Trần Mai Anh CH28AKT N1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục đích của tiểu luận 1 3 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu 2 4 Kết cấu tiểu luận 2 PHẦN NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 2 I 1 Những đặc điểm cơ bản của triết học phương Đông cổ đại 2 I 1 1 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại 2 I 1 2 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại 4 I 2 Những đặc điểm cơ bản của triết học Phương Tây 5 I 2 1 Triết học Hy Lạp cổ đại 5 I 2.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC ……….2I.1 Những đặc điểm cơ bản của triết học phương Đông cổ đại 2I.1.1 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại 2I.1.2 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại 4I.2 Những đặc điểm cơ bản của triết học Phương Tây 5
I.2.3 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng 7I.2.4 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại 8I.2.5 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 8
II.1 Sự giống nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây 9
II.1.2 Con người trên thế giới về cơ bản là giống nhau 10
II.2 Sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây 13II.2.1 Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ 13II.2.2 Mặt xã hội và mặt sinh vật của con người 15
II 2.4 Cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật 17II.2.5 Sự đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình 18II.2.6 Các bước phát triển nhảy vọt về chất 18II.2.7 Việc được nhìn nhận như một khoa học độc lập 19II.2.8 Việc sử dụng hệ thống thuật ngữ của triết học 19
II 3 Bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây 20
Trang 2lý thú, vì qua đó ta có thể hiểu biết sâu sắc hơn, rộng hơn về những giá trị nền tảng
về tư tưởng, văn hoá của nhân loại Ngoài ra, nền văn hóa của Việt Nam cũng chịu
sự ảnh hưởng khá sâu sắc từ nền triết học phương Đông, vì thế, nghiên cứu vềnhững đặc điểm, đặc trưng riêng của triết học phương Đông trong mối quan hệ vớinhững đặc điểm đặc thù của triết học phương Tây, đặc biệt là nghiên cứu về nhữnggiá trị tư tưởng mang tính nhân văn trong thời khai sáng sẽ giúp cho chúng ta cócái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn về những giá trị của bản sắc văn hoá dân tộcViệt Nam Xuất phát từ những lý do đó nên em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận củamình là:So sánh triết học phương Đông và triết học phương Tây.
Trang 32.Mục đích của tiểu luận
Làm rõ những đặc điểm của hai nền triết học phương Đông và phương Tây thời cổđại, từ đó thấy được những nét đặc sắc riêng của mỗi nền triết học tuy mỗi nềntriết học có đặc điểm riêng nhưng cả hai trường phái triết học phương Tây và triếthọc phương Đông luôn phát triển đan xen, bổ trợ cho nhau cùng phát triển vàkhông ngừng đóng góp những giá trị quý giá vào trong kho tàng triết học của nhânloại
3 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Phương pháp: Tiểu luận sử dụng chủ yếu các phương pháp kết hợp giữa phân tích
và tổng hợp, lịch sử và logic, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa
Phạm vi: Nghiên cứu những đặc điểm của triết học phương Đông và triết họcphương Tây cổ đại
4 Kết cấu tiểu luận
Tiểu luận gồm 3 phần: Phần I Phần II, Phần III trong đó nội dung có 2 chương
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
I.1 Những đặc điểm cơ bản của triết học phương Đông cổ đại
Lịch sử sự hình thành và phát triển của các nền văn minh nhân loại đã cho ta thấyđược rằng, thời điểm bắt đầu của Triết học phương Đông là vào khoảng 3000 nămtrước công nguyên Diễn ra trên 3 vùng đất rộng lớn có nhiều dân tộc khác nhausinh sống, đó là vùng Trung Quốc, vùng Ấn Độ và vùng Trung Cận Đông Đặcđiểm của vùng Trung Cận Đông cách đây 5000 năm đã phát sinh nhiều nền vănminh rực rỡ, tiến bộ nhất lúc bấy giờ Khoảng 300 năm trước công nguyên, nhữngthành tựu về Triết học của vùng Trung Cận Đông chia và nhập thành 2 ngả là vănminh Ba Tư và văn minh Hy Lạp Phần còn lại bị lãng Do đó, lịch sử triết học
Trang 4Phương Đông nổi bật với hai nền Triết học lớn đó là Ấn Độ và Trung Quốc, pháttriển rực rỡ vào cuối thời kỳ cổ đại và đầu thời kỳ phong kiến.
I.1.1 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ là một trong những trào lưu triết học xuất hiện, phát triển từ rấtsớm Được hình thành từ khoảng cuối của thiên niên kỷ thứ hai và thời kì đầu củathiên niên kỷ thứ nhất, trước công nguyên Trải qua hàng ngàn năm đến nay, triếthọc Ấn Độ trở thanh một kho tàng đồ sộ, với những nền tảng tư tưởng quý báu củanhân loại, thể hiện ở quy mô, số lượng tác phẩm, sự đa dạng của các trường pháitriết học Ngoài ra, triết học Ấn Độ cũng rất phong phú trong cách thể hiện, sự sâurộng về nội dung phản ánh Nội dung triết học Ấn Độ đều dựa vào tri thức đã cótrong kinh Veda, đồng thời triết học Ấn Độ cũng lấy các tư tưởng của kinh Vêđalàm điểm xuất phát Ngoài ra, triết học Ấn Độ thường lấy các luận thuyết trước làmđiểm dựa cho các luận thuyết sau đó
Vấn đề con người được triết học Ấn Độ đặc biệt chú ý Hầu như tất cả các trường
phái triết học thời bấy giờ đều quan tâm, tập trung giải quyết vấn đề về “nhân sinh” đồng thời tìm con đường “giải thoát” con người thoát khỏi nỗi khổ trầm luân
diễn ra trong đời sống trần tục Tuy nhiên, sự hạn chế trong nhận thức, sự chi phốibởi lập trường giai cấp, của những tư tưởng tôn giáo, nên hầu hết các học thuyếttriết học Ấn Độ đều đi tìm nguyên nhân để lý giải cho sự khổ đau của con người ở
trong ý thức, trong sự “vô minh”, sự “ham muốn” của con người chứ không phải
từ đời sống kinh tế - xã hội Đây cũng chính là nguyên nhân mà “con đường giải thoát con người” đều yếm thế và thường mang đậm sắc thái duy tâm.
Đặc điểm chủ đạo của triết học Ấn Độ thời bấy giờ là các nghi lễ huyền bí của kinhVêđa; hiện thực pha trộn các quan niệm huyền thoại; trần tục trực quan xen lẫn cái
ảo tưởng xa xôi; cái bi kịch của cuộc đời lại có sự đan xen của cái thần tiên cõiNiết Bàn Do đó, các trường phái triết học thời bấy giờ được thực hiện một cáchrạch ròi, tách bạch nhau mà chúng đan xen, xen kẽ lẫn nhau trong quá trình vận
Trang 5động và phát triển của chúng Đó cũng chính là nguyên nhân khiến cho triết học
Ấn Độ có một vẻ đẹp uyển chuyển, huyền bí, thâm trầm mang đậm nét của triếthọc Phương Đông Đây nền triết học lớn của Phương Đông đã để lại nhiều nềntảng tư tưởng quý báu cho nhân loại
I.1.2 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc cổ
người gộp cùng một thể Con người được xếp ngang hàng với trời - đất tạo thành
bộ “tam tài” Như vây, giá trị của con người đã được triết học Trung Quốc khẳng
định từ rất sớm, đây chính là tính nhân văn thấm nhuần tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” Đó cũng chính là cơ sở cho sự ra đời của những mệnh đề khác như: tâm,
tính, tình, lý, khí, lương tri, “thiên nhân cảm ứng”… đều phục vụ cho giải quyếtvấn đề nhân sinh của con người và xã hội Còn triết học về sự phát triển tự nhiêncòn rất mơ hồ, mờ nhạt
Vấn đề trọng tâm mang đậm tính nhân văn trong triết học Trung Quốc đó là vấn đề
về đạo đức con người và xã hội Họ luôn coi trọng việc tìm tòi, xây dựng nênnhững nguyên lý,chuẩn mực đạo đức để thích nghi trong lịch sử đồng thời cũng đểbảo vệ lợi ích giai cấp thống trị Tiêu biểu như : Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nhogia; Vô vi của Đạo gia; Kiêm ái của Mặc gia; Công và Lợi của Pháp gia Cáctrường phái triết học Trung Quốc thời bấy giờ thường đưa ra các nguyên tắc đạođức gắn liền với với mặt xã hội của con người mà coi nhẹ thuộc tính tự nhiên củacon người
Trang 6Ngoài ra, triết học Trung Quốc còn nổi bật với các chuẩn mực đạo đức, họ thườngđem luân thường đạo lý của con người mà gán cho vạn vật trong trời đất, biển trờithành hóa thân của đạo đức rồi lấy thiên đạo chứng minh cho nhân thế Ý thức đạođức Nho gia biểu hiện là nhân sinh quan, vũ trụ quan, nhận thức luận Họ tranhluận xung quanh vấn đề thiện - ác, cho rằng “người tận tâm thì biết được tính củamình, biết được tính của mình thì biết được trời” Chính vì điều này mà trong suốtlịch sử hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc đều theo đuổi cái vươngquốc luân lý đạo đức, là cái “trời phú” Coi thực hành về đạo đức là căn bản quantrọng nhất của hoạt động thực tiễn của con người.Đây được xem là nguyên nhân cơbản dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận cũng như sự lạc hậu về khoa họcthực chứng ở Trung Quốc lúc bấy giờ.Triết học Trung Quốc còn chú ý đến sự hàihòa, thống nhất giữa các mặt đối lập, đều xem xét một cách biện chứng về sự vậnđộng và phát triển của vũ trụ, xã hội, nhân sinh Mặt khác, chú ý đến các mặt đốilập thống nhất trong mỗi của sự vật, hiện tượng, lấy vấn đề điều hoà mâu thuẫn làmục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề Tính tổng hợp và tính quán xuyến củahàng loạt các phạm trù “Tri hành hợp nhất”, “Tâm vật dung hợp”, “Thể dụng hợpnhất”, “Thiên nhân hợp nhất”, “Cảnh và tình hợp nhất”… đã thể hiện sự hài hòathống nhất của tư tưởng triết học của Phật giáo, Nho gia, Đạo gia thời bấy giờ.
I.2 Những đặc điểm cơ bản của triết học Phương Tây
I.2.1 Triết học Hy Lạp cổ đại
Đây là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ, lâu dài và sâu sắc các quan hệ
xã hội dẫn đến sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp - với sự thuận lợi vềđiều kiện thiên nhiên, địa lý nên Hy Lạp nhanh chóng phát triển về mọi mặt, mởrộng lãnh thổ, có cơ hội tiếp thu nhiều giá trị văn hoá khác nhau trở thành chiếc nôicủa nền văn minh Châu Âu nói riêng cũng như của cả nhân loại nói chung Như
Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì không có đế
Trang 7quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”Hy Lạp cổ đại được mệnh danh là đất nước của
những áng thi ca, những tác phẩm thần thoại bất hũ Thần thoại không chỉ là nơi đểcon người tưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí, mà còn lànơi để thể hiện đời sống tâm linh, nơi hình thành số phận biểu hiện muôn mặt củacuộc sống thực tiễn thường ngày Ngoài ra, thần thoại cũng là nơi đánh dấu sự rađời của tư duy triết học và từng bước triết học phát triển lớn mạnh rồi tách khỏithần thoại, độc lập tư duy về tự nhiên, về con người, về xã hội, về đạo đức, về lẽsống, về chân lý, …Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người để phục vụ vấn
đề buôn bán, vượt biển đến các nước phương Đông nên những tinh hoa về toánhọc, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch pháp… hình thành
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau:
- Triết học thời kỳ tiền Socrate (thời kỳ sơ khai)
- Triết học thời kỳ Xôcrat (thời kỳ cực thịnh)
- Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá
I.2.2 Triết học Tây Âu thời trung cổ
Xã hội Tây Âu thời trung cổ là giai đoạn tiếp nối sự phát triển lịch sử xã hội loàingười thời cổ đại Trong giai đoạn này, hệ tư tưởng tôn giáo nắm quyền thống trị
xã hội Tôn giáo áp đặt, thực hiện chi phối lên triết học, tư tưởng khoa học và sự tự
do Giai đoạn này được gọi là “đêm trường trung cổ”, xã hội lúc bấy giờ bị chìm
đắm, ngưng trệ bởi hệ tư tưởng của tôn giáo, của tư tưởng mang tính duy tâm, thầnhọc đặc biệt là chủ nghĩa ngu dân.Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa kinh viện là triếthọc chính thống, đã không chấp nhận cái mới và sự tiến bộ xã hội Triết học nhẳmphục tùng cho thần học với phương pháp mang tính hình thức, viển vông khôngthực tế Cuộc đấu tranh diễn ra giữa hai trường phái triết học là trường phái duydanh với trường phái duy thực; phản ánh cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữachủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm Với việc thừa nhận sự vật có trước, khái
Trang 8niệm có sau, học thuyết duy danh mang khuynh hướng duy vật.Với việc xem cáichung là tồn tại độc lập, là cái có trước, sinh ra cái riêng, không phụ thuộc cái riêngcủa trường phái duy thực do đó họ mang khuynh hướng duy tâm Sự nhận thức thếgiới thông qua kinh nghiệm, thực nghiệm, là sự giải phóng, sự đề cao thần học, sựtối tăm, trì trệ ra đời từ cuộc đấu tranh đó Đây cũng chính là nền tảng cho nhữngmầm mống chuẩn bị cho sự sụp đổ của chủ nghĩa kinh viện Đồng thời chứng kiến
sự phát triển lên một bước mới của triết học, khoa học mới, tiến bộ trong thời kỳPhục hưng
Ngoài ra, vấn đề con người dũng được đề cập đến trong thời kì này Điểm nổi bậttrong thời kì này đó là họ xem con người là sản phẩm của Thượng đế sáng tạora.và sắp đặt mọi thứ như: số phận, may rủi, nỗi buồn lẫn niềm vui của con ngườiđều do Thượng đế sắp đặt Con người lúc này trở nên nhỏ bé trong cuộc sống thựctại, nhưng phải miễn cưỡng chấp nhận không có sự lựa chọn nào khác đành bằnglòng với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, hướng tới hạnh phúc vĩnh cửu khi ở thếgiới bên kia Con người mất dần ý chí đấu tranh để tự giải thoát cho mình Khiphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, khoa học kỹ thuật cũng như triết họcđược xác lập vị thế của mình bởi sự tiến bộ của nó, nhờ đó, con người mới có thểthoát ra khỏi sự kìm hãm chi phối của triết học kinh viện và thế giới quan thần họctrung cổ Mặc dù quá trình phát triển của triết học Tây Âu thời trung cổ rất phứctạp, đầy mâu thuẫn, nhưng nó vẫn tuân theo quy luật phát triển kế thừa liên tục củalịch sử cũng như của các hình thái ý thức xã hội Là giai đoạn chuẩn bị cho nhữnghạt nhân tiến bộ, hợp lý đánh giấu sự phục hồi chủ nghĩa duy vật cổ đại phát triểnvới những thành tựu rực rỡ nhất trong thời kỳ Phục hưng
I.2.3 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ Phục
hưng
Đây là thời kỳ thế giới quan triết học giai cấp tư sản đang dần hình thành và pháttriển Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra phức
Trang 9tạp,hơn nữa do ảnh hưởng của tôn giáo, đặc biệt là của thần học lúc bấy giờ nênchủ nghĩa duy vật thời kỳ này chưa triệt để, nó vẫn mang tính hình thức phiếmluận Mặc dù vậy, tư tưởng duy vật vẫn giữ vai trò chi phối trong thời kỳ này Mộtđiểm nổi bật của nền triết học thời kỳ này là việc đề cao vai trò của con người,quan tâm đến việc giải phóng con người, hướng đến tự do, hạnh phúc Ngoài ra,giữa triết học và khoa học tự nhiên lúc này vẫn chưa có sự phân chia rạch ròi cụthể, các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học đã có những khái quát mới vềtriết học Có thể nói triết học thời kỳ Phục hưng đã tạo ra một bước ngoặt mới
trong sự phát triển của triết học sau “đêm trường trung cổ” Nó tạo tiền đề cho triết
học tiếp tục phát triển vào thời cận đại
I.2.4 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại
Thời kỳ cận đại là thời kì các tư tưởng triết học trong thời kỳ Phục hưng tiếp tụcphát triển trong giai đoạn mới – giai đoạn cách mạng tư sản gắn liền sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học tự nhiên Đây là thời kỳ thắng thế của chủ nghĩa duy vật,của khoa học Thời kỳ này là thế giới quan của giai cấp tư sản là chủ nghĩa duy vật.Đây được coi là vũ khí tư tưởng của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chốngphong kiến và giáo hội, hình thành xã hội tư bản Giai đoạn này cũng đánh dấu quátrình phân ngành sâu sắc và phát triển một cách mạnh mẽ của khoa học tự nhiênlàm nền tảng vững chắc cho chủ nghĩa duy vật thời bấy giờ Triết học thời kỳ nàyđặc biệt chú ý đến nhận thức luận và phương pháp nhận thức Vị trí con người vàgiải phóng con người khỏi sự thống trị của giáo hội phong kiến, con người được tự
do, bình đẳng và hạnh phúc được các nhà triết học trong thời kỳ này đề cao Đâychính là mục tiêu của cách mạng tư sản đặt ra đã cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhândân đứng lên làm cách mạng Tuy nhiên, do bị ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩaduy tâm và tôn giáo nên các nhà triết học thời kì này vẫn bị rơi vào phiếm thầnluận, vô thần Ngoài ra, cũng do giai cấp tư sản vẫn cần đến tôn giáo cho nên cólập trường thiếu triệt để
Trang 10I.2.5 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức nghiên cứu toàn bộ quan hệ con người với tự nhiên theoquan điểm biện chứng Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, cùngvới tình hình thực tiễn ở Châu Âu cuối thế kỷ XVIII, đã cho ta thấy được sự hạnchế của bức tranh cơ học về thế giới Các nhà triết học cổ điển Đức tiếp thu những
tư tưởng biện chứng, xây dựng phép biện chứng trở thành một phương pháp luậntriết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội Những quy luật,các căp phạm trù cơ bản của phép biện chứng được Hê ghen phát hiện rồi phântích, từ đó xây dựng thành một hệ thống trở thành một phương pháp luận, một cách
tư duy, quan niệm về tất thảy mọi sự vật trong thế giới hiện thực Phương pháp tưduy biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, về sau được C.Mác cải biến duy
vật, phát triển tiếp, trở thành linh hồn của chủ nghĩa Mác Như vậy, Triết học là một khoa học bao gồm hệ thống lí luận chung nhất về thế giới và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó Triết học là một hình thái ý thức xã hội, vừa phản ánh xã
hội vừa chịu sự chi phối của xã hội; sự quy định của cơ sở hạ tầng Đây chính làđiểm chung của triết học trong mọi thời đại trong đó có cả triết học phương Đônglẫn triết học phương Tây cổ đại Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế, chínhtrị, xã hội, văn hoá, bối cảnh lịch sử khác nhau nên cả triết học phương Đông vàphương Tây đều có những nét đặc thù tạo nên thiên hướng riêng
CHƯƠNG II SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
II.1 Sự giống nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây
Hệ thống triết học phương Đông và phương Tây, mục tiêu mà cả hai đều hướng tới
là hiểu được chân lý và cách tốt nhất để sống Mỗi khi nhắc đến những câu hỏi cơbản nhất về ý nghĩa của việc làm người thì tất cả các câu trả lời đều cho chúng tathấy được giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây không có gì khácnhau cả Mục đích cơ bản mà cả hai hệ tư tưởng triết học hướng tới là tìm kiếm ý
Trang 11nghĩa trong cuộc sống cũng như mục đích của một người Điểm tương đồng giữahai trường phái tư tưởng biểu hiện cụ thể như sau:
II.1.1 Mục đích con người tồn tại
Khổng Tử đã dạy cách dung hợp giữa con người bên trong và con người bên ngoài(tính tổng thể), trong khi đó, Aristotle nhấn mạnh vấn đề con người nên kiểm soátbản thân để sống thuận hòa với người khác (tính rời rạc) Ngoài ra, Mặc Tử (triếtgia người Trung Quốc) cũng có tư tưởng nhằm hướng tới sự hiểu biết một cáchtoàn diện về bản thân cũng như môi trường xung quanh
Plato – một nhà triết gia phương Tây cũng nhấn mạnh về những mục tiêu mangtính cụ thể mà con người chúng ta nên phấn đấu trong hành trình khám phá tìmhiểu điều gì là thật, là có thực trong cuộc sống
Khổng Tử (I.551-479 TCN)
II.1.2 Con người trên thế giới về cơ bản là giống nhau
Các nhà tư tưởng phương đông và phương tây đều tin rằng con người trên thế giới
về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau về các chi tiết và phong tục tập quán Trênthực tế, con người trên thế giới về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau về phần chi
Trang 12tiết và phong tục tập quán Triết lý của các nhà tư tưởng phương đông và phương
tây đã làm rõ điều này.
Ví dụ như chúng ta so sánh tư tưởng của hai nhà triết học đại diện cho hai trườngphái phương Đông và phương Tây để làm rõ điều này Giữa Khổng Tử – nhà triếthọc Trung Quốc (l 551-479 TCN) với Aristotle – nhà triết học Hy Lạp (l 384-322TCN), khi so sánh người ta thấy rằng cả hai đang trình bày những khái niệm cơbản giống nhau Cả hai người đều tin rằng mục tiêu cao nhất mà một người có thểphấn đấu là đức hạnh Đức hạnh cũng chính là phần thưởng lâu dài sẽ đến vớinhững ai biết đặt đức hạnh lên trên cả của cải vật chất thế gian.Wonhyo – một nhà
triết gia Hàn Quốc (năm 617-686 CN) đã viết, “Suy nghĩ phân định ranh giới giữa tốt và xấu” có nghĩa là nếu bạn nghĩ điều gì đó là ‘xấu’ thì đó là điều tồi tệ đối với
bạn
Triết gia Hy Lạp Epictetus (lc 50-130 CN) viết, “Bản thân hoàn cảnh không phải
là vấn đề gây rắc rối cho con người, mà là sự phán xét của họ về những hoàn cảnh đó.” ( Enchiridion , I: v) Epictetus nói rằng: "người ta thậm chí không nên sợ hãi cái chết bởi vì người ta không biết cái chết là điều tốt hay điều xấu." Wonhyo cũng
đồng ý với quan điểm đó vì ông tin rằng tất cả mọi thứ đều là một và tất cả nhữngtrải nghiệm mà bất kỳ một người nào có được từ trong cuộc sống chỉ là một phầncủa trải nghiệm “làm người” Các triết lý tương đối của triết gia Trung Quốc TengShih (thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên) và triết gia Hy Lạp Protagoras (thế kỷ thứ 5trước Công nguyên) gần như giống hệt nhau Cả Mặc Tử và Plato nhắm vào nhữngmục đích là cả hai triết gia đều nói rõ rằng người ta phải tập trung vào việc cảithiện bản thân trước khi cố gắng cải thiện người khác
II.1.3 Đạo đức bẩm sinh
Ví dụ điển hình nhất về sự giống nhau cơ bản của tư tưởng phương đông vàphương tây được thể hiện trong các tác phẩm của hai trong số các triết gia nổi tiếngnhất từ hai bên bán cầu là Plato (l.428-348 TCN) của phương tây và Vương Dương
Trang 13Minh (l 1472-1529 CN) của phương đông Trong khi Plato khá nổi tiếng ở phươngTây thì Vương Dương Minh lại ít được biết đến hơn, mặc dù ông nổi tiếng nhưPlato ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản Cả hai triết gia này đã tạo ra một ảnhhưởng to lớn thông qua các tác phẩm của họ, cả hai đều tranh luận về sự tồn tại củatri thức bẩm sinh; rằng con người sinh ra đã biết phân biệt đúng sai, tốt xấu, và chỉcần được khuyến khích theo đuổi điều thiện để có một cuộc sống viên mãn Tưtưởng của cả hai người đều đề cập đến điều gì là ‘tốt’ và đâu là cách đúng đắn đểhiểu sự tồn tại của một người.
Trong cuộc đối thoại của ông về Phaedrus, Plato đặt ra câu hỏi, “Điều gì là tốt và điều gì là không tốt? Chúng ta có cần ai đó nói cho chúng ta biết những điều này không?” Người cố vấn của ông, Socrates (nhân vật chính trong Phaedrus, cũng
như trong phần lớn các tác phẩm của Plato) đặt câu hỏi này cho cộng sự Phaedrus
về chất lượng của văn bản Theo quan điểm của Plato, một người đã biết điều gì làtốt bởi vì người đó bẩm sinh đáp ứng được với phẩm chất tốt trong văn bản, vàcũng sẽ phản hồi quan niệm về điều tốt trong cuộc sống
Plato (I.428-348 TCN)
Bàn về vấn đề đạo đức, nhà triết học Vương Dương Minh bày tỏ sự ủng hộ tính ưuviệt của trực giác trong các vấn đề liên quan đến vấn đề về đạo đức Cùng với nhàtriết học Plato, Vương Minh Dương đều cho rằng: ai cũng có thể nhận định về một