Bài viết Độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của cao chiết nấm Cordyceps miltaris được thực hiện nhằm đánh giá tính an toàn của nấm này, góp phần tạo nguồn dược liệu để sản xuất các sản phẩm có hoạt tính sinh học hỗ trợ điều trị bệnh, làm cơ sở cho các thử nghiệm tiếp theo về tác dụng sinh học của loại nấm dược liệu này.
Trang 1ACUTE AND SUBCHRONIC ORAL TOXICITY
OF Cordyceps miltaris EXTRACT
Nguyen Pham Tuan 1 , Bang Hong Lam 2 , Nguyen Hoang Nam 1 , and Nguyen Thi Bao Tran 2
1 An Giang Biotechnology center, Chau Thanh district, An Giang province
2 An Giang University, Viet Nam Nation University, Ho Chi Minh City
*Corresponding author: ngphamtuan1983@gmail.com
Tel: +84.988202055
Abstract
Cordyceps militaris fungal (C Miltaris) is an entomopathogenic fungus with many medicinal values similar to Cordyceps sinensis and has been used for a long time in traditional medicines Studies on “Acute and sub-chronic oral toxicity of Cordyceps miltaris extract" was conducted to evaluate the safety of C Miltaris mushroom cultured on artificial media and was a prerequisite for the production of products capable of supporting and treating diseases C Miltaris mushroom is made
by immersion method with ethanol 80% and combined with ultrasound The acute and semi-chronic toxicities of C Miltaris were evaluated by the Litchfield - Wilcoxon‟s method on mice The results of acute toxicity study showed that C Miltaris with the maximum dose in white mice was 16.28 g/kg body weight of mice with a mortality rate
of 0% after 72 hours The results of this study showed that, C Miltaris mushroom dose
of 1.63 g/kg body weight of mice without any manifestations often about sub-chronic toxicity in mice for 60 days Hematological parameters, histology of liver, kidney mice
in the mices test batches are not different compared with the control batch The results
of the study showed that C Miltaris mushroom on artificial media is not cause acute and sub-chronic oral toxicity on experiment animals and is a potential source of raw materials for research and applications
Keywords: acute toxicity, chronic toxicity, Cordyceps militaris
Trang 2ĐỘC TÍNH CẤP VÀ ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN
CỦA CAO CHIẾT NẤM Cordyceps miltaris
Nguyễn Phạm Tuấn 1* , Bằng Hồng Lam 2 , Nguyễn Hoàng Nam 1 và Nguyễn Thị Bảo Trân
1 Trung tâm Công nghệ Sinh học tỉnh An Giang, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
2 Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
*Tác giả liên hệ: ngphamtuan1983@gmail.com
Số điện thoại: 0988.202055
Tóm tắt
Nấm Cordyceps militaris (C Miltaris) là một loài nấm ký sinh côn trùng có giá trị dược liệu quý tương tự như nấm Cordyceps sinensis và được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền trong nhiều năm qua Nghiên cứu “Độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của cao chiết nấm Cordyceps miltaris” được thực hiện nhằm đánh giá tính an toàn của nấm C Miltaris được nuôi cấy trên môi trường nhân tạo, làm tiền đề cho quá trình sản xuất các sản phẩm có khả năng hỗ trợ và điều trị bệnh Cao chiết nấm C Miltaris được chiết xuất theo phương pháp ngâm dầm với ethanol 80% và kết hợp với sóng siêu âm Xác định độc tính cấp và bán trường diễn của nấm C Miltaris bằng phương pháp Litchfield - Wilcoxon trên chuột nhắt trắng dòng Swiss Kết quả nghiên cứu độc tính cấp cho thấy, nấm C Miltaris với liều tối đa trên chuột nhắt trắng là 16,28 g/kg thể trọng chuột có phân suất tử vong là 0% sau 72 giờ uống cao chiết ethanol nấm C Miltaris Kết quả độc tính bán trường diễn, nấm C Miltaris liều 1,63g/kg thể trọng chuột không có biểu hiện bất thường về độc tính bán trường diễn trên chuột nhắt trắng sau 60 ngày cho uống cao chiết Các thông số về huyết học, chỉ
số sinh hóa thuộc về chức năng gan - thận không sai khác với đối chứng Kết quả nghiên cứu cho thấy, nấm C Miltaris không gây độc tính cấp và độc tính bán trường diễn trên mô hình động vật thí nghiệm và là nguồn dược liệu tiềm năng cho các nghiên cứu tiếp theo và ứng dụng
Từ khóa: Cordyceps militaris, độc tính cấp, độc tính bán trường diễn
Trang 31 Mở đầu
Nấm dược liệu từ lâu đã là một phần quan trọng của văn hóa và nền văn minh
nhân loại, đặc biệt các loài trong chi Cordyceps được đánh giá cao do chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học Chi Cordyceps có hai loài hiện đang được nghiên cứu nhiều
do có giá trị dược liệu và giá trị kinh tế cao (Nguyễn Thị Liên Thương và cs., 2016)
C Miltaris (thường được gọi nấm cam sâu bướm), chứa các hợp chất sinh học tương
tự như của C sinensis, nhưng có thể dễ dàng nuôi trồng trong môi trường nhân tạo (Dong et al., 2012) Quả thể của nấm C Miltaris dùng làm thực phẩm, dùng trong các
món hầm, súp, trà, ở các nước Đông Nam Á như Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc Lượng an toàn ít hơn 2,5 g/kg thể trong Quả thể và sinh khối nấm cũng được sử dụng làm thuốc và bồi bổ sức khoẻ như nước uống, viên nhộng, rượu, dấm, trà, yogurt, và
nước chấm (Wang et al., 2006) Các chế phầm từ nấm này dùng duy trì chức năng thận, phổi, chống lão hóa, điều hòa giấc ngủ, điều trị viêm phế quản mãn tính (Das et al., 2010) Do có giá trị dược liệu, giá trị kinh tế cao và việc nuôi trồng nấm C Miltaris ở quy mô lớn có tính khả thi, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và
chuyển giao công nghệ cho các đơn vị sản xuất, góp phần phát triển kinh tế địa
phương Xuất phát từ thực tế nêu trên, nghiên cứu ―Độc tính cấp và độc tính bán
trường diễn của cao chiết nấm Cordyceps miltaris‖ được thực hiện nhằm đánh giá
tính an toàn của nấm này, góp phần tạo nguồn dược liệu để sản xuất các sản phẩm có hoạt tính sinh học hỗ trợ điều trị bệnh, làm cơ sở cho các thử nghiệm tiếp theo về tác dụng sinh học của loại nấm dược liệu này
2 Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nguyên vật liệu
Mẫu nấm C Miltaris được lưu giữ ở phòng Thí nghiệm Sinh hóa của Trung tâm
Công nghệ Sinh học tỉnh An Giang Hóa chất và thiết bị gồm máy đo quang phổ (Human, Hàn Quốc), máy đông khô chân không (Christ, Đức), máy cô quay chân không (Eyala, Nhật Bản), peptone, MgSO4,…
Chuột nhắt trắng thuần chủng, dòng Swiss albino trưởng thành (5 tuần tuổi) được
cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang, được ổn định ít nhất một tuần trước khi thử nghiệm Chuột được nuôi trong các lồng nhựa, mỗi lồng 10 con chuột Chuột được nuôi bằng thực phẩm viên (cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang), nước uống đầy đủ
Thể tích cho chuột uống là 20 mL/kg thể trọng chuột trong thử nghiệm độc tính cấp đường uống và 10 ml/kg thể trọng chuột trong thử nghiệm độc bán trường diễn Thời gian cho chuột uống thuốc ở các thử nghiệm khoảng 8 - 9 giờ sáng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Hoạt hóa và nuôi trồng nấm Cordyceps miltaris
Giống nấm C miltaris được hoạt hóa trên môi trường Potato Dextrose Agar
(PDA) có bổ sung 1% peptone ở nhiệt độ 250C trong 5-7 ngày Quy trình nuôi trồng
nấm C militaris trên môi trường nhân tạo được tiến hành dựa theo phương pháp của
Lê Văn Vẻ và cs (2015), được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thí nghiệm: Môi
trường Yeast magnesium Potassium (YMK) được sử dụng để nhân giống dịch thể: 20 g/Lglucose; 5 g/L cao nấm men; 2 g/L KH2PO4; 1 g/L MgSO4.7H2O ở nhiệt độ 250C,
pH = 6,0, tốc độ lắc 150 vòng/phút, thời gian nhân giống là 120 giờ
Trang 4Chuẩn bị cơ chất gạo lứt 20 g/keo để nuôi trồng, môi trường lên men là Basal medium 5 g/L peptone; 1 g/L K2HPO4; 0,5 g/L MgSO4.7H2O; 10 g/L glucose và 1 mg/L vitamin B1 Các keo thí nghiệm được chủng 30 mL môi trường lên men, tiến
hành hấp thanh trùng, để nguội rồi chủng 10 mL giống dịch thể của nấm C militaris
vào môi trường đã chuẩn bị sẵn
Nấm C miltaris được nuôi trong bình có kích thước 7 × 10 cm với cơ chất trong mỗi keo là 25g, chế độ ươm và chăm sóc ra quả thể theo quy trình của Lê Văn Vẻ và
cs (2015) Các keo nấm được ủ ở 200C trong 10-12 ngày, tránh ánh sáng để tơ nấm lan kín các keo nấm Sau đó, các keo nấm nuôi được sốc nhiệt để kích thích tạo quả thể ở 250C với chu kỳ chiếu sáng/tối 14/10 (500 lux)
2.2.2 Phương pháp tạo cao chiết từ nấm Cordyceps miltaris
Nấm C miltaris nuôi trồng trên môi trường nhân tạo sau 60 ngày được tiến
hành thu phần quả thể và phần giá thể Quả thể và giá thể của nấm C miltaris được
tiến hành đông khô bằng máy đông khô chân không trong 96 giờ, nghiền mịn và tiến hành trích ly với dung môi là ethanol 80%, với tỷ lệ dược liệu và dung môi là 1: 10 (v/v) và có hỗ trợ của sóng siêu âm trong 2 giờ Sau 72 giờ, tiến hành ly tâm với tốc độ 4.000 vòng phút trong 20 phút, thu dịch lọc và bỏ phần cặn Phần dịch lọc được lọc qua giấy lọc có đường kính 0,45 µm và thu phần dịch bỏ phần bã Phần dịch được tiến hành cô quay chân không để loại bỏ dung môi và đông khô bằng máy đông khô chân không thu được cao chiết thô Cao chiết được bảo quản ở nhiệt độ -200C
2.2.3 Khảo sát độc tính cấp đường uống của cao chiết nấm Cordyceps miltaris
Chuột nhắt chia thành các lô tương tự, những chuột ở cùng một lô sẽ nhận cùng một liều chất khảo sát Sự đánh giá dựa vào phản ứng toàn ứng hay bất ứng (sống hay chết) nhận thấy ở mỗi chuột trong nhóm sau 72 giờ Chuột được tiếp tục theo dõi sau
14 ngày uống để ghi nhận những triệu chứn g bất thường (nếu có)
2.2.4 Khảo sát độc tính bán trường diễn đường uống của cao chiết nấm
C miltaris
Dựa vào kết quả thử nghiệm độc tính cấp, khảo sát tính an toàn của cao chiết
nấm C miltaris ở liều tương ứng với khoảng 10 g dược liệu là 1,63 g/kg thể trọng
chuột (dựa trên kết quả liều Dmax = 16,28 g cao/kg thể trọng chuột Suy ra liều thử
nghiệm tương đối an toàn DS dùng trong các thực nghiệm dược lý có thể bằng 1/5
Dmax hoặc 1/10 Dmax Tiến hành thử nghiệm khảo sát độc tính bán trường diễn với liều 1/10 Dmax là 1,63 g/kg) Mẫu thử nghiệm được pha với nước cất và cho chuột nhắt trắng uống với thể tích 10 mL/kg thể trọng chuột, liên tiếp trong 60 ngày với liều 1,63 g/kg Thực hiện song song với lô chứng (chỉ uống nước cất) Lấy máu tĩnh mạch ở đuôi chuột xét nghiệm (lấy máu vào buổi sáng trước khi cho chuột ăn) (Viện Dược liệu, 2006)
Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi thể trọng chuột: vào các thời điểm trước thử nghiệm, sau 1 tháng và sau 2 tháng; Các thông số huyết học (bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu); Các chỉ tiêu sinh hóa gan thận chuột (GOT, GPT, creatinin, urea); Trọng lượng tương đối của gan, tim, thận
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm Statgraphics plus 16.0
Trang 53 Kết quả và thảo luận
3.1 Độc tính cấp đường uống của cao chiết nấm Cordyceps miltaris
Cao nấm C miltaris không có thể hiện độc tính cấp đường uống trên chuột nhắt
trắng, toàn bộ chuột vẫn ăn uống và sinh hoạt bình thường trong 72 giờ quan sát Chuột được tiếp tục theo dõi sau 14 ngày uống và không ghi nhận các triệu chứng bất
thường (Bảng 1) Từ liều tối đa có thể cho uống cao nấm C miltaris trên chuột nhắt
trắng là 16,28 g cao/kg thể trọng chuột có phân suất tử vong là 0% và không thể xác định được LD50, do đó xác định được liều Dmax = 16,28 g cao/kg thể trọng chuột Suy
ra liều thử nghiệm tương đối an toàn DS dùng trong các thực nghiệm dược lý có thể bằng 1/5 Dmax hoặc 1/10 Dmax Tiến hành thử nghiệm khảo sát độc tính bán trường diễn với liều 1/10 Dmax là 1,63 g/kg (tương ứng với khoảng 10 g dược liệu)
Theo phân loại độc tính của GHS (Globally Harmonised System for Classification of Chemicals), những chất có giá trị LD50 > 5.000 mg/kg khối lượng cơ
thể, được coi là chất gần như không độc Theo Kennedy et al (1986) cho rằng, các cao
chiết có giá trị LD50 cao hơn 5g/kg đường uống có thể được xem là không độc, nên
cao chiết nấm C militaris không gây độc tính cấp Thử nghiệm giới hạn chủ yếu được
sử dụng trong trường hợp điều tra viên có thông tin chỉ ra rằng vật liệu thử nghiệm có thể không độc hại hoặc có độc tính thấp (OECD, 2002)
3.2 Độc tính bán trường diễn đường uống của cao chiết nấm Cordyceps miltaris
Trong nghiên cứu độc tính bán trường diễn, chuột được thử nghiệm là chuột đực
và cái 6 tuần tuổi, đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển để chuyển sang giai
đoạn trưởng thành nên thể trọng chuột của lô chứng và lô uống cao C militaris 1,63
g/kg sau 2 tháng thử nghiệm tăng so với trước thử nghiệm; đồng thời, sự tăng thể trọng
của lô thử nghiệm không có sự khác biệt thống kê so với lô chứng cho thấy cao C militaris không ảnh hưởng đến thể trọng chuột trong thời gian cho uống
Bảng 1: Kết quả đánh giá các hành vi của chuột
trong 14 ngày khảo sát sau khi uống cao nấm Cordyceps miltaris ở liều Dmax
Hệ thống cơ
quan Quan sát và thử nghiệm Dấu hiệu chung
Hệ thần kinh
trung ương và hệ
thần kinh vận
động
Hành vi, vận động
Chuột vận động và sinh hoạt ăn uống bình thường trong lồng nuôi Không ghi nhận các trạng thái bị kích động hay mất phản xạ thăng bằng, ngủ, hôn mê
Hệ thần kinh thực
vật
Phản ứng não và tủy
Trương lực cơ Bình thường
Hệ hô hấp Đặc tính và tốc độ Nhịp thở bình thường, không ghi
Trang 6nhận triệu chứng khó thở hay co giật khí quản
Hệ tim mạch Dấu hiệu của tim mạch Không ghi nhận triệu chứng bất
thường ở nhịp tim
Dạ dày, ruột
Các triệu chứng Không ghi nhận triệu chứng tiêu
chảy, táo bón
Hình dáng bụng Không ghi nhận triệu chứng đau
xoắn bụng
Độ chắc và màu sắc của
Cơ quan sinh dục Dương vật Hồng hào và trạng thái căng phồng
Da và lông Màu, tình trạng
Lông trắng mượt
Không ghi nhận triệu chứng ửng đỏ trên da hay xù lông
Tình trạng chung Sự tăng trọng Trong ngưỡng sinh lý bình thường Phân tích các thông số huyết học có liên quan đến đánh giá rủi ro và sự thay đổi trong các hệ thống huyết học và sinh hóa có giá trị dự báo cao hơn đối với độc tính
(Olson et al., 2000) Vì không có tác dụng lên mức transaminase và creatinine, là chỉ số tốt cho gan và chức năng thận; điều này cho thấy cao C militaris không gây hại cho gan
và thận và thực tế là không có ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ cholesterol huyết tương
(Giknis and Clifford, 2008) và chức năng bình thường của gan (Hilaly et al., 2004) Trọng lượng chuột của lô chứng cho uống nước cất và lô thử cho uống cao C militaris ở thời điểm sau 1 và 2 tháng (30,3±1,62 và 40,40±0,45 g) khác biệt có ý
nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm (23,50±0,73 g) Ở thời điểm sau 1 và 2 tháng,
thể trọng chuột khi cho uống cao C militaris không khác biệt ý nghĩa thống kê so với
lô chứng cùng thời điểm khảo sát (40,80±1,55 g) (Bảng 2)
Số lượng hồng cầu ở lô chứng và lô thử uống cao C militaris ở thời điểm sau 1
và 2 tháng không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm Đồng thời,
số lượng hồng cầu ở lô thử nghiệm ở thời điểm thử nghiệm sau 1 và 2 tháng (9,12±0,25 và 9,94±0,27) khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (9,21±0,21 và 9,76±0,29) cùng thời điểm khảo sát (Bảng 2)
Hàm lượng hemoglobin ở lô chứng và lô chuột uống cao C militaris ở thời điểm
sau 1 và 2 tháng (15,04 ±0,32 và 15,69±0,27 (g/dL) đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm (15,09±0,2 và 15,31±0,24) (g/dL) (Bảng 2)
Hàm lượng hematocrit ở lô chứng uống nước cất và lô thử nghiệm uống cao C militaris ở thời điểm sau 1 và 2 tháng (49,01±0,95 và 51,62±1,01 (Hct) (%)khác biệt
không có ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm (48,80±0,69 và 50,46±0,97) (Hct) (%) (Bảng 2)
Trang 7Số lượng tiểu cầu ở lô chứng ở thời điểm sau 1 và 2 tháng (952,40±121,27 và 923,44±52,80) (103 tế bào/µL) khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm (919,40 ± 51,26 và 860,60 ± 98,47 (103 tế bào/µL)) Đồng thời, số lượng tiểu
cầu ở lô thử nghiệm uống cao C militaris giảm, khác biệt không có ý nghĩa thống kê
so với lô chứng ở thời điểm sau 1 và 2 tháng thử nghiệm (Bảng 2)
Số lượng bạch cầu ở lô chứng và lô chuột uống cao C militaris ở thời điểm sau 1
tháng đều tăng nhưng không đạt ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm (10,84±0,81
và 11,64±0,93) (K tế bào/µL) Số lượng bạch cầu ở lô chứng và lô chuột uống cao C militaris ở thời điểm sau 2 tháng đều tăng đạt ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm
(10,92±1,14 và 8,75±0,93 (K tế bào/µL) Điều này có thể lý giải là do lấy máu nhiều lần làm cho cơ chế miễn dịch của cơ thể tăng làm cho số lượng bạch cầu tăng lên ở cả lô chứng và lô thử nghiệm Đồng thời, số lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm không khác biệt
ý nghĩa thống kê so với lô chứng ở cùng các thời điểm khảo sát (Bảng 2)
Thể tích trung bình của hồng cầu ở lô chứng (51,92±0,59; 53,15±0,78 và 51,92±0,90) (MCV) (fL) và lô thử khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở thời điểm trước và sau thử nghiệm 1 và 2 tháng (51,07±0,73; 53,91±0,75 và 51,61±1,15 MCV)
(fL) (Bảng 2) Thể tích trung bình của hồng cầu ở lô uống cao C militaris giảm có ý
nghĩa thống kê so với lô chứng ở thời điểm trước thử nghiệm 1 tháng, nhưng vẫn nằm trong giới hạn bình thường
Chỉ số huyết sắc tố trung bình hồng cầu ở lô chứng (16,11±0,21; 16,44±0,26 và 15,76±0,37 (MCH) (pg) và lô thử (15,8 ±0,22; 16,52±0,17 và 15,82 ±0,27 (MCH)n(pg khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở thời điểm trước và sau thử nghiệm 1 và 2 tháng (Bảng 2)
Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu ở lô chứng (31,02±0,17; 30,93±0,15
và 30,35±0,27) (MCHC) (g/dL) và lô thử (31,13±0,31; 30,68±0,34 và 30,39±0,15
(MCHC) (g/dL) không có sự khác biệt thống kê ở thời điểm trước và sau thử nghiệm 1
và 2 tháng (Bảng 2)
Bảng 2: Trọng lượng và các thông số huyết học của chuột
thử nghiệm độc tính bán trường diễn
Lô (N=10) Liều
(g/kg)
Trọng lượng chuột (g) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 23,50 ± 0,85 27,50 ± 0,96* 40,80 ± 1,55**
Cao nấm C
miltaris 1,63 23,50 ± 0,73 30,3 ± 1,62* 40,40 ± 0,45 **
Số lượng hồng cầu (M/UL) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng
Cao nấm C 1,63 9,59 ± 0,25 9,12 ± 0,25 9,94 ± 0,27
Trang 8miltaris
Huyết sắc tố (g/dL) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng
Cao nấm C
miltaris 1,63 15,21 ± 0,38 15,04 ± 0,32 15,69 ± 0,27
Thể tích khối hồng cầu (Hct) (%) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 48,82 ± 1,07 48,80 ± 0,69 50,46 ± 0,97
Cao nấm C
miltaris 1,63 48,84 ± 0,97 49,01 ± 0,95 51,62 ± 1,01
Tiểu cầu (103 tế bào/µL) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 685,00 ± 42,47 919,40 ± 51,26 860,60 ± 98,47
Cao nấm C
miltaris 1,63 853,33 ± 94,90 952,40 ± 121,27 923,44 ± 52,80
Bạch cầu (K tế bào/µL) Chứng - Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng
Cao nấm C
miltaris 1,63 7,96 ± 1,22 10,84 ± 0,81 10,92 ± 1,14*
8,25 ± 0,75 11,64 ± 0,93 8,75 ± 0,93*
Thể tích trung bình hồng cầu (MCV) (fL) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 51,92 ± 0,59 53,15 ± 0,78 51,92 ± 0,90
Cao nấm C
miltaris 1,63 51,07 ± 0,73 53,91 ± 0,75* 51,61 ± 1,15
Huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH)(pg) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng
Trang 9Chứng - 16,11 ± 0,21 16,44 ± 0,26 15,76 ± 0,37
Cao nấm C
miltaris 1,63 15,88 ± 0,22 16,52 ± 0,17* 15,82 ± 0,27
Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC)
(g/dL) Trước thử nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 31,02 ± 0,17 30,93 ± 0,15 30,35 ± 0,27*
Cao nấm C
miltaris 1,63 31,13 ± 0,31 30,68 ± 0,34 30,39 ± 0,15
Ghi chú: *: khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05; **: khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,001
Hàm lượng GOT ở lô chứng (39,60 ± 1,56; 41,10 ± 2,13 và 35,33 ± 1,61 (IU/L))
và lô thử uống cao C militaris liều 1,63 g/kg sau thử nghiệm 1 và 2 tháng (49,20 ±
6,09; 42,90 ± 3,21 và 38,44 ± 3,42 (IU/L)) không có khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so
với trước thử nghiệm Hàm lượng GOT ở lô thử uống cao C militaris liều 1,63 g/kg
sau thử nghiệm 1 và 2 tháng không có khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng
ở cùng các thời điểm khảo sát (Bảng 3)
Bảng 3 Các chỉ tiêu sinh hóa gan và thận của chuột
thử nghiệm độc tính bán trường diễn
Lô (n=10) Liều
(g/kg)
Hàm lượng GOT (IU/L) Trước thử
nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 39,60 ± 1,56 41,10 ± 2,13 35,33 ± 1,61
Cao nấm C
miltaris 1,63 49,20 ± 6,09 42,90 ± 3,21 38,44 ± 3,42
Hàm lượng GPT (IU/L) Trước thử
nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 56,30 ± 4,50 51,33 ± 3,27 49,33 ± 5,85
Cao nấm C
miltaris 1,63 53,10 ± 3,13 48,20 ± 2,80 45,44 ± 2,05
Hàm lượng Protein (g/dL) Trước thử Sau 1 tháng Sau 2 tháng
Trang 10nghiệm Chứng - 3,04 ± 0,11 3,84 ± 0,07** 5,03 ± 0,11**
Cao nấm C
miltaris 1,63 3,12 ± 0,15 3,97 ± 0,15** 4,96 ± 0,14**
Hàm lượng Creatinin (mg/dL) Trước thử
nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng
Cao nấm C
miltaris 1,63 0,93 ± 0,05 0,63 ± 0,07* 0,58 ± 0,02**
#
Hàm lượng Urea (mg/dL) Trước thử
nghiệm Sau 1 tháng Sau 2 tháng Chứng - 48,26 ± 1,94 45,26 ± 4,54 51,38 ± 1,64*
Cao nấm C
miltaris 1,63 42,56 ± 2,13 40,82 ± 2,32 51,27 ± 1,32*
Ghi chú: *: khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05; **: khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,001
Hàm lượng GPT ở lô chứng (56,30±4,50; 51,33±3,27 và 49,33±5,85 (IU/L)) và
lô thử uống cao C militaris liều 1,63 g/kg sau thử nghiệm 1 và 2 tháng không có khác
biệt đạt ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm (53,10±3,13; 48,20±2,80 và
45,44±2,05) (IU/L) Hàm lượng GPT ở lô thử uống cao C militaris liều 1,63 g/kg sau
thử nghiệm 1 và 2 tháng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với lô chứng ở cùng các thời điểm khảo sát (Bảng 3)
Hàm lượng protein ở lô chứng (3,84±0,07 và 5,03±0,11) (g/dL) và lô thử nghiệm cho uống cao Đông trùng hạ thảo liều 1,63 g/kg sau 1 và 2 tháng (3,97±0,15 và 4,96±0,14) (g/dL) đều có sự tăng đạt ý nghĩa thống kê so với trước thử nghiệm Đồng thời, hàm lượng protein ở lô thử nghiệm tại thời điểm sau 1 và 2 tháng khác biệt không
có ý nghĩa thống kê so với lô chứng trong cùng thời điểm khảo sát (Bảng 3)
Hàm lượng creatinin ở lô chuột uống cao C Militaris liều 1,63 g/kg ở thời điểm
trước thí nghiệm, sau 1 tháng (0,93±0,05 và 0,63±0,07) (mg/dL) đều không có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý cùng thời điểm khảo sát (0,85±0,14
và 0,55±0,06) (mg/dL) Tuy nhiên ở thời điểm sau 2 tháng, lô thử uống Đông trùng hạ thảo liều 1,63 g/kg có sự giảm khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với chứng sinh lý (0,58±0,02 và 0,72±0,03) (mg/dL) (Bảng 23) Hàm lượng creatinin ở lô thử nghiệm giảm đạt ý nghĩa thống kê so với lô thử trước thử nghiệm ở các thời điểm sau 1 và 2