cụ thể như SàiKhao, Mường Hịch, Pha Luông, Mường Lát,… và sự có mặt của các địa danh này gợi ra bao nhiêu ýniệm về sự hoang sơ đó Trong trí nhớ người đọc những cái tên kia thuộc một “tuýp” lạ nó khác xa vớinhững tên chất, tên làng vốn quen thuộc trong ca dao người Việt, nó cũng khác xa với kiểu

“thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”

trong thơ Nguyễn Bính Chính điều này đã trở thành một tác phẩm kích thích trí tưởng tượng củangười đọc, đẩy người đọc đứng trước sự tò mò khó cưỡng nổi về những bí mật của “đường rừng” cảbài thơ nó là một nỗi nhớ khôn nguôi của người thơ về một thời trận mạc Vậy nên khi nhắc đến cácđịa danh ta nhận thấy những ký ức cảu quá khứ hiện về thật tươi nguyên, nó chen lấn thực tại tạo nên

độ nhòe giữa không gian: không gian hiện tại và không gian hồi tưởng Bởi thế dù lạ lẫm hay qua hồnthơ và nỗi nhớ của Quang Dũng các địa danh ấy xâm chiếm cõi nhớ người đọc, giúp họ yên tâm cùngQuang Dũng “trôi” về một vùng đất đẹp đẽ dữ dội và mộng mơ đằm thắm

- Vượt qua tư cách là những tên đất tên làng như một khái niệm có tính địa lí, các địa danh trong TâyTiến ngấm sau nỗi nhớ của nhà thơ và chính điều đó đã làm “Đất lạ hóa quê hương”

- Riêng địa danh “Mường Hịch” trong câu thơ: “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” được dùnggiởi nhất Chữ “hịch” thanh trắc gắn với chữ “cọp” cũng thanh trắc làm cho người đọc lầm tưởng đếnnhững bước chân nặng của chúa sơn lâm đang rình rập đe dọa con người Rõ ràng Quang Dũng không

sử dụng từ địa danh một các tùy hứng mà ông biết chọn lựa và biết điều phối để tạo sức âm hưởng chothơ Đây cũng là một tài nghệ tạo lực hút của nhà thơ thi nhún về tác giả

2 Không những vậy mà nội lực của các câu thơ của Quang Dũng chủ yếu dồn vào các động lực gây cảm giác mạnh

- Trong bức tranh tả núi, tả dốc Quang Dũng có một kiểu đo dộ cao độc đáo:

“ Heo hút cồn mây song ngửi trời”

Có thể thay chữ “ngửi” bằng chữ “chạm” được nếu nói về độ cao thuần túy Như chữ “chạm” dễ làmcho ý thơ yếu đi chữ “ngửi” mới là yếu tố cho câu thơ sinh động hẳn lên với động từ này, chỉ ít ngườiđọc có thể cảm nhận được ba lớp ý đó là :

+ một độ cao chóng mặt (trước là mây, sau là trời),

+ thứ hai “ngửi” nói về sự tinh nghịch, một cách rất lính (mà Quang Dũng cũng từng là mộtngười lính) Như vậy cáI độ cao kia có thể làm cho ai sợ hãI, chứ người lính Tây Tiến thì không Vả lại

“ngửi” đã biến cây song thàn người: biện pháp nhân hóa này nhấn mạnh một thực tế những chàng trai

Hà Nội vừa hào hoa thanh lịch, vừa không kém phần phong trần…

+ Thứ ba cả câu thơ cho ta thấy “chí ta cao hơn đèo” không một cao nào, không một khó khănnào, gian khổ nào có thể cản nổi bước chân những người anh hùng vệ quốc trong chiến tranh hy sinhtổn thất là điều không thể tránh

- Nhưng “gục trên song mũ bỏ quên đời” là một cách nói lạ Một mặt, “gục” giúp Quang Dũng

tránh được việc dùng từ “chết, hy sinh” mặt khác nó giữ được cái thực tế khắc nghiệt của cuộc chiến.Câu thơ vì thế không rơi vào bi lụy, hình ảnh thơ không bị thơ bệch Đặc biệt việc kết hợp “gục”, “bỏquên đời” đã làm nảy ra một cáu nhìn: với người lính Tây Tiến cái chết trở nên “không đáng kể” nó chỉ

là một chuyện nhỏ mà thôi Cái nhìn ấy chỉ có thể có được những chàng train gang tàn, dám xả thân vìnghĩa lớn

3 Tây Tiến là một bài thơ dày đặc trưng nhưng câu thơ tài hoa

- Có thể nói “sông Mã gầm lên khúc độc hành” là câu thơ tiêu biểu nhất chi thi hứng toàn bài Chữ

“gầm” được dùng rất đắc địa nó là âm vang của sông núi, là điều kiện vĩnh quyết, là khúc hát bi tráng

Vũ Quần Phương có nhận xét rằng nội lực câu thơ đó không nằm ở bản thân nó mà rơI xuống từ câu

Trang 38

trên : “áo bào thay chiếu anh về đất” Vì cảnh bi hùng như vậy sông Mã mới gầm lên mà chỉ gầm lênđơn độc khúc độc hành Cái tiếng vang rung chuyển và ngự lý cả một vùng thiên nhiên trời đất Sinh ra

từ những mất mát câm lặng của con người Bài thơ mang phẩm chất anh hùng trong nỗi buồn

4 Sự có mặt của các từ Hán Việt cũng góp phần tạo nên những thành công của thi phẩm Từ Hán

Việt với đặc điểm chính là: có ý nghĩa tạo ra màu sắc trang trọng cổ kính cho thơ, không phảI ngẫunhiên mà đoạn thơ thứ ba của Tây tiến xuất hiện các từ hán việt như vậy :

- “Đoàn binh”, “biên cương”, “viễn xứ”…ta biết rằng trong những năm tháng gam go ấy lính Tây Tiếnchết vì ốm bệnh tật nhiều hơn là đánh trận Nếu sử dụng các từ thuần Việt để dựng lại cảnh tượng ấythì hai bài thơ sẽ lập tức rơi vào bi thương Chính các từ Hán Việt đac làm chi cái màu sắc ảm đạm kia

bị đẩy lùi Quang Dũng không dùng “đoàn quân” mà ông dùng “đoàn binh” vì đoàn binh gợi lên khôngkhí để nhấn mạnh gam màu hùng tráng

- Chi tiết “áo bào” là một chi tiết có khả năng làm đẹp, làm rung để lấn át được một thực tế khắc nghiệtnhững người lính khi hi sinh manh chiếu che thân cũng không có Nó bắc một chiếc cầu liên tưởnggiúp người đọc nhớ về một thời xa xưa Các anh hừng trượng phu thà chết nơi xa trường “da ngựa bọcthây” coi cái chết nhẹ như lông hồng…nương tựa vào các hình ảnh này đã nâng chân dung đoàn binhTây Tiến lên thật lẫm liệt oai hùng thêm nữa là sự có mặt của các hệ thống từ thuần Việt “không mọctóc”, “xanh”, “trừng”…là những từ đậm chất bình dị để làm nổi bật cái cao cả, lấy cái binh thường đểdiễn tả cái anh hùng Tất cả cái bi và cái trang đó đã tạo ra sắc tháI màu sắc bi tráng độc đáo và ấntượng

C Kết bài:

Đã qua đi hơn nửa thế kỉ nhưng bài thơ “Tây Tiến” vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm trí người đọc bứctượng đài thi ca về người lính bất tử Hình ảnh người lính trong cả cõi sống và chết đều bi tráng, lãngmạn, hào hùng, hào hoa Vẻ đẹp ấy không chỉ là vẻ đẹp riêng của người lính Tây Tiến mà còn là tinhthần, vẻ đẹp chung của hình tượng người lính trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc vĩ đại của dântộc Vẻ đẹp ấy được nhà thơ thể hiện và khắc hoạ qua hệ thống chất liệu ngôn từ đặc sắc

TỐ HỮU

Câu 25 Tiểu sử Tố Hữu :

- (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên Huế, ông từng là học sinh trường

quốc học Huế

- Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống văn chương, người cha ham thơ thíchsưu tầm ca dao tục ngữ; người mẹ thuộc nhiều ca dao dân ca xứ Huế Tố Hữu được dạy làm thơ từnhỏ

- Quê hương: xứ Huế- một vùng đất cố đô có phong cảnh hữu tình nên thơ, văn hoá đậm đà bản sắcdân tộc cũng góp phần qua trọng vào việc hình thành hồn thơ Tố Hữu

- Tuổi thanh niên, Tố Hữu tham gia phong trào hoạt động cách mạng và trở thành người lãnh đạo chủchốt của Đoàn thanh niên dân chủ ở Huế Ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương 1937.Cuối tháng 4/1939 ông bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Thừa Thiên Huế Sau đó ông bị giam ởnhiều nhà tù khác nhau ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Tháng 3/1942 Tố Hữu vượt ngục vàtiếp tục hoạt động cách mạng

- Cách mạng tháng Tám 1945, Tố Hữu làm Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa ở Huế Sau đó kháng chiến,ông lên Việt Bắc hoạt động văn nghệ Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ cho đến

1986, Tố Hữu luôn giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Ôngđược nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996

=> Gia đình, quê hương, cách mạng là 3 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hồn thơ Tố Hữu Sự nghiệpthơ ca của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng Có thể nói Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thơ ca cáchmạng

luôn song hành, bắt đầu cùng một lúc với sự nghiệp cách mạng,với các giai đoạn của cách mạng

Câu 26 Con đường thơ Tố Hữu :

Là 1 nhà thơ có vị trí đặc biệt trên diễn đàn văn chương VN hiện đại, TH được coi là người thư

kí trung thành của cuộc CMVN Sinh 1920 ở Thừa Thiên Huế, ông cùng với những nhà thơ như XuânDiệu, Huy Cận, CLV, HMT… những nhà thơ mới đã chìm đắm trong cái “tôi” cô đơn, cái “tôi” siêuhình bản ngã:

Trang 39

“Lũ chúng tôi đầu thai nhầm thế kỷ

Cả 1 đời u uất bơ vơ”

Trong lúc đang “bâng khuâng đứng giữa 2 dòng nước”, ánh sáng của Đảng đã rọi vào tâm hồn TH ông

đã đi theo CM Thể hiện niềm say mê lý tưởng ông đã viết lên những bài thơ của mình, khẳng địnhđược vị trí vững chắc của “tôi” trên diễn đàn văn chương Cái “tôi” của TH tượng trưng cho cả 1 cộngđồng giai cấp:

Tôi đã là co của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ

Có thể khẳng định con đường thơ ca và con đường CM đến với TH cùng 1 lúc Hơn 70 năm cầm bút,ông đã để lại 1 sự nghiệp văn chương đồ sộ, chia thành 5 chặng

1 Từ ấy (1937-1946):

- Nội dung: Đây là chặng đường 10 năm đầu cầm bút thể hiện một hồn thơ sôi nổi, say mê lí tưởng từ

khi giác ngộ cách mạng đến lúc trưởng thành của người thanh niên cách mạng

- Nhân vật trữ tình : cái tôi trữ tình kiểu mới (chiến sĩ cách mạng và quần chúng cần lao) khác với cái

“tôi” cá nhân trong thơ mới

- Tập thơ chia làm 3 phần: “Máu lửa”; “Xiềng xích”; “Giải phóng”

• Máu lửa: là tiếng hát say mê của người thanh niên khi gia nhập ĐCS, ngợi ca ánh sáng, lítưởng Ta thấy rõ điều ấy trong phần mở đầu bài “Từ ấy”:

D/c+ Bên cạnh đó tập thơ còn thể hiện rõ trách nhiệm của người chiến sĩ CS đối với những ngườicùng khổ trong xã hội:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi”

+ Khơi dậy ý chí đấu tranh ở quần chúng bị áp bức(Từ ấy, Liên hiệp lại)

• Xiềng xích: Là tiếng hát tranh đấu bất khuất, kiên cường của người chiến sĩ cách mạng trongthử thách, tù đày (Tâm tư trong tù, Tiếng hát đi đày, con cá chột nưa:

ăn đi vài con cá Dăm bảy cái chột nưa

Có ai biết, ai ngờ Thế vẫn tròn danh dự.)

• Giải phóng : niềm vui chiến thắng, ca ngợi nền độc lập của đất nước (Vui bất tuyệt, Huế thángtám)

- Nghệ thuật: giọng thơ thiết tha, chân thành, sôi nổi, chất lóng mạn trong trẻo

+ Thể hiện những tình cảm lớn của người Việt Nam trong kháng chiến: tình yêu quê hương đất nước,tình đồng bào, đồng chí, tình quan dân, tình cảm với lãnh tụ

- Nhân vật trữ tình: tầng lớp công nông binh: anh vệ quốc quân, bà mẹ, chiến sĩ, những người con gáiBắc Giang, những em liên lạc…

• Những anh bộ đội cụ hồ xả thân cho đất nước: “Hoan hô chiến sĩ ĐB… chí không mòn”

• Là những con người chèn lưng cứu pháo hay bịt lỗ châu mai: “Những đồng chí… Tiếp viện”

• Là những người me, người em du kích, thằng em liên lạc : “Vụt qua mặt trận… hiểm nghèo”

• Thể hiện tình quân dân cá nước: “áo chàm… hôm nay”

- Tác phẩm tiêu biểu: Việt Bắc, Hoan hô chiến sĩ điện Biên, Ta đi tới

- Nghệ thuật:

Trang 40

+ Giọng điệu ngợi ca, giàu cảm hứng lóng mạn.

+ Tập thơ đậm đà tính dân tộc cả ở nội dung và hình thức biểu hiện được phản ánh rõ nét qua lời

đề từ của tập thơ này:

Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên

+ Linh hồn của tập thơ này là “Việt Bắc”

3 Gió lộng (1955-1961):- 25 bài

- Lịch sử:

+ Cuộc kháng chiến chống P kết thúc, hiệp định Giơnevơ được kí kết thúc chiến tranh ở VN:

Chín năm làm 1 Điện Biên Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

+ Tuy nhiên ĐQ Mĩ tham chiến, chia nước ta làm 2 miền với 2 chế độ CT khác nhau MB tiếnhành XDCNXH, MN tạm thời nằm dưới sự thống trị của CNTD kiểu mới- ĐQ Mĩ CMVN cũng chialàm 2 bọ phận: CMXHCN ở MB và CM giải phóng dân tộc ở miền Nam

- Nội dung:

+ Với cảm hứng lãng mạn, lạc quan, tập thơ ca ngợi công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, MB dấylên phong rào tình nguyện đến những miền xa xôi của TQ để hàn gắn vết thương chiến tranh khôi phụckinh tế Hàng loạt con người mới CNXH xuất hiện, họ trở lại những nơi xưa vốn là chiến trường TB,

ĐB được xem là miền đất hứa Họ ra đi đầy ắp tiếng hát đầy sông đầy cầu:

- Đẹp vô cùng TQ ta ơi Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước bình ca

Là bức tranh thu nhỏ của công cuộc XDCNXH ở MB trong khí thế làm chủ cuộc đời, làm chủ tập thể:

Dân có ruộng dập dìu hợp tác Lúa ngập đồng bát ngát làng quê

+ Thể hiện tình cảm đối với miền Nam ruột thịt, bộc lộ ý chí đấu tranh thống nhất đất nước (ngườicon gáI Việt Nam, Thù muôn đời muôn kiếp không tan)…:

~ MB là hậu phương vững chắc chi viện cho chiến truyến MN anh hùng, Nhân dân miềnBắc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước- mà lòng phơi phới dậy tương lai”:

Ai vô đó với đồng bào đồng chí Nói với nửa VN yêu quý

Rằng:

Chúng ta Con 1 cha Nhà 1 nóc Thịt với xương tim óc dính liền

Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân

Dù ai rào giậu ngăn sân Lòng ta vẫn vững là dân cụ Hồ

- Nhân vật trữ tình: cái tôi công dân đại diện cho cộng đồng.

- Hạn chế: Bộc lộ cái nhìn còn đơn giản, một chiều về hiện thực cuộc sống

- Nghệ thuật: Giàu cảm hứng lóng mạn, mang khuynh hướng sử thi

4 Ra trận (1962-1971) :- 34 bài

-Nội dung:

+ Khi Mĩ leo thanh ra miền Bắc VN bằng không quân, cả nước ra trận lên đường để chiến đấu

trong bối cảnh vui như ngày hội của những con người đầy trách nhiệm khi TQ lâm nguy:

Những buổi vui sao cả nước lên đường Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục Xóm dưới làng trên con trai con gái Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau

Ngày đăng: 09/07/2022, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w