hình phạt chung được nhưng cũng có loại hình phạt bổ sung PHẦN THỨ NHẤT PHẦN CHUNG Chương I ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN Điều khoản cơ bản của Bộ luật hình sự là những điều khoản quy định nhiệm vụ, cơ sở trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý và trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Đây là những điều khoản có tính nguyên tắc thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Các điều khoản cơ bản của Bộ luật hình sự không chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu các c.
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT PHẦN CHUNG
Chương I ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN
Điều khoản cơ bản của Bộ luật hình sự là những điều khoản quy địnhnhiệm vụ, cơ sở trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý và trách nhiệm đấu tranhphòng ngừa và chống tội phạm Đây là những điều khoản có tính nguyên tắc thểhiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Các điều khoản cơ bản của Bộ luật hình sự không chỉ có ý nghĩa trong việcnghiên cứu các chế định khác trong Bộ luật hình sự mà còn là cơ sở để áp dụngcác điều khoản khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm
1 Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự
Điều 1 Bộ luật hình sự quy định:
Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người
ý thức tuân theo pháp luật đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, 'Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội
Xác định nhiệm vụ cho một đạo luật nói chung và cho Bộ luật hình sự nóiriêng là việc rất quan trọng Nhiệm vụ cơ bản 'của Bộ luật hình sự là bảo vệ cácquan hệ xã hội có nguy cơ bị xâm phạm, các quan hệ xã hội đó thể hiện bản chấtchế độ xã hội:chủ -nghĩa, hành vi-xâm phạm các quan hệ xã hội do Bộ luật hình
sự quy định là hành vi nguy hiểm nhất; gây ra hậu quả hoặc đe dọa gây ra hậu quảcũng nguy hiểm nhất cho xã hội, nên phải được bảo vệ một cách đặc biệt Phươngpháp bảo vệ của Bộ luật hình sự chống mọi hành vi xâm phạm, đồng thời giáo dụcmọi ' người ý thức tuân theo pháp luật, thể hiện rõ tinh thần chủ động phòng ngừa
và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm
Bộ luật hình sự đặt nhiệm vụ phòng ngừa lên trên nhiệm vụ chống tộiphạm là thể hiện phương châm “giáo dục phòng ngừa là chính”, kết hợp với cácbiện pháp răn đe, giữ nglủêm kỷ cương, đề cao tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa,thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa là nhằm giáo dục cải tạongười phạm tội trở thành người có ích cho xã hội
Muốn thực hiện được nhiệm vụ đã đề ra, Bộ luật hình sự phải quy định chếtài buộc mọi người phải tuân theo và nếu ai không tuân theo thì phải bị xử lý, tùytheo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm và tính
chất quan trọng của quan hệ xã hội cần bảo vệ mà quy định tội phạm và hình phạt Chỉ có Bộ luật hình sự mới quy định tội phạm và hình phạt, không cô văn
bản pháp luật nào được quy định tội phạm và hình phạt
2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Trang 2Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý của người thực hiện tội phạm"phải chịu sự tác động của biện pháp cưỡng chế đặc biệt của Nhà nước' do Bồ~lùậthình sự quy định
Cơ sở của trách nhiệm hình sự là hành vi tội phạm, tức là: một người: phảichịu trách nhiệm hình sự khi người đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
do cố ý hoặc vô ý , gây hậu quả hoặc đe dọa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Ý nghĩ, niềm tin và quan điểm không thể là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình
sự Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho
xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm nên trách nhiệm hình sự khôngđặt ra đối với người thực hiện hành vi này, mà có thể bị xử lý bằng biện phápkhác Như vậy, cho có hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì tráchnhiệm hình sự mới đặt ra đối với người thực hiện hành vi đó Điều 2 Bộ luật hình
sự quy định "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
Việc quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự là hành vi phạm một tội dượcquy định trong Bộ luật hình sự là nhằm loại trừ việc áp dụng nguyên tắc tương tựkhi truy cứu trách nhiệm hình sự Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban
hành, nhất là trong những năm tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng đất nước,
việc áp dụng nguyên tắc tương tự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình lúc bấy giờ
Khi xây dựng Bộ luật hình sự năm 1985 cũng có ý kiến cho rằng chưa nên bỏ việc
áp dụng nguyên tắc tương tự trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng cuối
cùng Bộ luật hình sự năm 1985 được thông qua và quy định “chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" (Điều
2)
Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy ngoài Bộ luật hình sự năm 1985,Quốc hội nước ta không ban hành văn bản pháp luật nào quy định tội phạm vàhình phạt mà chỉ người nào phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sựmới bị truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy, trên thực tế Bộ luật hình sự năm
1985 đã không chấp nhận việc truy cứu trách nhiệm hình sự theo nguyên tắctương tự
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1985 quy định chỉ người nào phạm một tội
đã được luật hình sự quy định" nghĩa là bao gồm cả những văn bản pháp luật hình
sự không chỉ là Bộ luật hình sự, Bộ luật hình sự năm 1999 quy đinh chỉ người nào
phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định ngoài Bộ luật hình sự không thể
có văn bản pháp luật hình sự nào khác có quy định tội phạm và hình phạt, giả thiếtnếu có văn bản pháp luật hình sự nào đó có quy định tội phạm và hình phạt thìngười thực hiện hành vi của "tội phạm" được quy định trong văn bản đó màkhông được quy định trong Bộ luật hình sự thì họ cung không phải chịu tráchnhiệm hình sự
Như vậy, cơ sở trách nhiệm hình sự là hành vi phạm tội và tội phạm đó phảiđược quy định trong Bộ luật hình sự
3 Nguyên tắc xử lý
Trang 3Bộ luật hình sự nêu 5 nguyên tắc xử lý tại Điều 3 Theo đó nội dung cácnguyên tắc xử lý như sau:
a) Nguyên tắc “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời xử tý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”: Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ
quan nhà nước các tổ chức và mỗi công dân có nhiệm vụ đấu tranh chống tộiphạm bằng cách phát hiện thời tố giác hành vi phạm tội với các cơ quan tiến hành
tố tụng nguyên tắc này yêu cầu các cơ quan tố tụng phải có trách nhiệm phát hiệnkịp thời, xử lý nhanh chóng công minh theo đúng pháp luật mọi hành vi phạm tội
Phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng công minh theo đúng pháp luật mọihành vi phạm tội là nguyên tắc có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với việc đấu tranhchống tội phạm mà còn có ý nghĩa phòng ngừa: "Thực tiễn cho thấy, nhiều trườnghợp do phát hiện kịp thời hành vi phạm tội nên đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt
tác hại do tội phạm gây ra Ví dụ nếu chúng ta phát hiện kịp thời một số kẻ đang
có hành vi chuẩn bị phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ có thể ngăn chặn được tác hại do hành vi phạm tội gây ra Phát hiện kịp thời hành vi
phạm tội còn có ý nghĩa tuyên.truyền, giáo dục cho mọi công dân công tác phòngngừa tội phạm canh báo những kẻ có ý định thực hiện tội phạm hãy từ bỏ ý địnhphạm tội nếu không sẽ bị trừng trị Phát hiện kịp thời tội phạm còn có tác dụngtạo sự yên tâm lao động sản xuất, tin tưởng vào chế độ, vào Nhà Nước và các cơquan bảo vệ pháp luật
b) Nguyên tắc "mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giá, thành phần, địa vị xã hội”: Việc
quy dinh nội dung này vào nguyên tắc thứ hai đã thể hiện rõ tính công bằng trongviệc xử lý người phạm tội Sự bình đẳng trong nguyên tắc này là sự bình đẳngtrong việc vận dụng các dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với một hành vi phạmtội, đối với hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác về người phạm tội,chống những biểu hiện phân biệt đối xử giữa nhưng người phạm tội có địa vị xãhội khác nhau "dân thì xử nặng, quan thì xử nhẹ
Bộ luật hình sự khẳng định nguyên tắc "mọi người phạm tội đều bình đẳngtrước pháp luật” nhưng không phải vì thế mà cho rằng không có sự phân hóa
“nghiêm trị ai và khoan hồng đối với ai" và điều này càng thể hiện nội dung củakhái niệm bình đẳng, công bằng , không đồng nhất với khái niệm "bình quân, cào
bằng
Nguyên tắc nghiêm trị đối với người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu,chỉ huy ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụngchức vụ, quyền hạn để phạm tội, dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức,
có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng, là nguyên tắc phânhóa, không chỉ có tác dụng đấu tranh chống tội phạm mà còn có tác dụng to lớntrong việc phòng ngừa tội phạm Việc quy định nghiêm trị ai không phải là để chỉphạt thật nặng đối với họ mà chủ yếu có tính chất răn đe, phòng ngừa, cảnh báocho mọi người biết nếu cố tình phạm tội thuộc các trường hợp trên thì sẽ bịnghiêm trị
Trang 4Cũng như nguyên tắc nghiêm trị, nguyên tắc khoan hồng cũng là nguyêntắc phân hóa tội phạm, có tác dụng khuyến khích những người phạm tội ra tự thú
và khai báo thành khẩn, tố giác những người đồng phạm khác chưa bị phát hiện,lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hạigây,ra nhằm làm-.giảm bởi tác hại của tội phạm đồng thời có tác dụng phát hiệnkịp thời, xử lý nhanh chóng, lập lại trật tự kỷ cương xã hội
Nguyên tắc nghiêm trị kết hớp vớỉ khoan hồng, phân hóa tội phạm lànguyên tắc xuyên suốt trong quá trình áp dụng Bộ luật hình sự, là chính sách hình
sự của Nhà nước đối với tội phạm Trong quá trình điếu tra truy tố và xét xử các
cơ quan tiến hành tố tụng phải luôn luôn quán triệt nguyên tắc này để xử lý tộiphạm Nguyên tắc này còn là cơ sở để quy định các chế định các quy định khác vềtội phạm và hình phạt trong cả Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật hình
sự Quán triệt và thực hiện đứng nguyên tắc này còn là cơ sở để thực hiện cácnguyên tắc khác?
c) Nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội
ít nghiêm trọng, đã hối cải là lnguyên tắc quyết định hình phạt Đây cũng là nguyên tắc được cụ thể hóa từ nguyên tắc khoan hồng, nhưng chỉ đối với người
lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải và cũng chỉ có Tòa án áp dụng, vì chỉ
có Tòa án mới được quyết định hình phạt
Theo quy định của, Bộ luật hình sự, nếu người lần đầu phạm tội ít nghiêmtrọng, đã hối cải, thì Tòa :án có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao
họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát giáo dục hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù bao gồm các hình phạt như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ Ngoài ra, việc Tòa án cho người phạm tội được hương án treo cũng được coi là
nhẹ hơn hình phạt tù
Nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội là cơ sở quyđịnh các chế định, các quy định khác về quyết định hình phạt như căn cứ quyếtđịnh hình phạt (Điều 45); quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình
sự (Điều 47); án treo (Điều 60)
d) Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa đối với người phạm tội bị phạt tùcũng là nguyên tắc cơ bản mà không phải quốc gia nào cũng quy định Ở nước ta,người bị phạt tù tuy bị hạn chế quyền tự do, nhưng họ được lao động, học tập đểtrở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì được xét giảm việcchấp hành hình phạt tù Nguyên tắc này là cơ sở để Bộ luật hình sự quy định cácchế định về miễn chấp hành hình phạt (Điều 57); giảm mức hình phạt đã tuyên(Điều 58, Điều 76); giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt(Điều 59); hoãn chấp hành hình phạt tù (Điếu 61); tạm đình chỉ chấp hành hìnhphạt tù (Diều 62); đồng thời còn là cơ sở để quy định Luật thi hành án hình sựcũng như các quy định khác về lao động, học tập trong các trại giam đối vớingười đang chấp hành phạt tù
đ) Người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn,sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật địnhthì được xóa án tích Đây cũng là nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa áp dụng
Trang 5đối với người bị kết án, giúp họ không bị xã hội thành kiến với tội lỗi mà 'họ đãphạm Sau khi ngườ-i phạm tội đã chấp hành xong hình phạt, họ được Nhà nước
và xã hội tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng.Nêu thành nguyên tắc còn có một ý nghĩa thiết thực là các cơ quan, tổ chức phải
có trách nhiệm tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộngđồng đối với người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt, vì thực tiễn trong thờigian qua không ít cơ quan, tổ chức không muốn nhận người bị kết án đã chấphành xong hình phạt vào làm việc, nhiều nơi vẫn còn mặc cảm với người bị kết
án, không tạo điều kiện để họ hòa nhập với cộng đồng
Chế định xóa án tích cũng là một nguyên tắc không chỉ xóa đi mặc cảm của
xã hội đối với người bị kết án mà còn để chính bản thân người bị kết án cũng xóa
đi mặc cảm đối với chính họ Nguyên tắc này còn là cơ sở để quy định chế địnhxóa án tích tại Chương IX Bộ luật hình sự
4 Trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Phòng ngừa và chống tội phạm là nhiệm vụ của Bộ luật hình sự, nhưng đểthực hiện nhiệm vụ này, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi cá nhânphải có trách nhiệm phòng ngừa và chống tội phạm Tuy nhiên, trong phạm vichức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và cá nhân, trách nhiệm đấu tranh phòngngừa và chống tội phạm có khác nhau, đồng thời có sự phối hợp chặt chế trongviệc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm thì mới đem lại hiệu quả
Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật hình sự thì trước hết trách nhiệm đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm được giao cho các cơ quan Công an, Kiểmsát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thihành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơquan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng
Các cơ quan hữu quan khác nói ở Điều 4 này là cơ quan Hải quan, Quản lýthị trường, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng,
Để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả, các cơ quan Công
an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác trước hếtphải có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, như Tòa ánthì phải xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Công an phải phát hiện vàđiều tra kịp thời nhanh chóng tội phạm xảy ra; Viện kiểm sát phải thực hiện việcgiám sát, việc điều tra của cơ quan điều tra, giám sát hoạt động xét xử của Tòa ánv.v
Mỗi cơ quan có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng lại có quan hệ mật thiếtvới các cơ quan khác, nên cần phải phối hợp chặt chẽ để đấu tranh phòng chốngtội phạm Ngoài việc thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mình, các
cơ quan này cần phải hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức
và mọi công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Việc hướng dẫn, giúp
đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức và mọi công dân đấu tranh phòngngừa và chống tội phạm được coi là trách nhiệm của các cơ quan Công an, Kiểmsát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra, Hải quan, Quản lý thị trường, Kiểm lâm, Bộ đội
Trang 6biên phòng, Mỗi cơ quan tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu củaviệc đấu tranh phòng chống tội phạm mà có biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ saocho có hiệu quả.
Đối với những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, thì các cơ quan,
tổ chức đó có nhiệm vụ giáo dục họ nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật,tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, kịp thời có biện pháp loạitrừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức mình Thựctiễn cho thấy có nhiều tội phạm xảy ra ngay trong các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội là do cán bộ nhân viên ở đó mất cảnh giác, không có ý thức bảo vệ phápluật, thậm chí còn tạo điều kiện cho tội phạm phát sinh Khi tội phạm xảy ra còntìm cách bao che cho kẻ phạm tội chỉ vì sợ mất thành tích Quy định trách nhiệmcho các cơ quan, tổ chức phải giáo dục cho những người thuộc quyền quán lý củamình để họ nâng cao cảnh giác ý thức bảo vệ pháp luật, tôn trọng các quy tắc củacuộc sống xã hội chủ nghĩa là nhằm mục đích phòng, chống tội phạm có hiệu quảhơn
Trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm không chỉ là tráchnhiệm của các cơ quan, tổ chức, các cán bộ, công chức, viên chức mà trách nhiệmnày là của toàn dân, vì vậy Bộ luật hình sự quy định mọi công dân có nghĩa vụtích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Việc tham gia đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm của mọi công dân là một biện pháp đem lạihiệu quả cao nhất Các cơ quan, tổ chức, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật phảidựa vào dân, phát động phong trào quần chúng nhân dân bảo vệ an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội
Thực tiễn cho thấy, nơi nào làm tốt công tác này thì ở đó tội phạm giảm vàphát hiện xử lý tội phạm cũng kịp thời, nhanh chóng hơn Để cho mọi công dânthấy được trách nhiệm của mình trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm, các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng cầnthường xuyên tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật đến tận người dân, trong đóviệc tuyên truyền, phổ biến Bộ luật hình sự là nội dung cơ bản để mọi công dânthấy rõ trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Một lực lượng đôngđảo góp phần vào việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong xã hội làhọc sinh, sinh viên, là đội ngũ thanh, thiếu niên, vì vậy cần có chương trình giáodục pháp luật nói chung và Bộ luật hình sự nói riêng đối với đội ngũ này để họ làđội ngũ đi đầu trong phong trào đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Chương II HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Luật hình sự nói chung và Bộ luật hình sự của nước ta nói riềng đều có quyđịnh về phạm vi áp dụng Nếu hành vi tuy có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng
lại không thuộc phạm vi áp dụng của Bộ luật hình sự thì người có hành vi không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà tùy thuộc vào trường hợp cụ thể để xử lý bằng
biện pháp khác Ví dụ trước khi Bộ luật hình sự có hiệu lực pháp luật, hành vi cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa được
Trang 7coi là hành vi phạm tội và người có hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, nhưng sau khi Bộ luật hình sự được ban hành, Bộ luật không quy định hành
vi này là tội phạm nữa, vì vậy những hành vi đó được thực hiện từ ngày 4-1-2000trở đi không phải là hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi này không bịtruy cứu trách nhiệm hình sự
Khi nói đến phạm vi áp dụng Bộ luật hình sự cũng chính là nói đến vấn đềhiệu lực của Bộ luật hình sự Khoa học luật hình sự khi nghiên cứu hiệu lực củaluật hình sự đã đề cập đến hai khía cạnh là hiệu lực theo không gian và hiệu lựctheo thời gian
Bộ luật hình sự không quy định cụ thể các trường hợp loại trừ trách nhiệmhình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam mà căn cứ để xác địnhviệc không truy cứu trách nhiệm hình sự lại là đặc quyền ngoại giao hoặc quyền
ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán quốc
tế, trên quan hệ bình đẳng của các nước trong quan hệ quốc tế Thông thườngnhững người được hưởng đặc quyền ngoại giao là những người đứng đầu Nhànước, những đại diện ngoại giao, các thành viên của các đoàn ngoại giao như cốvấn, bí thư , còn theo tập quán quốc tế thì vợ hoặc chồng, con chưa thành niêncủa những người này cũng được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự
Thực tiễn xét xử cho thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườinước ngoài phạm tội ở Việt Nam tuy phức tạp nhưng đều được giải quyết hợptình, hợp lý, đặc biệt đối với những người có đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưuđãi và miễn trừ vế lãnh sự Tuy nhiên, trong một số trường hợp những người nướcngoài khác không thuộc trường hợp được miễn trừ lại cố tình làm ra vẻ mìnhthuộc diện miễn trừ để yêu cầu các cơ quan tố tụng nước ta không được truy cứutrách nhiệm hình sự đối với họ, họ đòi chúng ta phải trao trả họ cho nước mà họ
mang quốc tịch nhằm tránh sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật nước ta, v.v
Người có đặc quyền ngoại giao hoặc quyến ưu dãi và miễn trừ về lãnh sự
có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, nhưng họ
có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước mà họ mang
Trang 8quốc tịch, thậm chí họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật ViệtNam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao, Nhànước mà họ mang quốc tịch và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu tráchnhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam Như vậy, trường hợp loại trừ trách nhiệmhình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam là trường hợp loại trừtrách nhiệm hình sự có điều kiện mà điều kiện đó chính là lý do về ngoại giao.Nói chung việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoàiphạm tội ở Việt Nam vì lý do ngoại giao, thực tiễn xét xử không gặp khó khăn vìnếu có trường hợp này xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng thường phối hợp với
cơ quan ngoại giao để thông qua con đường ngoại giao nhằm xác định người nướcngoài phạm tội ở Việt Nam có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật ViệtNam hay không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật hình sự thì công dân Việt Namphạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bịtruy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật hình sự củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ví dụ: Trần Văn H là cán bộ thuộcTổng công ty xây dựng thuộc Bộ Giao thông vận tải, trong một chuyến đi côngtác tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã vận chuyển 0,7 kg heroin Khilàm thủ tục tại sân bay Viên Chăn để về nước thì bị lực lượng hải quan cửa khẩuViên Chăn bắt Mặc dù Trần Văn H phạm tội ở nước ngoài (nước Lào) nhưng vẫn
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam
Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật hình sự thì người khôngquốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà phạm tộicũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Người không có quốc tịch là người chưa bao giờmang quốc tịch của bất kỳ nước nào, người đã thôi quốc tịch nhưng chưa nhậpquốc tịch nước khác
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Bộ luật hình sự thì người nước ngoàiphạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bịtruy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam tròng những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia Việc truycứu trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vấn đề ngoại giao và chỉ được áp dụngtrong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kếthoặc tham gia có quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự Do đó, căn cứ đểtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là điều ước quốc tế mà Việt Nam có kýkết hoặc tham gia Việc tham gia các điều ước quốc tế mà Việt Nam không ký kếtđược thể hiện bằng quyết định công nhận Tuy nhiên, thuật ngữ “công nhận” chưaphản ánh đầy đủ trách nhiệm của nước tham gia, nên Bộ luật hình sự năm 1999
thay thuật ngữ "công nhận” bằng thuật ngữ 'tham gia” có tính chính xác hơn.
2 Hiệu lực về thời gian
Trang 9Dù ở một nước tiên tiến hay nước đang phát triển thì pháp luật nói chung
và luật hình sự nói riêng, tính ổn định chỉ là tương đối, trong quá trình áp dụng dotình hình chính trị kinh tế - xã hội thay đổi, nhiều quan hệ xã hội cần phải có phápluật điều chỉnh, ngược lại có những quy định của pháp luật không có tác dụngđiều chỉnh, phải hủy bỏ hoặc sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn Việc sửa đổi, bổsung pháp luật nói chung và sửa đổi, bổ sung luật hình sự nói riêng là không thểtránh khỏi Ờ nước ta, Bộ luật hình sự năm 1985 đã qua bốn lần được sửa đổi, bổsung và Bộ luật hình sự năm 1999 thay thế Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật nàycũng được sửa đổi năm 2009, vì vậy việc xác định hiệu lực của Bộ luật hình sự vềthời gian là vô cùng quan trọng nhưng lại không đơn giản Đây là một vấn đề khó,nếu không được hướng dẫn cụ thể sẽ dẫn đến việc áp dụng Bộ luật hình sự khôngchính xác
Căn cứ để xác định hiệu lực về thời gian là thời điểm mà điều luật của Bộluật hình sự đó được ban hành có hiệu lực, chứ không phải căn cứ vào ngày banhành Ví dụ: Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27-6-1985nhưng lại có hiệu lực từ ngày 1-1-1986 và Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốchội thông qua ngày 21-12- 1999 nhưng lại có hiệu lực từ ngày 1-7-2000 Do đó,những hành vi phạm tội trước ngày 1-7-2000 không thuộc phạm vi điều chinh của
Bộ luật hình sự năm 1999 Tuy nhiên, nếu những hành vi phạm tội được thực hiệntrước ngày 1-7-2000 mà sau ngày 1-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự
và hành vi phạm tội đó Bộ luật hình sự quy định theo hướng nhẹ hơn so với Bộluật hình sự năm 1985 thì lại được áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lýhành vi phạm tội trước ngày 1-7-2000 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộluật hình sự (năm 2009) được Quốc hội thông qua ngày 19-6-2009 nhưng lại cóhiệu lực từ ngày 1-1-2010
Chương III: TỘI PHẠM
Tội phạm và hình phạt là hai nội dung cơ bản nhất của Bộ luật hình sự, haichế định này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tội phạm là cơ sở để quyết địnhhình phạt, không thể có việc quyết định hình phạt mà không trên cơ sở tội phạm
Có thể nói tội phạm là tiền đề cho việc quyết định hình phạt Nghiên cứu tội phạmchúng ta không chỉ nghiên cứu khái niệm, bản chất của tội phạm mà còn phảinghiên cứu các yếu tố các dấu hiệu cấu thành tội phạm và các trường hợp khôngphải là tội phạm (loại trừ trách nhiệm hình sự)
1 Khái niệm tội phạm
Theo quy định tại khoản 1 Điếu 8 Bộ luật hình sự thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, Nên văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Trang 10Từ khái niệm trên, chúng ta thấy tội phạm có những đặc điểm sau:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệthại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Các quan hệ đó là:
độc tập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, Nên văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp cửa tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghiã Nếu thiệt
hại gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì không phải là hành vi nguy hiểmcho xã hội và không bị coi là hành vi phạm tội Ví dụ: trộm cắp chưa đến 2 triệuđồng mà chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử lý hành chính về hành
vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án nhưng đãđược xóa án tích thì không bị coi là tội phạm
Việc đánh giá hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội phụ thuộc vàotình hình phát triển của xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm Nếutrước đây, hành vi trộm cắp dưới 2 triệu đồng dược coi là hành vi nguy hiểm cho
xã hội và người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội trộm cắp tài sản, thì hiện nay, hành vi này không bị coi là hành vi nguy hiểmcho xã hội nữa Ngược lại có hành vi trước đây chưa được coi là hành vi nguyhiểm cho xã hội, nhưng nay lại coi là nguy hiểm cho xã hội và được coi là tộiphạm Ví dụ: hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân, trước đây chưa đượccoi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nay hành vi này được coi là hành vi nguyhiểm cho xã hội
Khi đã xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng tức là đã coi hành
vi đó là hành vi phạm tội tuy nhiên người thực hiện hành vi đó có bị truy cứu
trách nhiệm hình sự hay không còn phải căn cứ vào các yếu tố khác như tuổi chịutrách nhiệm hình sự, lỗi và các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (sẽ nghiêncứu dưới đây)
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải được quy định trong Bộ luật hình sự
Việc nhà làm luật quy định chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội đượcquy định trong Bộ luật hình sự mới là tội phạm là nhằm gạt bỏ việc áp dụngnguyên tắc tương tự Chỉ có Bộ luật hình sự mới được quy định tội phạm, ngoài
Bộ luật hình sự, không có văn bản pháp.luật nào khác được quy định tội phạm.trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 trước ban hành, đã có một thời gian dài cácTòa án vận dụng đường lối, chính sinh để xét xử một số hành vi mà pháp luậthình sự không quy định là tội phạm như hành vi bức tử, hành vi xúi giục hoặcgiúp sức người khác tự sát, hành vi không cứu giúp người khác đang trong tình
trạng nguy hiểm đến tính mạng, hành vi đe dọa giết người, v.v
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành, cũng có nhiều ý kiến chorằng, việc nhà làm 'luật quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất thiếtphải được quy định trong Bộ luật hình sự sẽ dẫn đến tình trạng hình sự hóa một
cách tuyệt đối Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới chỉ quy định tội phạm là
Trang 11hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự hoặc tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự Mặt khác, tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: Cho người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự", trong khi đó khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8
Bộ luật hình sự năm 1985 lại quy định "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự…” Vậy là giữa khái niệm tội phạm và cơ sở
trách nhiệm hình sự đã quy định không thống nhất, dẫn đến việc hiểu và giải thíchrất khác nhau giữa khái niệm tội phạm với cơ sở trách nhiệm hình sự
Trong quá trình soạn thảo Bộ luật hình sự năm 1999, cũng có ý kiến đề
nghị Bộ luật hình sự nên quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự Ý kiến này có nhân tố hợp lý, tránh sự sửa đổi,
bổ sung Bộ luật hình sự một cách triền miên, nhưng lại không đảm bảo tính thốngnhất, tập trung, dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa văn bản này vớivăn bản khác, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền thì conngười với đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, được biết mình được làm gì,không được làm gì, nhất là các quan hệ pháp luật hình sự lại liên quan trực tiếpđến những quyền cơ bản nhất của con người, kể cả quyền sống Vì vậy luật hình
sự cần được pháp điển hóa thành Bộ luật hoàn chỉnh, nơi duy nhất quy định về tộiphạm và hình phạt, bảo đảm tốt nhất cho việc thực hiện chính sách hình sự, bảođảm quyền công dân, bảo đảm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Sau hơnmười năm thi hành và qua nhiều lần thảo luận, một lần nữa Bộ luật hình sự năm
1999 vẫn khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội phải được quy định trong Bộluật hình sự cho phù hợp với khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 với nội
dung “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
c) Chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự
Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thểcủa tội phạm, mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới là chủ thểcủa tội phạm
Bộ luật hình sự không quy định năng lực trách nhiệm hình sự là gì, mà chỉquy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13) và tuổi chịutrách nhiệm hình sự (Điều 12) Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu chủ thể củatội phạm phải là người ở một độ tuổi nhất định và là người có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi của mình
Trong một số trường hợp chỉ một hoặc một số người mới là chủ thể của tộiphạm, khoa học luật hình sự gọi là chủ thể đặc biệt Ví dụ: chỉ có người mẹ mới làchủ thể của tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 94 Bộ luật hình sự hoặc chỉnhững người có chức vụ mới là chủ thể của các tội phạm quy định tại ChươngXXI Bộ luật hình sự Tuy nhiên, đối với người đồng phạm khác không phải làngười thực hành trong một vụ án có đồng phạm thì vấn đề chủ thể đặc biệt không
đặt ra đối với họ
d) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là người có lỗi
Trang 12Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý
Khoa học luật hình sự coi lỗi là một dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tộiphạm Nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi thì người cóhành vi nguy hiểm cho xã hội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (không đủyếu tố cấu thành tội phạm)
Tội phạm là hành vi có lỗi, tính có lỗi là thuộc tính cơ bản của tội phạm, là
cơ sở để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự vế hành vi nguy hiểm cho
xã hội của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra Luật hình sự Việt Nam khôngchấp nhận hình thức buộc tội khách quan; tội phạm là hành vi tổng hợp các yếu tốchủ quan và khách quan, các yếu tố này có liên quan chặt chẽ với nhau trong mộtthể thống nhất (tội phạm là sự thống nhất giữa mặt chủ quan và mặt khách quan)
Có thể nói lỗi là một nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự Việt Nam, nên trong
Điều 8 Bộ luật hình sự khi định nghĩa về tội phạm đã nêu: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
Hiện nay, vấn đề lỗi trong luật hình sự Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau
Có ý kiến cho rằng lỗi không phải là một đặc điểm riêng (thuộc tính) của tội phạm
mà nó là một yếu tố thuộc đặc điểm tính nguy hiểm cho xã hội Quan điểm này
cho rằng, khi nói tính nguy hiểm cho xã hội có thể hiểu đó là một đặc điểm củariêng hành vi khách quan của tội phạm, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng
kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đặc điểm này không phụthuộc vào mặt chủ quan bên trong của tội phạm Nhưng nói đến tính nguy hiểmcho xã hội cũng có thể hiểu đó là một đặc điểm của một hành vi với ý nghĩa là thểthống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan
Có quan điểm khác cho rằng lỗi là thành phần cơ bản của mặt chủ quan.Trong mặt chủ quan, ngoài lỗi ra còn có động cơ mục đích tội phạm, các yếu tố
xúc cảm, v.v Lại có quan điểm khác cho rằng lỗi là thái độ tâm lý Thái độ tâm lý
của con người là một thể thống nhất không tách rời giữa nhận thức, động cơ, mụcđích, ý chí và các yếu tố tâm lý khác Hơn nữa, ngoài cố ý và vô ý, động cơ, mụcđích có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng trong việc định tội cũng như trong việcquyết định hình phạt Vì vậy, lỗi chính là mặt chủ quan của tội phạm Khi người tanói một người có lỗi trong thực hiện tội phạm tức là nói đến toàn bộ mặt chủ quancủa tội phạm mà không tách rời nó với động cơ, mục đích phạm tội
Theo khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự thì hành
vi phạm tội chỉ được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Luật hình sự Việt Nămkhông thừa nhận hình thức lỗi thứ ba, nhưng trong một số công trình nghiên cứucủa một số tác giả có đề cập đến hình thức lỗi thứ ba, đó là lỗi hỗn hợp" tức là vừa
vô ý vừa cố ý hoặc cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả Có thể trong công tác nghiêncứu bản chất của các hình thức lỗi, có thể đặt vấn đề một người thực hiện hành vivừa cố ý lại vừa vô ý (cố ý về hành vi vô ý về hậu quả) như đối với người cố ý viphạm luật lệ giao thông (đèn đỏ nhưng vẫn vượt qua ngã tư) gây hậu quả nghiêmtrọng làm chết người, nhưng việc này, lỗi của người phạm tội cũng chỉ là lỗi vô ýchứ không thể nói là cố ý được, vì nếu cố ý gây chết người thì là phạm tội giết
Trang 13người rồi chứ không còn là vi phạm luật lệ giao thông gây hậu quả chết ngườinữa.
Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,nếu không có lỗi thìkhông bị coi là hành vi phạm tội Bộ luật hình sự quy định một số trường hợpkhông phải là tội phạm do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không
có lỗi như: sự kiện bất ngờ (Điều II), phòng vệ chính đáng (Điều 15), tình thế cấpthiết (Điều 16) Ngoài ra, tuy Bộ luật hình sự không quy định, nhưng về lý luậncũng như thực tiễn xét xử có một số trường hợp tuy có hành vi gây thiệt hại đếnlợi ích xã hội hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của công dân, nhưng cũngkhông bị coi là phạm tội vì người thực hiện hành vi không có lỗi, như: tình trạngkhông thể khắc phục được hậu quả; bắt người phạm tội quả tang hoặc có lệnh truynã; chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh; rủi ro trong nghề nghiệp hoặctrong sản xuất
đ) Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các quan hệ
xã hội đó được Bộ luật hình sự bảo
Đây cũng là một đặc điểm mà thiếu nó thì không phải là tội phạm Cácquan hệ xã hội thì có nhiều, do nhiều ngành luật điếu chỉnh, nhưng Bộ luật hình
sự chỉ bảo vệ những quan hệ có liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, Nên văn hóa,'quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợppháp khác của công dân và nhưng lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tuyệt đại đa số cho rằng,khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội Tuy nhiên, có người cho rằng, quan
hệ xã hội chỉ là khách thể chung, khách thể loại, còn khách thể trực tiếp khôngphải là quan hệ xã hội Sự lầm lẫn này, thể hiện ở một số sách báo pháp lý khi nóiđến khách thể trực tiếp thường nhầm với đối tượng tác động
Khách thể là một yếu tố rất quan trọng của tội phạm; các hành vi xâm phạmđến các quan hệ xã hội không phải là khách thể của tội phạm thì không phải là tộiphạm; hiểu rõ khách thể của tội phạm giúp chúng ta xác định tính chất, mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội, phân biệt tội phạm này với tội phạm khác
2 Phân loại tội phạm
Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy định cácnguyên tắc xử lý, quy định mới chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện áp
dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp, v.v Phân loại tội phạm còn là
cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự, quy định khung hình phạt, bảo đảmnguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt Ngoài ra, việc phân loạitội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quy định một số chế định tạm giam, tạm giữtrong Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 14Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ chia tội phạm ra thành hai loại: tội phạm ítnghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng Bộ luật hình sự năm 1999 chia tội phạm
ra làm bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rấtnghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đây là điểm mới cơ bản của Bộluật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985, cũng từ quy định mớinày, kéo theo nhiều quy định mới khác trong Bộ luật hình sự
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội
mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là dấn ba năm tù Ví dụ: tộigiết con mới đẻ (Điều 94); tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 95; tội xuất cảnh, nhập cảnhtrái phép; tội ở lại Việt Nam trái phép (Điều 274)
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức
cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù Ví dụ: tội lâytruyền HIV cho người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 117, tộicưỡng dâm thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 113, v.v
- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là mười lăm năm tù Ví dụ: tộisản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều156; tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới thuộc trường hợp quyđịnh tại khoản 3 Điều 154, v.v
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm
tù, tù chung thân hoặc tử hình Ví dụ: tội_ phản bội Tổ quốc thuộc trường hợp quyđịnh tại khoản 1 Điều 78; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thuộctrường hợp quy định tại khoản 1 Điều 79; tội giết người thuộc trường hợp quyđịnh tại khoản 1 Điều 93; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếmđoạt chất ma túy thuộc trường 'hợp quy định tại 'khoản 4 Điều 194; tội chiếm đoạt
tàu bay, tàu thủy thuộc trường ' hợp - quy định tại khoản 2 Điều 221, v.v…
Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự thì những hành vi tuy códấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì'không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác Ví dụ: hành vi cố
ý gây thương tích mà tỷ lệ thương tật của nạn nhân dưới 11% nhưng không 'thuộcmột trong các trường hợp: dùng hung khí nguy hiểm, gây cố tật nhẹ cho nạn nhân,tội phạm nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; đối với trẻ
em, phụ nữ đang có thai, người già yếu ốm đau hoặc người khác không có khảnăng tự vệ; đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo củamình; có tổ chức; trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụngbiện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; thuê gây thương tích hoặc gây thương tíchthuê; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; để cản trở người thi hành công
vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
Hiện nay Bộ luật hình sự có nhiều tội đã lượng hóa hậu quả hoặc thiệt hại
và nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa gây ra hậu quả hoặc thiệt hại đó thìchưa bị coi là tội phạm mặc dù hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, như: hành vi
Trang 15trộm cắp tài sản dưới hai triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chưa
bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tàisản; hành vi gây rối trật tự công cộng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, v.v
Lần đầu tiên Bộ luật hình sự quy định rõ hai hình thức lỗi cố ý phạm tội,tuy không nói rõ đó là lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, nhưng với nội dung quyđịnh như trên chúng ta có thể hiểu được đó là hai hình thức ,lỗi: cố ý trực tiếp và
cố ý gián tiếp
Khoa học luật hình sự, khi nghiên cứu lỗi cố ý, còn chia ra nhiều hình thứckhác nhau, các hình thức này không có ý nghĩa xác định trách nhiệm mà chỉ có
ý nghĩa- xác định mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Các hình thức đó là:
cố ý có đủ mưu và cố ý đột xuất; cố ý xác định và cố ý không xác định:
- Cố ý có dự mưu là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, người có hành vi đó đã suy nghĩ, tính toán cẩn thận mới bắt tay vào việcthực hiện tội phạm
- Cố ý đột xuất là trường hợp một người vừa có ý định phạm tội đã thựchiện ngay ý định đó
- Cố ý xác định là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội, người có hành vi đã xác định được hậu quả
- Cố ý không xác định là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội, người có hành vi không hình dung chính xác hậu quả xảy ra như thếnào
Bộ luật hình sự không quy định rõ các hình thức vô ý phạm._tội nhưng căn
cứ vào nội đung quy định trên, chúng ta thấy rõ có hai hình thức vô ý phạm tội màkhoa học luật hình sự gọi là vô ý vì cẩu thả v-à vô ý vì quá tự tin
- Vô y vì cẩu thả là trường hợp do cẩu thả mà người phạm tội không thấytrước khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trướchoặc có thể thấy trước Tiêu chuẩn để xác định một người phải thấy trước và có thểthấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội là căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể lúc
Trang 16xảy ra sự việc, một người bình thường cũng có thể thấy trước; ngoài ra còn phải
căn cứ vào độ tuổi trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, tay nghề, v.v
- Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội thấy trước được hành vicủa mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng tin rằng hậu quả đó
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra
5 Sự kiện bất ngờ
Sự kiện bất ngờ là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hại cho xã hộikhông thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước tỉnh chất nguy hiểm cho xãhội của hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi đó, tức là người có hành
vi nguy hiểm không có lỗi trong việc gây ra hậu quả hoặc đe dọa gây ra hậu quảnguy hiểm cho xã hội Không có lỗi cũng tức là hành vi của họ không cấu thànhtội phạm (thiếu dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của cấu thành tội phạm)
Sự kiện bất ngờ được quy định tại Điều lệ bộ luật hình sự, nhưng cho đếnnay các sách báo (kể cả giáo trình của các trường đại học luật) cũng ít đề- cập đến
sự kiện bất ngờ, nếu có cũng chỉ đề cập khi phân tích các yếu tố cấu thành tộiphạm Trong cuộc sống cũng như thực tiễn xét xử, sự kiện bất ngờ xảy ra cũngkhông phải ít và cũng không ít trường hợp do không đánh giá đúng các điều kiệncủa chế định này nên đã kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Sự kiện bất
ngờ là hành vi gây thiệt hài không bị coi là có lỗi cố ý hoặc vô ý phạm tội được
quy định tại Điều 9 và Điều 10 Bộ luật hình sự chứ không phải lỗi theo khái niệmthông thường Trong cuộc sống hàng ngày, có những xử sự sai trái cũng được coi
là có lỗi nhưng đó là lỗi với nghĩa thông thường, đó là điều lầm lạc, như: chồng
có lỗi với vợ, con cớ lỗi với bố mẹ, cháu có lỗi với ông bà, trẻ em có lỗi với người
lớn, học sinh có lỗi với thầy cô giáo, bạn bè có lỗi với nhau, v.v Những lỗi này có
thể thuộc lĩnh vực đạo đức, hành chính, dân sự, quan hệ xã hội chứ không phảilỗi với ý nghĩa là một dấu hiệu của tội phạm
Một người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả hoặc đe dọa gây
ra hậu quả nguy hại cho xã hội đo sự kiện bất ngờ thuộc một trong hai trường hợp
sau:
a) Không thể thấy trước hậu quả của hành vi
Không thể thấy trước được hậu quả của hành vi là trước khi thực hiện hành'
vi (hành động hoặc không hành động), người đó không nhận thức được hành vicủa mình sẽ gây ra hậu quả, sự nhận thức này của họ có cơ sở khoa học và đượcmọi người thừa nhận, ai trong hoàn cảnh này đều không thể thấy trước được hậuquả sẽ xảy ra, nhưng thực tế hậu quà lại xảy ra Việc giải quyết mâu thuẫn giữacái tất yếu (hậu quả xảy ra) với nhận thức của người có hành vi gây ra hậu quả đókhông phải bao giờ cũng dễ dàng Thông thường người có hành vi gây ra hậu quả
đó cho rằng mình không thể thấy trước được hậu quả, còn người bị thiệt hại thì lạicho rằng người có hành vi có thể thấy trước được hậu quả nhưng vẫn hành động
Vì vậy khi đánh giá một người có hành vi gây ra hậu quả có thể thấy trướcđược hậu quả của hành vi hay không phải căn cứ vào điều kiện khách quan và chủquan khi xảy ra sự việc Về khách quan, trong hoàn cảnh cụ thể đó, hất kỳ ai cũngkhông thấy trước được hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm, còn về chủ
Trang 17quan phải xem' xét các đặc điểm về nhân thân của người có hành vi gây ra hậuquả như tuổi trình độ hiểu biết, bệnh tật và những đặc điểm về nhân thân khác cóảnh hưởng đến nhận thức của họ Ví dụ: một người đẩy mạnh cửa sổ của nhàmình ra để hóng mát nhưng ở phía bên ngoài cửa sổ có một cậu bé đang đứng bắt
tổ chim, làm cho cậu bé này ngã xuống đất, đập đầu vào hòn gạch nên bị chết
b) Không buộc phải thấy trước
Không buộc phải thấy trước là khi có khả năng thấy trước được hậu quảnguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, nhưng theo pháp luật không buộc họphải thấy trước hậu quả của hành vi và nếu có hậu quả xảy ra thì họ không phảichịu trách nhiệm hình sự về hành vị nguy hiểm đó Ví dụ: một lái xe đang điềukhiển một xe vận tải đúng phần đường, đúng tốc độ thì bất ngờ có một người băngqua đường ngay đầu xe làm cho người lái xe không xử lý kịp, đã đậm vào ngườinày và làm cho người đó bị chết Khi để xe đâm vào người băng qua đường,người lái xe có thể nhận thức được hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra, nhưng trọngtrường hợp này theo pháp luật (luật giao thông đường bộ) thì không buộc họ phảithấy trước, nên họ không có lỗi
Sự kiện bất ngờ chính là sự loại trừ trường hợp có hành vi nguy hiểm cho
xã hội do lỗi vô ý vì cẩu thả, nên giữa sự kiện bất ngờ với lỗi vô ý do cẩu thả có
những điểm giống nhau và khác nhau, khi không có căn cứ xác định người cóhành vi do vô ý vì cẩu thả thì cũng tức là hành vi của họ thuộc trường hợp do sựkiện bất ngờ Vì vậy, khi nghiên cứu sự kiện bất ngờ, chúng ta không thể khôngnghiên cứu hình thức lỗi vô ý vì cẩu thả
Vô ý vì cẩu thả là trường hợp do cẩu thả mà người phạm tội không thấytrước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và cóthể thấy trước Cẩu thả là không cẩn thận trước khi hành động, nếu cẩn thận thìhậu quả sẽ không xảy ra Ví dụ: một người đi săn, mới nghe trong bụi rậm cótiếng sột soạt đã chĩa súng vào đó bóp cò làm chết người vào rừng lấy măng.Người đi săn này, trước khi chĩa súng vào bụi rậm bóp cò rõ ràng là họ khôngthấy trước được hậu quả chết người, nhưng họ vẫn có lỗi (vô ý vì cẩu thả) vì lẽ ra
họ phải thấy trước và có thể thấy trước
Tiêu chuẩn để xác định một người phải thấy trước và có thể thấy trước.cũnggiống.v.ới tiêụ chuẩn xác định một người gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ Đó làcăn cứ vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra sự việc, một người bình thường cũng cóthể thấy trước và trong hoàn cảnh cụ thể đó ai cũng không thấy trước thì là do sựkiện bất ngờ như vậy, giữa sự kiện bất ngờ với lỗi vô ý vì cẩu thả có đặc điểmgiống nhau là người có hành vi đều không thấy trước được hậu quả của hành vicủa mình, nhưng khác nhau ở chỗ người có lỗi vô ý vì cẩu thả có đủ điều kiện đểthấy trước, còn người gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ do hoàn cảnh khách qụanhoặc do trình độ nhận thức (năng lực chủ quản) nên không thấy trước được hậuquả
Khi đặt vấn đề không buộc người gây thiệt hại phải thấy trước hành vi củamình gây ra hậu quả không chỉ căn cứ vào các văn bản pháp luật cụ thể nào củaNhà nước quy định về việc không buộc mà còn phải cặn cứ vào hoàn cảnh cụ thể
Trang 18lúc xảy ra sự việc, trình độ nhận thức của người gậy thiệt hại và các tình tiếtkhác Thông thường nếu mọi người nói chung rơi vào hoàn cảnh đó thì cũngkhông thấy được hậu quả xảy ra, thì người gây thiệt hại cũng được công nhận làgây thiệt hại do sự kiện bất ngờ
Sự kiện bất ngờ là trường hợp không có lỗi, nhưng không vì thế mà chorằng tất cả những trường hợp không có lỗi đều là sử kiện bất ngờ Trong một sáchbáo, các tác giả khi nói về sự kiện bất ngờ thường nêu trường hợp không có lỗinhư "tình trạng không thể khắc phục được” Thực ra tình trạng không thể khắcphục được không phải là sự kiện bất ngờ, nhưng vì Bộ luật hình sự không quyđịnh trường hợp “tình trạng không thể khắc phục được” nên khi phân tích, các tácgiả thương gắn trường hợp này với sự kiện bất ngờ Tuy nhiên, về lý luận cũngnhư thực tiễn xét xử, ngoài tình trạng không thể khắc phục được, còn một sốtrường hợp không bị coi là có lỗi nhưng Bộ luật hình sự chưa quy định như chấphành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh, sự mạo hiểm chấp nhận dược về kinh tếhoặc nghề nghiệp (rủi ro trong nghề nghiệp), gây thiệt hại trong trường hợp bắtngười phạm tội quả tang…
6 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Luật hình sự nước nào cũng quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưngkhông phải nước nào cũng giống nhau, điều đo hoàn toàn tùy thuộc vào thực tiễndấu tranh phòng chống tội phạm của mỗi nước, vào sự phát triển về sinh học củacon người ở mỗi quốc gia khác nhau: ở Anh từ 8 tuổi Ở Mỹ từ 7 tuối, ở ThấyĐiển từ 15 tuổi, ở Nga từ 14 tuổi, ở Pháp từ 13 tuổi ở các nước đạo 'Hồi như AiCập, Li băng, Irắc từ 7 tuổi v.v…
Ở nước ta, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, có thamkhảo luật hình sự của các nước trên thế giới và trong khu vực, Bộ luật hình sự đãquy định: người từ đủ 14 tuổi trở.lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu:tráchnhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệtnghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm (Điều 12 Bộ luật hình sự)
Vấn đề đặt ra về lý luận cần phải giải quyết, đó là vì san người chưa đủ 14tuổi lại không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà
họ gây ra? Khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủyếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người, sự phát triển vềquá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
Người chưa đủ 14 tuổi, trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thứcđược tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ khihành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họthực hiện Một hành vi được coi là không có lỗi cũng tức là không đủ yếu tố cấuthành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự (loại trừ trách nhiệmhình sự)
Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa
có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Do đó họ cũng chỉ phải chiu trách nhiệmhình sự về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách
Trang 19nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm Theo luật hình sự nước ta thì người từ đủ 14tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tộiphạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Diều 12
Bộ luật hình sự)
Nếu người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi lại phạm tội do vô ýthì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêmtrọng Ví dụ: Trần Văn K 15 tuổi 10 tháng là học sinh lớp 9, Trường phổ thông cơ
sở Quang Trung, thị xã Thái Bình Trên đường đi học về, K vô ý ném tàn thuốc lávào dòng rơm của gia đình bà H, vì trời hanh khô nên bắt lửa làm cháy đống rơm
và toàn bộ ngôi nhà của gia đình bà H và : cháy lây sang các nhà khác thiệt hại trịgiá hàng tỷ đồng
Một người chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã
hội, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì khi điếu tra, truy tế và xét xử,
các cơ quan tiến hành tế:tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) phảixác định rõ tuổi của họ Cách tính đủ tuổi là tính theo tuổi tròn Ví dự, sinh ngày01-01-1980 thì ngày 01-01-1994 mới đủ 14 tuổi và ngày 01-01-1996 mới đủ 16tuổi Trong trường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tínhngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh Ví dụ, chỉ biết tháng sinh củangười phạm tội là tháng 4-1981 mà không biết ngày nào thì lấy ngày 30-4-1981 là
ngày sinh của họ Trường hợp cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng
sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm sinh là ngày sinh của ngườiphạm tội Ví dụ; chỉ biết năm sinh của người phạm tội là năm 1983 thì ngày sinhcủa người phạm tội là ngày 31-12-1983
Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xửphải tiến hành hết các biện pháp xác minh mà không thể chứng minh được ngàytháng năm sinh thì mới lấy ngày cuối cùng trong tháng hoặc tháng cuối cùngtrong năm làm ngày sinh của người phạm tội Trong hồ sơ vụ án nhất thiết phải cóbản sao giấy khai sinh nếu là trường hợp có giấy khai sinh) hoặc các biên bản xácminh có xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền (nêu là trường hợp không cógiấy khai sinh
7 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại khóản l Điều 13 Bộ luật hình sự, thì tình trạng không cónăng lực trách nhiệm hình sự là việc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội trong khi đang mắc bệnh tâm thản hoặc một bệnh khác làm mất khả năngnhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
Như vậy tiêu chuẩn '(dấu hiểm để xác minh được một người không có nănglực trách nhiệm hình sự là mắc bệnh (tiêu chuẩn y học) và mất khả năng nhậnthức hoặc khả năng điều khiển (tiêu chuẩn tâm lý) Cả hai dấu hiệu này có mốiliên quan chặt chẽ với'nhau, cái này là tiền dề của cái kia và ngược lại Một người
vì mắc bệnh nên mất khả năng điều khiển và bị mất khả năng điều khiển vì họmắc bệnh
Cho đến nay chưa có giải thích chính thức nào về trường hợp không cónăng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự Tuy
Trang 20nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã thừa nhận một người không cónăng lực trách nhiệm hình sự khi họ mắc một trong các sau: bệnh tâm thần kinhniên, bệnh loạn thần, bệnh si ngốc, các bệnh gây rối loạn tinh thần tạm thời.
Một người bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh làm mất khả năng nhậnthức phải được Hội đồng giám định tâm thần giám định và kết luận thần giámđịnh và kết luận Ở nước ta, ngành tâm thần học mới ra đời, nhưng đã đạt đượcnhững kết quả nhất định Tuy nhiên, cho đến nay, những kiến thức về tâm thầnhọc trong nhân dân và ngay trong đội ngũ cán bộ y tế còn hạn chế chưa đáp ứngđược đòi hỏi về phòng và chữa bệnh tâm thần cũng như việc xác định năng !ực.trách nhiệm hình sự.đối với người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội Có nhiều.trường hợp, có nhiều kết luận trái ngược nhau về tìnhtrạng không có nặng lực trách nhiệm hình sự giữa các Hội đồng giám định tâmthần làm cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với' người phạm tội không.Chính xác thậm chí có trường hợp kết luận của Hội đồng giám định không đượccác cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận vì kết luận đó thiếu cơ sở khoa hóc;không phù hợp : với trạng thái tâm thần của người phạm tội:
Thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp một người bị mắc bệnh tâm thần
nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bởi vì khi thực hiện hành vi phạm
tội họ không mắc bệnh Pháp luật nước ta cũng như một số nựớc trên thế giớiđều quy định: chỉ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tìnhtrạng họ đang bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thứcthì mới không bí truy cứu trách nhiệm hình sự (loại trừ trách n hiệ m hình sự)
Chỉ khi nào người mắc bệnh tâm thần tôi mức làm mất khả năng nhận thứchành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra mới được coi là không có nănglực trách nhiệm hình sự Nếu bệnh của họp chưa tới mức làm mất khả năng nhậnthức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình thì tùy thuộc vào từngtrường hợp cụ thể, họ phải chịutoàn bộ hoặc một phần trách nhiệm hình sự
Một người mắc bệnh tâm thần trong khi thực hiện hành vi, phạm tội thì họkhông bị truy cứu trách nhiệm nhưng họ phải bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữabệnh
Đối với người lúc thực hiện hành vi phạm tội họ không mắc bệnh tâm thầnnhưng sau khi phạm tội và trước khi bị kết án mà họ lại mắc bệnh tâm thần tớimức không nhận thức được hành vi của mình thì họ cũng được áp dụng biện phápbắt buộc chữa bệnh, nhưng sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu tráchnhiệm hình sự
Người phạm tội cũng được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu khi thực hiệnhành vi phạm tội họ mắc một bệnh nào đó và bệnh đó đã làm mất khả năng điềukhiển hành vi của mình Đây là trường hợp người phạm tội vẫn nhận thức đượchành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì bị bệnh nên họ không điềukhiển được hành vi của mình theo ý muốn nên đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho
xã hội Thông thường những người ở trong tình trạng này là trường hợp theo quyđịnh của pháp luật buộc họ phải hành động, nhưng vì bị bệnh nên họ không thểhành động theo ý muốn nên đã gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội Ví dụ: một
Trang 21nhân viên đường sắt có nhiệm vụ bẻ ghi cho tàu hỏa đi vào đúng đường ray,nhưng vì người này bị lên cơn sất ác tính nên không thể thực hiện được nhiệm vụđược giao làm cho tàu hỏa đâm vào đoàn tàu đang đỗ trong ga gây thiệt hại đặcbiệt nghiêm trọng đến người và tài sản.
8 Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích khác
Theo quy định tại Diều 14 Bộ luật hình sự thì người phạm tội trong tìnhtrạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích khác vẫn phải chịu trách nhiệm hìnhsự
Luật hình sự nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới không loại trừtrách nhiệm cho người phạm tội do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnhkhác Bởi vì trước đó họ là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và khi
họ uống rượu hoặc sử dụng chất kích thích là tự họ đặt mình vào trong tình trạng
"say" nên họ có lỗi Say rượu là một hiện tượng không bình thường trong xã hội,
là một thói xấu trong sinh hoạt, việc bắt người say rượu phải chịu trách nhiệmhình sự về hành vi phạm tội do họ gây ra còn là biểu thị thái độ nghiêm khắc của
xã hội đối với tệ nạn say rượu
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nếu người phạm tội không có lỗi trongviệc uống rượu và như vậy họ cũng không có lỗi trong việc say rượu sẽ được thừanhận là không có năng lực trách nhiệm hình sự vì đó là một loại thuộc trường hợpsay rượu bệnh lý Thực tiễn xét xử cũng đã xảy ra trường hợp Hội đồng giám địnhpháp y tâm thần kết luận người phạm tội do say rượu bệnh lý, nhưng họ vẫn bịtruy cứu trách nhiệm hình sự Đó là trường hợp Phạm Đình Tứ Ở Nghệ T nít (cũ),sau khi uống rượu cùng với thầy giáo cũ tại nhà thầy, trong đêm hôm đó Tứ đãthức dậy dùng dao chém nhiều nhát vào vợ, con và thầy giáo, nhưng chỉ có vợ conthầy giáo chết còn thầy giáo của Tứ thì thoát nạn Do có hai bản giám định tráingược nhau về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự nên Bộ Y tếthành lập Hội đồng giám định pháp y tâm thần và kết luận Phạm Đình Tứ phạmtội do say rượu bệnh lý Căn cứ vào hành vi phạm tội của Phạm Đình Tứ, có xemxét đến kết quả giám định của Hội đồng giám định pháp y tâm thần do Bộ Y tếthành lập nên Tòa án đã phạt tù chung thân đối với Phạm Đình Tứ về tội giếtngười
Như vậy về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, ở nước ta không thừa nhậntình trạng say rượu, dù đó là say rượu bệnh lý cũng không được loại trừ tráchnhiệm hình sự Một số nước, trong đó có các nước cộng hòa thuộc Liên Xô (cũ),coi trường hợp say rượu bệnh lý được loại trừ trách nhiệm hình sụt
9 Phòng vệ chính đáng
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định chế định phòng vệ chínhđáng trong luật hình sự Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những quy định riêng về chếđịnh này tùy thuộc vào tình hình chính tả, kinh tế - xã hội của mỗi nước Trong Bộluật hình sự nước ta, phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 15 với nội
dung: "Phòng vệ chính đáng là hành vi của người về bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình và của người khác,
Trang 22mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên” Luật hình sự của một số nước gọi đây là phòng vệ cần thiết (Điều 38
Bộ luật hình sự của Liên bang Nga) Bộ luật hình sự năm 1999 đã không dùng
thuật ngữ tương xứng mà thay vào đó là thuật ngữ cần thiết tuy không làm thay
đổi bản chất của chế định phòng vệ chính đáng nhưng cũng làm cho việc vậndụng chế định này trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quảhơn
Cho đến nay; đã có nhiều nhà khoa học, các cán bộ làm công tác thực tiễnquan tâm dấn chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự, nhiều bài viếtđăng trên các tạp chí khoa học hoặc tạp chí chuyên ngành bàn vế phòng vệ chínhđáng Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học.nào nghiên cứu một cách dầy
đủ, toàn diện chế định phòng vệ chính đáng Vấn đề phòng vệ chính đáng trongluật hình sự cho đến nay vần là vấn đề nhiều người quan tâm và thực tiễn đấutranh chống tội phạm nhiều trường hợp có nhiều ý kiến khác nhau nên dẫn đếncác quyết.định khác nhau
Tuy nhiên, qua việc tổng kết thực tiễn xét xử, Hội đồng thẩm phán Tòa ánnhân dân tối can có Nghị quyết số 02/ HĐTP ngày 5-1-1986 hướng dẫn Tòa án
các cấp áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, trong đó tại mục II có đề
cập đến chế định phòng vệ chính đáng Trước k i có Bộ luật hình sự năm 1985,Tòa án nhân dân tối cao cũng có Chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử
các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá
giới: hán phòng vệ chính dáng hoặc trong khi thi hành công vụ Tinh thần của Chỉthị 07 vẫn còn phù hợp với quy định của Điếu 15 Bộ luật hành sự và Nghị quyết
số 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Theo đó hành vi xâmphạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng
khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:
- Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ phải là hành uỷ phạm tội hoặc rõ rừng là có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội;
- Hành vi nguy hiểm cho 'xã 'hội đang gây thiệt hại hoặc để dọa gây thiệt hại'thực sự và ngay tức khắc chờ những lợi ích cần thiết phải được bảo vệ.
- Phòng vệ chính đáng không cho gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sử xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại ;
- Hành vi phòng vệ phải cần thiết với hành vi xâm hại, tức là không' có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại ;
- Cần thiết không có nghiã là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây rạ cho người phòng vệ ;
Để xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay không, có rõ ràng là quá đáng hay khôngthì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành
vi xâm hại và hành vi phòng vệ như : khách thể cần bảo vệ mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra, vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên sử dựng, nhân thân của người xâm
Trang 23hại, cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sư việc, v.v Đồng thời cũng phải chú ý yếu tố tâm lý của người phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn cộng bất ngờ.
Sau khí đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên
và nhận thấỳ rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện phương pháp rõ ràng quá đáng và đã gây thiệt hại rõ ràng quá mức đối với hành và xâm hạn thế con hành vi chống trả là không cần thiết và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Ngược lại, nếu hành vi chống trả là cần thiết thì đó là phòng vệ chính đáng.
Tinh thần của Chỉ thị số 07 và Nghị quyết số 02 của Tòa án nhân dân tốicao tuy chỉ là văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, nhưng qua thực tiễn xét xử,
các văn bản trên được sử dụng như là một văn bản giải thích chính thức của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về chế định phòng vệ chính đáng Tuy nhiên, docòn hạn chế về nhiều mặt nến cả về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, các văn bảntrên chưa quy định một cách đầy đủ những dấu hiệu của chế định phòng vệ chínhđáng, nên thực tiễn xét xử có không ít trường hợp còn có nhận thức rất khác nhau
về phòng vệ chính đáng
Ví dự : khi nói đến hành vi chống trả một cách cần thiết người đang cố
hành vi xâm phạm, nhưng chưa nêu được cằn cứ để xác định thế nào là cần thiết ?Các lợi ích bị xâm phạm theo Điều 15 Bộ luật hình sự bao gồm lợi ích của Nhànước, của tổ chức, của người phông vệ và của người khác, nhưng bị xâm phạmtrong trường hợp như thế nào thì hành vi chống trả được coi là phòng vệ, trườnghợp nào thì không được coi là phòng vệ? Các cộng trình nghiên cứu của một sốtác giả về chế định phòng vệ chính đáng cũng mới đề cập đến những khái niệm,những quy định của các văn bản hướng dẫn hoặc nên một số vụ án mà Tòa án các
cấp đã xét xử người phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và từ đó
rút ra kết luận, nhưng kết luận này không áp dụng cho tất cả các trường hợp, tínhkhái quát chưa cao
Căn cứ vào quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự, các văn bản hướng dẫn ápdụng pháp luật và đặc biệt qua thực tiễn xét xử, chúng ta có thể nêu những điềukiện cần và đủ, một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng phải hội tụ đủ cácyếu tố sau:
a) Về phía nạn nhân (người bị chết hoặc bị thương tích) phải là người đang
có hành vi xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của 'tổ chức, của cá nhân
người phòng vệ hoặc của người khác
Đang có hành vi xâm phạm là hành vi đã bắt đầu và chưa kết thúc: Ví dụ,.Ađang cầm đao đuổi chém B hoặc C đang dí súng vào đầu Đ để buộc Đ phải đưa tàisản cho mình Nếu hành vi chưa bắt đầu, thì mọi hành vi chống trả không đượccoi là hành vi phòng vệ Ví dụ- Trần Tuấn anh thấy Nguyễn Mạnh Hùng đi chơi
với người yêu của mình nên nói với Hùng: sao sẽ giết màyt Mới nghe Tuấn Anh
nói vậy, Hùng đã rút dao trong người ra đâm Tuấn Anh chết Trường hợp hành vi
Trang 24xâm phạm đã kết thúc thì mọi hành vi chống trả cũng không được coi là hành viphòng vệ Ví dụ: A đánh B bị thương vào đầu, được mọi người can ngăn, A đã bỏ
đi, nhưng do bực tức B đã lấy đao đuổi theo A, đâm A chết 'Tuy nhiên, trongtrường hợp hành vi xâm phạm này đã kết thúc, nhưng lại có tiếp hành vi khác củachính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo vệ thì cũng không coi làhành vi xâm phạm đã kết thúc và người đó có hành vi chống trả vẫn được coi là
phòng vệ Ví dụ : A đánh B nhưng B đỡ được, A biết không thể đánh nổi B nên
chạy vào nhà B đánh mẹ của B đang bị bệnh nằm trên giường, nên B đã dùng mộtkhúc gỗ vụt mạnh vào đầu làm cho A ngất xỉu sau đó bị chết Mặc dù hành vi tấncông của A đã kết thúc đối với B nhưng A lại có tiếp hành vi xâm phạm đến mẹcủa B và để bảo vệ mẹ của mình nên B đã chống trả gây thiệt hại cho A nên hành
vi của B cũng được coi là phòng vệ
Trường hợp phòng vệ này thường bị nhầm với trường hợp phạm tội trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng củanạn nhân quy định tại Điều 95 Bộ luật hình sự, vì người bị tấn công không phải làngười chống trả (người có hành vi phòng vệ) mà là người khác (người thứ ba).Tuy nhiên người thứ ba trong trường hợp phòng vệ có thể là người' thân của mình,những cũng có thể chỉ là một người không quen biết, còn trường hợp phạm tội do
bị kích động mạnh về tinh thần, người bị xâm phạm chỉ có thể là người thân củangười phạm tội,
Trường hợp phòng vệ này càng dễ nhầm với trường hợp phạm tội trongtrường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật 'của người khác gây
ra là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự,
vì người thứ ba trong trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 có thể làngười thân, nhưng cũng có thể là người không quen biết Hành vi phòng vệ vàhành vi được coi là bị kích động về tinh thần chỗ khác nhau Ở tính chất và mức
độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm Vì vậy về phía nạn nhân trong trường hợpphòng vệ phải là người có hành vi xâm phạm có tính chất nguy hiểm đáng kể
Mức độ đáng kể ở đây là tùy thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xãhội bị xâm phạm (quan hệ xã hội cần bảo vệ) Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càngquan trọng bao nhiêu thì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm càngnghiêm trọng bấy nhiêu Ví dụ, một người trèo tường để đột nhập vào nơi cất giữtài liệu tối mật về an ninh quốc phòng được canh giữ cẩn thận, thì tính chấtnghiêm trọng hơn nhiều so với người trèo tường vào một gia đình nông dân đểtrộm cắp tài sản
Mức độ đáng kể của hành vi xâm phạm còn phụ thuộc vào tính chết, mức
độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người có hành vi xâm phạm)
Ví dụ, hành vi dùng súng để uy hiếp hành khách trên tàu hỏa của một tên cướpnguy hiểm hơn nhiều so với hành vi lén lút thò tay vào túi người khác để trộmtiền
Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thìhành vi chống trả không được coi là phòng vệ Ví dụ, A cho tát vào B một cái, B
đã rút dao đâm chết A hoặc A chi thò tay vào túi của B để trộm cắp, B đã túm cổ
Trang 25áo A đấm túi bụi cho đến chết, thì hành vi của B trong cả hai trường hợp này đềukhông được coi là hành vi phòng vệ.
Hành vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật, nếu hành vi xâm phạm lại
là hành vi mà pháp luật cho phép Thì người bị xâm phạm không có quyền chốngtrả để phòng vệ Ví dụ, một cảnh sát đuổi bắt một tên tội phạm nguy hiểm, ngườicảnh sát này đã bắn chỉ thiên, hô đứng lại, nhưng tên tội phạm vẫn cế tình chạytrốn, buộc người cảnh sát phải nổ súng bắn què tên tội phạm để bắt hắn Nhưngkhi người cảnh sát đến gần, hắn bất ngờ rút dao trong người ta đâm người cảnhsát trọng thương Hành vi của tên tội phạm này không được coi là hành vi phòng
vệ, vì hành vi của người cảnh sát được pháp luật cho phép
Hành vi trái pháp luật trước hết là hành vi phạm tội và những hành vi kháctrái với quy định của pháp luật thuộc các ngành khác như luật hôn nhân và giađình, luật dân sự, luật hành chính, luật kinh tế và các văn bản pháp luật khác Tuynhiên, khi xét hành vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xéttrong mối tương quan với hành vi chống trả, không phải bất cứ hành vi tội phạmnào xảy ra, người có hành vi chống trả gây chết người hoặc gây thương tích chongười có hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng Ví dụ, A thò tay vào túi
B để trộm cắp, nhưng B phát hiện liền rút dao ra đâm A mạt nhát vào bụng làm Achết Hành vi của B không được coi là phòng vệ chính đáng mặc dù hành vi xâmphạm của A là hành vi phạm tội (tội trộm cắp tài sản của công dân)
Ngược lại, có những hành vi xâm phạm chưa phải là hành vi phạm tội,nhưng vì nó xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức vàcủa công dân nên hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ chính đáng Ví dụ:một người trèo tường vào khu vực cấm định hái một ít hoa Người chiến sĩ bảo vệphát hiện đã hô đứng lại, bắn chỉ thiên để bắt người này, nhưng vì hoảng sợ nênngười này vẫn bỏ chạy buộc người chiến sĩ bảo vệ phải bắn vào chân, làm ngườinày gãy chân Sau khi bị bắt, mới biết người này trèo tường vào khu vực cấm chỉ
là để hái hoa và không biết đây là khu vực quan trọng cần bảo vệ nghiêm ngặt.Như vậy, khi xem xét hành vi của người đang xâm phạm đến các lợi ích cần bảo
vệ, không nhất thiết chỉ căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi xâm phạm màphải chú ý đến lợi ích cần bảo vệ, đồng thời phải xét nó trong mối quan hệ vớihành vi chống trả để xác định sự chống trả trong trường hợp cụ thể đó có được coi
là phòng vệ chính đáng hay không
Pháp luật các nước nói chung và nước ta nói riêng không coi hành vi tấncông của người mắc bệnh tâm thần là hành vi trái pháp luật, bởi vì người mắcbệnh tâm thần (người điên) không nhận thức được hành vi của họ là nguy hiểmcho xã hội nên họ không có lỗi Tuy nhiên, nếu một người bị người mắc bệnh tâmthần tấn công, họ vẫn có quyền chóng trả để bảo vệ mình, nhưng nếu còn có thể
bỏ chạy mà không chạy, lại chống trả gây thiệt hại cho người bị tâm thần thìkhông được coi là phòng vệ Nhưng nếu bị người say rượu tấn công mình hoặctấn công người khác thì hành vi gây thiệt hại cho người say rượu lại được coi làhành vi phòng vệ , vi người say rượu nếu xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ,theo pháp luật nước ta vẫn bị coi là hành vi trái pháp luật
Trang 26b) Về phía người phòng vệ
Nếu thiệt hại do người có hành vi xâm phạm gây ra có thể là thiệt hại vềLinh mạng, sức khỏe, có thể là thiệt hại về tài sản, nhân phẩm, danh dự hoặc cáclợi ích xã hội khác, thì thiệt hại do người có hành vi phòng vệ gây ra cho có thể làthiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe cho người có hành vi xâm phạm Ví dụ: A đilàm về thấy hai tên thanh niên đang hãm hiếp con gái mình, A đã dùng cuốc đánhvào đầu một tên làm cho tên này bị thương Hành vi của A được coi là hành viphòng vệ trong trường hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của người khác (con gái)đang bị xâm phạm
Nếu người phòng vệ không gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâmphạm mà gây thiệt hại cho người khác (thường là người thân của người có hành vixâm phạm), thì không được coi là hành vi phòng vệ Ví dụ: Trần Văn Q bị PhạmThanh B đánh, nhưng Q không đánh B mà lại đánh H (con của Bị bị thương tíchnặng Hành vi của Q không được coi là hành vi phòng vệ
Trường hợp người phòng vệ không gây thiệt hại về tính mạng hoặc sứckhỏe cho người có hành vi xâm phạm mà lại gây hậu quả khác, thì cũng khôngđược coi là hành vi phòng vệ Ví dụ : Hoàng Công Đ bị Trần Văn T dùng dao đuổiđánh, để ngăn chặn việc T đuổi đánh mình nên Đ đã dùng bật lửa đất nhà của T.Hành vi của Đ không được coi là hành vi phòng vệ, vì Đ không gây thiệt hại đếntính mạng, sức khỏe đối với T mà gây thiệt hại về tài sản của T
Cũng không coi là phòng vệ chính đáng trong trường hợp người có hành vixâm phạm gây thiệt hại đến tài sản của người khác, rồi người khác cung gây thiệthại lại cũng về tài sản cho người có hành vi xâm phạm Ví dụ: Nguyễn Văn K rathăm đồng thấy Bùi Quốc T đang nhổ lúa trên thửa ruộng nhà mình vì hai bênđang có tranh chấp về thửa ruộng này K chạy về lấy dao ra chặt phá cây trongkhu vườn của gia đình T Hành vi của cả K và T là hành vi cố ý hủy hoại tài sảncủa công dân, K không thể lấy lý do: mày nhổ lúa nhà tao thì tao chặt cây nhàmày"
c) Hành vi chống trả phải là cần thiết
Cần thiết không có nghĩa là ngang bằng theo cách xác định của toán họcnhư: bên xâm phạm gây thiệt hại như thế nào thì bên phòng vệ cũng chỉ được gâythiệt hại như thế; chẳng hạn, A đấm B vào mặt hai các thì B cũng chỉ đấm A vàomát hai cái hoặc A gây thương tích cho B 23% thì B cũng chỉ được gây thươngtích cho A 23%,
Sự chống trá cần thiết trong phòng vệ chính đáng, trước hết phải căn cứ vàotính chất của các lợi ích bị xâm phạm, tính chất của hành vi xâm phạm và các mốitương quan khác giữa hành vi xâm phạm tới hành vi phòng vệ
Lợi ích bị xâm phạm càng quan trọng bao nhiêu, thì hành vi chống trả càngphải mạnh mẽ bấy nhiêu Ví dụ: một cảnh vệ nổ súng bắn chết một người đã độtnhập vào khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt theo một chế độ đặc biệt, thì hành vicủa người bảo vệ được coi là cần thiết và là phòng vệ chính đáng Nhưng cũng cóhành vi bắn chết người như trong trường hợp một học sinh vào trường hái trộmmột ít quả nhãn và bị bảo vệ bắn chết thì không được coi là cần thiết và người bảo
Trang 27vệ đó không dược coi là phòng vệ chính đáng Vì vậy khi xem xét hành vi chốngtrả có cần thiết hay không cần phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, trong mối quan
hệ giữa lợi ích được bảo vệ và hành vi chống trả
Tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm càng nguy hiểm và nghiêm trọngbao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải quyết liệt bấy nhiêu Ví dụ, một têncướp dùng súng uy hiếp mọi người trên xe khách để đồng bọn của y lục soát lấytài sản, đã bị một cảnh sát hình sự bắn chết Hành vi của chiến sĩ cảnh sát nàyđược coi là hành vi phòng vệ chính đáng Nhưng nếu người cảnh sát mới thấy têncướp giơ dao đe dọa mọi người phải đưa tiền cho y mà đã vội rút súng ra bắn chếtngay tên cướp thì chưa được coi là phòng vệ chính đáng
Khi đánh giá một hành vi chống trả có cần thiết hay không còn phải căn cứvào nhiều yếu tố khác như: mối tương quan lực lượng giữa bên xâm phạm và bênphòng vệ, thời gian, không gian xảy ra sự việc Ví dụ: trong đêm tối, A bị một sốngười gọi ra nơi vắng vẻ rồi dùng chân tay đấm đá túi bụi A thấy thế phải bỏchạy, nhưng vẫn bị số người này đuổi theo, sẵn có con dao nhọn trong túi, A lấy ragiơ lên dọa: "Thằng nào vào đây tao đâm chết" Những người đuổi theo vẫn laovào để đánh A, nên bị A dùng dao đâm trúng tim một người chết ngay tại chỗ.Nếu xét về phương tiện, thì A dùng dao còn những người tấn công chỉ dùng chân
tay không, nhưng nếu xét về mối tương quan lực lượng thì một bên chỉ có một
mình A còn bên kia có nhiều người và đặc biệt xét trong hoàn cảnh cụ thể, trongđêm tối, hành vi xâm phạm của những người này phải coi là nguy hiểm đến tínhmạng, sức khỏe của A, nên hành vi của A được coi là phòng vệ chính đáng
Phòng vệ chính đáng không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn Côngtrái pháp luật mà nó còn thể hiện thái độ tích cực chống trả sự xâm phạm đến cáclợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của mình hoặc của người khác Phòng vệ chínhđáng còn là quyền của con người chứ không chỉ là nghĩa vụ, nên không yêu cầuphương pháp, phương tiện của người phòng vệ phải như phương pháp, phươngtiện mà kẻ tấn công sử dụng
Tóm lại khi đánh giá hành vi chống trả có cần thiết hay không phải xem xétmột cách đầy đủ các tình tiết của vụ án, trong đó đặc biệt là tâm lý, thái độ củangười phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọnchính xác phương pháp, phương tiện thích hợp để chống trả, nhất là trong trườnghợp họ bị tấn công bất ngờ, chỉ coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi
sự chống trả rõ ràng là quá đáng
Cũng coi là phòng vệ chính đáng nếu trong một hoàn cảnh cụ thể, mộtngười tưởng lầm rằng người khác có hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước,của tổ chức, của mình hay của người khác mà họ gây thiệt hại đến tính mạng, sức
khỏe của người đó Khoa học luật hình sự gọi trường hợp phòng vệ này là phòng
Trang 28sự và họ tin rằng là mình không nhầm, nếu đặt vào hoàn cảnh của người khác thì
ai cũng sẽ bị nhầm như vậy
Nếu sự lầm tường này lại không có căn cứ và trong hoàn cảnh cu thể đómọi người đều không thể lầm tưởng thì người có hành vi xâm hại đến tính mạng,sức khỏe của người khác phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi của họ
là hành vi phạm tội do cố ý Ví dụ : Nguyễn Văn H đang dạo chơi trong công viên
có nhiều người qua lại, thấy một người đang ngồi trên ghế đá đứng dậy lữngthững đi về phía mình mà không nói năng gì, H liền hút dao trong người ra đâmngười Dày một nhát vào bụng làm người này ngã gục Sau khi sự việc xảy ra Hcho rằng người này đến cướp tài sản của mình, nhưng căn cứ vào hoàn cảnh thực
tế lúc xảy ra sự việc thì trường hợp của H không phải là phòng vệ tưởng tượng,nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
Hiện nay, trong một số sách báo pháp lý, vấn đề phòng vệ tưởng tượngcũng còn có những quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng phòng vệ tườngtượng không phải là phòng vệ chính đáng, vì không có cơ sở của quyền phòng vệ,vấn đề trách nhiệm hình sự vẫn được đặt ra và giải quyết như mọi trường hợp sailầm khiến Pháp luật Việt Nam không thừa nhận hành vi phòng vệ trước (phòng vệ
từ xa), tức là chưa có sự tấn công mà đã có hành vi nhằm ngăn chặn sự tấn công,như: đấu dòng điện vào cánh cửa để phòng trộm, dùng bẫy để đề phòng kẻ gian.Nếu việc phòng vệ trước này gây ra hậu quả làm chết người hoặc gây thương tíchcho người khác thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như các trường hợp phạmtội thông thường (giết người hoặc cố ý gây thương tích) Tuy nhiên, thực tiễn xét
xử nếu hành vi phòng vệ trước lại gây thiệt hại cho đúng kẻ phạm pháp thì ngườiphạm tội cũng được chiếu cố giảm nhẹ đáng kể
Ví dụ: gia đình Trần Văn N thường xuyên bị mất trộm gà, N dã nhiều đêmthức trắng để phục bắt kẻ trộm nhưng không được, N bèn lấy một đoạn dây thépbuộc vào cánh cửa chuồng gà và cho dòng điện 220 von chạy qua Để đảm bảo antoàn cho những người trong gia đình mình, N dặn mọi người phải cẩn thận; trướckhi đi ngủ mới được đấu điện vào và sáng thức dậy phải rút điện ra Đến đêm thứ
9 thì kẻ trộm vào và đã bị điện giật chết, trên tay kẻ trộm còn cầm một bao tải bêntrong đựng 4 con gà Mặc dù N bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết ngườitheo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự, nhưng Tòa án chỉ phạt N 3 năm tù (dướimức thấp nhất của khung hình phạt) nhưng vẫn được nhân dân đồng tình, thậmchí còn có ý kiến cho rằng không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N vì
kẻ bi chết là đáng đời
Ở đây có vấn đề mâu thuẫn giữa ý thức pháp luật với hành vi nguy hiểmcho xã hội, cũng giống như trường hợp đánh chết kẻ trộm cắp, khi bị bắt vẫn truycứu trách nhiệm hình sự Tuy vậy cần thấy rằng, các nhà làm luật cũng nên tính cảđến yếu tố truyền thống, phong tục, tâm lý của người Việt Nam trong trường hợp
"phòng vệ trước" Pháp luật của một số nước kể cả các nước phát triển vẫn quyđịnh trong một số trường hợp phòng vệ trước không phải bị truy cứu trách nhiệmhình sự Nếu ở nước ta không thừa nhận hành vi phòng vệ trước thì cũng nên quyđịnh trong một số trường hợp phạm tội do phòng vệ trước được giảm nhẹ trách
Trang 29nhiệm hình sự một cách đáng kể Phòng vệ trước cũng là trường hợp phòng vệquá sớm, tức là chưa có hành vi tấn công đã có hành vi phòng vệ.
Phòng vệ chính đáng không phải là hành vi phạm tội, nhưng nếu chống trả
rõ ràng là quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi xâm hạn thì là đó là vượt quá giới hạn phòng vệ chínhđáng Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu tráchnhiệm hình sự Tuy nhiên, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chínhđáng thì trách nhiệm hình sự đối với họ sẽ được giảm nhẹ rất nhiều so với trườnghợp phạm tội không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Bộluật hình sự quy định hai trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng, đó là giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96)
và cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều l06)được coi là cấu thành giảm nhẹ đặc biệt Tuy nhiên, hành vi phạm tội do vượt quágiới hạn phòng vệ chính đáng cũng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm c khoản
1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên thực tiễn xét xử ngoài hai trường hợp đã được quyđịnh tại Điều 96 và Điều 106, thì không có trường hợp phạm tội nào thuộc trườnghợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nữa
Cho nên có ý kiến cho rằng việc quy định tình tiết phạm tội trong trườnghợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ là không cầnthiết, nhất là Bộ luật hình sự đã quy định các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luậthình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tìnhtiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt, thì việc quy định tội phạm trongtrường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là một tình tiết giảm nhẹ lạicàng không cần thiết nữa
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, việc quy định phạm tội trong trường hợpvượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là một tình tiết giảm nhẹ vẫn rất cần thiết,
vì thực tiễn xét xử có một số trường hợp giết người hoặc cố ý gây thương tíchthuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nhưng căn cứ vào tínhchất và mức độ nguy hiểm của hành vi chống trả với hành vi phòng vệ chưa thuộctrường hợp quy định tại Điều 96 hoặc 106 mà thuộc trường hợp giết người quyđịnh tại khoản 2 Điều 93 hoặc cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104, thếngười phạm tội vẫn được áp dụng Linh tiết giảm nhẹ là phạm tội trong trường hợpvượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
10 Tình thế cấp thiết
Tình thế cấp thiết là một tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi, mặc dù về dấu hiệu bên ngoài nó cũng giống hành vi phạm tội Hànhđộng trong tình thế cấp thiết có gây ra thiệt hại cho xã hội (thường là thiệt hại vềtài sản) Hầu hết pháp luật hình sự các nước trên thế giới không coi hành độngtrong tình thế cấp thiết là phạm tội, bởi vì đó là phương thức bảo vệ lợi ích củaNhà nước, của xã hội, bảo vệ con người và các quyền của con người khỏi mộtthiệt hại đang có nguy cơ đe dọa
Theo khoản 1 Điều 16 Bộ luật hình sự, thì tình thế cấp thiết là tình thế củamột người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước,
Trang 30của chức, lợi ích chính đáng của mình mà không còn cách nào khác là phải cóhành động gây thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa Gây thiệt hại trong tìnhthế cấp thiết không phải là phạm tội.
Để được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịutrách nhiệm hình sự khi có đủ những điều kiện sau:
a) Phải có sự nguy hiểm đang đe dọa gây ra thiệt hại ngay tức khắc
Nếu trong phòng vệ chính đáng, nguồn gốc của sự nguy hiểm chỉ là sự tấncông của con người, thì trong tình thế cấp thiết, sự nguy hiểm đang đe dọa gây rathiệt hại có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như: các hiện tượng thiênnhiên (do bão lụt, động đất ), cũng có thể phát sinh trong quá trình lao động sảnxuất (sử dụng máy móc, điều khiển các phương tiện giao thông vận tải), do sự tấncông của súc vật trong một hoàn cảnh đặc biệt, buộc phải gây thiệt hại để bảo vệmột lợi ích lớn hơn
Sự nguy hiểm đang đe dọa gây ra thiệt hại phải là sự nguy hiểm đe dọangay tức khắc thì môi được coi là trong trường hợp tình thế cấp thiết, nếu sự nguyhiểm đó chưa xảy ra hoặc đã kết thúc thì không được coi là gây thiệt hại trongtình thế cấp thiết Ví dụ, một thuyền trưởng đang chỉ huy một con tàu vận tải hànghóa trên biển, mới nhận được tin sắp có bão đã vội ra lệnh cho các thủy thủ némbớt hàng hóa xuống biển để đề phòng bão biển thì không được coi là gây thiệt hạitrong tình thế cấp thiết
b) Sự nguy hiểm đang đe dọa phải là sự nguy hiểm thực
Sự nguy hiểm tuy mới đe dọa ngay tức khắc đến các lợi ích cần bảo vệ,nhưng phải là sự nguy hiểm thực tế, nếu không có biện pháp đề phòng thì nó sẽgây thiệt hại ngay tức khắc, tức là mối quan hệ nhân quả giữa sự nguy hiểm vớicác lợi ích cần phải bảo vệ là mối quan hệ tất yếu, nếu không có biện pháp thì hậuquả tất yếu sẽ xảy ra Ví dụ, một căn nhà dang cháy trong điều kiện trời khô hanhlại có gió mạnh, nếu không dỡ bỏ các nhà lân cận thì đám cháy sẽ lây lan gây thiệthại khôn lường (phá bỏ một căn nhà để cứu nhiều căn nhà khỏi bị lửa cháy)
Nếu sự nguy hiểm đó không chứa đựng khả năng thực tế gây ra hậu quả màchỉ do người gây thiệt hại tướng tượng ra thì không được coi là gây thiệt hại trongtình thế cấp thiết Ví dụ, một thuyền trường mới thấy con cá voi xuất hiện trênmặt biển liền vội vàng ra lệnh cho thủy thủ vứt bớt hàng hóa xuống biển để chonhẹ tàu và tăng tốc nhằm thoát khỏi sự đe dọa của cá voi Trong trường hợp này,
sự nguy hiểm chi mới là có khả năng chứ chưa đe dọa thực sự gây ra thiệt hại chocon tàu mà thuyền trưởng đã suy luận là nó sẽ gây thiệt hại nên đã vội vã vứt bớthàng hóa để bỏ chạy thì không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
c) Việc gây thiệt hại để tránh một thiệt hại khác là sự lựa chọn duy nhất
Điều kiện này đòi hỏi người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải tínhtoán thật chính xác và nhanh chóng khả năng đe dọa ngay tức khắc của sự nguyhiểm, nếu không chọn phương pháp gây thiệt hại thì tất yếu không thể tránh đượcthiệt hại lớn hơn
Trong cuộc sống, nhất là trong hoàn cảnh cấp bách, việc đánh giá sự lựachọn của một con người không phải bao giờ cũng dễ dàng, bởi vì nếu không lựa
Trang 31chọn ngay phương pháp gây thiệt hại thì không tránh khỏi một thiệt hại khác lớnhơn Thòng thường khi tình thế cấp thiết xảy ra, không phải ai cũng bình tĩnh đểsuy xét xem chọn giải pháp nào cho phù hợp, nhiều người mất bình tĩnh đã vội vãgây thiệt hại rồi sau đó viện lý do để trốn tránh trách nhiệm Vì vậy, khi đánh giámột hành vi gây thiệt hại có thuộc trường hợp trong tình thế cấp thiết hay không
và phương pháp mà người có hành vi sử dụng có phải là phương pháp duy nhấtkhông, phải căn cứ vào tình hình cụ thể lúc xảy ra sự việc, đánh giá một cáchkhách quan, toàn diện Nếu còn biện pháp khác để khắc phục sự nguy hiểm vàviệc gây thiệt hại là không cần thiết, thì không thuộc tình thế cấp thiết
d) Thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại muốn đánh
Nếu ở phòng vệ chính đáng, thiệt hại mà người phòng vệ gây ra chỉ có thể
là tính mạng, sức khỏe cho chính người đang có hành vi tấn công, thì trong tìnhthế cấp thiết, thiệt hại do người có hành vi trong tình thế cấp thiết gây ra chủ yếu
là thiệt hại về tài sản và người bị gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết lại khôngphải là người có hành vi gây ra sự nguy hiểm đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội
mà là người khác (người thứ ba) Về nguyên tắc, luật hình sự nước ta không thừanhận thiệt hại về tính mạng trong tình thế cấp thiết
Thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết bao giờ cũng phải nhỏ hơn thiệt hạimuốn tránh Tuy nhiên, khi đánh giá so sánh giữa hai loại thiệt hại cũng cần phảixem xét một cách khác quan, toàn diện, bởi vì thiệt hại gây ra là có thật còn thiệthại muốn tránh lại là cái trừu tượng, vô hình không thể cân đong đo đếm được, nóchỉ là những cái có thể xảy ra hoặc cùng lắm là tất yếu sẽ xảy ra nếu không đượcngăn chặn Khi phải đánh giá giữa cái có thật và cái chưa xảy ra, bao giờ conngười cũng khắt khe hơn Vì vậy, để tránh sự mặc cảm và quá khắt khe khi phảiđánh giá giữa hai loại thiệt hại này, pháp luật quy định, nếu gây thiệt hại rõ ràng làquá đáng thì mới bị coi là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (khoản 2 Điều
16 Bộ luật hình sự)
Khi xem xét các điều kiện trên cần tránh phiến diện hoặc cắt xén mà phảixem xét một cách tổng thể, đặt nó trong mối liên quan biện chứng, xuất phát từmục đích, ý nghĩa của việc quy định chế định này trong luật hình sự là khuyếnkhích mọi người khi phải đứng trước sự xung đột giữa hai lợi ích mà cả hai lợi íchnày đều được pháp luật bảo vệ đã dám hy sinh lợi ích nhỏ để bảo vệ lợi ích lớnhơn Pháp luật không quy định sẵn các tình huống cụ thể trong tình thế cấp thiết,nên khi nào có sự nguy hiểm đe dọa đến các lợi ích cần bảo vệ và một người đứngtrước tình thế đó, với trách nhiệm của mình lại có hai nghĩa vụ cần phải thực hiệnmột lúc mà chỉ thực hiện được một nghĩa vụ, đòi hỏi phải lựa chọn biện pháp nào
đó sao cho phù hợp với lợi ích xã hội để bảo vệ một lợi ích khác lớn hơn buộcphải gây thiệt hại nhỏ hơn, thì mới được pháp luật thừa nhận là ở trong tình thếcấp thiết
Hành động trong tình thế cấp thiết không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụcủa mọi người, nên được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ Hành vi gâythiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm Nếu trong trường hợp
Trang 32thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây rathiệt hại đó phải chiu trách nhiệm hình sự Khác với trường hợp vượt quá giớihạn phòng vệ chính đáng, Bộ luật hình sự không quy định trường hợp nào vượtquá yêu cầu của tình thế cấp thiết là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt,
mà chỉ là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt
11 Chuẩn bị phạm tội
Theo Điều 17 Bộ luật hình sư thì chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạncông cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng phảichịu trách nhiệm hình sự
Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm,nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt kháchquan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tácđộng Ví du A chuẩn bị kìm cộng lực, van phá khóa định đến nhà H cải phá khóatrộm cắp tài sản của gia đình H, nhưng bị em của A phát hiện nên A không thựchiện hành vi trộm cắp tại nhà H
Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng như sau:Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từngngười kể hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm Dạng chuẩn bịphạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạmhoặc có tổ chức Tuy nhiên cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thựchiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch phạm tội Ví dụ A có ý định đầu độc B, tự A đãvạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho Buống như thế nào, sau khi B bị trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tộiphạm v v…
- Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu dối vớicác tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm của công dân Ví dụ A muốn trộm cắp nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà Bthăm dò xem gia đình B thường vắng nhà vào giờ nào, quy luật sinh hoạt của giađình ra sao để tiến hành trộm cắp
- Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như: chuẩn bị xe máy để đi cướpgiật, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc no để hủy hoại tài sản, chuẩn bịxăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê để làm cho người có tài sản uống nhằm chiếmđoạt tài sản của họ, chuẩn bị giấy tờ giả mạo để lừa đảo v v
- Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm đượcthuận lợi, dễ dàng như: ngắt cầu dao điện đế đêm đột nhập vào kho trộm tài sản,
cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng, v.v
Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiếtcho việc thực hiện tội phạm Hành vi chuẩn bị phạm tội có ảnh hưởng lớn đến kếtquả của việc thực hiện tội phạm, chuẩn bị càng chu đáo công phu bao nhiêu thìviệc thực hiện tội phạm càng dạt kết quả bấy nhiêu Tuy nhiên, việc truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội được đánh giá và phân biệt thànhhai loại: loại hành vi chuẩn bị phạm tội phải truy cứu trách nhiệm hình sự và loại
Trang 33không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chân gây ra hậuquả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sựkhác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị
mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đóđịnh thực hiện
Luật hình sự nước ta chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vichuẩn bị phạm tội mà tội phạm đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệtnghiêm trọng Nếu theo quy định này thì người chuẩn bị phạm tội do vô ý vẫn cóthể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo lý luận thì chỉ có tội phạmđược thực hiện do cố ý (cố ý trực tiếp) thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội Do
đó sẽ không có hành vi chuẩn bị phạm tội mà tội phạm đó sẽ được thực hiện do
vô ý
Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì những người chuẩn bị phạm tội luônluôn là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, vấn đề trách nhiệmhình sự của người có hành vi chuẩn bị phạm tội không có gì khó
khăn; nhưng đối với các tội vừa là tội nghiêm trọng vừa là tội ít nghiêmtrọng thì việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trongmột số trường hợp khó xác định
Ví dụ một người chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản vì chưa thực hiện hành
vi phạm tội nên chưa biết hậu quả do hành vi phạm tội xảy ra như thế nào, tài sản
mà người phạm tội chiếm đoạt có giá trị lớn hay không để xác định họ phạm tộitheo khoản 1 hay khoản 2 của Điều 138 Bộ luật hình sự Nếu trong quá trình điềutra, người phạm tội nhận sẽ trộm cấp tài sản có giá trị lớn như xe ô-tô thì có thểtính ra dược tài sản đó có giá trị lớn đe xác định tội phạm theo khoản 2 Điều 138,nhưng nếu ngươi phạm tội chỉ nhận gặp gì cũng lấy hoặc không chứng minh đượcngười phạm tội định lấy tài sản có giá trị lớn thì theo nguyên tắc suy đoán cô lợicho người phạm tội thì họ được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu như họ chỉ mớichuẩn bị phạm tội
Tương tự như vậy đối với tội cố ý gây thương tích, nếu người phạm tộikhông khẳng định mục đích của mình là gây thương tích nặng cho người bị hạihoặc không chứng minh được là họ có mục đích gây thương tích nặng cho người
bị hại, thì họ cũng được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu họ mới chuẩn bị phạmtội
điều văn của điều luật quy định không thực hiện được đến cùng", tức là người
phạm tội có mục đích thực hiện tội phạm đến cùng, nên họ mong muốn cho hậuquả xảy ra chứ không phải để mặc cho hậu quả xảy ra Do đó, phạm tội chưa đạtchỉ có thể xảy ra đối với trường hợp cố ý trực tiếp
Trang 34Khoa học pháp lý chứa phạm tội chưa đạt thành hai loại: chưa đạt đã hoànthành và chưa đạt chưa hoàn thành
Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp người phạm tội đã thực hiện đầy đủ những hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả, nhưng vì
nguyên nhân khách quan hậu quả đó đã không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, hoànthành về hành vi) Ví dụ một người có ý định giết người khác, đã dùng súng bắn
ba phát vào nạn nhân và tin là nạn nhân đã chết nên bỏ đi, nhưng sau đó nạn nhânđược cứu chữa nên không chết Ờ đây, người phạm tội đã hành động như ý muốn
và tin là hậu quả sẽ xảy ra nhưng lại không xảy ra Trường hợp này người phạmtội dừng lại mặc dù không còn gì ngàn cản nhưng cũng không được coi là tựnguyện nửa chửng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, vì người phạm tội đã thỏamãn với hành vi nhưng chưa thỏa mãn về hậu quả
Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp người phạm tội vì
nguyên nhân khách quan, chưa thực hiện hết các hành vi mà họ cho là cần thiết đểgây ra hậu quả nên hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả chưa hoàn thành
về hành vi) Ví dụ một người có ý định dùng dao găm đâm nhiều nhát vào mộtngười để tước đoạt tính mạng người đó, nhưng mới đâm được một nhát thì bịngười khác giữ tay lại, không đâm tiếp được nữa và nạn nhân không chết, chỉ bịthương Trường hợp này người phạm tội chưa đâm được như ý muốn, chùn tinvào hậu quả xảy ra và hậu quả cũng không xảy ra
13 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Điều 19 Bộ luật hình sự quy định: tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Người tự
ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hình vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ấy
Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt diệc phạm tội, trước khi ban hành Bộ luật
hình sự năm 1985, chưa có văn bản quy đỉnh chung cho mọi trường hợp tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội mà chỉ có một số trường hợp tự ý nửa chừng chấmdứt việc phạm tội được quy định trong các văn bản pháp luật đơn hành Ví dụPháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30-10-1967 ở Điều 20 quy định
những trường hợp giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt: ( có âm mưu phạm tội nhưng
đã tự nguyện không thực hiện tội phạm”; và tại bản tổng kết số 452-HS2 ngày
10-8-1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người, đã
hướng dẫn: trường hợp mặc dù đã rõ ràng can phạm có ý định giết người hoặc khi không xác định được rõ ràng ý thức của y nhưng nếu được nửa chừng hành động, can phạm thấy nạn nhân đã bị thương tích chủ động tự mình chấm dứt tấn công, tuy biết ông còn có thể tiếp tục hành động cho nên định tội là tội giết người chưa đạt
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực, tại Nghị quyết số 02/HĐTPngày 5-1-1988 và Nghị quyết số 1-89/ HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao khi hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luậthình sự đã đề cập đến chế định này nhằm hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng đối
Trang 35với tất cả các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự Nội dung của Điều
16 Bộ luật hình sự năm 1985 được quy định lại tại Điều 19 Bộ luật hình sự năm
1999, không có thay đổi bổ sung, nên hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày5-1-1988 và Nghị quyết số 01- 89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao về chế định này vẫn còn ý nghĩa Căn cứ vào cáchướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, qua thực tiễn xét xử,chúng ta có thể nghiên cứu chế định này với ý nghĩa là một trường hợp miễn tráchnhiệm hình sự về tội định phạm
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một khái niệm pháp lý mà trước
đây chúng ta quen gọi là tự nguyện đình chỉ, đó là cách gọi tắt chứ bản thân nó
chưa phản ánh đầy đủ nội dung của hành vi này Đáng ra phải gọi là "tự ý đình chỉviệc thực hiện tội phạm", nhưng gọi như vậy cũng chưa rõ ràng, chưa nói lênđược can phạm tự ý đình chỉ ở giai đoạn tội phạm nào Vì vậy, Bộ luật hình sự
nêu khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là hoàn toàn chính xác và
đầy đủ Khái niệm pháp lý này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xét xử, nóxác định người có hành vi nguy hiểm có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không,chịu tới mức nào Tuy trong thực tiễn xét xử chúng ta không gặp nhiều những vụ
án có tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội" nhưng mỗi khi gặp thì lại thường
có những ý kiến khác nhau, do vậy mà có vụ án lẽ ra phải xử phạt bị cáo với mức
án cao, thì Tòa án lại miễn trách nhiệm hình sự hoặc ngược lại
Về lý luận, thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ xảy ta trong trườnghợp tội phạm được thực hiện ở giai đoạn chưa hoàn thành và chuẩn bị phạm tội Còn
ở những giai đoạn khác không thể có "tự nguyện nửa chừng chấm dứt diệc phạm tội
mà chỉ có thể tự ý chấm dứt tội phạm” Ở giai đoạn phạm tội chưa đạt dã hoàn thành
và giai đoạn phạm tội hoàn thành, người phạm tội đã thực hiện đầy đủ những dấuhiệu khách quan và chủ quan của tội phạm
Ví dụ: H có hành vi buôn bán thuốc lá 555 ngoại trong một năm, sau khôngtiếp tục buôn bán nữa, mà chuyển sang buôn một số mặt hàng khác (không thuộcloại hàng cấm lưu thông), nhưng vì không có đăng ký kinh doanh, nên bị cơ quanđiều tra bất giữ Trong quá trình điều tra, H đã khai ra hành vi buôn bán thuốc lá
555 trước dây Tòa án cấp sơ thẩm đã xử H về tội buôn bán hàng cấm và phạt bịcáo 5 năm tù giam, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: hành vi buôn thuốc lá 555
của H đã được "tự ý đình chỉ” nên đã miễn hình phạt Ở đây, đúng là H đã có hành vi “tự ý chấm dứt tội phạm" không phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì tội phạm đã hoàn thành Sau khi bị bắt về tội kinh doanh trái phép, H
đã khai báo ra việc buôn bán thuốc lá 555 trước đây, đó là tự thú hoặc là khai báothành khẩn, hoàn toàn khác với tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm
Như vậy, khi chúng ta đã xác định tội phạm đã hoàn thành thì vấn đề 'tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội" không đặt ra nữa.
Cũng không có vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạmtrong trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, vì phạm tội chưa đạt dã hoànthành là người phạm tội dã thực hiện đầy đủ những hành vi mà họ cho là cần thiết
để gây ra hậu quả nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả do đã không xảy ra
Trang 36Ờ đây người phạm tội đã hành động như ý muốn và tin là hậu quả sẽ xảy ra nhưnglại không xảy ra Mặc dù người phạm tội dửng và không còn gì ngăn cản nhưngcũng không được coi là tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm,
vì người phạm tội dã thỏa mãn với hành vi mà họ đã gây ra, chỉ có hậu quả là ychưa thỏa mãn
Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, nếu như người phạm tội tự nguyệnkhông tiếp tục tội phạm nữa thì được coi là tự nguyện nửa chừng chấm dứt việcthực hiện tội phạm, vì ở giai đoạn này người phạm tội mới có hành vi tạo ranhững cơ sở vật chất hoặc tinh thần cho việc thực hiện tội phạm Nó chỉ là tiền đềcho việc xâm hại đến những quan hệ xã hội (khách thể); nó là sự bắt đầu thực hiệntội phạm, ở giai đoạn này chưa có hành vi thực hiện tội phạm
Như vậy, khi chúng ta xem xét một vụ án có vấn đề tự ý nửa chừng chấmdứt việc thực hiện tội phạm hay không, thì điều trước hết phải xét là người phạmtội thực hiện tội phạm được dừng lại ở giai đoạn nào, trường hợp phạm tội chưađạt đã hoàn thành thì mặc dù người phạm tội có tự ý dừng lại không thực hiện nữacũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Nhưng ngay cảkhi thỏa mãn điều kiện trên thì vẫn chưa đủ cơ sở để kết luận kẻ phạm tội tự ý nửachừng chấm dù việc thực hiện tội phạm, mà sự tự ý đó phải dứt khoát, triệt để chứkhông phải là tạm thời, chốc lát
Ví dụ: một người giả vờ ra đầu thú để chờ cơ hội tiếp tục hoạt động tộiphạm thì không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm.Một người dùng dao găm đâm nạn nhân bị thương, thấy nạn nhân ra máu nhiềuquá, người này không đâm nữa, nhưng nạn nhân bỏ chạy, y lại đuổi theo, nạnnhân bị ngã, y cầm dao đứng nhìn Cứ như vậy hai, ba lần đến khi nạn nhân chạythoát trong lúc y vẫn đuổi theo, mặc dù ở đây không có nguyên nhân khách quanngăn cản y những lần đuổi trước và y cũng không đâm nạn nhân, nhưng sự tự ýcủa y không dứt khoát, không triệt để, cho nên không thể coi là tự ý nửa chừngchấm dứt việc thực hiện tội phạm được
Khi có đủ hai diều kiện như đã phân tích ở trên thì được coi là tự ý nửachừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm Người tự ý nửa chừng chấm dứt việcthực hiện tội phạm được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm Bộ luật hình
sự quy định như vậy thể hiện thái độ dứt khoát về chính sách hình sự của nước ta.Việc quy định như vậy xuất phát từ cơ sở thực tế là hành vi phạm tội xảy ra trướclúc tự ý chấm dứt nửa chừng việc thực hiện tội phạm nói chung đã mất tính nguyhiểm cho xã hội hoặc hậu quả đã được hạn chế ở mức đáng kể Biện pháp cưỡngchế không hoặc có ít tác dụng đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc thựchiện tội phạm Việc miễn trách nhiệm hình sự chính là một biện pháp ngăn ngừahậu quả nguy hiểm, bảo vệ các quan hệ xã hội
Tuy nhiên, người tự ý nửa chửng chấm dứt việc thực hiện tội phạm chỉđược miễn trách nhiệm hình sự về tội mà người đó định phạm Còn hành vi thực
tế mà họ đã thực hiện trước khi họ tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tộiphạm, nếu có đầy đủ dấu hiệu cấu thành một tội khác thì họ phải chịu trách nhiệmhình sự về tội đó Ví dụ một người định giết người, nhưng mới đâm một như thấy
Trang 37nạn nhân bị thương, thấy vậy y không đâm nữa tuy không có gì ngăn cản, thìđược miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người, nhưng người này vẫn phải chịutrách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích
Trong một vụ án đồng phạm, vấn đề tự ý nửa chửng chấm dứt việc thựchiện tội phạm không giống như trường hợp phạm tội riêng rẽ (chỉ có một ngườithực hiện) Chỉ có người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm mớiđược áp dụng lý luận về tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm nhưtrường hợp phạm tội riêng rẽ, còn những người khác như: người tổ chức, ngườixúi giục, người giúp sức thì phải có thêm những điều kiện khác ngoài hai điềukiện đã quy định như đối với người thực hành Những điều kiện đó là:
- Sự tự ý của người đồng phạm phải xảy ra trước khi người thực hành trựctiếp bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, vì nếu như người thực hành đã bắt tayvào việc thực hiện tội phạm thì sự tự ý của người đồng phạm không còn tác dụnglàm mất tính nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm đã gây ra và chính vì vậy mà sự
tự ý đó không còn ý nghĩa nữa
- Đồng thời với sự tự ý, họ phải cô những hành động tích cực ngăn ngừa tộiphạm xảy ra, vì họ không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nếu như họchỉ tự ý trong tư tưởng thì tội phạm vẫn xảy ra, hơn nữa nếu họ không có nhữnghành động tích cực ngăn ngừa tội phạm xảy ra thì lấy gì để chứng minh họ tự ýkhông thực hiện tội phạm nữa? Ví dụ nếu họ cho mượn hung khí, phương tiện thì
họ phải đòi lại hoặc trước khi tội phạm được thực hiện họ phải báo với cơ quan cóthẩm quyền để có biện pháp ngăn chặn tội phạm xảy ra
Tóm lại, khi xem xét một vụ án có vấn đề tự ý nửa chửng chấm dứt việc
thực hiện tội phạm chúng ta cần đánh giá toàn bộ vụ án, căn cứ vào những điềukiện về tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm để xét người thực hiện
có phải là tự ý thật sự hay không Đối với vụ án có đồng phạm, những ngườikhông phải là người thực hành thì ngoài những điều kiện chung, bản thân họ cònphải thỏa mãn hai điều kiện riêng thì họ mới được công nhận là tự ý nửa chừngchấm dứt việc thực hiện tội phạm
Nửa chửng chấm dứt việc phạm tội cũng là trường hợp hậu quả chưa xảy
ra, nhưng hậu quả ở đây là hậu quả đối với tội định phạm chứ không phải hậu quảthực tế Ví dụ: A có ý định giết B nhưng mới đâm B một nhát thấy máu của B ranhiều, A sợ nên không đâm nữa mặc dù không có ai ngăn cản A Hành vi của Atuy đã gây ra hậu quả thực tế là làm B bị thương nhưng chưa gây ra hậu quả chếtngười là hậu quả của tội giết người Nếu đúng là A tự ý nửa chừng chấm dứt việcgiết B thì A được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng phải chịutrách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ được miễn trách nhiệm hình sựchứ không phải là không có sự việc phạm tội, miễn tức là có trách nhiệm hình sựnhưng được Nhà nước miễn về ý nghĩa xã hội miễn trách nhiệm hình sự cũnggiống như loại trừ trách nhiệm hình sự (không còn trách nhiệm hình sự) nhưng vềmặt pháp lý họ vẫn có thể bị xử lý bằng biện pháp khác Do đó miễn trách nhiệmhình sự trong trường hợp này thực chất là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về
Trang 38tội họ định phạm, còn hành vi của họ trên thực tế cấu thành tội gì thì họ vẫn phảichịu trách nhiệm hình sự về tội ấy Nếu hành vi của họ không cấu thành tội nàođược quy định trong Bộ luật hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự
và trong trường hợp này tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được coi là mộttrường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
A và B đều bị bảo vệ cơ quan phát hiện bắt giữ Tuy cả A và B đều thực hiện tộitrộm cắp tài sản nhưng không cùng thực hiện, nên không coi trường hợp tội phạmcủa A và B là đồng phạm
Chế định đồng phạm quy định trong Bộ luật hình sự có hai loại mà theo
khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm gần đơn và đồng phạm phức tạp (phạm tội có tổ chức).
Đồng phạm giản đơn là trường hợp tất cả những người cùng thực hiện một
tội phạm đều lả người thực hành
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa
những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự)
Trong vụ án có đồng phạm, tùy thuộc vào quy mô và tính chất mà có thể cónhững người giữ những vai trò khác nhau như người tổ chức, người thực hành,người xúi giục, người giúp sức
a) Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chi huy việc thực hiện tội
phạm Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức Người tổchức có thể có những hành vi như khởi xướng việc phạm tội; vạch kế hoạch thựchiện việc phạm tội cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người kháccùng thực hiện tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạmkhác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người tộiphạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm
b) Người thực hành là người trực tiếp thực tội phạm Trực tiếp thực hiện tội
phạm là trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm như.trực tiếp cầm dao chém nạn nhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài
sản, trực tiếp nhận hối lộ, v.v Người thực hành là người có vai trò quyết định việc
thực hiện tội phạm, vì họ là người trực tiếp thực hiện tội phạm Dù là đồng phạmgiản đơn hay phạm ta có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành Nếu không
có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mụcđích phạm tội không được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chiến xảy ra
Trang 39và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xéttheo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự (chỉ chuẩn bị phạm tội một tội rấtnghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự).Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác rõ ràng phụ thuộc vàohành vi của người thực hành
Thực tiễn xét xử cho thấy, không phải bao giờ người thực hành cũng thựchiện đúng những hành vi do các đồng phạm khác đặt ra, có trường hợp người thựchành tự ý không thực hiện tội phạm hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiệntội phạm, nhưng thực tế cũng không ít trường hợp người thực hành tự ý thực hiệnnhững hành vi vượt quá yêu cầu của các đồng phạm khác dặt ra Khoa học luậthình sự gọi là hành vi thái quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm
Luật hình sự của nhiều nước ghi rõ chế định thái quá của người thực hànhtrong Bộ luật hình sự hoặc trong các văn bản luật hình sự Ờ nước ta chế định nàychưa được ghi trong Bộ luật hình sự, nhưng lý luận cũng như thực tiễn xét xử đềuthừa nhận chế định này khi cần phải xem xét đến trách nhiệm hình sự của ngườithực hành cũng như những đồng phạm khác trong một vụ án có đồng phạm Hiệnnay, đa số ý kiến cho rằng Bộ luật hình sự của nước ta được sửa đổi một cách cănbản, cần quy định chế định "hành vi thái quá của người thực hành" cùng với chếđịnh đồng phạm đã được quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự hiện hành
Lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã khắng định, hành vi thái quá củangười thực hành trong vụ án có đồng phạm và hậu quả do hành vi thái quá đó gây
ra chỉ người thực hành phải chịu trách nhiệm hình sự, còn những người đồngphạm khác không phải chịu về việc "thái quá" đó Như vậy, khi nghiên cứu tìnhtrạng loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác đối với hành
vi thái quá của người thực hành, chúng ta chỉ có thể nghiên cứu nội dung của sự
"thái quá mà người thực hành dã gây ta, tử đó xác định trách nhiệm hình sự củangười thực hành về hành vi thái quá đó mà loại trừ trách nhiệm hình sự đối vớinhững người đồng phạm khác
Hành vi thái quá của người thực hành là việc người thực hành tự ý thựchiện hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác không mong muốn Haynói cách khác là hành vi phạm tội của người thực hành mà những người đồngphạm khác không có ý định thực hiện
Ví dụ: Trần Quang A, Nguyễn Văn C, Bùi Quốc T, Bùi Quốc L thua bạc,Bùi Quốc T bàn bạc với đồng bọn về nhà mình để buộc mẹ của T phải đưa chìakhóa tủ mở lấy tiền tiếp tục đánh bạc, cả bọn đồng ý Vì T và L là anh em và làcon của bà M, nên chúng giao cho A và C trực tiếp thực hiện Trước khi đi cả bọnthống nhất chỉ dọa bà M để bà đưa chìa khóa tủ chứ không được làm bất cứ điều
gì gây đau đớn cho bà T và L còn nói, nếu má tao có sao chúng mày đừng cótrách Sau khi đã bàn bạc thống nhất, vào lúc nửa đêm, A và C lẻn vào nhà bà M,lợi dụng lúc bà M đang ngủ, A dùng tay chẹn vào cổ bà M, còn C dọa: chìa khóa
tủ để ở đâu không đưa đây chúng tao giết?" Bị tấn công bất ngờ, bà M không kịptrở tay buộc phải đưa chìa khóa cho C Trong lúc C đang mở tủ để lục soát tìmtiền, thì A dùng một quả chanh nhét vào miệng bà M và lấy khăn bịt miệng bà M
Trang 40lại, nhưng vì bà M giãy giụa làm quả chanh trong miệng bật ra, đồng thời bà Mkêu cứu Sợ bị ]ộ, A vật bà M xuống ngồi lên bụng bà, rồi dùng tay bóp cổ bà chođến khi bà M không còn giãy giụa nữa y mới bỏ tay ra C thấy A hành động nhưvậy hỏi sao mày làm như vậy, thì A trả lời bà ấy chỉ xỉu thôi không chết đâu mà
sợ, cùng lúc này C đã lục tủ lấy được bọc tiền của bà M rồi cả hai bỏ chạy ra điểmhẹn với T và L Thấy A và C đến T hỏi ngay má do có sao không, cả A và C đềutrả lời không ~íệc gì hết T bảo L về nhà xem tình hình, còn T, A và C tiếp tục điđánh bạc Khi L về nhà thấy má mình bất động đã dưa đi bệnh viện cấp cứu,nhưng bà M đã chết Trong ví dụ này, ngay từ khi bàn bạc phạm tội, chúng thốngnhất chỉ làm cho bà M sợ để bà đưa chìa khóa tủ, nhưng trong khi thực hiện tộiphạm, A đã có hành vi thái quá làm cho bà M bị chết, vì vậy chỉ có A bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội giết người, còn C, T, L chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội cướp tài sản của công dân
Thực tiễn xét xử cho thấy hành vi thái quá của người thực hành không chỉđơn giản mà nó được biểu hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: lúc đầu chỉbàn cướp nhưng khi thực hiện lại giết người; lúc đầu chỉ bàn dành cho một trậnnhưng khi thực hiện lại lấy tài sản của người bị đánh; lúc đầu bàn bắt cóc nhằmchiếm đoạt tài sản nhưng khi thực hiện việc bắt cóc lại hiếp dâm; lúc đầu chỉ bàntrộm trâu nhưng khi thực hiện lại trộm cả lợn và gà, v.v Chính vì tội phạm xảy tamuôn hình muôn vẻ nên khoa học luật hình sự chia hành vi thái quá ra làm hailoại chính: thái quá về chất lượng của hành vi và thái quá về số lượng của hành vi
Thái quá về chất lượng của hành vi là trường hợp người thực hành trong vụ
án có đồng phạm thực hiện hành vi thái quá đó không cùng tính chất với tội phạm
mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện, nếu hành vi thái quá cấuthành tội phạm thì tội phạm đó không cùng tính chất với tội phạm mà nhữngngười đồng phạm khác có ý định thực hiện Ví dụ: Trần Văn Tuấn bàn với ĐặngVăn Hùng và Phạm Quốc Hưng chặn đường để cướp của, nhưng trước khi đi,Hùng bị kẹt nên chỉ có Tuấn và Hưng thực hiện Khi phát hiện thấy người đi xemáy chạy qua Hưng và Tuấn ra chặn lại để cướp tài sản thì phát hiện người cứ xemáy là một phụ nữ, nên cả hai tên nảy ý định hiếp dâm và chúng đã thực hiệnhành vi hiếp dâm, đồng thời cướp đi của nạn nhân sợi dây chuyền Hành độngxong, Hưng và Tuấn về kể cho Hùng nghe đã cướp được sợi dây chuyền vànghôm sau Hùng mang dây chuyền đi bán thì bị phát hiện và bị bắt giữ Trong quátrình điều tra, Hùng mới biết ngoài hành vi cướp tài sản thì Hưng và Tuấn cònhiếp dâm người bị hại Hành vi thái quá của Hưng và Tuấn là hành vi thái quá vềchất lượng vì tội hiếp dâm không cùng tính chất với tội cướp tài sản của công dân.Việc xác định thái quá về chất lượng không mấy khó khăn và cũng chính vì thế
mà xác định trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồngphạm khác không phải là người thực hành cũng dễ dàng hơn so với trường hợpthái quá về số lượng hành vi
Thái quá về số lượng hành ui là trường hợp người thực hành trong vụ án có
đồng phạm thực hiện hành vi thái quá mà hành vi đó cùng tính chất với hành viphạm tội mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện Về lý luận cũng